Luận án Chất lượng lãnh đạo xây dựng môi trường văn hóa của các đảng ủy học viện, trường sĩ quan quân đội giai đoạn hiện nay

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Đỗ Đức Giang MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 5 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 10 1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án 10 1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề tài luận án 16 1.3. Khái quát kết quả chủ yếu củ

doc209 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 14/01/2022 | Lượt xem: 101 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Luận án Chất lượng lãnh đạo xây dựng môi trường văn hóa của các đảng ủy học viện, trường sĩ quan quân đội giai đoạn hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
a các công trình đã công bố có liên quan đến đề tài và những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết 24 Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CHẤT LƯỢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA CỦA CÁC ĐẢNG ỦY HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI 29 2.1. Xây dựng môi trường văn hóa ở các học viện, trường sĩ quan quân đội và lãnh đạo xây dựng môi trường văn hoá của các đảng uỷ học viện, trường sĩ quan quân đội 29 2.2. Quan niệm, những yếu tố quy định và tiêu chí đánh giá chất lượng lãnh đạo xây dựng môi trường văn hoá của các đảng uỷ học viện, trường sĩ quan quân đội 59 Chương 3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG LÃNH ĐẠO VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG VĂN HOÁ CỦA CÁC ĐẢNG UỶ HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI 72 3.1. Thực trạng chất lượng lãnh đạo xây dựng môi trường văn hóa của các đảng ủy học viện, trường sĩ quan quân đội 72 3.2. Nguyên nhân và một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng môi trường văn hóa của các đảng ủy học viện, trường sĩ quan quân đội giai đoạn hiện nay 101 Chương 4 YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA CỦA CÁC ĐẢNG ỦY HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 114 4.1. Tình hình nhiệm vụ và yêu cầu nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng môi trường văn hóa của các đảng ủy học viện, trường sĩ quan quân đội giai đoạn hiện nay 114 4.2. Những giải pháp nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng môi trường văn hóa của các đảng ủy học viện, trường sĩ quan quân đội giai đoạn hiện nay 121 KẾT LUẬN 159 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 161 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 162 PHỤ LỤC 176 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt 1. 2. 3. 4. 5. 6. 7. 8. 9. 10. 11. 12. 13. Ban chấp hành Trung ương Bộ Quốc phòng Chủ nghĩa xã hội Công tác đảng, công tác chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam Học viện, trường sĩ quan Môi trường văn hoá Quân đội nhân dân Việt Nam Quân ủy Trung ương Tổng cục Chính trị Trong sạch vững mạnh Vững mạnh toàn diện Xã hội chủ nghĩa BCHTW BQP CNXH CTĐ,CTCT ĐCSVN HV,TSQ MTVH QĐNDVN QUTW TCCT TSVM VMTD XHCN MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài luận án Các HV,TSQ quân đội là những trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, sĩ quan quân đội, trung tâm nghiên cứu khoa học trên các lĩnh vực hoạt động quân sự. Môi trường văn hoá ở các HV,TSQ quân đội có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng; là môi trường xã hội tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành, phát triển, hoàn thiện phẩm chất nhân cách người cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ; môi trường mẫu mực gìn giữ, phát triển, làm lan tỏa những giá trị phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, giá trị văn hóa Đảng, văn hóa quân sự đối với toàn quân và mọi miền đất nước. Xây dựng MTVH ở các HV,TSQ quân đội là quá trình tạo lập, phát triển, hoàn thiện các yếu tố cấu thành MTVH với những đặc trưng giá trị mang tính giáo dục, tính nhân văn, tính mô phạm; đồng thời, phát huy ý nghĩa, tác dụng của MTVH, làm giàu đời sống tinh thần, nuôi dưỡng tâm hồn, bồi đắp ước mơ, củng cố lòng tin, lòng tự hào của cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ; trực tiếp góp phần thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học; xây dựng các HV,TSQ quân đội chính quy, tiên tiến, mẫu mực. Các đảng ủy HV,TSQ quân đội là hạt nhân chính trị, lãnh đạo toàn diện các mặt công tác ở các HV,TSQ. Lãnh đạo xây dựng MTVH vừa là vấn đề có tính nguyên tắc, vừa là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên của các đảng ủy, bảo đảm cho hoạt động xây dựng MTVH ở các HV,TSQ luôn giữ vững định hướng chính trị, bám sát thực tiễn, có chất lượng, hiệu quả cao. Chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy HV,TSQ quyết định trực tiếp đến chất lượng xây dựng MTVH ở các HV,TSQ quân đội. Nhận thức rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của nhiệm vụ lãnh đạo và chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH, những năm qua, các đảng uỷ HV,TSQ quân đội đã đề cao trách nhiệm, có nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát thực, hiệu quả. Chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH từng bước được nâng cao, MTVH ở các HV,TSQ quân đội ngày càng được xây dựng, củng cố, hoàn thiện; các chuẩn mực giá trị văn hóa, quan hệ văn hóa trong môi trường sư phạm quân sự không ngừng được gìn giữ, bồi đắp và lan tỏa vào đời sống văn hoá của cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ; hệ thống thiết chế, cảnh quan văn hóa được củng cố, nâng cấp, tạo nên cả diện mạo cũng như chiều sâu của môi trường chính quy, tiên tiến, mẫu mực ở các HV,TSQ quân đội thời kỳ mới. