Các công cụ của chính sách tiền tệ tại Việt Nam

Mục lục Trang Mở đầu 1 Nội dung 3 Chương I: Chính sách tiền tệ trong nền kinh tế thị trường 3 1.1. Khái niệm, vị trí của CSTT 3 1.2. Mục tiêu của CSTT 4 1.3. Các công cụ của CSTT 4 1.3.1 Nghiệp vụ thị trường Mở 4 1.3.2 Dự trữ bắt buộc 5 1.3.3 Chính sách tái chiết khấu 5 1.3.4 Quản lý hạn mức tín dụng 6 1.3.5 Quản lý lãi suất 7 Chương II: Thực trạng việc sử dụng các công cụ của CSTT ở Việt Nam hiện nay. 8 2.1. Sự đổi mới trong việc thực hiện CSTT 8

doc52 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1766 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Các công cụ của chính sách tiền tệ tại Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
2.2. Việc sử dụng các công cụ của CSTT những năm qua 8 2.2.1. Công cụ lãi suất 8 2.2.2. Công cụ hạn mức tín dụng 14 2.2.3. Công cụ dự trữ bắt buộc 16 2.2.4. Công cụ cho vay tái chiết khấu 18 2.2.5. Công cụ nghiệp vụ thị trường Mở 20 2.3. Đánh giá qúa trình thực hiện các công cụ của CSTT những năm vừa qua. 22 2.3.1 Những thành tựu trong việc ổn định kinh tế vĩ mô. 22 2.3.2 Những vấn đề tồn tại trong quá trình thực hiện các công cụ của CSTT những năm qua. 24 Chương 3. Định hướng và giải pháp hoàn thiện các công cụ của CSTT ở Việt Nam 28 3.1. Định hướng 28 3.1.1 Bối cảnh trong nước và Quốc tế 28 3.1.2 Một số định hướng cơ bản 29 3.2 Giải pháp 29 3.2.1 Nhóm giải pháp về việc tạo môi trường, điều kiện thuận lơị 29 3.2.2 Nhóm giải pháp về việc hoàn thiện các công cụ của CSTT. 30 Kết luận 34 Danh mục tài liệu tham khảo 1. Frederic S. Mishkin: “Tiền tệ, Ngân hàng và thị trường tài chính”NXB khoa học và kỹ thuật Hà nội - 1996 2 PTS. Lê Vinh Danh: “Tiền và hoạt động Ngân hàng”. NXB CTQ6- H1997 3. PTS. Nguyễn Ngọc Hùng: “Lý thuyết tiền tệ - Ngân hàng” NXB tài chính. 1998 4. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “Ngân hàng Việt Nam, quá trình xây dựng và phát triển” NXB CTQ6-H 1996 5. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “Báo cáo thường niên” các năm 1993, 1994, 1995, 1996, 1997, 1998, 1999, “Báo cáo diễn biến khu vực tiền tệ” năm 2000. 6. “Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam” NXB CTQG, H 1998 7. PTS. Nguyễn Anh Dũng - Lân Hồng Cường: “chính sách tiền tệ trên nền tảng lý luận và thực tiễn Việt Nam. TC Ngân hàng số 6/1996. 8. Nguyễn Sơn Tùng: “ Về chính sách tiền tệ mềm dẻo”. TC Ngân hàng 8/1997. 9. PTS Mai Bạn: “Xây dựng và điều hành CSTT sát hợp với thực tế Việt Nam” TC Ngân hàng số 12/1998. 10. Th.S Tô Kim Ngọc: “ Hạn chế của cơ chế điều chỉnh trực tiếp trong điều hành CSTT ở Việt Nam” TC Ngân hàng số 1+2/2000. 11. Th.S Nguyễn Thị Thuý Vân: “ Hoàn thiện các công cụ điều hành CSTT ở Việt Nam hiện nay” TC Ngân hàng số 12/1999. 12. PTS Nguyễn Văn Thắng: “ Chuyển đổi công cụ của CSTT từ trực tiếp sang gián tiếp” TC Ngân hàng số 12/1999. 13. TS. Vũ Viết Ngoạn “Toàn cầu hoá - cơ hội và thách thức đối với CSTT của Việt Nam” TC Ngân hàng số 2/1999. 14. Th.s. Nguyễn Văn Bắc: “ Một số tác động của chính sách lãi suất đối với hoạt động của NHTM trong thời gian qua” TC Ngân hàng số 6/2000 15. TS. Nguyễn Đăng Dờn: “ Vài ý kiến về lãi suất, lãi suất cơ bản và cơ xu hướng tự do hoá lãi suất ở Việt Nam hiện nay” TC Ngân hàng số 6/2000. 16. Th.s. Lê Văn Hải: “Một số giải pháp sử dụng nghiệp vụ thị trường mở”.TC Ngân hàng số 8/2000. 17. Nguyễn Hữu Nghĩa: “Vận hành nghiệp vụ thị trường mở trong cơ chế thị trường” . TC Ngân hàng số 8/2000. 18. Đức Hạnh: “Ngân hàng TW và hoạt động nghiệp vụ thị trường mở” TC khoa học và Đào tạo Ngân hàng số 4/2000. 19. PGS.PTS. Lê Văn Tư - Lê Tùng Vân “Vấn đề dự trữ tiền mặt trong hoạt động ngân hàng hiện đại” TC Ngân hàng số 8/1998 20. Ngọc Minh: “Công cụ hạn mức tín dụng hiện nay và những đề xuất trong thời gian tới” TC Ngân hàng số 23/1998. 21. PTS Nguyễn Võ Ngoạn: “Hạn mức tín dụng và lãi suất tín dụng trong hệ thống công cụ của CSTT quốc gia” TC Ngân hàng số 7/1997. 