Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần chế tạo máy biến thế Hà Nội

Mục lục Mục lục ---------------------------------------------------------------------------------- 1 Lời nói đầu N ền kinh tế thị trường đang đặt ra cho cỏc doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhiều sức ộp. Để tồn tại và phỏt triển đũi hỏi cỏc doanh nghiệp phải khụng ngừng đổi mới để thớch ứng với điều kiện kinh doanh hiện nay. Ngoài cỏc hoạt động về quản lý, hoạt động kế toỏn cũng giữ một vai trũ vụ cựng quan trọng trong mỗi doanh nghiệp. Kế toỏn khụng những là bộ phận hỗ trợ, cung cấp thụng t

doc53 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1086 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần chế tạo máy biến thế Hà Nội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
in cho cỏc nhà quản trị về tỡnh hỡnh sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà cũn cung cấp cỏc thụng tin tài chớnh về tỡnh hỡnh sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cho cỏc đối tượng cú quan tõm. Một doanh nghiệp cú bộ phận kế toỏn phỏt triển cũng đồng nghĩa với một doanh nghiệp cú nhiều thành cụng trong sản xuất kinh doanh. Chớnh vỡ vậy, mọi doanh nghiệp dự lớn hay nhỏ, dự hoạt động theo bất kỳ phương thức nào thỡ cũng khụng thể thiếu được bộ phận kế toỏn. Công ty cổ phần chế tạo máy biến thế Hà Nội là một doanh nghiệp mới được thành lập với ngành nghề kinh doanh là: Sản xuất máy móc thiết bị điện và sản phẩm chính là máy biến thế. Đây là một doanh nghiệp sản xuất, tạo ra sản phẩm. Việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là phần hành kế toán quan trọng nhất trong tổ chức công tác kế toán tại doanh nghiệp. Qua thời gian thực tập tại Công ty, em nhận thấy rằng việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty có nhiều điểm cần phải quan tâm và rất quan trọng. Chính vì vậy, em chọn đề tài: “ Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần chế tạo máy biến thế Hà Nội” cho luận văn tốt nghiệp của mình. Nội dung của luận văn gồm 03 phần chính: - Phần I: Cơ sở lý luận của đề tài: “Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần chế tạo máy biến thế Hà Nội”. - Phần II: Thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần chế tạo máy biến thế Hà Nội. - Phần III: Phương hướng hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần chế tạo máy biến thế Hà Nội. Trước khi đi vào nội dung bài viết, em xin chõn thành cảm ơn Quý cụng ty đó giỳp đỡ em trong quỏ trỡnh thực tập để em cú được những thụng tin thực tế về doanh nghiệp. Em cũng xin chõn thành cảm ơn thầy giỏo Phạm Thành Long là người trực tiếp hướng dẫn để em hoàn thành tốt bài viết này. Sinh viờn Ngô Thị Thu Thịnh Nội dung Phần I:Những vấn đề lý luận chung về kế toán tập hơp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần chế tạo máy biến thế hà nội” Để đánh giá về thực trạng công tác hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại doanh nghiệp một cách chính xác, khách quan và đầy đủ em sẽ tìm hiểu về cơ sở lý luận của đề tài này. Qua đó em có cơ sở để đối chiếu, so sánh thực tế công tác kế toán tại công ty với chế độ kế toán hiện hành. 1. Một số nội dung cơ bản về chi phí và giá thành sản phẩm Hiện nay, trong nền kinh tế có hai chế độ kế toán đang được áp dụng. Đó là chế độ kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp lớn và chế độ kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chế độ kế toán doanh nghiệp lớn là chế độ kế toán ban hành theo Quyết định số 1141-TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ Tài chính. Còn chế độ kế toán áp dụng trong doanh nghiệp vừa và nhỏ là chế độ kế toán ban hành theo Quyết định số 1177 TC/QĐ/CĐKT ngày 23/12/1996 và Quyết định số 144/2001/QĐ-BTC ngày 21/12/2001. Đối chiếu với luật doanh nghiệp và chế độ kế toán hiện hành mà các doanh nghiệp xác định ra chế độ kế toán để áp dụng trong doanh nghiệp