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả, giá trị đạt được, chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng uỷ HV,TSQ quân đội thời gian qua vẫn còn có những hạn chế, bất cập. Nhận thức, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng MTVH của một số đảng ủy và các tổ chức, lực lượng liên quan chưa ngang tầm nhiệm vụ; nội dung, hình thức, biện pháp lãnh đạo thiếu đồng bộ, chậm đổi mới, chưa thiết thực, cụ thể. Các chuẩn mực giá trị văn hoá sư phạm, văn hoá ứng xử, văn hoá kỷ luật ở một số cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ có biểu hiện xuống cấp; các hoạt động văn hoá còn biểu hiện chất lượng thấp, thiếu phong phú, sinh động; thiết chế văn hoá hoạt động kém hiệu quả... Đặc biệt là, bệnh thành tích và những biểu hiện tiêu cực trong giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học chưa bị đẩy lùi; tình trạng cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ vi phạm kỷ luật nghiêm trọng, vi phạm quy chế, quy định trong giáo dục, đào tạo những năm gần đây có chiều hướng gia tăng; quan hệ ứng xử trong môi trường văn hóa sư phạm quân sự ở các nhà trường có biểu hiện lệch chuẩn... Những năm tới, quán triệt và thực hiện Nghị quyệt Đại hội XIII của Đảng, phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là một trong những đột phá chiến lược, trở thành động lực then chốt để phát triển đất nước. Cùng với đó, mục tiêu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại từ năm 2030 đã và đang đặt ra yêu cầu rất cao đối với sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, sĩ quan quân đội thời kỳ mới. Xu thế hội nhập quốc tế và sự tác động đa chiều của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; sự chống phá quyết liệt trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa của các thế lực thù địch tác động mạnh đến đời sống văn hoá của cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ ở các HV,TSQ quân đội. Vì vậy, các đảng uỷ HV,TSQ quân đội phải đặc biệt coi trọng chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH ở các nhà trường; tập trung làm chuyển biến mạnh mẽ chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH, tạo lập môi trường ngày càng chính quy, mẫu mực, hiện đại, thông minh ở các HV,TSQ quân đội, coi đây là nhiệm vụ vừa cấp thiết, vừa lâu dài. Từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Chất lượng lãnh đạo xây dựng môi trường văn hóa của các đảng ủy học viện, trường sĩ quan quân đội giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ. Đây là vấn đề cơ bản, cấp thiết có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc hiện nay. 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích của đề tài Làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH; đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy HV,TSQ quân đội giai đoạn hiện nay. Nhiệm vụ của đề tài Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng uỷ HV,TSQ quân đội. Xác định những vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết. Luận giải làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn lãnh đạo xây dựng MTVH và chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy HV,TSQ quân đội. Đánh giá đúng thực trạng chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy HV,TSQ quân đội. Phân tích sự phát triển của tình hình nhiệm vụ, xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy HV,TSQ quân đội giai đoạn hiện nay. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy HV,TSQ quân đội. Phạm vi nghiên cứu Tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn lãnh đạo xây dựng MTVH và chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy HV,TSQ quân đội. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy HV,TSQ quân đội giai đoạn hiện nay. Tiến hành nghiên cứu, điều tra, khảo sát thực tế ở các HV,TSQ quân đội. Tư liệu, số liệu điều tra, khảo sát thực tiễn phục vụ nghiên cứu đề tài luận án giới hạn từ năm 2015 đến nay. Các giải pháp nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy HV,TSQ quân đội có giá trị vận dụng đến năm 2030. 