Hoàn thiện quản lý hoạt động huy động vốn tại chi nhánh Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm

Tài liệu Hoàn thiện quản lý hoạt động huy động vốn tại chi nhánh Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm: LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Sự phát triển và ổn định của một đất nước phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động của các ngân hàng. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường nhiều biến đổi như hiện nay, vai trò của Ngân hàng càng được khẳng định rõ rệt. Riêng đối với NHTM, nó là một trong những tổ chức tín dụng lớn nhất trong hệ thống ngân hàng trung gian của các nước, nó đóng vai trò rất quan trọng trong việc làm cầu nối huy động vốn và cho vay vốn trong nền kinh tế. Mọi tổ chức, doanh nghi... Ebook Hoàn thiện quản lý hoạt động huy động vốn tại chi nhánh Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm

doc71 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1368 | Lượt tải: 2download
Tóm tắt tài liệu Hoàn thiện quản lý hoạt động huy động vốn tại chi nhánh Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ệp muốn tồn tại và phát triển được đều dựa vào năng lực vốn của mình. Đối với các ngân hàng, năng lực vốn là nhân tố quyết định tới hoạt động kinh doanh của mình. Vốn bao gồm : vốn tiền tệ, vốn vật tư, vốn tri thức, vốn khoa học, vốn con người... Trong đó tiền tệ trở thành nguồn vốn quan trọng nhất, là yếu tố tiên quyết. Một đất nước nếu có chính sách tài chính tiền tệ và hệ thống Ngân hàng hoạt động hiệu quả cao, phù hợp với nền kinh tế nước nhà, có khả năng huy động các nguồn vốn và phân bổ hợp lýcác nguồn vốn đó cho nền kinh tế thì đất nước đó sẽ phát triển mạnh mẽ và ổn định cao. Cho nên tìm kiếm giải pháp huy động vốn cho nền kinh tế đất nước rất có ý nghĩa. Tuy nhiên trong thời điểm hiện tại, thị trường chứng khoán trong nước đang biến động, thị trường vàng trong nước và thế giới đều bất ổn, kèm theo đó là quy định lãi suất mới của NHNN đối với các NHTM, làm cho các ngân hàng ồ ạt huy động vốn với lãi suất hấp dẫn, hình thức phong phú…cũng làm cho chính sách tiền tệ không còn phù hợp trong tình hình mới. Chính vì vậy mà việc quản lý hoạt động huy động vốn có vai trò cấp thiết trong nên kinh tế đất nước hiện nay. Thêm vào đó là từ khi có quyết định về tỉ lệ dự trữ bắt buộc trong các NHTM do Ngân Hàng nhà nước quy định càng làm tăng tính cấp thiết việc quản lý hoạt động huy động vốn trong NHTM. Nhận thức được tầm quan trọng của vốn đối với nền kinh tế nói chung và đối với việc quản lý hoạt động huy động vốn của Ngân hàng nói riêng. Sau một thời gian thực tập tại Chi nhánh NHCT Hoàn Kiếm, em đã tích lũy được những kiến thức thực tế về việc quản lý hoạt động huy động vốn tại nơi thực tập, thêm vào đó là những kiến thức về huy động vốn đã được học tập tại trường đại học Kinh tế Quốc dân, em đã chọn đề tài: “HOÀN THIỆN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HOÀN KIẾM ” để làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp. Đề tài bao gồm ba phần sau: Chương I: Một số vấn đề cơ bản về quản lý hoạt động huy động vốn của Chương II: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại chi nhánh NHCT Hoàn Kiếm Chương III: Giải pháp hoàn thiện quản lý hoạt động huy động vốn tại chi nhánh NHCT Hoàn Kiếm Đây là một đề tài rộng và phức tạp đòi hỏi người nghiên cứu phải có kiến thức thực tiễn sâu, rộng. Tuy nhiên với thời gian thực tập tại ngân hàng thêm vào đó là những kiến thức về thực tế còn ít vì vậy mà chuyên đề thực tập tốt nghiệp của em còn gặp nhiều thiếu sót và hạn chế nhất định, rất mong quý ngân hàng nơi em thực tập, thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn TS.Đỗ Hải Hà, cô đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình làm chuyên đề này. Đồng thời em xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị cán bộ tại Chi nhánh NHCT Hoàn Kiếm đã giúp em hoàn thành chuyên đề này. CHƯƠNG I : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1. VAI TRÒ CỦA NHTM ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ 1.1.1 Định nghĩa NHTM “ NHTM là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn. NHTM là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu .Hoạt động của NHTM nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc biệt đó là "vốn- tiền", trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, và phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận của NHTM. Hoạt động của NHTM phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội .” Giáo trình Ngân hàng thương mại –Trang web Cổng thông tin- Trang 1 NHTM là một tổ chức được phép sử dụng ký thác của công chúng để cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch vụ tài chính khác. 1.1.1.1 Các hoạt động cơ bản của NHTM trong nền kinh tế Nghiệp vụ tạo vốn “Là nghiệp vụ hình thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng, được gọi là nghiệp vụ cơ bản vì các nguồn vốn này nằm bên tài sản Nợ trên bảng tổng kết tài sản của NHTM” Giáo trình Ngân hàng thương mại –Trang web Cổng thông tin –Trang 8 “Nghiệp vụ tạo vốn của NHTM bao gồm : nghiệp vụ tạo vốn tự có, nghiệp vụ tạo vốn qua huy động vốn, tạo vốn qua đi vay, nghiệp vụ tạo vốn khác.” Giáo trình Ngân hàng thương mại- Ts Phan Thị Thu Hà- Trường ĐHKTQD- Trang 33 Nghiệp vụ tín dụng Nghiệp vụ này phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục đích nhằm đảm bảo an toàn cũng như tìm kiếm lợi nhuận của các NHTM, nâng cao vai trò, uy tín của NH, tăng cường sức mạnh cạnh tranh trên thị trường. Nghiệp vụ tín dụng gồm có: Chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác Nghiệp vụ tín dụng thế chấp Nghiệp vụ tín dụng ứng trước vào tài khoản Nghiệp vụ tín dụng thuê mua và tín dụng đầu tư Nghiệp vụ tín dụng tiêu dùng Nghiệp vụ trung gian “Những dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển vừa cho phép hỗ tợ đáng kể cho nghiệp vụ khai thác nguồn vốn, mở rộng các nghiệp vụ đầu tư, vừa tạo ra thu nhập cho ngân hàng các khoản tiền hoa hồng, lệ phí…có vị trí xứng đáng trong giai đoạn phát triển hiện nay của ngân hàng. Đây là nghiệp vụ mà NHTM thực hiện theo sự uỷ nhiệm của khách hàng được hưởng tiền hoa hồng.” Giáo trình Ngân hàng thương mại –Trang web Cổng thông tin- Trang 13 Ngoài các nghiệp vụ cơ bản trên, NHTM còn thực hiện một số các nghiệp vụ khác như: kinh doanh vàng bạc, đá quý, dịch vụ ngân quỹ… 1.1.2. Vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của nền kinh tế thị trường NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động thường xuyên và chủ yếu của nó là nhận tiền gửi của khác hàng với trách nhiệm hoàn trả và được phép sử dụng số tiền đó để cho vay và thực hiện nghiệp vụ thanh toán, chiết khấu. Với các chức năng là trung gian tài chính tín dụng, chức năng trung gian thanh toán, trung gian trong việc thực hiện các chính sách của quốc gia và đặc biệt là chức năng tạo bút tệ hay tiền ghi sổ, NHTM đã đóng vai rất quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội, góp phần giải quyết vấn đề vốn cho các tổ chức kinh tế. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động của mình, NHTM gặp không ít rủi ro, do đó NHTM cần phải áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro thích hợp để bảo đảm cho hoạt động của ngân hàng được an toàn và có lợi nhuận cao. - NHTM là trung gian tín dụng - NHTM là trung gian thanh toán - NHTM làm trung gian trong việc thực hiện chính sách kinh tế quốc gia - NHTM tạo “bút tê” hay tiền ghi sổ trong nền kinh tế 1.2. NGUỒN VỐN CỦA NHTM NHTM kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động vốn, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ vì vậy vốn có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động kinh doanh trong NHTM: Sách Quản trị ngân hàng thương mại- Peter Ross- Trang 557 ”Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được dùng cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác”. 