cho phù hợp và cho đúng với chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành. Chế độ kế toán áp dụng cho doanh nghiệp lớn và chế độ kế toán áp dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ về phương pháp tổ chức hạch toán kế toán là giống nhau. Tuy nhiên cũng có một số điểm khác nhau về nội dung hạch toán và cách thức tổ chức hạch toán. Trong phần hành kế toán hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, tại doanh nghiệp lớn (doanh nghiệp Nhà nước) và doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có điểm khác biệt. Sự khác biệt nhất đó là việc sử dụng tài khoản để tập hợp chi phí sản xuất. Tại doanh nghiệp lớn, chi phí sản xuất được tập hợp trên các tài khoản: TK621 “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”, TK 622 “Chi phí nhân công trực tiếp”, TK623 “Chi phí sử dụng máy thi công” (sử dụng trong doanh nghiệp xây lắp), và tài khoản 627 “Chi phí sản xuất chung”. Còn tại doanh nghiệp vừa và nhỏ, chi phí sản xuất được tập hợp trên tài khoản 154 “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”. Để thuận tiện cho việc hạch toán trong mỗi doanh nghiệp, kế toán doanh nghiệp phải thiết lập hệ thống tài khoản cấp 2, 3, mở chi tiết tài khoản 154 cho phù hợp. Nội dung luận văn của em nghiên cứu tại doanh nghiệp vừa và nhỏ, do vậy em sẽ trình bày về chế độ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại doanh nghiệp vừa và nhỏ theo chế độ kế toán ban hành theo Quyết định số 1177 TC/QĐ/CĐKT ngày 23/12/1996 và Quyết định số 144/2001/QĐ-BTC ngày 21/12/2001. Với một doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, sản phẩm hoàn thành phải trải qua thời gian dài, nhiều phân xưởng, và sản phẩm sản xuất đơn chiếc. Do đó, việc tổ chức theo dõi chi phí để hạch toán và tính giá thành cần thực hiện qua thời gian dài. Và tính giá thành đơn vị sản phẩm một cách trực tiếp chứ không cần phải tính tổng giá thành sản phẩm hoàn thành rồi chia ra cho đơn vị sản phẩm. 1.1 Chi phí sản xuất 1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất Xã hội loài người đã trải qua nhiều phương thức sản xuất khác nhau. Nền sản xuất xã hội của bất kỳ phương thức sản xuất nào cũng gắn liền với sự vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất. Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp của ba yếu tố: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Đồng thời quá trình sản xuất hàng hoá cũng chính là quá trình tiêu hao của chính bản thân các yếu tố trên. Như vậy, để tiến hành sản xuất hàng hoá, người sản xuất phải bỏ chi phí về thù lao lao động, về tư liệu lao động và đối tượng lao động. Vì thế, sự hình thành nên các chi phí sản xuất để tạo ra các giá trị của sản phẩm sản xuất là tất yếu khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người. Vậy, chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, qúy, năm). Hay nói cách khác, chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một kỳ để thực hiện quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Thực chất của chi phí là sự dịch chuyển vốn – chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính giá (sản phẩm, lao vụ, dịch vụ). Trong một kỳ hạch toán, doanh nghiệp có rất nhiều khoản chi tiêu. Nhưng chỉ được tính là chi phí của kỳ hạch toán những hao phí về tài sản và lao động có liên quan đến khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ chứ không phải mọi khoản chi ra trong kỳ hạch toán. Phân loại chi phí. Chi phí sản xuất kinh doanh có rất nhiều loại. Căn cứ vào yêu cầu của công tác quản lý và hạch toán chi phí để phân loại chi phí cho phù hợp nhằm tạo thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán chi phí. Phân loại chi phí là việc sắp xếp các loại chi phí khác nhau vào từng nhóm theo những đặc trưng nhất định. Trên thực tế có rất nhiều cách phân loại khác nhau. Tuy nhiên, lựa chọn phương pháp phân loại nào là phải dựa vào mục đích và yêu cầu của công tác quản lý và hạch toán tại từng doanh nghiệp cụ thể. Về mặt hạch toán, chi phí thường được phân theo bốn tiêu thức sau: . Phân loại chi phí theo yếu tố chi phí Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh, chi phí được phân theo yếu tố. Cách xây dựng này giúp cho việc xây dựng và phân tích định mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí. Theo qui định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí được chia thành 07 yếu tố sau: Yếu tố nguyên liệu, vật liệu; yếu tố nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ; Yếu tố tiền lương và các khoản phụ cấp lương; Yếu tố bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn trích theo tỷ lệ qui định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả cho người lao động; Yếu tố khấu hao TSCĐ; Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài; Yếu tố chi phí khác bằng tiền. Phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm. Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân loại theo khoản mục chi phí. Cách phân loại này dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng. Theo qui định hiện hành giá thành sản phẩm bao gồm 05 khoản mục chi phí sau: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp; Chi phí nhân công trực tiếp; Chi phí sản xuất chung; Chi phí quản lý kinh doanh. Phân loại theo cách thức kết chuyển chi phí. Theo cách thức kết chuyển chi phí, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ. Chi phí sản phẩm là những chi phí gắn liền với các sản phẩm được sản xuất ra hoặc được mua. Chi phí thời kỳ là những chi phí làm giảm lợi tức trong một thời kỳ nào đó, nó không phải là một phần giá trị sản phẩm được sản xuất ra hoặc được mua nên đựơc xem là các phí tổn cần được khấu trừ ra từ lợi nhuận của thời kỳ mà chúng phát sinh. Phân loại theo quan hệ của chi phí với khối lượng công việc, sản phẩm hoàn thành. Để thuận lợi cho việc lập kế hoạch và kiểm tra chi phí, đồng thời làm căn cứ để đề ra các quyết định kinh doanh, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ lại được phân loại theo quan hệ với khối lượng công việc hoàn thành. Theo cách này, chi phí được phân thành biến phí và định phí. Biến phí là những chi phí thay đổi về tổng số, về tỷ lệ so với khối lượng công việc hoàn thành, ví dụ như chi phí về nguyên liệu, nhân công trực tiếp... Chi phí biến đổi nếu tính trên một đơn vị sản phẩm thì lại không đổi. Định phí là những chi phí không đổi về tổng số so với khối lượng công việc hoàn thành, chẳng hạn các chi phí về khấu hao TSCĐ, chi phí thuê mặt bằng, phương tiện kinh doanh, chi phí quảng cáo, tiếp thị theo thời kỳ... Các chi phí này nếu tính cho một đơn vị sản phẩm thì lại thay đổi nếu số lượng sản phẩm thay đổi. 1.2 Giá thành sản phẩm. 1.2.1Khái niêm và bản chất của giá thành Để tạo ra một khối lượng công tác, sản phẩm lao vụ đều phải tiêu hao một lượng chi phí nhất định. Tất cả các chi phí để tạo ra khối lượng công việc, sản phẩm, lao vụ đó tạo nên gía thành sản phẩm. Vậy, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ hoàn thành. Giá trị sản phẩm phản ánh lượng giá trị của những hao phí lao động sống và lao động vật hoá đã thực sự chi ra cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, tiêu thụ phải được bồi hoàn để tái sản xuất ở doanh nghiệp mà không bao gồm những chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Những chi phí đưa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh được giá trị thực của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất, tiêu thụ và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn chi phí lao động sống. Mọi cách tính toán chủ quan, không phản ánh đúng các yếu tố giá trị trong giá thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ các quan hệ hàng hoá - tiền tệ, không xác định được hiệu quả kinh doanh và không thực hiện được tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng. 1.