4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng, phát triển văn hoá, con người Việt Nam và môi trường văn hóa; về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp uỷ, tổ chức đảng; về nguyên tắc, cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội và CTĐ,CTCT trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Cơ sở thực tiễn Hiện thực hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng MTVH và chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng uỷ HV,TSQ quân đội, bao gồm: Các nghị quyết, chỉ thị của QUTW, BQP; chỉ thị, hướng dẫn của TCCT về xây dựng MTVH trong QĐNDVN; các nghị quyết đại hội nhiệm kỳ, nghị quyết thường kỳ của các đảng ủy HV,TSQ; báo cáo tổng kết CTĐ,CTCT, báo cáo tổng kết 25 năm (1992 - 2017) của TCCT và của các HV,TSQ về thực hiện “Cuộc vận động xây dựng MTVH tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong các đơn vị quân đội” và kết quả điều tra, nghiên cứu thực tế của tác giả. Phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành và liên ngành; chú trọng phương pháp: lôgic, lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn, điều tra xã hội học và phương pháp chuyên gia. 5. Những đóng góp mới của luận án Khái quát và luận giải quan niệm chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng uỷ HV,TSQ quân đội. Rút ra một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng uỷ HV,TSQ quân đội. Đề xuất một số nội dung biện pháp cụ thể, có tính khả thi trong những giải pháp nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng uỷ HV,TSQ quân đội giai đoạn hiện nay. 6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận, thực tiễn về chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng uỷ HV,TSQ quân đội. Cung cấp thêm luận cứ khoa học phục vụ cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp trong quân đội nghiên cứu, vận dụng trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng MTVH ở các HV,TSQ quân đội giai đoạn hiện nay. Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ nghiên cứu, giảng dạy CTĐ,CTCT ở các nhà trường trong và ngoài quân đội. 7. Kết cấu của luận án Luận án gồm: Mở đầu, 4 chương (9 tiết), kết luận, danh mục các công trình khoa học của tác giả đã công bố, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục. Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án 1.1.1. Các công trình nghiên cứu về xây dựng, phát triển văn hoá, con người và môi trường văn hoá Georges Olivier (1992), Sinh thái nhân văn [105], lần đầu tiên đưa ra khái niệm về MTVH. Theo đó, “môi trường văn hoá hay môi trường nhân văn được tạo nên bởi: “sự tác động của con người tới con người” và “tổ chức xã hội của chúng ta”, còn “sự tác động của con người với tự nhiên cũng như sản phẩm từ nền công nghiệp đương nhiên đã có và phải có...” [105, tr. 10]. Tác giả cho rằng, con người vốn bản chất là một sinh thể có văn hoá, tiếp cận mối quan hệ giữa văn hóa và con người thì văn hoá như sự phát triển những giá trị người trong tiến trình lịch sử và MTVH được thiết lập từ tổng thể các quan hệ giữa văn hoá với con người. Bởi vì, quan hệ giữa văn hoá và con người chủ yếu được biểu hiện ở việc con người sáng tạo ra thiên nhiên thứ hai, tức là sinh thái tự nhiên được “người hoá” - sinh thái nhân văn. Đến lượt nó, văn hoá thấm vào tất cả các yếu tố thuộc phẩm chất, năng lực của mỗi cá nhân; trong đó học vấn, kinh nghiệm tuy không đồng nhất với văn hoá nhưng là “chìa khoá” để con người nhận thức cải tạo thế giới; sự phát triển những giá trị người ở từng cá nhân tạo ra những bản sắc riêng để làm giàu thêm văn hoá cộng đồng, làm cho văn hoá không ngừng phát triển... Xây dựng MTVH về bản chất là xây dựng những yếu tố tạo nên MTVH, trong đó xây dựng những giá trị người là yếu tố quan trọng nhất. L.M. Ackhanghenxki (Chủ biên, 1979), Chủ nghĩa xã hội và nhân cách [1], đã luận giải về vấn đề xây dựng một xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Theo đó, muốn xây dựng một xã hội đương đại cần phải có những con người tiêu biểu đại diện cho lực lượng phát triển của xã hội đó, mà lịch sử thường gọi là “thời đại” và “con người của thời đại”. Nhân cách trong CNXH chính là những con người XHCN, là những chủ thể sáng tạo văn hoá, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, là mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội. Theo tác giả, những chuẩn mực giá trị nhân cách của con người XHCN được biểu hiện: Con người trong xã hội chủ nghĩa phải am hiểu chính trị, có tinh thần công dân, phải là một thành viên tiên tiến trong lao động và xứng đáng trong tập thể, phải là một nhân cách phát triển toàn diện; phải hoàn thiện thể lực, phải có thế giới quan khoa học, có đạo đức cộng sản chủ nghĩa [1, tr. 119]. Ácnônđốp (Chủ biên, 1981), Cơ sở lý luận văn hoá Mác - Lênin [2], đã trình bày một cách hệ thống về quan niệm MTVH. Theo đó, tập thể tác giả đã cho rằng giữa văn hoá của xã hội và văn hoá của mỗi cá nhân thường có khâu trung gian, đó là MTVH và đã đưa ra quan niệm về MTVH, như sau: Môi trường văn hoá là một tổng thể ổn định những yếu tố vật thể và nhân cách, nhờ đó các cá thể tác động lẫn nhau. Chúng ảnh hưởng tới hoạt động khai thác và sáng tạo giá trị văn hoá, tới nhu cầu tinh thần, hứng thú và định hướng giá trị của họ. Môi trường văn hoá không chỉ là tổng hợp những yếu tố văn hoá vật thể mà còn có những con người hiện diện văn hoá [2, tr. 75]. Viện nghiên cứu Trung Quốc (2006), Đề cương quy hoạch phát triển văn hoá Trung quốc [151], đã trình bày tổng thể mục tiêu phát triển văn hoá của Trung Quốc “5 năm lần thứ XI”; trong đó thể hiện những tư tưởng cơ bản của Đảng Cộng sản Trung Quốc về đường hướng phát triển văn hoá mang tính đặc sắc Trung Quốc thời kỳ hiện nay và nhấn mạnh phát triển toàn diện, lấy thị trường trong nước, ngoài nước làm động lực thúc đẩy các ngành văn hoá phát triển. Văn hoá hướng vào phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn về phát triển văn hoá, xã hội, Đề cương đã chỉ ra những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm cải cách, phát triển văn hoá Trung Quốc, gồm: Tiếp tục đi sâu cải cách doanh nghiệp văn hoá và đơn vị sự nghiệp văn hoá nhà nước; tăng cường xuất khẩu công nghiệp văn hoá, thực hiện chính sách đẩy mạnh tiêu dùng và đầu tư sáng tạo văn hóa. Vương Hồng Tài (2012), Bàn về văn hoá Trung Quốc và mô hình trường đại học của Trung Quốc [111], chỉ ra các trường đại học khác nhau có mô hình xây dựng, phát triển khác nhau, hay nói cách khác, mỗi trường đại học đều có những nét văn hoá và MTVH riêng. Tác giả đã đưa ra tiêu chuẩn để xây dựng mô hình của một trường đại học với những điều kiện cơ bản: Một là, phải có phương châm nòng cốt về giáo dục đại học, phương châm này phải có tính độc lập và sáng tạo. Hai là, phải có mô hình trường đại học cơ sở, tức là phải có phương tiện thực tiễn. Ba là, phải chứng minh được mô hình trường đại học này có hiệu quả rộng rãi, có thể giải quyết được những vấn đề thực tế. Có chủ trương, có mô hình, có hiệu quả thực tế, ba yếu tố này hợp thành điều kiện để thúc đẩy và phổ biến mô hình trường đại học mẫu, thiếu bất kỳ mô hình nào đều dẫn tới không thành công [111, tr. 471]. Ba yếu tố để hợp thành mô hình một trường đại học mà tác giả cuốn sách đã chỉ ra về bản chất là những yếu tố đặc trưng văn hoá và là các yếu tố cấu thành MTVH của mỗi nhà trường: có chủ trương, phương châm... (yếu tố giá trị văn hoá); có mô hình ...(yếu tố cảnh quan, thiết chế văn hoá...); có hiệu quả thực tế (yếu tố hoạt động, quan hệ văn hoá). Sa vẻng Đen na môn (2016), Phát huy giá trị văn hoá truyền thống trong phát triển đời sống văn hoá ở đơn vị cơ sở Quân đội nhân dân Lào hiện nay [55], đã nghiên cứu một cách có hệ thống về đời sống văn hoá ở đơn vị cơ sở Quân đội nhân dân Lào, chỉ ra quan niệm, vai trò và sự tác động của những giá trị văn hoá truyền thống của các bộ tộc Lào đến vấn đề xây dựng và phát triển đời sống văn hoá của cán bộ, chiến sĩ quân đội ở các đơn vị cơ sở. Theo đó, đời sống văn hoá được quan niệm là “một bộ phận của đời sống xã hội, thể hiện chất lượng cuộc sống của con người” [55, tr. 47]. Tác giả cũng chỉ ra mối quan hệ giữa đời sống văn hoá và MTVH; đời sống văn hoá được hình thành trong MTVH; MTVH chi phối đời sống văn hoá của mỗi con người. Đời sống văn hoá của cán bộ, chiến sĩ ở đơn vị cơ sở quân đội là kết quả hoạt động tương tác giữa cán bộ, chiến sĩ với MTVH ở đơn vị, tạo nên diện mạo cũng như chiều sâu của đời sống tinh thần cán bộ, chiến sĩ, góp phần hình thành các phẩm chất nhân cách người quân nhân trong quân đội. Lưu Vân Sơn (2010), “Tìm tòi thực tiễn và tư duy lý luận xây dựng văn hoá xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc” [109], đã đề cập đến những vấn đề lý luận, thực tiễn xây dựng, phát triển văn hóa, con người trong thời kỳ phát triển xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc. Trong đó, đã chỉ ra mục đích, ý nghĩa của vấn đề xây dựng, phát triển văn hoá, con người nói chung, xây dựng MTVH nói riêng; đồng thời xác định nguồn lực để xây dựng, phát triển văn hoá, con người và MTVH là phải dựa vào sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng và phải lấy con người làm gốc. Tác giả khẳng định: Trong điều kiện xây dựng kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, văn hoá được thể hiện bằng hai hình thái là sự nghiệp và ngành nghề; mục đích căn bản của phát triển văn hoá là vì dân, sức mạnh phải dựa vào dân, đẩy mạnh xây dựng văn hoá xã hội chủ nghĩa cần phải kiên trì lấy con người làm gốc, hướng tới quần chúng, đáp ứng tối đa nhu cầu văn hoá tinh thần của quần chúng nhân dân [109, tr. 35]. 1.1.2. Các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội ở các nước xã hội chủ nghĩa E. Xakharốp (1967), Bàn về quan điểm khoa học đối với sự lãnh đạo quân đội [153], đã nêu lên quan điểm khoa học đối với việc lãnh đạo bộ đội, một vấn đề thiết yếu của quân đội và hải quân, trình bày những nội dung chủ yếu của sự lãnh đạo khoa học, phương hướng nâng cao trình độ lãnh đạo khoa học trong lực lượng vũ trang và coi sự lãnh đạo quân sự một cách khéo léo là một trong những điều kiện quyết định để giành thắng lợi. Tác giả đã chỉ ra nội dung, phương pháp của việc lãnh đạo khoa học gồm rất nhiều vấn đề, nhưng chủ yếu là nắm vững các quy luật khách quan và khéo léo áp dụng trong thực tế những nguyên tắc xây dựng quân đội cũng như các nguyên tắc trong lãnh đạo, chỉ huy. Đồng thời, tác giả cũng khẳng định tính tất yếu và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, bảo đảm cho quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Đảng và ngày càng phát triển hùng hậu. I.S.Mét-nhi-cốp (1974), Đảng cộng sản người lãnh đạo và giáo dục lực lượng vũ trang Xô Viết [94], đã chỉ ra quy luật khách quan sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và củng cố quân đội. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội đòi hỏi phải nâng cao vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ đảng viên trong thực hiện chức trách người chiến sĩ. Các đảng ủy, chi ủy phải thường xuyên lãnh đạo các đơn vị và các đại đội. Theo tác giả: Những tổ chức đảng trong lực lượng vũ trang Liên Xô là một bộ phận trong toàn bộ của Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong hoạt động của mình, những tổ chức đảng trong lực lượng vũ trang Liên Xô đều phải lấy Cương lĩnh, Điều lệ Đảng làm kim chỉ nam. Điều lệ chỉ rõ, các tổ chức đảng này hoạt động theo sự hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, xuất phát từ tính chất, nhiệm vụ riêng của lực lượng vũ trang để cụ thể hóa những quy định trong Điều lệ Đảng cho phù hợp với những điều kiện riêng. A.M.Ioblép (1979), Hoạt động của Đảng Cộng sản Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo cán bộ quân đội [83], đã luận giải, làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô đối với nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội Xô - viết. Đồng thời, đã chỉ ra những chuẩn mực giá trị nhân cách người cán bộ, sĩ quan của quân đội cách mạng, được biểu hiện ở sự “vững vàng về tư tưởng, giỏi về quân sự và kỹ thuật, có chất lượng toàn diện, trong đó trọng tâm, cốt lõi là chất lượng chính trị, tinh thần, bao hàm cả lòng trung thành, đức hy sinh, tinh thần quyết chiến, quyết thắng và trình độ tác chiến” [83, tr. 3]. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân (1981), Công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang Xô - viết [12], đã khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên xô đối với lực lượng vũ trang Xô - viết là nguồn gốc chính của sự hùng mạnh của lực lượng vũ trang; đồng thời chỉ rõ: “Công tác đảng, công tác chính trị - Một bộ phận khăng khít trong những hoạt động lãnh đạo của Đảng trong các lực lượng vũ trang có vai trò đặc biệt quan trọng, bảo đảm sự lãnh đạo thường xuyên, tuyệt đối của Đảng đối với lực lượng vũ trang” [12, tr. 34 - 36]. Các tác giả đã đi sâu phân tích, luận giải về vai trò, nội dung, hình thức, biện pháp tiến hành công tác tư tưởng văn hóa của Đảng trong quân đội. Theo đó, nội dung tiến hành công tác tư tưởng văn hóa trong quân đội bao gồm từ việc “Huấn luyện lý luận Mác - Lênin cho sĩ quan; tổ chức học tập chính trị cho cán bộ, chuyên nghiệp; tổ chức học chính trị cho binh sĩ, hạ sĩ quan; tổ chức học tập về Đảng; tiến hành công tác cổ động, tuyên truyền; công tác văn hoá - giáo dục” [12, tr. 130 - 161]. A.A.Ê Pi Sép (1983), Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô là nguồn gốc, quyết định sức mạnh của Quân đội và Hải quân Liên Xô [59], đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong các lực lượng vũ trang là nhân tố quyết định mọi sự thắng lợi; đồng thời, coi đây là nguyên tắc căn bản trong xây dựng, hoạt động của quân đội. Trong tổ chức lãnh đạo ở các đơn vị quân đội, sự lãnh đạo của cấp uỷ, tổ chức đảng là nhân tố quyết định tới chất lượng huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của đơn vị. Vì vậy, không ngừng tăng cường, nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng đối với quân đội là vấn đề mang tính nguyên tắc bất di bất dịch, cần phải được thường xuyên coi trọng; trong đó, cần phát huy vai trò của cơ quan chính trị, hội đồng quân sự, các tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy và phát huy hiệu lực của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong các đơn vị quân đội. Phu Vy Kẹo Pang Khăm (2017), Các đảng bộ Học viện Quân đội nhân dân Lào lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị giai đoạn hiện nay [85], đã luận giải, làm rõ những vấn đề có tính nguyên tắc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của các đảng bộ học viện quân đội nhân dân Lào, gồm: Một là, các đảng bộ học viện quân đội nhân dân Lào lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt Quân đội nhân dân Lào; Hai là, các đảng bộ học viện lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị phải trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Lào; Ba là, các đảng bộ học viện lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị phải theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; Bốn là, các đảng bộ học viện lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị trên cơ sở giữ vững, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết với quần chúng, phát huy