1.2.1 Nguồn vốn chủ sở hữu Nguồn vốn chủ sở hữu là loại vốn mà ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng. Để bắt đầu hoạt động ngân hàng chủ ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định. Vốn chủ sở hữu có vai trò to lớn trong hoạt động NHTM, vì vốn chủ sở hữu là yếu tố quyết định sức mạnh tài chính của một ngân hàng, là “tấm đệm chống đỡ rủi ro” 1.2.1.1 Vốn điều lệ “Vốn điều lệ: Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ khác.” 1.2.1.2 Vốn bổ sung trong quá trình hoạt động. Ngân hàng đó thực hiện vai trò tập trung vốn và phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ ,làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển. Đồng thời, chính các hoạt động đó lại quyết định sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: là quỹ được dùng với mục đích tăng cường vốn tự có ban đầu. Lợi nhuận hàng năm bổ sung vào quỹ này cho đến khi đạt 50% vốn tự có thì sẽ chuyển thành vốn tự có. 1.2.1.3 Các quỹ Ngân hàng có nhiều quỹ .Mỗi quỹ có mục đích riêng . Quỹ dự trữ đặc biệt: Là quỹ dùng để dự phòng bù đắp rủi ro trong quá trình kinh doanh nhằm bảo toàn vốn. Các quỹ khác: Gồm có lợi nhuận chưa phân phối, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ khấu hao tài sản cố định. 1.2.2 Nguồn vốn huy động Tiền gửi của khách hàng là nguồn vốn quan trọng của NHTM. Khi các NH hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ các khách hàng .Bằng cách đó, ngân hàng huy động tiền từ các doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư. 1.2.2.1 Tiền gửi tiết kiệm của dân cư Tiết kiệm là một sản phẩm huy động tiền gửi dân cư của NH dành cho các khách hàng có các khoản tiền nhàn rỗi, muốn gửi khoản tiền đó vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm tại NH để được hưởng lãi theo quy định. “Trong điều kiện có khả năng tiếp cận với ngân hàng, họ đều có thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiện các mục tiêu bảo toàn và sinh lời đối với các khoản tiết kiệm, đặc biệt là nhu cầu bảo toàn..” Giáo trình Ngân hàng thương mại- Ts Phan Thị Thu Hà- Trường ĐHKTQD- Trang 36 1.2.2.2 Tiền gửi thanh toán Tiền gửi thanh toán là tài khoản chính mà khách hàng sử dụng để nhận và lưu trữ các khoản tiền chuyển vào và sử dụng số tiền trong tài khoản cho các mục đích chi tiêu và thanh toán thường xuyên của mình. Tài khoản thanh toán không bị hạn chế về số lần khách hàng muốn gửi tiền vào hoặc rút tiền ra khi sử dụng. Với mục đích nhờ ngân hàng thanh toán hộ, các doanh nghiệp, cá nhân đem tiền gửi NH. Các hoạt động chi tiêu của khách hàng sẽ được NH thanh toán giúp trong khoảng số dư trên tài khoản của khách hàng. 1.2.2.3 Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội Tiền gửi có kỳ hạn tại NH là sản phẩm tiền gửi có nhiều kỳ hạn gửi để Doanh nghiệp và các tổ chức xã hội dễ dàng lựa chọn, tính toán nhằm đưa các khoản tiền nhàn rỗi của mình tạo ra mức sinh lời đem về lợi nhuận càng cao cho doanh nghiệp, tổ chức. “Nhiều khoản thu bằng tiền của các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ được chi trả sau một thời gian xác định. Tiền gửi thanh toán tuy thuận tiện cho thanh toán nhưng lãi suất lại thấp. Tiền gửi có kỳ hạn mặc dù không thuận tiện bằng tiền gửi thanh toán nhưng có ưu điểm là có lãi suất cao hơn.” Giáo trình Ngân hàng thương mại- Ts Phan Thị Thu Hà- Trường ĐHKTQD- Trang 35 1.2.2.4 Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác Ngoài các nguồn huy động trên, NHTM còn huy động vốn tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác nhằm tăng nguồn vốn kinh doanh của mình. 1.2.3 Nguồn vốn vay Vốn đi vay là quan hệ vay vốn giữa NHTM với NHNN hoặc giữa các NHTM với nhau hay với các tổ chức tín dụng khác. Các NHTM vay để bổ sung vốn hoạt động, khi đó dựng hết vốn khả định mà không đủ để hoạt động kinh doanh. Tùy theo mục đích sử dụng và hình thức vay, NHNN sẽ cho vay vốn ngắn hạn bổ sung, vay để thanh toán hay vay để tái cấp vốn. 1.2.3.1 Vay Ngân hàng Trung ương Là quan hệ trực tiếp giữa NHTM và NHNN, nằm trong sự điều tiết của chính sách tiền tệ . 1.2.3.2 Vay các tổ chức tín dụng khác “Đây là nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn nhau và vay của các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng .” Giáo trình Ngân hàng thương mại- Ts Phan Thị Thu Hà- Trường ĐHKTQD- Trang 37 Các ngân hàng đang nắm giữ lượng vốn dự trữ lớn hơn yêu cầu thì sẽ cho các ngân hàng hiện đang thiếu vốn dự trữ so với quy định. 1.2.3.3 Vay trên thị trường vốn Các NH cũng vay mượn bằng cách phát hành các giấy nợ trên thị trường vốn. Hiện nay số lượng các NHTM thiếu nguồn tiền gửi trung và dài hạn là rất lớn, các khoản vay trung và dài hạn nhằm bổ sung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trung và dài hạn. Thông thường đây là khoản vay không có đảm bảo. NH có uy tín hoặc trả lãi suất cao sẽ vay mượn được nhiều hơn . NH nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp bằng cách này; họ thường phải vay thông qua các ngân hàng đại lý hoặc được bảo lãnh của NH đầu tư. Khả năng vay mượn cũng phụ thuộc vào trình độ phát triển của thị trường tài chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn của NH. 1.2.4 Nguồn vốn khác Ngoài các nguồn vốn nói trên, các NHTM còn sử dụng tiền ủy thác, tiền trong thanh toán thành nguồn vốn sử dụng trong hoạt động kinh doanh của mình. 1.3 HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM 1.3.1 Sự cần thiết khách quan của huy động vốn đối với NHTM Các doanh nghiệp muốn tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần phải có nguồn vốn nhất định, nó phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Riêng các NHTM, hoạt động huy động vốn là một nghiệp vụ tạo vốn nhiều hình thức đa dạng, phong phú nhằm thu hút vốn từ các tổ chức và cá nhân trong trong nền kinh tế để phục vụ mục đích kinh doanh của mình. Huy động vốn là một trong những hoạt động hết sức đặc thù của NHTM, chính đặc thù này đó giúp cho các NHTM có vai trò quan trọng trong nền kinh tế. 1.3.1.1. Vai trò tổ chức các động kinh doanh Là một doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh doanh tiền tệ nên NH không có vốn thì không thể thực hiện được các nghiệp vụ kinh doanh. Vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của NHTM. Trong đó nguồn vốn huy động chiếm vai trò quyết định. Năng lực tài chính của NHTM không chỉ là nguồn lực tài chính đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của NHTM mà còn là khả năng khai thác, quản lý và sử dụng các nguồn lực hiệu quả cho hoạt động kinh doanh 1.3.1.1 Vai trò quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác Vốn của mỗi NHTM ảnh hưởng rất lớn đến khả năng huy động và cấp tín dụng của mỗi ngân hàng do bị điều chỉnh bởi quy định về tỷ lệ an toàn vốn (CAR) và giới hạn cấp tín dụng đối với một nhóm khách hàng. Đây được xem là một trong các tiêu chí để đánh giá năng lực cạnh tranh của một NHTM. Vốn cũng quyết định quy mô hoạt động tín dụng của ngân hàng, đối với những ngân hàng có tiềm lực vốn thì ngân hàng đó quy mô hoạt động tín dụng lớn, và ngược lại đối với những ngân hàng có khối lượng vốn ko lớn thì quy mô tín dụng của ngân hàng đó là nhỏ. Vì vậy vốn của Ngân hàng quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín dụng. Đối với các hoạt động khác cũng vậy, việc ngân hàng có tiềm năng về vốn, trường vốn, quay vòng nhanh sẽ có ảnh hưởng tích cực tới các hoạt động đó, tạo cơ hội thuận lợi cho NH. 1.3.1.2 Vai trò quyết định khả năng thanh toán và đảm bảo uy tín của NH so với các NH khác Uy tín là yếu tố hết sức quan trọng trong NH, nó thể hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng, mà khả năng thanh toán của Ngân hàng càng cao thì đòi hỏi vốn khả dụng của Ngân hàng càng lớn. NH càng có nhiều vốn thì khả năng thanh toán càng cao, luôn có khả năng chi trả cho khách hàng vì vậy nó đảm bảo uy tín của NH trên thương trường. Vai trò quyết định năng lực cạnh tranh Quy mô vốn của mỗi NHTM ảnh hưởng rất lớn đến khả năng huy động và cấp tín dụng của mỗi ngân hàng do bị điều chỉnh bởi quy định về tỷ lệ an toàn vốn (CAR) và giới hạn cấp tín dụng đối với một/một nhóm khách hàng. Đây được xem là một trong các tiêu chí để đánh giá năng lực cạnh tranh của một NHTM. Ngân hàng nhỏ kêu ca vì bị ép bởi vì NHTM cổ phần quy mô nhỏ có mạng lưới hẹp, năng lực tài chính hạn chế, uy tín và thương hiệu chưa được nhiều người biết. Do đó cùng lãi suất huy động vốn như nhau, các NHTM Nhà nước, các NHTM cổ phần có mạng lưới rộng, có thương hiệu và uy tín, có năng lực tài chính mạnh, có điều kiện tăng chi phí cho quảng bá, tiếp thị… sẽ huy động được nhiều vốn hơn.  