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm: Do yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành cũng như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành đựoc xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều phậm vị tính toán khác nhau. Do đó, có nhiều cách phân laọi giá thành khác nhau. Phân loại giá thành theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm được chia thành 03 loại: Giá thành kế hoạch; Giá thành định mức; Giá thành thực tế. Cách phân loại này tạo điều kiện thuận lợi trong việc giám sát và quản lý chi phí. Qua cách phân loại này, chúng ta so sánh được giá thành giữa kế hoạch, định mức với thực tế, và xác định các nguyên nhân, vượt (hụt) định mức. Từ đó, điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức cho phù hợp. Phân loại giá thành theo phạm vi phát sinh chi phí: Theo phạm vi phát sinh chi phí, giá thành sản phẩm được chia thành 02 loại: giá thành sản xuất và giá thành tiêu thụ. Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả kinh doanh (lãi, lỗ) của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh. Tuy nhiên, do những hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí quản lý kinh doanh cho từng mặt hàng, từng loại dịch vụ nên cách phân loại này chỉ mang ý nghĩa nghiên cứu. 1.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trang 9 1.4 Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành sản phẩm 1.4.1 Đối tương tập hợp chi phí sản xuất Để phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm chính xác, nhanh chóng cần tiến hành hạch toán chi tiết chi phí sản xuất theo từng đối tượng tính giá. Việc tổ chức hạch toán chi tiết chi phí sản xuất bao gồm: - Mở sổ, thẻ hạch toán chi tiết chi phí sản xuất theo từng đối tượng tập hợp chi phí, mở sổ riêng cho từng tài khoản. Căn cứ để ghi sổ là các sổ, thẻ kế toán chi tiết của kỳ kế toán trước, các chứng từ gốc, các bảng phân bổ, bảng kê chi phí… - Tập hợp các chi phí phát sinh trong kỳ và phân bổ cho từng đối tượng hạch toán. - Tổng hợp các chi phí phát sinh theo từng nội dung cho từng đối tượng hạch toán chi phí vào cuối kỳ kế toán làm cơ sở cho việc tính giá thành. Lập thẻ tính giá thành, dịch vụ theo từng loại. Căn cứ để lập thẻ tính giá thành là thẻ tính giá thành của kỳ trước, sổ hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh kỳ này và biên bản kiểm kê. 1.4.2 Xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm Do có sự khác nhau cơ bản về giới hạn tập hợp chi phí sản xuất và sản phẩm hoàn thành cần phải tính giá thành một đơn vị, việc hạch toán quá trình sản xuất có thể phân thành 02 giai đoạn là giai đoạn xác định đối tượng tập hợp chi phí và giai đoạn xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm.Về thực chất, xác định đối tượng tính giá thành chính là việc xác định sản phẩm, bán thành phẩm, công việc, lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính giá thành một đơn vị. Đối tượng đó có thể là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay đang trên dây chuyền sản xuất tuỳ theo yêu cầu của hạch toán kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản phẩm. Để phân biệt được đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành ngay cả khi chúng đồng nhất là một, cần dựa vào quy trình công nghệ sản xuất (giản đơn hay phức tạp), vào loại hình sản xuất (đơn chiếc, hàng loạt), vào yêu cầu, trình độ quản lý (cao, thấp)... Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành phẩm khác nhau nên phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và xác định phương pháp tính giá thành phẩm cũng khác nhau. Về cơ bản, có các phương pháp tính giá thành phẩm sau: Phương pháp trực tiếp (còn gọi là phương pháp giản đơn); Phương pháp tổng cộng chi phí (Giá thành sản phẩm = Z1 + Z2 + Z3 + ....