quyền làm chủ của quần chúng [85, tr. 65 - 67]. A.I Xê Rê Kin (1983), “Sự phát triển ngày càng lớn, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô trong củng cố lực lượng vũ trang và một số vấn đề xây dựng Đảng trong Quân đội và Hải quân Liên Xô” [154], khẳng định vai trò to lớn của Đảng Cộng sản trong lãnh đạo quân sự, xây dựng quân đội cách mạng; theo tác giả, sự lãnh đạo của Đảng đối với các lực lượng vũ trang là nguyên tắc trong xây dựng quân đội cách mạng, nhằm bảo đảm xây dựng niềm tin, sự giác ngộ chính trị, hướng dẫn hành động cho bộ đội. Nhiệm vụ lãnh đạo của tổ chức đảng trong quân đội được quan tâm đặc biệt là: “Lãnh đạo xây dựng đơn vị, xây dựng tổ chức chỉ huy, xây dựng đời sống mọi mặt đơn vị và duy trì sẵn sàng chiến đấu, nâng cao chất lượng huấn luyện bộ đội” [154, tr. 18]. 1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề tài luận án 1.2.1. Các công trình nghiên cứu về xây dựng, phát triển văn hoá, con người Việt Nam; về môi trường văn hóa và xây dựng môi trường văn hóa trong quân đội Về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam Nguyễn Duy Bắc (2006), Sự biến đổi các giá trị văn hoá trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay [3], đã xây dựng được hệ thống lý luận cơ bản về văn hoá, giá trị văn hoá, biến đổi giá trị văn hoá. Tiếp cận văn hoá theo quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tác giả cho rằng: “Văn hoá về bản chất là có tính xã hội thông qua các phương thức hoạt động sinh tồn và hoạt động giao tiếp của con người. Văn hoá được biểu thị như phương thức hoạt động bao chứa toàn bộ các sản phẩm vật chất và tinh thần của con người cũng như năng lực phát triển của chính bản thân con người” [3, tr. 23]. Khi luận giải về giá trị văn hoá, tác giả cho rằng: “Nói đến giá trị văn hoá nghĩa là nói đến những giá trị tinh thần thoả mãn được nhu cầu hay lợi ích nhất định của mỗi cộng đồng người”[3, tr. 45]. Về biến đổi giá trị văn hoá, tác giả cho rằng, trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay đã và đang tác động làm biến đổi nhiều giá trị văn hoá theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực; những nhân tố cơ bản tác động đến sự biến đổi giá trị văn hoá, gồm “Sự vận động và phát triển của đời sống kinh tế - xã hội; nhân tố tư tưởng, chính trị; sự tác động của kỹ thuật và công nghệ mới; tác động của giao lưu văn hoá...”[3, tr. 128 - 135]. Phạm Duy Đức (2008), Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hoá [57], đã tập trung nghiên cứu, luận giải quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốc, bản chất, chức năng, vai trò của văn hoá. Khi luận giải nguồn gốc, bản chất của văn hoá theo quan điểm của các nhà kinh điển, tác giả cho rằng: “Văn hóa là lĩnh vực hoạt động mà nhờ đó con người sản xuất và tái sản xuất ra bản thân mình với tư cách là một thực thể xã hội” [57, tr. 43]. Cùng với đó, tác giả đi sâu nghiên cứu tìm hiểu quan điểm của các nhà kinh điển mác - xít về xây dựng nền văn hoá XHCN, về một số lĩnh vực cơ bản như văn hoá trong lãnh đạo chính trị; vấn đề xây dựng con người, đạo đức và lối sống; vấn đề phát triển giáo dục, đào tạo, xây dựng đội ngũ trí thức; phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuật; báo chí; vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần vào vệc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Phạm Duy Đức (Chủ biên, 2010), Phát riển văn hoá Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020. Những vấn đề phương pháp luận [58], đã nghiên cứu, tổng kết thực tiễn 25 năm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (1986 - 2010). Trên cơ sở phương pháp tiếp cận liên ngành, xác định rõ cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội, sự tác động của môi trường quốc tế và sự vận động nội tại của các nguồn lực văn hóa dân tộc trong quá trình phát triển. Từ đó, các tác giả quan niệm: “Phát triển văn hóa là sự thay đổi văn hóa theo xu thế tiến bộ, trước hết là ở những lĩnh vực cơ bản của đời sống văn hóa dân tộc như phát triển con người, phát triển môi trường văn hóa cùng với các lĩnh vực hoạt động văn hóa” [58, tr. 46]. Theo quan điểm này, các tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng văn hóa Việt Nam và thực trạng lãnh đạo, quản lý văn hóa của Đảng và Nhà nước; chỉ rõ các mối quan hệ giữa văn hóa và các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng văn hóa chính trị; đề xuất mục tiêu, quan điểm, định hướng và giải pháp có tính chất đột phá để phát triển nền văn hóa dân tộc trong thập kỷ tiếp theo. Vũ Như Khôi (2014), Văn hóa giữ nước Việt Nam những giá trị đặc trưng [87], đã nghiên cứu về nguồn gốc hình thành và phát triển văn hóa giữ nước Việt Nam và khẳng định: “Văn hóa giữ nước Việt Nam là sản phẩm của sự nghiệp dựng nước và giữ nước, đặc biệt là sự nghiệp đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập tự do, bảo vệ cuộc sống lao động hòa bình của nhân dân” [87, tr. 29]. Khi bàn về vai trò và những đặc trưng giá trị văn hóa giữ nước Việt