Nên cuối cùng các NHTM cổ phần nhỏ lại phải đi vay lại vốn của các NHTM khác trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao. 1.3.2. Các hình thức huy động trong NHTM Hiện nay tại các NHTM, bộ phận huy động vốn từ dân cư và doanh nghiệp, đặc biệt là huy động vốn từ dân cư ngày càng tăng về số lượng, tỷ trọng và đóng vai trò quan trọng với hoạt động của Ngân hàng. Vốn huy động từ doanh nghiệp chủ yếu là dưới dạng tiền gửi thanh toán. Đối với huy động từ dân cư, các hình thức huy động ngày càng phong phú nhằm khai thác triệt để nguồn vốn trong dân. Căn cứ vào một số tiêu thức, người ta chia nghiệp vụ huy động vốn thành các hình thức huy động sau: “ Huy động qua tiền gửi tiết kiệm: Đây là hình thức đơn giản nhất của các NHTM. Các NHTM có thể huy động tiền tiết kiệm của dân chúng dưới các hình thức tiền gửi tiết kiệm cú kỳ hạn, khụng kỳ hạn với các mức lói suất cố định hoặc thay đổi theo từng thời kỳ, lãi suất bậc thang…     - Huy động qua tiền gửi không kỳ hạn: Phương thức huy động này thường thông qua việc mở tài khoản cá nhân, dịch vụ thanh toán, sử dụng thẻ ngân hàng…     -  Huy động qua tiền gửi có kỳ hạn: Đây là phương thức huy động thông qua việc phát hành tín phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi…” Trang web - Tăng cường huy động vốn trong dân     Các ngân hàng thương mại mở rộng huy động vốn bằng nhiều hình thức khác nhau như: - Mở rộng mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch toàn quốc bảo đảm cho huy động vốn. - Hiện đại hóa công nghệ gắn liền với đổi mới phong cách giao dịch của nhân viên, tạo sự tôn trọng của ngân hàng đối với người gửi tiền. - Đẩy mạnh các hoạt động marketinh, tiếp thị, quảng cáo khuyến mại trong huy động vốn, tạo thông tin minh bạch. - Đa dạng hóa các sản phẩm gửi tiền tiết kiệm, các hình thức huy động vốn đáp ứng nhu cầu của nhân dân. 1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Trong quá trình huy động vốn của NHTM có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quy mô các nguồn vốn huy động. Các nhân tố này bao gồm cả nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan. 1.4.1 Nhân tố khách quan 1.4.1.1 Pháp luật, chính sách của nhà nước Mọi hoạt động của NH cũng như các doanh nghiệp, tổ chức khác đều chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Bất kỳ một sự thay đổi nào về luật pháp và chính sách của nhà nước đều ảnh hưởng tới nền kinh tế, dù đó là tác động trực tiếp hay gián tiếp. Một số văn bản luật có tác động trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của NH quy định tỷ lệ huy động vốn của Ngân hàng so với vốn tự có, quy định phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, quy định mức cho vay của Ngân hàng đối với một khách hàng... Bên cạnh đó lại có những văn bản luật có tác động gián tiếp đến hoạt động Ngân hàng như luật đầu tư nước ngoài... Chính sách tài chính của một quốc gia cũng ảnh hưởng rất lớn đến nghiệp vụ huy động vốn của NHTM. Trước yêu cầu của hội nhập, thời gian qua, Ngân hàng nhà nước đã thực thi chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt và đã đạt được những mục tiêu cơ bản trong ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo sự phát triển của các hệ thống tài chính tín dụng. Việc điều hành chính sách tiền tệ thông qua các công cụ gián tiếp như nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn, dự trữ bắt buộc đã tăng cường khả năng điều tiết vốn của các NHTM. Qua đó, nâng cao khả năng cung ứng vốn của hệ thống NHTM cho nền kinh tế. Cùng với đó NHNN đã thực hiện điều chỉnh hành lang pháp lý, cơ chế chính sách theo hướng tiếp cận với các thông lệ quốc tế, nhất là trong điều hành lãi suất, tỷ giá, quản lý ngoại hối, tín dụng và hoạt động thanh toán. Luật các tổ chức tín dụng đã được sửa đổi, kèm theo hàng loạt những quy định chặt chẽ đối với các tổ chức tín dụng trong việc đảm bảo các tỷ lệ an toàn trong hoạt động, trích lập dự phòng và xử lý rủi ro. Bên cạnh đó, những nỗ lực lớn trong việc phát triển ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại đã tạo điều kiện thuận lợi  nâng cao hiệu quả hoạt động tiền tệ, tín dụng của hệ thống ngân hàng. 1.4.1.2 Kinh tế, chính trị, xã hội Khi một đất nước có nền kinh tế ổn định với tốc độ tăng trường bền vững, tỷ lệ lạm phát ở mức cho phép và có nền chính trị ổn định đảm bảo an toàn xã hội sẽ tạo điều kiện cho người dân nước đó có điều kiện sống tốt hơn, đời sống cao, thu nhập càng ngày càng dẫn tới việc dư thừa vốn trong dân. Do đó lượng tiền gửi vào Ngân hàng ngày càng cao. Tuy nhiên khi nền kinh tế bong bóng đã hình thành khi các NHTM đã chạy theo lợi nhuận cho vay tràn lan đối với nhà đầu tư chứng khoán, địa ốc nhưng đã rơi vào khủng hoảng khi đồng tiền mất giá và những biện pháp nóng vội trong việc hạn chế lưu thông tiền mặt của NHNN. Khi mà những tác động tiêu cực của nền kinh tế bong bóng này chưa thể khắc phục, việc khống chế mức lãi suất tiết kiệm trần như vậy có phải là giải pháp tốt nhất trong khi NHTM không có biện pháp nào khác ngoài thủ thuật lách bằng các chương trình khuyến mãi. 1.4.1.3 Tâm lý, thói quen của người gửi tiền Thói quen tiêu dùng ảnh hưởng tới nghiệp vụ huy động vốn của Ngân hàng. Nếu dân cư quen sử dụng tiền nhàn rỗi dưới hình thức cất trữ thì việc huy động vốn của Ngân hàng gặp khó khăn. Còn khi người dân có nhu cầu hưởng lãi hoặc bảo quản tài sản thì họ gửi tiền vào Ngân hàng nhiều hơn, do đó cơ hội huy động vốn của Ngân hàng tăng lên. Một số khách hàng cho rằng tài khoản và thẻ không được cái thuận tiện như tiền mặt là có thể chi tiêu bất cứ lúc nào bất cứ nơi đâu. Bao nhiêu cái phải phụ thuộc: tính khí thất thường của máy móc, vào địa điểm đặt máy, vào thời gian làm việc của ngân hàng. Để quyết định dùng tiền mặt hay không, khách hàng sẽ đặt lên bàn cân tất cả các yếu tố. Nhưng còn phải xét những yếu tố tâm lý của dân ta: tự mình cầm tiền của mình là chắc ăn nhất. Thêm vào đó thông tin về sự cố các máy ATM cũng làm cho người dân thấy sự bất cập trong việc gửi tiền tại. Vì vậy, yếu tố tâm lý và thói quen của người dân hết sức quan trọng đối với hoạt động huy động vốn. 1.4.2 Nhóm nhân tố chủ quan. 1.4.2.1 Lãi suất của NHTM Lãi suất là yếu tố hấp dẫn đối với mỗi khách hàng khi gửi tiền vào NH, khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức hay người dân thì mức độ quan tâm tới lãi suất đều vẫn rất cao. Khi chọn một ngân hàng để gửi tiền, ngoài các yếu tố về chất lượng, khả năng thanh toán, uy tín... khách hàng sẽ chọn ngân hàng nào có lãi suất cao hơn để gửi tiền vào NH. Trong nền kinh tế ngành nào có lợi nhuận cao hơn bao giờ cũng thu hút được nhiều người tham gia đầu tư. Để tạo được nhiều vốn đáp ứng được nhu cầu sử dụng của mình, các Ngân hàng phải có chính sách lãi suất nhạy cảm phù hợp sao cho lãi suất huy động vừa đảm bảo kích thích người gửi tiền vừa phù hợp