+ Zn ); Phương pháp hệ số; Phương pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ; Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng; Phương pháp tính giá thành theo phương pháp phân bước. Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng áp dụng trong những doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng của khách hàng. Trong đó đơn đặt hàng là yêu cầu của khách hàng về một loại sản phẩm cụ thể và sau khi sản xuất và giao xong cho khách hàng thì sản phẩm đó không được tiếp tục sản xuất nữa. Đối tượng hạch toán chi phí là từng đơn đặt hàng, còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành trong đơn đặt hàng. Đối với những chi phí trực tiếp phát sinh liên quan đến đơn đặt hàng nào thì hạch toán luôn cho đơn đặt hàng đó. Đối với những chi phí chung liên quan đến nhiều đơn đặt hàng thì phải hạch toán riêng sau đó phân bổ cho từng đơn đặt hàng theo tiêu thức phù hợp. Cuối kỳ kế toán, nếu đơn đặt hàng chưa hoàn thành thì chưa tính giá thành, toàn bộ chi phí sản xuất trở thành giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ. Khi đơn đặt hàng hoàn thành thì mới tiến hành tính giá thành cho đơn đặt hàng. Để phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm chính xác, nhanh chóng cần tiến hành hạch toán chi tiết chi phí sản xuất theo từng đối tượng tính giá. Việc tổ chức hạch toán chi tiết chi phí sản xuất bao gồm: - Mở sổ, thẻ hạch toán chi tiết chi phí sản xuất theo từng đối tượng tập hợp chi phí, mở sổ riêng cho từng tài khoản. Căn cứ để ghi sổ là các sổ, thẻ kế toán chi tiết của kỳ kế toán trước, các chứng từ gốc, các bảng phân bổ, bảng kê chi phí… - Tập hợp các chi phí phát sinh trong kỳ và phân bổ cho từng đối tượng hạch toán. - Tổng hợp các chi phí phát sinh theo từng nội dung cho từng đối tượng hạch toán chi phí vào cuối kỳ kế toán làm cơ sở cho việc tính giá thành. Lập thẻ tính giá thành, dịch vụ theo từng loại. Căn cứ để lập thẻ tính giá thành là thẻ tính giá thành của kỳ trước, sổ hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh kỳ này và biên bản kiểm kê. 1.4.3 Mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm 1.5 Sự cân thiết phải hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 1.6 Nhiệm vụ của kế toán tập hợp chi phía sản xuất và tính gia thành sản phẩm cả 3 câu này từ 11 đên 12 2.Phương pháp hạch toán kế toán 2.1 Phương pháp kế toán chi phí sản xuất 2.1.1 Kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thương xuyên 2.1.1.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 2.1.1.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp 2.1.1.3Kế toán chi phí sản xuất chung 2.1.1.4 Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất, kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang 2.1.2 Kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ 2.1.2.1 Kế toan chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 2.1.2.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp 2.1.2.3 Kế toan chi phí sản xuất chung 2.1.2.4 Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất 2.2 Các phương pháp tính giá thành sản phẩm sản xuất 2.2.1 Kỳ tính giá thành 2.2.2 Phương pháp tính giá thành từ trang 12 đến trang 25 Phần II Thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần chế tạo máy biến thế Hà Nội. 1. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật và tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần chế tạo máy biến thế Hà Nội THINH COPY ở SửA 2 SANG HOA COPY SANG Nó TOàN Bị LệCH 1.1. Quá trình hình thành và phát triển. 