Nam, tác giả đã phân tích, luận giải: Mỗi khi phải tiến hành cuộc đấu tranh chống xâm lược và đô hộ để giải phóng và bảo vệ Tổ quốc thì các giá trị văn hóa giữ nước Việt Nam được phát huy đến đỉnh cao, biến thành sức mạnh vô cùng to lớn, góp phần quyết định vào chiến thắng của dân tộc. Đồng thời, qua khói lửa chiến tranh, các giá trị văn hóa ấy được bổ sung, phát triển và nâng lên tầm cao mới. Giá trị văn hóa giữ nước Việt Nam rất phong phú và luôn luôn vận động, phát triển cùng với sự vận động, phát triển của xã hội. Trong đó, lòng yêu nước nồng nàn; ý thức cộng đồng, cố kết dân tộc; nghệ thuật đánh giặc độc đáo; tính nhân văn cao cả là những giá trị văn hóa giữ nước Việt Nam điển hình, tiêu biểu nhất. Lê Văn Thư (2015), Các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội trong giai đoạn hiện nay [117], đã đi sâu luận giải làm rõ khái niệm, nội dung, phương thức, vai trò lãnh đạo của các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng đối với nhiệm vụ phát triển văn hoá - xã hội giai đoạn hiện nay. Đặc biệt là đã luận giải về phương thức lãnh đạo của các tỉnh uỷ đối với nhiệm vụ phát triển văn hoá - xã hội, bao gồm: Lãnh đạo thông qua ban hành các chủ trương, nghị quyết và những định hướng lớn về phát triển văn hoá ...ịch sử truyền thống trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo, các HV,TSQ quân đội đã phát huy vai trò to lớn, đào tạo, bồi dưỡng hàng chục vạn cán bộ, sĩ quan quân đội đáp ứng yêu cầu xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta; đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Hai là, các HV,TSQ quân đội có vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu, ứng dụng, phát triển khoa học trên các lĩnh vực hoạt động quân sự Cùng với nhiệm vụ giáo dục và đào tạo, các HV,TSQ quân đội có vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu, ứng dụng, phát triển khoa học trên các lĩnh vực hoạt động quân sự. Trong đó, các học viện có vai trò là những trung tâm hàng đầu trong nghiên cứu, phát triển ứng dụng khoa học xã hội và nhân văn quân sự, khoa học nghệ thuật quân sự, khoa học kỹ thuật quân sự, khoa học hậu cần quân sự và y dược học quân sự; các trường sĩ quan có vai trò là những cơ sở quan trọng trong nghiên cứu, ứng dụng, phát triển khoa học theo ngành, lĩnh vực hoạt động quân sự. Trước sự phát triển của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, các HV,TSQ quân đội đã và đang phát huy tốt vai trò trong nghiên cứu tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, cung cấp luận cứ khoa học phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, QUTW, BQP về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh. Trên cơ sở dự kiến các tình huống, chiến lược, các HV,TSQ tập trung nghiên cứu điều chỉnh bố trí lực lượng chủ lực cơ động trên các địa bàn chiến lược và nghệ thuật tạo lập thế trận trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm phát huy khả năng tác chiến phòng thủ quân khu, quân chủng, binh chủng; nghiên cứu phát triển vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nghiên cứu, phát triển các loại hình nghệ thuật chiến đấu tiến công, phản công, phòng ngự ...; nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa các quân, binh chủng với lực lượng vũ trang địa phương. Cùng với đó, các HV,TSQ quân đội đã và đang thực hiện tốt vai trò trong nghiên cứu, phát triển khoa học xã hội nhân văn quân sự, cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước, QUTW, BQP trong hoạch định đường lối quân sự, quốc phòng, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị; tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, bảo vệ và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng. Nghiên cứu, phát triển khoa học hậu cần quân sự, trực tiếp góp phần xây dựng và phát triển ngành hậu cần quân đội, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội ta. Nghiên cứu khoa học y dược học quân sự, đóng góp quan trọng vào sự phát triển ngành quân y và nền y học Việt Nam trong thời kỳ mới. Ba là, các học viện, trường sĩ quan quân đội có vai trò là trung tâm văn hoá giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ, xây dựng nhà trường chính quy, tiên tiến, mẫu mực; tích cực góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh. Các HV,TSQ quân đội là môi trường xã hội mẫu mực, chính quy, điển hình về truyền thụ, tiếp nhận các giá trị phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, giá trị văn hóa Đảng, văn hoá quân sự; trực tiếp hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách người cán bộ, giảng viên học viên, nhân viên, chiến sĩ. Thông qua môi trường hoạt động dạy - học, huấn luyện, công tác, phục vụ, cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ ở các HV,TSQ quân đội được tiếp nhận, lĩnh hội các giá trị văn hoá một cách hệ thống, căn cơ, bài bản, theo mô hình, mục tiêu, yêu cầu giáo dục, đào tạo, chuyển hoá thành phẩm chất nhân cách của mỗi cá nhân; đồng thời, làm lan tỏa những giá trị văn hóa tiêu biểu đối với toàn