với lãi suất cho vay để tránh tình trạng vốn huy động với giá cao mà đầu tư với giá thấp, thu hút tiền nhàn rỗi vào NH 1.4.2.2 Chất lượng dịch vụ, mạng lưới huy động, hình thức huy động Khả năng thu hút vốn trong nền kinh tế phụ thuộc vào hình thức huy động vốn, hình thức huy động vốn mà càng phong phú, chất lượng cao và đảm bảo lợi ích cao thì khả năng thu hút vốn là càng lớn và ngược lại. Khách hàng sẽ tìm tới hình thức huy động vốn nào phù hợp với họ nhất, có lợi cho họ nhiều nhất. Mạng lưới huy động của Ngân hàng thường biểu hiện qua việc tổ chức các quỹ tiết kiệm. Khi dân chúng có tiền nhàn rỗi họ thường mang tiền ra quầy tiết kiệm gần nhà họ nhất để gửi. Mạng lưới huy động cần rộng rãi, tạo điều kiện thuận lợi cho người gửi tiền. Bên cạnh đó khách hàng cũng đặc biệt quan tâm tới chất lượng các dịch vụ mà NH cung ứng, với chất lượng tốt sẽ thu hút được lượng khách hàng lớn và ngược lại chất lượng không đảm bảo khách hàng sẽ sử dụng dịch vụ đó ít hơn 1.4.2.3 Hoạt động tín dụng Trong các NHTM hoạt động tín dụng có vai trò lớn đối với việc huy động vốn, chất lượng hoạt động tín dụng càng cao thì việc huy động vốn càng hiệu quả và ngược lại. Nếu hoạt động tín dụng có hiệu quả tạo cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế kinh doanh có hiệu quả, thu nhập xã hội ngày càng tăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm, đời sống dân cư ngày càng cao, nguồn vốn nhàn rỗi ngày càng nhiều, tạo nguồn vốn cho Ngân hàng huy động ngày càng tăng trưởng để thực hiện đầu tư cho các chu kỳ tiếp theo. 1.4.2.4 Hoạt động Marketing Ngân hàng Marketing NH giúp cho Ngân hàng nắm bắt được yêu cầu, nguyện vọng của khách hàng. Ngân hàng dựa vào đó mà đưa ra các hình thức huy động vốn, chính sách lãi suất, chính sách tín dụng... sao cho phù hợp. Đồng thời các NHTM phải có thông tin đầy đủ kịp thời giúp cho người có tiền nhàn rỗi hiểu rõ nên gửi tiền vào đâu và gửi như thế nào là có lợi nhất, từ đó có thể giúp cho khách hàng lựa chọn hình thức gửi tiền vào Ngân hàng phù hợp nhất và Ngân hàng có thể khai thác tối đa các nguồn tiền nhàn rỗi của dân cư. 1.4.2.5 Công nghệ Ngân hàng tiên tiến NHTM ngày càng trang bị các công nghệ tiên tiến vào hoạt động Ngân hàng, nhất là khâu thanh toán, làm cho vốn luân chuyển nhanh, thuận tiện, đảm bảo an toàn cho khách hàng trong quan hệ gửi tiền, rút tiền, vay vốn. Nếu thực hiện tốt khâu này thì sẽ giảm bớt lưu thông tiền mặt vừa không hiệu quả, vừa không an toàn. Ngân hàng cần phải trang bị những công nghệ hiện đại nhất, nhất là khâu thanh toán. Thực hiện nhiệm vụ hiện đại hoá công nghệ ngân hàng phải đổi mới hệ thống thông tin quản lý cho toàn hệ thống ngân hàng phục vụ công tác điều hành hoạt động kinh doanh, kiểm soát hoạt động ngân hàng, quản lý vốn tài sản, quản lý rủi ro, quản lý công nợ và công tác kế toán, hệ thống thanh toán liên ngân hàng, hệ thống giao dịch điện tử và giám sát từ xa, vv.. nhằm nâng cao chất lượng phục vụ cho khách hàng. 1.4.2.6 Yếu tố con người Trình độ nghiệp vụ của cán bộ NH có vai trò quan trọng trong quá trình tiếp xúc khách hàng, để có hiệu quả huy động vốn cao thì trình độ nghiệp vụ của cán bộ NH phải cao, nghiệp vụ đều được thực hiện nhanh chóng, chính xác và có hiệu quả, từ đó giúp Ngân hàng có điều kiện mở rộng kinh doanh, giảm thấp chi phí hoạt động và thu hút được khách hàng. Thái độ phục vụ khách hàng cũng là yếu tố hết sức quan trọng, khi thái độ phục vụ của nhân viên NH chuyên nghiệp, vui vẻ và niềm nở với khách hàng sẽ tạo tâm lý tốt cho khách hàng, gây thiện cảm, uy tín đối với khách hàng, làm cho hoạt động huy động vống trở nên hiệu quả hơn. 1.4.2.7 Uy tín của Ngân hàng Uy tín của NH được thể hiện ở khả năng thanh toán chi trả cho khách hàng, chất lượng hoạt động có hiệu quả. Vì vậy mà uy tín của NH có vai trò không nhỏ tới hoạt động huy động vốn của NH. Các NHTM phải luôn chú trọng tới vấn đề nâng cao và đảm bảo uy tín, thu hút được nguồn tiền nhàn rỗi của khách hàng. Bề dày lịch sử của NH cũng có tính quyết đinh, với một NH có bề dày lịch sử lâu năm và một NH có bề dày lịch sử hoạt động ít năm hơn, khách hàng sẽ chọn NH có nhiều bề dày lịch sử hơn. 1.5 QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM 1.5.1. Các khác niệm cơ bản Quản lý hoạt động huy động vốn của NHTM thực chất là quản lý về nguồn nhân lực tham gia trong tổ chức, quản lý hoạt động marketing sản phẩm để hút lượng vốn huy động, quản lý hoạt động sản xuất dịch vụ cung cấp cho các đối tượng khách hàng, quản lý chất lượng của các gói sản phẩm dịch vụ trong hoạt động huy động vốn. 1.5.1.1. Quản lý nhân lực Trước tiên ta đi tìm hiểu về khỏi niệm nguồn nhân lực: Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người, gồm có thể lực và trí lực. Nguồn lực trong tổ chức bao gồm tất cả mọi cá nhân tham gia bất cứ hoạt động nào với bất cứ vai trò nào trong tổ chức. Trong quá trình họat động của các tổ chức, việc tận dụng tiềm năng nhân lực giai đoạn của cá tổ chức, việc tận dụng tiềm năng nhân lực giai đoạn vừa qua chủ yêu là về mặt thể lực, trong khi việc khai thác tiềm năng về mặt trí lực ngày càng được coi trọng. Các yếu tố ảnh hưởng tới nguồn nhân lực: Số lượng nhân lực Cơ cấu tuổi nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực Cơ cấu cấp bậc nhân lực “Quản lý nguồn nhân lực là một quá trình tuyển mộ, lựa chọn, duy trì, phát triển và tạo mọi điều kiện có lợi cho nguồn nhân lực trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đó đặt ra của tổ chức đó. Quản lý nguồn nhân lực bao gồm các nội dung sau đây: Lập chiến lược nguồn nhân lực Định biên Phát triển nguồn nhân lực Trả công cho người lao động 1.5.1.2. Quản lý marketing Marketing hiện đại bao gồm tất cả những suy nghĩ, tính toán và hoạt động của nhà kinh doanh sản xuất tiêu thụ và cả những dịch vụ sau khi bán hàng . Marketing là làm thích ứng sản phẩm của doanh nghiệp với mọi nhu cầu thị trường . Vai trò này nói lên marketing không làm công việc của nhà kỹ thuật, nhà sản xuất nhưng nó chỉ ra cho các bộ phận kỹ thuật và sản xuất cần phải sản xuất cái gì? sản suất cho ai? sản xuất như thế nào? sản xuất ra khối lượng bao nhiêu và đưa ra thị trường khi nào. Quá trình quản lý marketing bao gồm: Phân tích khả năng của thị trường Lựa chọn thị trường mục tiêu Thiết kế hệ thống marketing – mix Thực hiện các biện pháp marketing 1.5.1.3. Quản lý chất lượng Chất lượng là vấn đề cốt lõi của mỗi hệ thống, đó vừa là mục tiêu vừa là căn cứ để hệ thống tồn tại và phát triển. Kết quả hoạt động của hệ thống không có chất lượng hoặc kém sẽ dẫn tới suy thoái, đổ vỡ . Các nhân tố tạo thành chất lượng: - Sự đúng đắn, chuẩn xác của đường lối, chiến lược của hệ thống thông qua các mục đích, mục tiêu và các chính sách, giải pháp mà hệ thống lực chọn và sử dụng. - Hệ thống phải cú một bộ máy tổ chức hợp lý và khoa học để phát huy cao độ nguồn lực của con người, đặc biệt là hai vấn đề: 1) Chọn được người giỏi, người tốt vào các vị trí then chốt của hệ thống, 2) Tạo cơ chế hoạt động gắn bó trong hệ thống, giữa các phân hệ, nhóm và các nhóm. - Hệ thống phải có các nguồn lực vật chất, thông tin, công nghệ thích hợp đó là các yếu tố đầu vào cho các hoạt động của hệ thống. “ Quản lý chất lượng là việc ấn định đúng đắn các mục tiêu phát triển bền vững của hệ thống, đề ra nhiệm vụ phải làm cho hệ thống trong từng thời kỳ và tỡm ra con đường đạt tới các mục tiêu một cách có hiệu quả nhất.” Giáo trình Khoa học quản l ý- T.s Đoà n Thị Thu Hà- Trường ĐHKTQD- Trang 419, 420 1.5.1.4. Quản lý sản xuất Sản xuất là một trong những phân hệ và lĩnh vực hoạt động cơ bản của tổ chức; có vai trò trực tiếp và quyết định trong việc tạo ra và cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho xã hội. Cũng như các phân hệ và lĩnh vực hoạt động khác, sản xuất cũng cần được quản lý. Như vậy, quản lý sản xuất là quản lý một lĩnh vực hoạt động thiết yếu trong các tổ chức, đặc biệt là trong doanh nghiệp .Quản lý hệ thống sản xuất sản phẩm, dịch vụ được coi là một chức năng cơ bản của doanh nghiệp. “Quản lý sản xuất là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm tra hệ thống sản xuất nhằm thực hiện tốt nhất những mục tiêu sản xuất đó đề ra.” Giáo trình Khoa học quản lý- T.s Đoà n Thị Thu Hà- Trường ĐHKTQD- Trang._. 