22. PTS Phạm Ngọc Long: “Hoàn thiện CSTT với việc kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế” TC Ngân hàng số 6/1997. Mở đầu Tính cấp thiết của đề tài: Chính sách tiền tệ là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực kì quan trọng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô của nền kinh tế như: đầu tư , công căán, việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát...…Và Đđể đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ thì việc sử dụng các công cụ của nó có vai trò cơ bản, quyết định. ơ ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ đặc biệt là các công cụ của nó đang từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nền kinh tế. Với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam thì việc lựa chọòn các công cụ nào, sử dụng nó ra sao ở các giai đoạn cụ thể của nền kinh tế luôn là một vấn đề thường xuyên phải quan tâm theo dõi và giải quyết đối với các nhà hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, các nhà nghiên cứu kinh tế. Đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế trong là trong bối cảnh nền kinh tế trog nước và quốc tế như hiện nay thì việc nghiên cứu về chính sách tiền tệ cụ thể là các công cụ của chính sách tiền tệ là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao. Với mục đích trau dồi kiến thức đã học và góp phần nghiên cứu, tìm hiểu về chính sách tiền tệ ,em quyết định chọn đề tài:” “Các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam -. Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”. Nội dung, đối tượng, phạm vi nghiên cứucủa đề tài: Đề tài sẽ hệ thống hoá những vấn đề có tính lý luận về chính sách tiền tệ trong nền kinh tế thị trường đồng thời qua việc khảo sát quá trình sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam (từ năm 1989 đến nay) nhằm đánh giá thực trạng sử dụng, điều hành các công cụ đó, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả các công cụ của ch`ính sách tiền tệ ở Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu: Lấy phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm phương pháp luận cơ bản kết hợp với quan điểm tiếp cận hệ thống và sử dụng các phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp cùng các phương pháp nghiên cứu kinh tế khác. Kết cấu đề tài: Ngoài phần mở đầu và kếrất luận, đề tài bao gồm 3 chương được bố cục như sau: Chương 1: Chính sách tiền tệ trong nền kinh tế thị trường Chương 2: Thực trạng việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện các công cụ của hính sách tiền tệ ở Việt Nam. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫngiúp đỡ, chỉ bảo tận tình của cô giáo Phạm Hồng Vân đã giúp em hoàn thành đề án này. Nội dung --0o0-- Chương 1 chính sách tiền tệ trong nền kinh tế thị trường . 1.1. Khái niệm, vị trí của chính sách tiền tệ : Khái niệm chính sách tiền tệ : Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung ương khởi thảo và thực thi, thông qua các công cụ , biện pháp của mình nhằm đạt các mục tiêu :ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm ,tăng trưởng kinh tế . Tuỳ điều kiện các nước, chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo hai hướng: chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền ,giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinh doanh ,giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng -chính sách tiền tệ chống thất nghiệp) hoặc chính sách tiền tệ thắt chặt(giảm cung tiền , tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng-chính sách tiền tệ ổn định giá trị đồng tiền) Vị trí chính sách tiền tệ : Trong hệ thống các công cụ đIều tiết vĩ mô của Nhà nước thì chính sách tiền tệ là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ .Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khoá,chính sách thu nhập,chính sách kinh tế đối ngoại. Đối với Ngân hàng trung ương ,việc hoạch định và thực thi chính sách chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản nhất ,mọi hoạt động của nó đều nhằm làm cho chính sách tiền tệ quốc gia được thực hiện có hiệu quả hơn. 1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ : *ổn định giá trị đồng tiền: NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình.Giá trị đồng tiền ổn định được xem xét trên 2 mặt: Sức mua đối nội của đồng tiền(chỉ số giá cả hàng hoá và dịch vụ trong nước)và sức mua đối ngoại(tỷ giá của đồng tiền nước mình so với ngoại tệ).Tuy vậy ,CSTT hướng tới ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát =0 vì như vậy nền kinh tế không thể phát triển được,để có một tỷ lệ lạm phát giảm phảI chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp tăng lên. *Tăng công ăn việc làm: CSTT mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng có hiệu qủa các nguồn lực xã hội,quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế .Để có một tỷ lệ thất nghịêp giảm thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên. *Tăng trưởng kinh tế :Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi chính phủ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để giữ cho nhịp độ tăng trưởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản tệ là rất quan trọng ,nó thể hiện lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ .Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả hai mục tiêu trên đạt được một cách hài hoà. Mối quan hệ giữa các mục tiêu :Có mối quan hệ chặt chẽ,hỗ trợ nhau, không tách rời. Nhưng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục tiêu này có thể mâu thuẫn với nhau thậm chí triệt tiêu lẫn nhau.Vậyđể đạt được các mục tiêu trên một cách hài hoà thì NHTW trong khi thực hiện CSTT cần phải có sự phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác. 1.3 Các công cụ của CSTT : 1.3.1.Nghiệp vụ thị trường mở: Khái niệm: Là những hoạt động mua bán chứng khoán do NHTW thực hiện trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua đó đIều tiết lượng tiền cung ứng. Cơ chế tác động:Khi NHTW mua (bán)chứng khoán thì sẽ làm cho cơ số tiền tệ tăng lên (giảm đi) dẫn đến mức cung tiền tăng lên (giảm đi). Nếu thị trường mở chỉ gồm NHTW và các NHTM thì hoạt động này sẽ làm thay đổi lượng tiền dự trữ của các NHTM (R ),nếu bao gồm cả công chúng thì nó sẽ làm thay đổi ngay lượng tiền mặt trong lưu thông(C) Đặc điểm:Do vận dụng tính linh hoạt của thị trường nên đây được coi là một công cụ rất năng động ,hiệu quả,chính xác của CSTT vì khối lượng chứng khoán mua( bán ) tỷ lệ với qui mô lượng tiền cung ứng cần đIều chỉnh,ít tốn kém về chi phí ,dễ đảo ngược tình thế.Tuy vậy, vì được thực hiện thông qua quan hệ trao đổi nên nó còn phụ thuộc vào các chủ thể khác tham gia trên thị trường và mặt khác để công cụ này hiệu quả thì cần phảI có sự phát triển đồng bộ của thị trường tiền tệ ,thị trường vốn. 1.3.2 Dự trữ bắt buộc: Khái niệm :Số tiền dự trữ bắt buộc là số tiền mà các NH phảI giữ lại,do NHTW qui định ,gửi tại NHTW,không hưởng lãI,không được dùng để đầu tư,cho vay và thông thường được tính theo một tỷ lệ nhất định trên tổng só tiền gửi của khách hàng để đảm bảo khả năng thanh toán,sự ổn định của hệ thống ngân hàng Cơ chế tác động:Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp đến số nhân tiền tệ (m=1+s/s+ER+RR) trong cơ chế tạo tiền của các NHTM.Mặt khác khi tăng (giảm ) tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả năng cho vay của các NHTM giảm (tăng), làm cho lãI suất cho vay tăng (giảm),từ đó làm cho lượng cung ứng tiền giảm (tăng). Đặc đIểm:Đây là công cụ mang nặng tính quản lý Nhà nước nên giúp NHTW chủ động trong việc đIều chỉnh lượng tiền cung ứng và tác động của nó cũng rất mạnh (chỉ cần thay đổi một lượng nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là ảnh hưởng tới một lượng rất lớn mức cung tiền). Song tính linh hoạt của nó không cao vì việc tổ chức thực hiện nó rất chậm ,phức tạp, tốn kém và nó có thể ảnh hưởng không tốt tới hoạt động kinh doanh của các NHTM. 1.3.3 Chính sách tái chiết khấu: Khái