2 Đánh giá khái quát về công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở công ty chế tạo may biến thế Hà Nội trang 74 đến 75 2.1 Những ưu điểm trong công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 2.2. Một số điểm tồn tại cân khắc phục 3. Yêu cầu hoàn thiện kế toán chi phí tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 4. Thực trạng kế toán chi phí sản xuất ở công ty cổ phần chế tạo máy biến thế Hà Nội 2.Thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Là một doanh nghiệp được tổ chức theo mô hình doanh nghiệp vừa và nhỏ nên hệ thống kế toán mà doanh nghiệp áp dụng là hệ thống kế toán ban hành theo Quyết định số 1177/QĐ/CĐKT ngày 23/12/1996 và Quyết định số 144/QĐ/TC/BTC ngày 31/12/2002 quy định về chế độ kế toán áp dụng trong doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vì vậy, trong tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cũng đơn giản hơn so với những doanh nghiệp Nhà nước. 2.1. Đặc điểm, nội dung hạch toán chi phí sản xuất tại doanh nghiệp. Chi phí sản xuất sản phẩm được chia thành 3 loại: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp - Chi phí nhân công trực tiếp - Chi phí sản xuất chung Do sản phẩm tại Công ty là loại sản phẩm có giá trị lớn, thời gian sản xuất kéo dài và sản phẩm được sản xuất qua nhiều giai đoạn tại các tổ sản xuất khác nhau, không sản xuất sản phẩm hàng loạt nên đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là chi tiết từng bộ phận theo từng phân xưởng sản xuất. Phương pháp hạch toán chi phí tại doanh nghiệp là phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo từng chi tiết bộ phận của sản phẩm. Đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành và phương pháp tính giá thành là phương pháp tổng cộng chi phí. Tuy nhiên giá thành của từng chi tiết của sản phẩm thì không được tập hợp đủ các loại chi phí mà chỉ bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Giá thành của nguyên vật liệu sản xuất sản phẩm là chi phí thực tế mua vào, không bao gồm chi phí vận chuyển, bốc dỡ. Khi xuất kho nguyên vật liệu sử dụng cho sản xuất, kế toán áp dụng phương pháp giá thực tế đích danh của từng loại nguyên vật liệu. Chi phí vận chuyển, bốc dỡ nguyên vật liệu đầu vào được hạch toán ngay vào chi quản lý kinh doanh Để tính giá thành đơn vị sản phẩm, kế toán xác định chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng cho từng tổ sản xuất để sản xuất ra từng đơn vị sản phẩm. Còn chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung được phân bổ cho từng đơn vị sẩn phẩm chứ không phân bổ cho từng tổ sản xuất. 2.2. Nội dung hạch toán chi tiết chi phí sản xuất. Tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chi phí sản xuất sản phẩm cũng được chia thành 03 loại là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Nhưng các loại chi phí sản xuất này không được tập hợp trên các tài khoản khác nhau là 621, 622, 627 như ở các doanh nghiệp lớn mà chúng đều được tập hợp trên tài khoản 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang - theo đúng quy định dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Để phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp, Kế toán Công ty sử dụng tài khoản 154 chi tiết theo từng tổ sản xuất. Tuy nhiên, chi phí được theo dõi đến từng tổ sản xuất chỉ là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, còn chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung chỉ được theo dõi tổng quát tại bộ phận sản xuất. 4. Thực trạng kế toán chi phí sản xuất ở công ty cổ phần chế tạo máy biến thế Hà Nội 4.1 Phân loại chi phí sản xuất 4.2 Đối tượng tập hợp chi phí 4.3 Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất từ trang 41 đến 42 4.4 Hạch toán chi tiết chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Do đặc điểm ngành nghề sản xuất và sản phẩm của doanh nghiệp nên chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là loại chi phí chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí sản xuất sản phẩm. Nguyên vật liệu để sản xuất ra sản phẩm của doanh nghiệp bao gồm rất nhiều loại như: Lá tôn, dây đồng, thanh đồng, dầu, sứ cao thế, sứ hạ thế, tôn đen. Tất cả nguyên vật liệu đầu vào khi mua về sẽ được nhập kho theo giá thực tế mua vào, không bao gồm chi phí vận chuyển bốc dỡ. Nguyên vật liệu xuất kho dùng cho sản xuất sẽ được tính theo giá thực tế đích danh. Nguyên vật liệu mà doanh nghiệp mua vào thường theo một giá cố định, ít có sự thay đổi nên việc theo dõi đơn giá của từng loại nguyên vậiệu cũng được thực hiện một cách dễ dàng. Sau đây là quy trình hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Khi có nghiệp vụ xuất kho nguyên vật liệu sử dụng cho sản xuất, thủ kho lập phiếu xuất kho: Biểu số 2.1 Phiếu xuất kho Ngày 25/04/2004 Số: 87 Nợ: ............ Có: ............. Họ tên người nhận hàng: Anh Cương Đơn vị: lắp ráp Lý do xuất: Xuất để sử dụng cho máy 250kVA-35/04 (Order 2301005) Số TT Tên, nhãn hiệu vật tư Mã số Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền Yêu cầu Thực xuất 1 Điều chỉnh 7A1335 cdi 1 2 Dây êmay điều chỉnh kg 2 3 Đồng lá 0,6 ly kg 1 4 Ty cao thế M12 kg 1,5 5 Ty hạ thế M20 kg 8 6 Sứ cao thế Quả 3 7 Sứ hạ thế Bộ 4 8 Joăng hạ thế Bộ 4 9 Joăng các loại Cái 8 10 ốp chân sứ Cái 3 11 Cục nhôm Cái 12 12 Đồng hồ báo dầu Cái 1 13 Mặt kính báo dầu Cái 1 14 Ty cheo M14 Bộ 4 15 Gỗ kê đầu và giữa Bộ 1 16 Dầu biến thế Lít 25 17 QB 12x30x18 Quả 3 18 Nẹp mặt máy m 2,5 19 Hạt chống ẩm kg 0,5 Cộng x Phiếu xuất kho được thủ kho lập cho từng lần xuất kho. Sau khi phiếu xuất kho được lập 3 đến 5 ngày, thủ kho tập hợp phiếu xuất kho gửi cho kế toán để kế toán ghi sổ kế toán nghiệp vụ xuất vật tư sử dụng cho sản xuất. Kế toán nhận phiếu xuất kho, bên cạnh việc ghi sổ kế toán tổng hợp, kế toán cũng theo dõi chi phí sản xuất sản phẩm trên sổ chi phí sản xuất kinh doanh mở cho TK 154. Sau đây là sổ chi tiết chi phí sản xuất kinh doanh mở cho TK 154 theo dõi tại phân xưởng lắp ráp: Biểu số 2.2: Sổ chi phí sản xuất kinh doanh Quý I/2004 - Tài khoản 154: - Tên phân xưởng: Lắp ráp - Tên sản phẩm, dịch vụ: Máy biến áp Ngày tháng ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Ghi nợ TK 154 SH NT Tổng số tiền Chia ra ...... ...... 1 2 3 4 5 6 7 8 22/3/04 PXK87 20/3/04 - Số dư đầu kỳ Xuất kho nguyên vật liệu cho sản xuất máy biến thế 2301005 ...................................................................... 152 58.167.526 2.372.400 - Cộng số phát sinh. - Ghi có TK 154 - Số dư cuối kỳ 203.478.300 304.717.672 56.928.154 Số phát sinh ở bảng trên chỉ bao gồm chi phí nguyên vật liệu xuất kho sử dụng tại phân xưởng lắp ráp. Nó không bao gồm giá trị của chi tiết sản phẩm được chuyển từ các bộ phận khác sang. Như vậy, qua sổ chi tiết này, chúng ta chỉ có thể theo dõi được một phần chi phí phát sinh trong quý tại phân xưởng lắp ráp, đó là chi phí nguyên vật liệu xuất kho. TK 154 được ghi Có là phần chi phí Nguyên vật liệu xuất sử dụng tại bộ phận lắp ráp cho những máy đã hoàn thành trong kỳ . Để xác định được chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng tại toàn doanh nghiệp trong kỳ thì kế toán cận tập hợp sổ chi tiết chi phí sản xuất, kinh doanh tại tất cả các phân xưởng sản xuất. Để có căn cứ cho việc lên sổ cái TK 154, chúng ta sẽ xem xét Sổ chi phí sản xuất kinh doanh tại phân xưởng cơ khí và cuốn dây: Biểu số 2.3: Sổ chi phí sản xuất kinh doanh Quý I/2004 - Tài khoản: 154 - Tên phân xưởng: Cơ khí - Tên sản phẩm, dịch vụ: Máy biến áp Đvt: đồng Ngày tháng ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Ghi nợ TK 154 SH NT Tổng số tiền Chia ra … … (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) 01/01/04 20/03/04 PXK85 19/3/04 Số dư đầu kỳ Xuất kho nguyên vật liệu (tôn) cho sản xuất máy biến thế 2301005. ………………………………………… 152 12.361.000 2.016.000 - Cộng số phát sinh - Ghi Có TK 154 Số dư cuối kỳ 82.009.000 84.154.000 10.216.000 Biểu số 2.4: Sổ chi phí sản xuất kinh doanh Quý I/2004 - Tài khoản: 154 - Tên phân xưởng: Cuốn dây - Tên sản phẩm, dịch vụ: Máy biến áp Đvt: đồng Ngày tháng ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Ghi nợ TK 154 SH NT Tổng số tiền Chia ra … … (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) 01/01/04 20/03/04 PXK84 19/3/04 Số dư đầu kỳ Xuất kho dây êmay cuốn cao thế cho