290, 291 1.5.2. Sự cần thiết khách quan của việc quản lý hoạt động huy động vốn Tại thời điểm hiện nay khi NHNN tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các NH, thị trường chứng khoán với nhiều biến động theo xu hướng không tích cực, đồng thời thực hiện cổ phần hoá các NHTM nhà nước, việc huy động vốn trong NHTM trở nên hết sức khó khăn, các NH tự cạnh tranh với nhau để thu hút khách hàng sử dụng các dịch vụ ngân hàng tại NH mình nhằm huy động lượng vốn tối đa. Trong tình hình đó, các ngân hàng ồ ạt ra các chiêu thức để cạnh tranh như tăng lãi suất huy động, hình thức dự thưởng may mắn…làm rối loạn thị trường tiền tệ. Vì vậy nhất thiết phải quản lý hoạt động huy động vốn . 1.5.2.1 Quản lý hoạt động huy động vốn thực chất là quản lý nhân lực Quản lý nguồn nhân lực: Quản lý nguồn nhân lực liên quan tới con người và những nhân tố xác định mối quan hệ giữa con người với tổ chức sử dụng con người đó. Tại một thời điểm nào đó trong quá trình hoạt động của nó, một tổ chức có thể cần ít hoặc nhiều nhân lực tuỳ thuộc vào yêu cầu của cá hoạt động trong tổ chức. Quản lý nguồn nhân lực đảm bảo cho tổ chức có những nhân lực có kỹ năng, được sắp xếp vào những vị trí phù hợp theo đòi hỏi công việc trong tổ chức. Trong NHTM việc quản lý nguồn nhân lực có ý nghĩa hết sức to lớn nhất là đối với hoạt động huy động vốn, muốn quản lý hoạt động huy động vốn tốt cần phải quản lý con người. Trước nhất là quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức, nắm bắt được tình hình của thị trường, của các ngân hàng cạnh tranh để đưa ra các quyết định đúng đắn mang tính ngắn hạn và chiến lược cho từng giai đoạn. 1.5.2.2. Quản lý hoạt động huy động vốn thực chất là quản lý marketing “Lịch sử hình thành Marketing đó khẳng định: Marketing là sản phẩm của nền kinh tế thị trường. Marketing đó trở thành hoạt động không thể thiếu trong các doanh nghiệp nói chung và trong các NHTM nói riêng. Marketing NH thuộc nhóm Marketing kinh doanh, là lĩnh vực đặc biệt của ngành dịch vụ. Có thể hiểu: Marketing NH là một hệ thống tổ chức quản lý của một NH để đạt được mục tiêu đặt ra là thỏa mãn tốt nhất nhu cầu về vốn, về các dịch vụ khác của ngân hàng đối với nhóm khách hàng lựa chọn bằng các chính sách, các biện pháp hướng tới mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận” Trang web: Tri thức, Kỹ năng kinh doanh- Marketing ngân hàng 1.5.2.3. Quản lý hoạt động huy động vốn thực chất là quản lý chất lượng Các chủ thể quản lý trong sứ mệnh và tiến trình quản lý của mình đều mong muốn đạt được kết quả cao nhất trong khả năng cho phép nhằm hoàn thành các mục tiêu đặt ra. Để đạt được mong muốn này, chủ thể quản lý phải có cách quản lý đúng, phải tạo ra được các sản phẩm quản lý tốt . Đó là cách quản lý luôn luôn biết tìm ra các vấn đều và cách xử lý chung, cái mà người ta gọi trong quản lý ngày nay là quản lý chất lượng . Thực chất của hoạt động quản lý chất lượng là một tập hợp các hoạt động của chức năng quản lý như hoạch định, tổ chức, kiểm soát, điều chỉnh và chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý. Nói một cách khác quản lý chất lượng chính là chất lượng của công tác quản lý. Chỉ khi nào toàn bộ những yếu tố về kinh tế, xã hội, công nghệ và tổ chức của hệ thống được xem xét đầy đủ tong mối quan hệ ràng buộc hữu cơ với nhau mới có cơ sở để nói rằng chất lượng sản phẩm sẽ được đảm bảo. Quản lý chất lượng trong hoạt động huy động vốn của NHTM thực chất cũng là quản lý việc hoạch định, tổ chức, kiểm soát, điều chỉnh và chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý tham gia trong tổ chức thực hiện công tác huy động vốn cho NHTM. 1.5.2.4 Quản hoạt động huy động vốn thực chất là quản lý hoạt động sản xuất. “Kết quả hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc khá lớn vào việc thiết kế, tổ chức và quản lý quá trình biến đổi này. Nhiệm vụ của quản lý sản xuất là thiết kế và tổ chức hệ thống sản xuất nhằm biến đổi các đầu vào thành các đầu ra sau mỗi quá trình biến đổi, nhưng với một lượng lớn hơn đầu tư ban đầu. Gía trị gia tăng là yếu tố quan trọng nhất, là động cơ hoạt động của các doanh nghiệp và mọi tổ chức, cá nhân có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Giá trị gia tăng là nguồn gốc tạo ra nguồn thu nhập cho tất cả như: chủ sở hữu, cán bộ quản lý, những người lao động; và là nguồn tái đầu tư sản xuất mở rộng đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Quản lý sản xuất có hiệu quả là yêu cầu thiết yếu đối với quản lý một tổ chức .” Giáo trình Khoa học quản lý- T.s Đoàn Thị Thu Hà- Trường ĐHKTQD- Trang 291 Mục tiêu tống quát của quản lý sản xuất là đảm bảo thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng trên cơ sở sử dụng hiệu quả nhất các yếu tố sản xuất . Đối với NHTM thì sản xuất ở đây chính là sản xuất ra các dịch vụ khách hàng để huy động nguồn vốn sao cho có hiệu quả nhất, thoả mãn nhu cầu của khách hàng về các dịch vụ đó .Muốn quản lý hoạt động huy động vốn tốt thì nhất thiết phải quản lý chất lượng của cá dịch vụ, của các sản phẩm dịch vụ để huy động vốn như: huy động vốn thông qua tiền gửi thanh toán, huy động vốn thông qua tiền gửi tiết kiệm, huy động vốn thông qua các chứng chỉ tiền gửi, huy động vốn thông qua tiền gửi đặc biệt khác. Từ đó xác định lãi suất của từng hình thức huy động, lợi nhuận của từng phía: ngân hàng và khách hàng, xác định hiệu quả thực hiện…chính là thực hiện quản lý chất lượng cho sản phẩm là dịch vụ trong huy động vốn của NHTM 1.5.3 Nguyên tắc thực hiện “Huy động vốn là một trong những hoạt động hết sức đặc thù của NHTM, chính đặc thù này đó giúp cho các NHTM cú vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Do vậy, muốn tăng trưởng phải đầu tư, muốn có vốn đầu tư phải có tiết kiệm, trong đó huy động vốn tiết kiệm trong dân là hết sức quan trọng, là nhiệm vụ của NHTM hiện nay” Trang web: www.dostquangtri.gov.vn Việc thực hiện quản lý hoạt động huy động vốn cần thực hiện theo các nguyên tắc sau: Quản lý hoạt động huy động vốn phải đồng bộ từ trên xuống dưới Đồng nhất thực hiện, thống nhất công tác chỉ đạo, chương trình hành động Đảm bảo lợi ích của người lao động, lợi ích của nhà nước và lợi ích của xã hội Đảm bảo phát triển bền vững của Ngân hàng Đảm bảo lợi ích giữa các bên: ngân hàng và khách hàng Đảm bảo chất lượng dịch vụ Đảm bảo an toàn tiền gửi Đảm bảo uy tín ngân hàng Đưa ra quyết định đúng đắn, kịp thời 1.5.4. Nội dung quy trình 1.5.4.1 Quy trình tiền gửi thanh toán “Mở tài khoản tiền gửi thanh toán Gửi tiền vào TK tiền gửi thanh toán bằng tiền mặt Gửi tiền vào TK tiền gửi thanh toán bằng séc cùng hệ thống( bao gồm séc nội bộ, séc bảo chi nội bộ) Gửi tiền vào TK tiền gửi thanh toán bằng séc khác hệ thống( bao gồm séc cùng địa bàn, séc bảo chi cùng địa bàn) Rút tiền từ TK tiền gửi thanh toán bằng tiền mặt Rút tiền từ TK tiền gửi thanh toán bằng chuyển khoản Nghiệp vụ bảo séc cho khách hàng Nghiệp vụ bảo chi séc Nghiệp vụ chuyển khoản tự động Nghiệp vụ tràn sweep Đóng TK tiền gửi thanh toán Điều chỉnh sai lầm” Quyết định của tổng giám đốc NHCTVN- số QT.19.2 trang 6 tới 19 1.5.4.2 Quy trình tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn “Mở TK TGTK KKH Gửi tiền vào TK TGTK KKH bằng tiền mặt Gửi tiền vào TK TGTK KKH bằng séc cùng hệ thống ( bao gồm séc nội bộ, séc bảo chi hộ) Gửi tiền vào TK TGTK KKH bằng séc khác hệ thống( bao gồm sẽ cùng địa bàn, séc bảo chi hộ cùng địa bàn) Rút tiền từ TK TGTK KKH bằng tiền mặt Rút tiền từ TK TGTK KKH bằng chuyển khoản Đóng TK TGTK KKH Điều chỉnh sai lầm” Quyết định của tổng giám đốc NHCTVN- số QT.19.2 trang 20 tới 29 1.5.4.3 Quy trình tiền gửi có kỳ hạn “Mở TK TG có kỳ hạn Gửi tiền vào TK TG có kỳ hạn bằng tiền mặt Gửi tiền vào TK TG có kỳ hạn bằng chuyển khoản Gửi tiền vào TK TG có kỳ hạn bằng séc khác hệ thống Rút tiền từ TK TG có kỳ hạn bằng tiền mặt, bằng chuyển khoản Rút tiền lãi từ TK TG có kỳ hạn Điều chỉnh sai lầm” Quyết định của tổng giám đốc NHCTVN- số QT.19.2 trang 30 tới 39 1.5.5 Nhân tố ảnh hưởng tới việc quản lý hoạt động huy động vốn 1.5.5.1 Nhân tố khách quan Pháp luật và chính sách nhà nước Mọi hoạt động kinh doanh trong đó có hoạt động Ngân hàng đều phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật .Ngày 7/4/2008, Văn phòng Chính phủ có văn bản số 91/TB-VPCP, thông báo kết luận của Thủ tướng về việc triển khai thực hiện các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững. Thông báo kết luận của Thủ tướng: “Thực hiện các biện pháp để định hướng và ổn định lãi suất thị trường; trước mắt không duy trì việc quy định trần lãi suất huy động vốn; từng bước hướng tới thực hiện chính sách lãi suất thực dương theo cơ chế thị trường”. Văn phòng Chính phủ cú văn bản số 91/TB-VPCP, thông báo kết luận của Thủ tướng Bởi vậy có ý kiến cho rằng, công điện quy định trần lãi suất của NHNN và thoả thuận của Hiệp hội Ngân hàng là trái với chỉ đạo của Thủ  tướng Chính phủ. Hiện nay và trong một số tháng tới có thể chỉ số CPI vẫn giữ nguyên hoặc giảm nhẹ, nhưng chưa thấy có dấu hiệu lãi suất huy động vốn của NHTM tăng lên có nghĩa là chưa có dấu hiệu sẽ bảo đảm thực dương như định hướng chỉ đạo của Chính phủ.  Bên cạnh đó mặc dù lãi suất can thiệp trên thị trường mở của NHNN được kiềm chế ở mức trần không quá 9%/năm. Tuy nhiên, chỉ có các NHTM Nhà nước, một số NHTM cổ phần quy mô lớn… có sở hữu giấy tờ có giá như tín phiếu Kho bạc Nhà nước thỡ mới cú điều kiện vay được vốn của NHNN với lãi suất đó.  Cũng lại phần đông NHTM cổ phần, nhất là NHTM cổ phần quy mô nhỏ và trung bình  thì không vay được vốn theo trần lãi suất của NHNN mà phải đi vay lại của các NHTM Nhà nước với lãi suất lớn tới 15- 20%/năm. Hay nói cách khác, cam kết thực hiện thoả thuận lãi suất của Hiệp hội Ngân hàng và quy định trần lãi suất của NHNN càng bất lợi đối với NHTM cổ phần nhỏ và trung bình .   Lãi suất là giá cả của đồng vốn trong nền kinh tế. Lãi suất cho vay cao một mặt làm hạn chế nhu cầu vay vốn của các đối tượng sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng tới tăng trưởng chung của nền kinh tế và tạo thêm việc làm mới trong xã hội. Mặt khác lãi suất cho vay vốn của NHTM ở mức cao làm tăng chi phí đầu vào, tăng chi phí sử dụng vốn vay của DN, hộ sản xuất kinh doanh, tăng giá thành của sản phẩm và dịch vụ, tăng giá bán trên thị trường, tác động ngược chiều đến kiềm chế lạm phát.  Song lãi suất huy động vốn thấp hơn chỉ số lạm phát không thực dương thi không đảm bảo được quyền lợi người gửi tiền. Trước diễn biến căng thẳng của thị trường lãi suất cũng như giải quyết một số mâu thuẫn nói trên đó làm cho việc quản lý hoạt động huy động vốn tại các NHTM lâm vào cảnh khó khăn . Cạnh tranh lói suất huy động vốn và lãi suất cho vay của cỏc NHTM hiện đang có dấu hiệu tái căng thẳng . Các NHTM cổ phần quy mô nhỏ thì cho rằng họ bị bất lợi trong cạnh tranh, nên không thể thực hiện được “thoả thuận" trần lãi suất. Các NHTM quy mô lớn thì cho rằng, các NHTM quy mô nhỏ và trung bình đang "xé rào” thoả thuận về lãi suất. Hiệp hội Ngân hàng thì gửi văn bản đi khắp các thành viên kêu gọi giữ vững thỏa thuận.  Từ đó đòi hỏi việc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô cần linh hoạt và sát thực tiễn hơn, phù hợp với những diễn biến của thị trường, đảm bảo lợi ích chung của nền kinh tế, của người gửi tiền và cạnh tranh bình đẳng giữa các NHTM. 1.5.5.2 Nhân tố chủ quan Con người trong tổ chức Yếu tố con người là yếu tố quan trọng nhất trong việc quản lý hoạt động huy động vốn. Để quản lý tốt được hoạt động huy động vốn có hiệu quả, trước tiên phải quản lý con người trong tổ chức tốt nhất . Con người có tài năng, kỷ luật sẽ đem lại thành công cao hơn, dẫn tới việc quản lý hoạt động huy động vốn cũng đơn giản, hiệu quả hơn và ngược lại. Điều đó chứng tỏ rằng cần phải có chính sách tiền lương, khen thưởng, kỷ luật thật hợp lý, chế độ làm việc nghiêm túc . Đặc biệt cần có chính sách thu hút hiền tài trong giai đoạn khan hiếm nhân lực trong ngành ngân hàng nhất là những cán bộ giỏi. Các NHTM Việt Nam cũng ý thức được tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng . Trong lĩnh vực dịch vụ thì con người là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định chất lượng dịch vụ, được biểu hiện ở thái độ phục vụ, trình độ nghiệp vụ, trình độ quản lý... Chính vì thế, các NHTM nhìn chung đó chú trọng hơn đến việc đào tạo đội ngũ cán bộ của mình. Bên cạnh đó, để nâng cao chất lượng dịch vụ, các ngân hàng trong nước cũng đó từng bước cải cách bộ máy quản lý điều hành theo tư duy kinh doanh mới, đồng thời chuẩn hoá các quy trình nghiệp vụ chủ yếu, xây dựng các quy chế quản lý và hoạt động cho phù hợp với thông lệ quốc tế. Hoạt động huy động vốn là hoạt động hết sức nhạy cảm với thị trường, đòi hỏi người quản lý phải nắm bắt và tiếp cận thị trường vốn nhanh chóng, phải có tuy duy chiến lược, đưa ra quyết định đúng đắn cho những sản phẩm dịch vụ của ngân hàng mình, thu hút lượng tiền gửi nhiều hơn. Vì vậy, quản lý hoạt động huy động vốn muốn được hiệu quả nhất thiết phải có chính sách quản lý con người trong tổ chức sao cho họ làm việc cống hiến cho ngân hàng là cao nhất. Điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật Điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật cũng là một trong những nhân tố quyết định tới việc quản lý hoạt động huy động vốn. Triển khai dự án Hiện đại hóa ngân hàng và hệ thống thanh toán với đặc trưng là tập trung dữ liệu, quản lý tài khoản khỏch hàng, xây dựng kho dữ liệu thống nhất toàn hệ thống, truy nhập thông tin trực tiếp, cung cấp dịch vụ trực tuyến, từng bước kết nối ATM toàn ngành. Nội dung đổi mới trong giai đoạn này là tổ chức được trung tâm thanh toán quốc gia, thiết lập hệ thống kế toán khách hàng, xử lý tự động tức thời các giao dịch, hình thành hệ thống thanh toán tự động trong nội bộ các NHTM lớn, liên kết mạng thanh toán quốc gia giữa các ngân hàng và giữa ngân hàng với khách hàng. Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng được thực hiện từ tháng 5/2002, đây là hệ thống thanh toán trực tuyến tự động, được xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế Mặc dự ngành ngân hàng đó bước đầu xây dựng được hệ thống công nghệ hiện đại, nhưng phạm vi áp dụng cũng hạn chế, nhiều qui trình nghiệp vụ đó được triển khai nhưng chưa được luật hóa. Thách thức đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam trong quá trình đổi mới công nghệ là vốn nhỏ, thiếu tương thích giữa trình độ CNTT và trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngân hàng. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ trong đầu tư phát triển CNTT ngân hàng, chưa có khả năng kết nối giao dịch giữa các NHTM trên toàn quốc, điển hình là giữa các máy ATM của các NHTM. Đổi mới công nghệ đó nâng dần vị thế của các NHTM trong hệ thống tài chính trong nước và quốc tế, nhưng cũng làm nảy sinh những rủi ro mới, nhất là đối với hệ thống thanh toán điện tử Công nghệ phải hiện đại và đồng bộ, không để xảy ra tình trạng trục trặc đường truyền, sai sót hoặc nhầm lẫn giao dịch gây mất lòng tin đối với khách hàng hoặc gây thiệt hại cho khách hàng và NH. Muốn vậy, các NHTM cần tăng cường công tác đào tạo và đào tạo lại có hệ thống đội ngũ CBNV hiện có cả chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng vận hành, thao tác máy móc, thiết bị; cả ngoại ngữ và vi tính; khả năng tiếp thị khai thác thị trường Hiện nay các NHTM đầu tư tương đối lớn cho cơ sở hạ tầng, điều kiện làm việc thuận lợi, với những máy móc, hệ thống phục vụ cho việc huy động tiền gửi và rút tiền được đảm bảo an toàn, các máy ATM hiện đại, dễ sử dụng cho dân chúng. Chính vì thế mà điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật chất lượng cao sẽ làm việc quản lý được dễ dàng và hiệu quả được nâng cao CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HOÀN KIẾM 2.1 KHÁI QUÁT VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HOÀN KIẾM 2.1.1 Cơ cấu tổ chức và mạng lưới hoạt động của chi nhánh Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm “Sơ đồ cơ cấu tổ chức của chi nhánh Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm: Chi nhánh Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm bao gồm: Phòng khách hàng doanh nghiệp lớn. Phòng khách hàng doanh nghiệp số 2( Doanh nghiệp vừa và nhỏ). Phòng khách hàng cá nhân. Phòng quản lý rủi ro. Tổ quản lý nợ có vấn đề. Phòng kế toán tài chính. Phòng kế toán giao dịch. Phòng thanh toán xuất nhập khẩu. Phòng tiền tệ kho quỹ. Phòng tổ chức hành chính. Phòng thông tin điện toán. Phòng tổng hợp. * Chức năng nhiệm vụ các phòng ban. 1. Phòng khách hàng doanh nghiệp lớn: Chức năng: là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các Doanh nghiệp lớn, để khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ. Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của NHCT VN. Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ NH cho các doanh nghiệp lớn. Nhiệm vụ: Khai thác nguồn vốn bằng VND và ngoại tệ từ khách hàng là các Doanh nghiệp lớn. Thực hiện tiếp thị, hỗ trợ, chăm sóc khách hàng, tư vấn cho khách hàng về các sản phẩm dịch vụ của NHCT VN: tín dụng, đầu tư, chuyển tiền, mua bán ngoại tệ, thanh toán xuất nhập khẩu, thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử… Làm đầu mối bán các sản phẩm dịch vụ của NHCT VN đến các khách hàng là doanh nghiệp lớn. Nghiên cứu đưa ra các đề xuất về cải tiến sản phẩm dịch vụ hiện có, cung cấp những sản phẩm dịch vụ mới phục vụ cho khách hàng là doanh nghiệp lớn. Thẩm định, xác định, quản lý các giới hạn tín dụng cho các khách hàng có nhu cầu giao dịch về tín dụng và tài trợ thương mại, trình cấp có thẩm quyền quyết định theo quy định của NHCT VN. Đưa ra các đề xuất chấp thuận, từ chối đề nghị cấp tín dụng, cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng trên cơ sở hồ sơ và kết quả thẩm định . Cập nhật, phân tích thường xuyên hoạt động kinh tế, khả năng tài chính của khách hàng đáp ứng yêu cầu quản lý hoạt động tín dụng. Thực hiện chấm điểm xếp hạng tín nhiệm đối với khách hàng có nhu cầu quan hệ giao dịch và đang có quan hệ giao dịch tín dụng với chi nhánh. Phản ánh kịp thời những vấn đề vướng mắc cơ chế, chính sách, quy trình nghiệp vụ và những vấn đề mới nảy sinh, đề xuất biện pháp trình Giám đốc chi nhánh xem xét, giải quyết hoặc kiến nghị lên cấp trên giải quyết. Làm công tác khác khi được Giám đốc giao. 2. Phòng khách hàng số 2 (Doanh nghiệp vừa và nhỏ): Chức năng: là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, để khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ. Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của NHCT VN. Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhiệm vụ: Khai thác nguồn vốn bằng VND và ngoại tệ từ khách hàng là các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thực hiện tiếp thị, hỗ trợ, chăm sóc khách hàng, tư vấn cho khách hàng về các sản phẩm dịch vụ của NHCT VN: Tín dụng, đầu tư, chuyển tiền, mua bán ngoại tệ, thanh toán xuất nhập khẩu, thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử… Làm đối mối bán các sản phẩm dịch vụ của NHCT VN đến các khách hàng là Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nghiên cứu đưa ra các đề xuất về cải tiến sản phẩm dịch vụ hiện có, cung cấp những sản phẩm dịch vụ mới phục vụ cho các khách hàng là Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thẩm định, xác định, quản lý các giới hạn tín dụng cho các khách hàng có nhu cầu giao dịch về tín dụng và tài trợ thương mại, trình cấp có thẩm quyền quyết định theo quy định của NHCT VN. Kiểm tra giám sát chặt chẽ trong và sau khi cấp các khoản tín dụng. Phối hợp với các phòng liên quan thực hiện thu gốc, thu lãi, thu phí đầy đủ, kịp thời đúng hạn, đúng hợp đồng đó ký. Theo dõi quản lý các khoản cho vay bắt buộc. Tìm biện pháp thu hồi khoản cho vay này. Cung cấp hồ sơ, tài liệu, thông tin của khách hàng cho phòng quản lý rủi ro để thẩm định độc lập và tái thẩm định theo quy định của chi nhánh và NHCT VN. Cập nhật, phân tích thường xuyên hoạt động kinh tế, khả năng tài chính của khách hàng đáp ứng yêu cầu quản lý hoạt động tín dụng. Làm công tác khác khi được Giám đốc giao. 3. Phòng khách hàng cá nhân: Chức năng: phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các cá nhân, để khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ. Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của Ngân hàng Công thương Việt Nam. Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho các khách hàng cá nhân. Nhiệm vụ: Khai thác nguồn vốn bằng VND và ngoại tệ từ khách hàng là các cá nhân theo quy định của NHNN và NHCT VN. Thực hiện tiếp thị, hỗ trợ, chăm sóc khách hàng, tư vấn cho khách hàng về các sản phẩm dịch vụ của NHCT VN: tín dụng, đầu tư, chuyển tiền, mua bán ngoại tệ, thanh toán xuất nhập khẩu, thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử… Làm đầu mối bán các sản phẩm dịch vụ của NHCT VN đến các khách hàng cá nhân. Nghiên cứu đưa ra các đề xuất về cải tiến sản phẩm dịch vụ hiện có, cung cấp những sản phẩm dịch vụ mới phục vụ cho khách hàng cá nhân. Thẩm định, xác định, quản lý các giới hạn tín dụng cho các khách hàng có nhu cầu giao dịch về tín dụng và tài trợ thương mại, trình cấp có thẩm quyền quyết định theo quy định của NHCT VN. Thực hiện nghiệp vụ tín dụng và xử lý giao dịch: Nhận và xử lý đề nghị vay vốn, bảo lãnh và các hình thức cấp tín dụng khác. Thực hiện nghiệp vụ về bảo hiểm nhân thọ và các loại bảo hiểm khác theo hướng dẫn của NHCT VN. Làm công tác khác khi được Giám đốc giao. 4. Phòng quản lý rủi ro: Chức năng: phòng quản lý rủi ro cú nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc chi nhánh về công tác quản lý rủi ro của chi nhánh. Quản lý giám sát thực hiện danh mục cho vay, đầu tư đảm bảo tuân thủ các giới hạn tín dụng cho từng khách hàng. Thẩm định hoặc tái thẩm định khách hàng, dự án, phương án đề nghị cấp tín dụng. Thực hiện chức năng đánh giá, quản lý rủi ro trong toàn bộ các hoạt động ngân hàng theo chỉ đạo của NHCT VN. Nhiệm vụ: Nghiên cứu chủ trương, chính sách của Nhà nước và kế hoạch phát triển theo vùng kinh tế, ngành kinh tế tại địa phương, các văn bản về hoạt động ngân hàng… chiến lược kinh doanh, chính sách quản lý rủi ro của NHCT VN và thực trạng tín dụng tại chi nhánh trong từng thời kỳ để Đề xuất mức tăng trưởng tín dụng theo nhóm khách hàng, ngành nghề, khu vực kinh tế… phù hợp với năng lực quản trị rủi ro của chi nhánh và tình hình phát triển kinh tế tại địa phương. Đề xuất danh sách khách hàng cần hạn chế tín dụng hoặc ngừng quan hệ tín dụng. Thực hiện thẩm định độc lập hoặc tái thẩm định: Tái thẩm định, đánh giá rủi ro đối với các khoản bảo lãnh, khoản cấp tín dụng khác hoặc đề nghị cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo yêu cầu của Giám đốc chi nhánh hoặc Hội đồng tín dụng chi nhánh. Chấm điểm, xếp hạng tín nhiệm đối với khách hàng có quan hệ tín dụng tại chi nhánh. Kiểm tra việc hoàn thiện hồ sơ tín dụng, giám sát thực hiện các khoản cấp tín dụng và việc nhập dữ liệu đối với khách hàng có quan hệ tín dụng tại chi nhánh sau khi đó được cấp có thẩm quyền phê duyệt Kiểm tra việc hoàn thiện hồ sơ của các nghiệp vụ về tài trợ thương mại, chuyển tiền ngoại tệ, mua bán nợ theo yêu cầu của Giám đốc chi nhánh hoặc NHCT VN. Nghiên cứu các danh mục tài sản đảm bảo tiền vay, cảnh báo rủi ro trong việc nhận tài sản đảm bảo. Tham gia Hội đồng tín dụng, Hội đồng miễn giảm lói, Hội đồng xử lý rủi ro theo quy định của NHCT VN hoặc theo yêu cầu của Giám đốc chi nhánh, Chủ tịch Hội đồng. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc giao. 5. Tổ quản lý nợ có vấn đề: Chức năng: tổ quản lý nợ có vấn đề chịu trách nhiệm về quản lý, xử lý nợ xấu (nợ nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 theo quy định phân loại nợ) nợ đó xử lý rủi ro, nợ được Chính phủ xử lý; là đầu mối khai thác và xử lý tài sản đảm bảo tiền vay theo quy định của Nhà nước nhằm thu hồi nợ xấu. Nhiệm vụ: Nghiên cứu chủ trương, chính sách, luật pháp, các văn bản pháp quy của Nhà nước, của các ngành và NHCT VN có liên quan đến hoạt động NH để đề xuất và thực hiện các biện pháp xử lý, thu hồi nợ, xử lý tài sản đảm bảo tiền vay. Tổng hợp báo cáo phân loại nợ trên cơ sở kết quả phân loại nợ từng khách hàng do phòng khách hàng cung cấp. Theo dõi tính toán trích lập dự phòng rủi ro của chi nhánh. Phân tích thực trạng chất lượng tín dụng của các khoản nợ xấu theo yêu cầu của Ngân hàng Công thương Việt Nam hoặc Ban Giám đốc, đề xuất các biện pháp xử lý nợ. Đầu mối kiểm tra, tổng hợp hồ sơ đề nghị xử lý rủi ro, miễn giảm lãi, bán nợ của chi nhánh theo quy định của NHCT VN. Hoàn thiện hồ sơ trình cấp có thẩm quyền cho xử lý xóa nợ, khoanh nợ (nếu có) theo hướng dẫn của NHCT VN trong từng thời kỳ. Làm các công việc khác do Giám đốc chi nhánh giao. 6. Phòng kế toán tài chính: Chức năng: là phòng nghiệp vụ tham mưu cho Ban Giám đốc thực hiện các nghiệp vụ và các công việc liên quan đến công tác quản lý tài chính, chi tiêu nội bộ tại chi nhánh, theo đúng quy định của Nhà nước và NHCT VN. Nhiệm vụ: Phối hợp với phòng Thông tin điện toán chi trả lương và các khoản thu nhập khác cho cán bộ nhân viên hàng tháng. Tổ chức quản lý theo dõi hạch toán kế toán tài sản cố định, công cụ lao động, kho ấn chỉ, chi tiêu nội bộ của chi nhánh. Phối hợp với phòng Tổ chức Hành chính lập kế hoạch bảo trợ bảo dưỡng tài sản cố định, xây dựng nội quy quản lý, sử dụng trang thiết bị tại chi nhánh. Lập kế hoạch tài chính, báo cáo tài chính theo quy định hiện hành. Lập kế hoạch mua sắm tài sản, trang thiết bị làm việc, kế hoạch chi tiêu nội bộ bảo đảm hoạt động kinh doanh của chi nhánh trình Giám đốc chi nhánh quyết định. Làm công tác khác do Giám đốc giao. 7. Phòng kế toán giao dịch: Chức năng: là phòng nghiệp vụ thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng; Cung cấp các dịch vụ ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh toán, xử lý hạch toán các giao dịch. Quản lý và chịu trách nhiệm đối với hệ thống giao dịch trên máy, quản lý quỹ tiền mặt đến từng giao dịch viên theo đúng quy định của Nhà nước và NHCT VN. Thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng về sử dụng các sản phẩm Ngân hàng. Nhiệm vụ: Phối hợp với phòng Thông tin điện toán quản lý hệ thống giao dịch trên máy: thực hiện mở, đóng giao dịch chi nhánh hàng ngày; Nhận các dữ liệu, tham số mới nhất từ NHCT VN; Thiết lập thông số đầu ngày để thực hiện hoặc không thực hiện các giao dịch. Thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng: Mở, đóng các tài khoản (ngoại tệ và VND). Thực hiện các giao dịch gửi, rút tiền từ tài khoản. Bán séc, ấn chỉ thường… cho khách hàng theo quy định. Làm công tác khác do Giám đốc giao. 8. Phòng thanh toán xuất nhập khẩu: Chức năng: là phòng nghiệp vụ tổ chức thực hiện nghiệp vụ về thanh toán xuất nhập khẩu và kinh doanh ngoại tệ tại chi nhánh theo quy định của Ngân hàng Công thương Việt Nam. Nhiệm vụ: Thực hiện nghiệp vụ về thanh toán xuất nhập khẩu theo hạn mức được cấp: Thực hiện các nghiệp vụ phát hành, sửa đổi, thanh toán L/C nhập khẩu; thông báo thanh toán L/C xuất khẩu . Thực hiện các nghiệp vụ nhờ thu liên quan đến xuất nhập khẩu (nhờ thu kèm bộ chứng từ, nhờ thu không kèm bộ chứng từ, nhờ thu séc thương mại). Phối hợp với các phòng Khách hàng số 1 (Doanh nghiệp lớn), phòng khách hàng số 2 để thực hiện nghiệp vụ chiết khấu bộ chứng từ, nghiệp vụ biên lai tín thác, bao thanh toán, bao thanh toán tuyệt đối . Thực hiện các nghiệp vụ khác theo hướng dẫn và uỷ quyền của NHCT VN trong từng thời kỳ. 9. Phòng tiền tệ kho quỹ: Chức năng: phòng tiền tệ kho quỹ là phòng nghiệp vụ quản lý an toàn kho quỹ, quản lý quỹ tiền mặt theo quy định của NHNN và NHCT VN. Ứng và thu tiền cho các Qũy tiết kiệm, các Điểm giao dịch trong và ngoài quầy, thu chi tiền mặt cho các doanh nghiệp có thu, chi tiền mặt lớn. Nhiệm vụ: Quản lý an toàn kho quỹ theo đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Công thương Việt Nam. Thực hiện ứng tiền và thu tiền cho các quỹ tiết kiệm, các điểm giao dịch trong và ngoài quầy ATM theo uỷ quyền kịp thời chính xác, đúng chế độ quy định. 10. Phòng tổ chức – hành chính: Chức năng: phòng tổ chức – hành chính là phòng nghiệp vụ thực hiện công tác tổ chức cán bộ và đào tạo tại chi nhánh theo đúng chủ trương chính sách của Nhà nước và quy định của NHCT VN. Thực hiện công tác quản trị và văn phòng phục vụ hoạt động kinh doanh tại chi nhánh, thực hiện công tác bảo vệ, an ninh an toàn chi nhánh. Nhiệm vụ: Thực hiện quy định của Nhà nước và của NHCT VN có liên quan đến chính sách cán bộ về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế… Thực hiện quản lý lao động, tuyển dụng lao động, điều động, sắp xếp cán bộ phù hợp với năng lực, trình độ và yêu cầu nhiệm vụ kinh doanh theo thẩm quyền của chi nhánh. Thực hiện một số công việc khác do Giám đốc giao. 11. Phòng thông tin điện toán: Chức năng: thực hiện công tác quản lý, duy trì hệ thống thông tin điện toán tại chi nhánh. Bảo trì bảo dưỡng máy tính đảm bảo thông suốt hoạt động của hệ thống mạng, máy tính của chi nhánh. Nhiệm vụ: Thực hiện quản lý về mặt công nghệ và kỹ thuật đối với toàn bộ hệ thống công nghệ thông tin của chi nhánh theo thẩm quyền được giao. Lập, gửi các báo cáo bằng file theo đúng quy định hiện hành của NHCT VN, NHNN. Tổ chức học tập nâng cao trình độ, nghiệp vụ cho cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác của phòng. Làm một số cụng việc khác do Giám đốc giao. 12 Phòng tổng hợp: Chức năng: phòng tổng hợp là phòng nghiệp vụ tham mưu cho Giám đốc chi nhánh dự kiến kế hoạch kinh doanh, tổng hợp, phân tích đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh, thực hiện báo cáo hoạt động hàng năm của chi nhánh. Nhiệm vụ: Dự kiến kế hoạch kinh doanh, phân tích tài chính, phân tích đánh giá tổng hợp báo cáo tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh của chi nhánh. Làm đầu mối các báo cáo theo quy định của NHNN và NHCT VN. Làm công tác thi đua của chi nhánh. 2.1.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Ngân hàng Công Thương Hoàn Kiếm 2005-2007 Năm 2007, trong điều kiện môi trường kinh doanh đầy thách thức, nhưng hoạt đọng kinh doanh của NHCT HK vẫn tiếp tục có bước phát triển mạnh về “chất”, tiếp tục đạt được những kết quả vững chắc trên tất cả các mặt nghiệp vụ chuyên môn cũng như hoạt động đoàn thể khác. Nguồn vốn huy động lớn,giữ ổn định; hoạt động tín dụng an toàn,hiệu quả; hoạt động dịch vụ ngân hàng phát triển với chất lượng dịch vụ ngày càng cao; công tác quản lý tài chính tiết kiệm, minh bạch, đúng chế độ; Quản trị điều hành và công tác tổ chức bộ máy đổi mới sớm ổn định, có hiệu quả; bầu không k._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc12307.doc
Tài liệu liên quan