niệm : Đây là hoạt động mà NHTW thực hiện cho vay ngắn hạn đối với các NHTM thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu bằng việc đIều chỉnh lãI suất táI chiết khấu (đối với thương phiếu) và hạn mức cho vay táI chiết khấu(cửa sổ chiết khấu) Cơ chế tác động:Khi NHTW tăng (giảm ) lãi suất tái chiết khấu sẽ hạn chế (khuyến khích) việc các NHTM vay tiền tại NHTW làm cho khả năng cho vay của các NHTM giảm (tăng) từ đó làm cho mức cung tiền trong nền kinh tế giảm (tăng).Mặt khác khi NHTW muốn hạn chế NHTM vay chiết khấu của mình thì thực hiện việc khép cửa sổ chiết khấu lại. Ngoài ra, ở các nước có thị trường chưa phát triển (thương phiếu chưa phổ biến để có thể làm công cụ táI chiết khấu) thì NHTW còn thực hiện nghiệp vụ này thông qua việc cho vay táI cấp vốn ngắn hạn đối với các NHTM. Đặc điểm:Chính sách tái chiết khấu giúp NHTW thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng đối với các NHTM khi các NHTM gặp khó khăn trong thanh toán ,và có thế kiểm soát đựoc hoạt động tín dụng của các NHTM đồng thời có thể tác động tới việc đIều chỉnh cơ cấu đầu tư đối với nền kinh tế thông qua việc ưu đãi tín dụng vào các lĩnh vực cụ thể.Tuy vậy ,hiệu qủa của cộng cụ này còn phụ thuộc vào hoạt động cho vay của các NHTM, mặt khác mức lãi suất tái chiết khấu có thể làm méo mó ,sai lệch thông tin về cung cầu vốn trên thị trường. Trên đây là 3 công cụ tác động gián tiếp tới qui mô lượng tiền cung ứng,trong một nền kinh tế nếu NHTW sử dụng có hiệu quả cấc công cụ này thì sẽ không cần đến bất cứ một công cụ nào khác .Tuy vậy trong những điều kiện cụ thể (các quốc gia đang phát triển ;các giai đoạn kinh tế quá nóng ) thì để đạt được mục tiêu của mình ,NHTW có thể sử dụng các công cụ điều tiết trực tiếp sau: 1.3.4. Quản lý hạn mức tín dụng của các NHTM Khái niệm :là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ của các NHTM không được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định(một năm) để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình.Việc định ra hạn mức tín dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô(tốc độ tăng trưởng ,lạm phátiêu thụ..)sau đó NHTW sẽ phân bổ cho các NHTM và NHTM không thể cho vay vượt quá hạn mức do NHTW quy định . Cơ chế tác động:Đây là một cộng cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với lượng tiền cung ứng,việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho nền kinh tế có quan hệ thuận chiều với qui mô lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của NHTM. Đặc điểm:Giúp NHTW điều chỉnh ,kiểm soát được lượng tiền cung ứng khi các công cụ gián tiếp kém hiệu quả ,đặc biệt tác dụng nhất thời của nó rất cao trong những giai đoạn phát triển quá nóng,tỷ lệ lạm phát quá cao của nền kinh tế .Song nhược điểm của nó rất lớn : triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các NHTM,làm giảm hiệu quả phân bổ vốn trong nến kinh tế ,dễ phát sinh nhiều hình thức tín dụng ngoàI sự kiểm soát của NHTW và nó sẽ trở nên quá kìm hãm khi nhu cầu tín dụng cho việc phát triển kinh tế tăng lên . 1.3.5 Quản lý lãi suất của các NHTM: Khái niệm :NHTW đưa ra một khung lãi suất hay ấn dịnh một trần lãi suất cho vay để hướng các NHTM điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó,từ đó ảnh hưởng tới qui mô tín dụng của nền kinh tế và NHTW có thể đạt được quản lý mức cung tiền của mình. Cơ chế tác động:Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay giảm sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới qui mô huy động và cho vay của các NHTM làm cho lượng tiền cung ứng thay đổi theo. Đặc điểm:Giúp cho NHTW thực hiện quản lý lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của từng thời kỳ,đIều này phù hợp với các quốc gia khi chưa có điều kiện để phát huy tác dụng của các công cụ gián tiếp.Song, nó dễ làm mất đi tính khách quan của lãi suất trong nền kinh tế vì thực chất lãI suất là “giá cả” của vốn do vậy nó phải được hình thành từ chính quan hệ cung cầu về vốn trong nến kinh tế .Mặt khác việc thay đổi quy định đIều chỉnh lãI suất dễ làm cho các NHTM bị động,tốn kém trong hoạt động kinh doanh của mình. Chương 2: Thực trạng việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay. 2.1 Sự đổi mới trong việc thực hiện chính sách tiền tệ. Kể khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường thì quá trình thực hiệên ụ chính sách tiền tệ cũng được xây dựng, đổi mới theo đúng ý nghĩa kinh tế của nó và phù hợp với thực tiễn Việt Nam, thể hiện ở một số mặt sau: Cách xác định lượng tiền cung ứng: Nếu như trong thời kỳ bao cấp chúng ta chỉ quan niệm lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế chỉ bao gồm tiền mặt và mức cung là bao nhiêu, ở thời kỳ nào là do chính phủ phê duyệt thì ngày nay việc quan niệm về lượng tiền cung ứng để thay đổi bên cạnh lượng tiền mặt (C) còn tính đến khả năng tạo tiền của các NHTM, tổ chức tín dụng khác (D). Bên cạnh đó lượng tiền cung ứng hàng năm phải dựa trên cơ sở: tỉ lệ lạm phát ước tính, tốc độ tăng trưởng kinh tế theo kế hoạch, vòng quay tiền tệ...… Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ: Được sử dụng một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện Việt Nam ở các thời điểm cụ thể chứ không đông cứng, đóng băng như thời kì bao cấp (lãi mất cố định nhiều năm...…) Cơ chế điều hành: Năm 1988, Hệ thlống NH đã được phân thành 2 cấp NHNN và các NHTM, trong đó NHNN là cơ quan quản lý Nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ- tín dụng- ngân hàng; trực thuộc chính phủ. Thống đốc NHNN có quyền chủ động hơn và chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. 2.2 Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ những năm qua. 2.2.1. Công cụ lãi suất: ở Việt Nam, lãi suất được sử dụng như công cụ chính của chính sách tiền tệ, nó là yếu tố đánh dấu sự chuyển biến từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá stập trung sang cơ chế thị trường, nó còn là công cụ quan trọng để chuyển các Ngân hàng sang cơ chế tự hạch toán kinh doanh. Giai đoạn 1988- 1991: Chính sách lãi suất được thay đổi cơ bản: Lãi suất tiết kiệm cao hơn tốc độ trượt giá (lạm phát ), nâng lãi suất tiền gửi và tiền vay của các tổ chức kinh tế tiến gần với lãi suất huy động tiết kiệm.Lãi suất cho vay vốn lưu động và tốc độ lạm phát (%) ư Biểu1: Lãi suất cho vay vốn lưu động và tốc độ lạm phát(%). Từ T3/- 81;- T T10/-191 1. Lãi tiết kiệm - Loại 3T 3/89 6/89 7/89 2/90 IV/90 7/91 10/91 12 9 7 7 4 3,5 3,5 - Loại không kì hạn 9 7 5 5 2,4 2,1 2,1 2. Lãi cho vay vốn lưu động 6,8-6,5 5,1-5,5 3-4 3-4 1,8 1,8 2,1-3,7 3. Tốc độ ép + 5,4 - 2,9 -2,5 +0,2 +7,6 +2,5 +5,5 Nhờ việc tăng lãi suất huy động vốn đã thực hiện được chủ trương của NhHà nước là đâỷ lùi lạm phát và có cơ sở để thực hiện việc tài trợ vốn c c ho các xí nghiệp quốc doanh đang lâm vào tình trạng khủng hoảng lúc bấy giờ. Song xét trên bình diện toàn nền kinh tế thì chúng ta đã thất bại trong lĩnh vực đầu tư vì lãi suất cho vay quá cao, vốn ngân hàng ứ đọng, nền kinh tế phát sinh các hoạt động kinh tế thiếu tính cực : vay tiền chơi đề, hoặc để gửi lãi ăn chênh lệch. Tình trạng đó đã dẫn đến sự đổ bể của các HTX tín dụng còn các NHTM thực chất là phá sản nếu không có bàn tay cứu giúp của Nhà nước. Việc thi hành chính sách lãi suất thực dương đã được thực hiện nhưng lại chưa triệt để vì thực tế với các ngân hàng thì lãi suất cho vay lại nhỏ hơn lãi suất huy động: Năm 1991 lãi suất huy động tiết kiệm 45% năm; chỉ số trượt giá bình quân 43,4% năm ; lãi suất cho vay 40,2% năm. Giai đoạn 1992-1995: Lãi suất đã bắt đầu được sử dụng như công cụ chính của CSTT, lãi suất thực dương bắt đầu được duy trì từ cuối 1992, điều chỉnh linh hoạt cùng với tỉ lệ lạm phát và bám sát thị trường (trong thời gian 2 năm từ T8/1992-T8/1994 mức lãi suất được điều chỉnh tới 6 lần), NHNN khống chế “sàn ” lãi suất tiền gửi, trần lãi suất cho vay và có một bộ phận cho vay theo lãi suất thoả thuận (T8/1992: Lãi tiết kiệm loại 3 tháng: 2,3%, lãi cho vay 2,5%, lạm phát +0,3%). ***** mức lãi suất tái cấp vốn quy định là 1,1% tháng, từ T8/1997là 0,9% ). Do trong năm 1997 các NHTM đã tích cực hơn trong việc trả nợ NHNN và khả năng huy động vốn tăng nên đến cuối 1997, dư nợ tái cấp vốn của NHNN giảm 11,9% so với 1996. Năm 1998, để thực hiện chính sách tiền tệ “thắt chặt” nhằm hạn chế sự gia tăng lạm phát do ảnh hưởng cuả cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, NHNN đã tăng lãi suất chất khẩu từ 1% tháng 1,1% tháng (thấp hơn tiền lãi suất cho vay ngắn hạn là 0,1% tháng. Năm 1999, với mục tiêu khuyến khích tăng trưởng kinh tế, khắc phục nguy cơ giảm phát NHNN đã 4 lần điều chỉnh giảm lãi suất cho vay tái cấp vốn từ mức 1,1% tháng đầu năm xuất 0,5% tháng đồng thời quy chế về nghiệp vụ chất khấu, tái chiết khấu đã được ban hành để phát triển một bước hiệu quả công cụ này trong chính sách tiền tệ và tạo khả năng cân đối nguồn vốn hoạt động cho các ngân hàng. Các giấy tờ có giá ngắn hạnh được chiết khấu tại NHNN là tín phiếu kho Bạc, trái phiếu NHNN và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác do NHNN quy định ở mỗi thời kỳ. Mức lãi suất tái chiết khấu được công bố là 0,45% tháng. Từ đầu năm đến cuối tháng 7/2000, nhằm khuyến khích mở rộng tín dụng của các TCTD, NHNN đã 2 lần giảm lãi suất tái cấp vốn từ 0,5% tháng xuống 0,45% tháng (31/3/2000) và xuống 0,4% tháng (31/7/2000). Đồng thời NHNN cũng giảm lãi suất tái chiết khấu từ 0,45% tháng xuống còn 0,4% tháng (T3/2000) và xuống 0,35% tháng (T7/2000). Tuy vậy cho đến T9 /2000 để hạn chế các TCTD bù đắp thiếu hụt thanh toán qua hình thức vay tái cấp vốn, tái chiết khấu từ NHNN và khuyến khích thực hiện bù đắp qua thị trường mở nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường này, đồng thời tạo tín hiệu cho các TCTD tăng lãi suất huy động, ngày 2/11/2000 NHNN đã điều chỉnh tăng lãi suất tái cấp vốn lên 0,5% tháng và tăng lãi suất tái chiết khấu lên 0,45% tháng. Như vậy công cụ cho vay chiết khấu đã dần được áp dụng theo đúng bản chất của nó là tín hiệu cho các NHTM điều chỉnh lãi suất cùng với sự phát triển của thị trường ở Việt Nam , trở thành một công cụ đắc lực của chính sách tiền tệ quốc gia... ******* Để thực hiện nguyên tắc trên đồng thời tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay để khuyến khích đầu tư phát triển trong nền kinh tế một số biện pháp sau đây đã được sử dụng: . Thay đổi cơ cấu nguồn vốn ngân hàng theo hướng tăng nhanh nguồn vốn có lãi suất thấp ( tăng tiền gửi giao dịch, vốn tín dụng nước ngoài, vốn ngân sách) . Thu hẹp chênh lệch lãi suất huy động và cho vay giữa ngoại tệ và bản tệ theo hướng tăng lãi suất đối với ngoại tệ: Lãi suất cho vay ngoại tệ năm 1993 là 7,5% lên 8,5% năm 1994 và 9,0% năm 1995 và điều chỉnh hàng tháng lãi suất ngoại tệ theo biến động lãi mất thị trường TCQT SINGAPORE. . Qua việc quốc hội thông qua dự luật bỏ thuế doanh thu NH đã hỗ trợ cho NHNN tiến thêm một bước trong việc cải tiến lãi suất vào cuối T12/1995: Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa giảm từ 2,1% tháng xuống 1,75% tháng ; lãi suất cho vay trung - dài hạn được giữ nguyên không quá 1,7% tháng. Mặt khác có quy định để các NHTM tuân thủ chênh lệch lãi suất bình quân giữa huy động và cho vay là 0,35% tháng. Ngoài ra, từ T8/94: Chính sách lãi suất TD còn được cải cách theo hướng nâng lãi suất tiền gửi có kì hạn lên gần với lãi suất tiền gửi tiết kiệm của dân cư cùng kì hạn để bảo đảm lợi ích kinh tế chính đáng của họ và khuyến khích họ gưỉ tiền vào ngân hàng. Đồng thời thực hiện lãi suất cho vay trung, dài hạn cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn: Năm 1994 giữ nguyên mức lãi suất cho vay ngắn hạn; nâng lãi suất cho vay trung hạn, dài hạn từ 1,2% lên 1,7% tháng. Quá trình cải cách lãi suất trên đã nâng cao tính chủ động cho các NHTM trong việc ấn định mức lãi suất cụ thể theo yêu cầu huy động vốn và nhu cầu tín dụng thị