máy biến thế 2301005. ………………………………………… 152 47.154.600 3.444.000 - Cộng số phát sinh - Ghi Có TK 154 Số dư cuối kỳ 121.235.400 153.162.460 15.227.540 Bên cạnh việc ghi sổ kế toán chi tiết, kế toán theo dõi tình hình sử dụng vặt hàng tháng tại toàn doanh nghiệp thông qua bảng kê nhập xuất, tồn vật tư hàng tháng. Qua bảng kê này, ta có thể thấy được tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trong kỳ trong toàn doanh nghiệp. Biểu số 2.5 Bảng kê nhập, xuất, tồn vật tư Tháng 3-2004 Đơn vị tính: 1000 đồng Tên vật tư Đơn vị tính Đơn giá Tồn đầu kỳ Nhập trong kỳ Xuất trong kỳ Tồn cuối kỳ SL TT SL TT SL TT SL TT 1.Dây điện từ êmay - Dây êmay 1,8 ly kg 42 36,6 1537,2 0 0 0 0 36,6 1537,2 - Dây êmay 0,8 ly kg 42 5,4 226,8 73 3066 0 0 78,4 3292,8 ........................................ Cộng x x x 246335,5 x 60867,3 x 53298,15 x 253904,65 Qua bảng kê Nhập, xuất tồn hàng tháng, ta có thể theo dõi được tình hình mua vào, sử dụng của từng loại vật tư, và qua đó ta cũng theo dõi được tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trong tháng. Tuy nhiên, đây là con số tổng hợp, qua đó ta không biết được tình hình sử dụng nguyên vật liệu cho từng sản phẩm tại mỗi phân xưởng sản xuất. Trên đây là nội dung và quy trình hạch toán, ghi sổ chi tiết chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tại Công ty Cổ phần chế tạo máy biến thế Hà Nội. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là khoản chi phí chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất tại doanh nghiệp. Vì vậy, hệ thống sổ sách kế toán sử dụng khá đầy đủ, đáp ứng được nhu cầu theo dõi chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tại các phân xưởng và phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ngay cho từng sản phẩm. Thực tế này tạo điều kiện cho việc tính giá vốn của sản phẩm hoàn thành xuất bán được chính xác về chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. 4.3.3 Hạch toán chi tiết chi phí nhân công trực tiếp. Để hạch toán, ghi sổ sách kế toán về chi phí nhân công trực tiếp, kế toán cần phải có chứng từ. Chứng từ sử dụng trong phần hành kế toán nay là bảng chấm công và bảng tính lương hàng tháng. Hàng ngày nhân viên quản lý phân xưởng có nhiệm vụ theo dõi số lượng công nhân đi làm, tiến hành đánh dấu vào bảng chấm công. Vào 15 hàng tháng, kế toán lập bảng tạm ứng lương kỳ 1 cho toàn doanh nghiệp. Căn cứ vào bảng tạm ứng lương, kế toán ghi Nợ TK 334 và ghi Có TK 111 trên sổ nhật ký chi tiền. Cuối tháng, căn cứ vào bảng chấm công, bảng theo dõi làm thêm giờ, kế toán tiến hành tính tiền lương phải trả hàng tháng và lập ra bảng thanh toán tiền lương cho từng tháng. Tiền lương phải trả cho CNV trong tháng được chia thành hai phần: Một phần là lương phải trả cho nhân viên quản lý doanh nghiệp và một phần là lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất. Tiền lương phải trả cho mỗi lao động tại doanh nghiệp được xác định như sau: Tổng tiền lương được lĩnh trong tháng = Lương làm theo ngày chế độ + Lương làm thêm + Tiền ăn ca Lương làm theo ngày chế độ = Mức lương trong hợp đồng lao động x Số ngày làm việc thực tế Số ngày trong tháng – Chủ nhật Lương làm thêm ngoài giờ hành chính được tính với hệ số 1,5 so với mức lương làm trong giờ hành chính. Lương làm thêm ngày chủ nhật, lễ, Tết sẽ được tính hệ số 2. Chúng ta sẽ xem bảng thanh toán tiền lương tháng 03/2004 do kế toán doanh nghiệp lập. Biểu số 2.6: Bảng thanh toán tiền lương CễNG TY CP CHẾ TẠO MÁY BIẾN THẾ BẢNG THANH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ THIẾT BỊ ĐIỆN HÀ NỘI Thỏng ……năm…… S T T Họ và tờn Lương thỏng theo hợp đồng Số ngày làm việc Mức lương ngày Lương nhận được Ăn ca Tổng số tiền lương trong thỏng Đó ứng kỳ I Số cũn được lĩnh kỳ này Ký nhận Thực ngày làm chế độ Làm thờm Tổng số ngày cụng Làm ngày cụng theo chế độ Làm th._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc32566.doc