trường, tăng sự cạnh tranh trong hoạt động tín dụng và làm giảm chi phí NH có lợi cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho các NHTM thực hiện điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo mục tiêu chính sách tín dụng. Giai đoạn từ 1996- Nay: Đến cuối 1996, NHNN chỉ quy định các mức lãi suất :“trần” theo thời hạn cho vay và khống chế tỷ lệ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn bình quân chung là 0,35%(tháng) (4,2% năm). Trong phạm vi “trần” lãi suất và tỷ lệ chênh lệch lãi suất được công bố, các NHTM được điều chỉnh linh hoạt các mức lãi suất cho vay và huy động vốn phù hợp với quan hệ cung cầu về vốn và đặc điểm kinh doanh riêng. Sau 4 lần điều chỉnh lãi suất kể từ cuối 1995: Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa giảm từ 22% năm xuống 15% năm, lãi suất cho vay trung- dài hạn giảm 21% năm xuống còn 16,2% năm. Mặt khác nhằm điều chỉnh các luồng vốn dư thừa từ thành thị về nông thôn thì lãi suất cho vay ở nông thông được duy trì cao hơn một chút so với lãi suất cho vay ở thành thị. Trong năm 1997, với mục tiêu góp phần tăng trưởng kinh tế và phù hợp xu hướng giảm lãi suất, việc quy định trần lãi suất cho vay giảm mạnh, T7/1997 lãi suất cho vay ngắn hạn giảm từ 1,2% tháng xuống 1% tháng, lãi suất cho vay trung dài hạn giảm từ 1,35% tháng xuống 1,1% tháng ,chênh lệch lãi suất huy động và cho vay bình quân quy định là 0,35% tháng(4,2% năm) Tuy nhiên từ quý IV năm 1997, do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảáng tài chính tiền tệ trong khu vực, đồng USD có xu hướng lên giá và lãi xuất tiền gửi bằng USD ở mức cao trong khi lãi suất huy động của VND ở mức thấp nên đã có hiện tượng người gửi tiền rút VND để chuyển sang USD. Nhiều tổ chức kinh tế và dân cư gămắ n giữ USD gây khó khăn cho các NHTM và tăng sức ép đối với đồng tiền nội tệđịa, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn cho thị trường tiền tệ và việc huy động vốn của các NHTM, đặc biệt là một số NHTM cổ phần. . Trước tình hình đó, ngày 20/1/1998, thống đốc NHNN ra QĐ số 39/1998 / QĐ- NHNN1 N một với nội dung chủ yếu là: - Đưa ra mức trần lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng bằng VND: lãi cho vay ngắn hạn từ 1%-1,2% tháng; lãi suất cho vay trung và dài hạnh ltà a 1,1- 1,25% tháng ; đồng thời xoá bỏ sự chênh lệch về lãi suất giữa 2 khu vực thành thị và nông thôn. Đó là cơ sở tăng lãi suất huy động vốn VND. Hạn chế rút tiền VND tích trữ USD ,tăng1 vốn cho sản xuất kinh doanh. - Quy định trần lãi suất cho vay bằng USD vẫn giữ nguyên 8,5% năm như trước đây đồng thời NHNN còn quy định lãi suất tiền gửi tối đa của các pháp nhân tại TCTD nhằm hạn chế việc quản lí ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi góp phần tăng cường cho việc quản lí ngoại hối. - Đến cuối năm, trần lãi suất cho vay bằng USD được điều chỉnh giảm từ 8,5 % xuống 7,5% năm để phù hợp với cân bằng lãi suất LiBOoR, SiBOR hiệnội hành; đồng thời góp phần mở rộng cho vay ngoại tệ đối với nền kinh tế. Nhìn chung việc điều chỉnh lãi suất trong năm 1998 là phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô M và tỷ giá, nó đã có tác động tích cực đối với việc huy động vốn và cho vay trong nền kinh tế. Tổng số vốn huy động ở hầu hết các tổ chức tín dụng đều tăng lên điều đó cho thấy mối tương quan giữa lạm phát và lãi suất tiền gửi được coi là tương đối hợp lý. Từ đó, quy mô tín dụng cung ứng cho nền kinh tế tăng lên đặc biệt tín dụng bằng VND có tốc độ tăng cao hơn. Thị trường ngoại tệ ,tỉ giá VND/USD lại trở về trạng thái tương đối ổn định. Bước sang năm 1999, nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng chững lại, đĐể phù hợp với chỉ số lạm phát, quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường tiền tệ và thực hiện giải pháp kích cầu về đầu tư của chính phủ , NHNN đã 5 lần điều chỉnh trần lãi suất cho vay bằng VND theo xu hướng giảm: Từ 1,2% tháng (ngắn hạn) và (1,25%tháng -trung dài hạn) xuống mức thấp nhất là 0,85% tháng (thành thị); 1% tháng (nông thôn); 1,15% tháng (NHTMCP nông thôn- Quỹ TDND cơ sở ); 0,7% (NH phục vụ người nghèo). Trần lãi suất cho vay bằng USD là 7,5% năm. Sự điều chỉnh lãi suất trên là quyết định hết sức kịp thời và phù hợp với diễn biến của nền kinh tế, kích thích tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh nguy cơ giảm phát đang là chậm lại tốc độ tăng trưởng. Năm 2000, lãi suất trong nước có những diễn biến khá phức tạp .tThực hiện chủ trương kích cầu của chính phủ, lãi suất cho vay bằng VND vẫỗn tiếp tục được điều chỉnh theo xu hướng giảm: lãi suất cho vay phổ biến gỉam từ 0,75% tháng xuống 0,70% một tháng. Trong khi đó lãi suất ngoại tệ lại chịu tác động của thị trường tài chính quốc tế, trong năm 2000, lãi suất thị trường quốc tế liên tục tăng buộc lãi suất ngoại tệ trong nước cũng phải tăng theo (từ 3,5% năm lên- 4,5% năm ), nhiều khibên lãi suất VND thấp hơn lãi suất USD. Ngày 2/8/2000, NHNN đãủ quyết định thay đổi cơ chế điều hành lãi suất: chuyển từ cơ chế điều hành trần lãi suất sang cơ chế điều hành theo lãi suất cơ bản đối với cho vay bằng VND và cơ chế lãi suất thị trường có quản lý đối với cho vay bằng ngoại tệ: Đối với cho vay VND, lãi suất cho vay không vượt quá lãi suất cơ bản được công bố hàng tháng. Hiện nay, lãi suất cơ bản là 0,75% tháng, biên độ cho vay ngắn hạn là 0,3% tháng, biên độ cho vay trung và dài hạn là 0,5% tháng. Đối với lãi suất cho vay USD, lãi suất cho vay không vượt quá lãi suất USD trên thị trường liên NH Singapore (SiBOR) kì hạn 3 tháng đôýí với cho vay ngắn hạn, kì hạn 6 tháng đối với cho vay trung dài hạn tại thời điểm cho vay cộông biên độ do thống đốc NHNN quy định (Hiện nay biên độ cho vay ngắn hạn là 1% năm , biên độ cho vay trung dài hạn là 2,5% năm ). Còn đối với các ngoại tệ khác do chiếm tỷ trọng nhỏ trong hoạt động tiền gửi T D nên cho phép các TCTD tự xác định. Với nội dụng điều hành lãi suất cơ bản như trên cho thấy lãi suất cơ bản được xác định trên cơ sở lãi suất thị trường với mức độ rủi ro thấp, đảm bảo sựụ kiểm soát lãi suất của NHNN, phù hợp thực tiễn Việt Nam, đây là một bước tiến mới, bước đi tiếp theo trong tiến trình tự do hoá lãi suất. Như vậy, chính sách lãi suất linh hoạt và phù hợp cùng với việc ổn định tỷ giá VND/USD trong những năm qua không những góp phần quan trọng trong quá trình ổn định kinh tế vĩ mô mà còn ổn làm tăng tính hấp dẫn của đồng tiền Việt Nam và lòng tin của dẫn chúứng vào hệ thống ngân hàng, giảm dần tình trạng sử dụng hay cất trữ USD, từng bước đẩy lùi tình trạng “đô la hoá” ở Việt Nam. Điều đó chứng tỏ rằng: Trong điều kiện nền kinh tế thị trường từng phát triển chưa cao, việc sử dụng lãi suất làm công cụ điều hàạnh chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam là hoàn toàn cần thiết và đúng đắn. 2.2.2 Công cụ HHạn Mmức Ttín dụng: Đây là công cụ được coi là cần thiết ở Việt Nam trong những năm đầu của thời kì đổi mới hiệu quả của nó đã thể hiện rõ rệt trong việc chống lạm phát: Những năm 1990-1991do lạm phát còn ởi tỉ lệ cao (67,6% tháng ). Để khống chế lạm phát, NHNN chủ trương thi hành CSTT chính sách tiền tệ “thắt chặt” ngay từ đầu năm để giảm bớt lượng tiền cung ứng. Dựa trên một số chỉ tiêu vĩ mô dự kiến năm 1992 là: Tăng trưởng kinh tế (4,5%); chỉ số lạm phát (30%/ năm), NHNN đưa ra hạn mức tín dụng đối với tất cả hệ thống NHTM là 34,5% (mức tăng so với năm trước) . Bằng nhiều biện pháp kết hợp, năm đó chúng ta đã đạt được kết quả thực tế rất khả quan: mức tăng trưởng kinh tế tăng gấp 2 lần so với dự kiến (8,65%), mức lạm phát thấp hơn dự kiến rất nhiều (17,6%), tiền tệ đi dần vào ổn định. ở ở thời kỳ đầu, công cụ hạn mức T D chỉ áp dụng cho 4 NHTMQD(, NH Ngoại thương, NH Công thương, NH Nông nghiệp, NH đầu tư phát triển) nhưng sau vài năm đổi mới, do quy mô mở rộng tín dụng của các NHTM quá nhanh, số lượng các NHTM ngày càng nhiều nên N._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc8652.doc