quân, trên mọi miền đất nước. Đóng quân trên những địa bàn trọng yếu, trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội, các HV,TSQ quân đội có vai trò quan trọng trong giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, góp phần xây dựng, củng cố cơ sở chính trị địa phương nơi đóng quân vững mạnh. Phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền địa phương, tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện tốt Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hoá tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong các đơn vị quân đội” gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” ở các địa bàn dân cư. Tích cực tham gia các hoạt động xóa đói, giảm nghèo, xây dựng khu phố, xã, phường văn hoá, xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, bảo đảm an sinh xã hội, phòng chống thiên tai, thảm hoạ, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, qua đó để xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. 2.1.1.2. Xây dựng môi trường văn hoá ở các học viện, trường sĩ quan quân đội Quan niệm, yếu tố cấu thành, đặc điểm môi trường văn hoá ở các học viện, trường sĩ quan quân đội Quan niệm môi trường văn hóa ở các học viện, trường sĩ quan quân đội Văn hoá là một khái niệm phức tạp, đã xuất hiện khá sớm trong đời sống xã hội loài người. Cho đến nay, có đến hàng trăm định nghĩa cùng cách tiếp cận khác nhau về văn hoá; tuy nhiên, đều thống nhất khẳng định văn hoá là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Nói đến văn hoá là nói đến con người, quan hệ giữa con người và văn hoá là mối quan hệ tất yếu không thể tách rời, nó được biểu hiện ở việc vì lẽ sinh tồn mà con người luôn tác động vào tự nhiên, cải tạo tự nhiên để đáp ứng nhu cầu đời sống, sinh hoạt; đồng nghĩa với điều đó, con người đã sáng tạo ra “tự nhiên mới” mà theo Giáo sư sinh - nhân chủng học người Pháp Georges Olivier gọi là “sinh thái nhân văn”, tức sinh thái tự nhiên được “người hoá”. Và ông cũng là người đầu tiên đưa ra khái niệm về MTVH; theo đó, MTVH hay môi trường nhân văn được tạo nên bởi sự “tác động của con người tới con người” và “tổ chức xã hội của chúng ta”, còn sự tác động của con người với tự nhiên cũng như sản phẩm từ nền công nghiệp đương nhiên đã có và phải có...” [105, tr. 10]. Trong cuốn sách “Cơ sở lý luận văn hoá Mác - Lênin” của tập thể tác giả người Xô - Viết cũng đã đưa ra quan niệm về MTVH, đó là: Một tổng thể ổn định những yếu tố vật thể và nhân cách, nhờ đó các cá thể tác động lẫn nhau. Chúng ảnh hưởng tới hoạt động khai thác và sáng tạo giá trị văn hoá, tới nhu cầu tinh thần, hứng thú và định hướng giá trị của họ. Môi trường văn hoá không chỉ là tổng hợp những yếu tố văn hoá vật thể mà còn có những con người hiện diện văn hoá [2, tr. 75]. Ở nước ta, vấn đề văn hoá, MTVH cũng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau với những mục đích nghiên cứu khác nhau về MTVH, nhưng các nhà khoa học đều thừa nhận MTVH là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong môi trường sống của con người. Theo tác giả Văn Đức Thanh, “Môi trường văn hoá là tổng hoà các giá trị văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần tác động đến con người và cộng đồng trong một không gian và thời gian xác định” [114, tr. 30]. Trong cuốn sách “Nuôi dưỡng giá trị văn hóa trong nhân cách người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam”, khi đề cập đến vấn đề MTVH, các tác giả đã đưa ra khái niệm: “Môi trường văn hoá là tổng hoà những thành tố vật chất và tinh thần tương đối ổn định, trong một thời gian và không gian cụ thể, ở đó các cá nhân tác động đến nhau, con người là yếu tố quan trọng nhất của môi trường văn hoá” [7, tr. 62]. Như vậy, dù tiếp cận ở góc độ nào, các tác giả cũng đều thống nhất rằng, MTVH là sự thể hiện trong mối quan hệ đan cài giữa con người và các yếu tố văn hoá do con người sáng tạo ra trong một không gian, thời gian xác định; đồng thời có vai trò tác động, ảnh hưởng trở lại đối với con người nhằm hình thành, phát triển, hoàn thiện phẩm chất nhân cách của con người và cộng đồng. Môi trường văn hoá bao gồm nhiều yếu tố cấu thành, đó là: Hệ thống những giá trị văn hoá, hệ thống những quan hệ văn hoá, hệ thống những hình thái hoạt động văn hoá, hệ thống những thiết chế và cảnh quan văn hoá. Trong đó, con người luôn là chủ thể tích cực của MTVH, đóng vai trò quyết định trong việc sáng tạo những giá trị văn hoá, hình thành những quan hệ văn hoá; lựa chọn, tổ chức, tham gia những hoạt động văn hoá và điều tiết, phát huy tác dụng của những thiết chế văn hoá, hợp thành MTVH. Chính vì vậy mà mỗi MTVH đều có tính phổ quát và tính bản sắc riêng của nó. Bản sắc văn hoá Việt Nam với nét đặc trưng là văn hoá làng xã, tuy còn chứa đựng những mặt hạn chế nhất định, nhưng những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam được hình thành và phát triển từ bao đời nay, vượt qua mọi sự “xâm lăng văn hoá” trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước đã và đang ngày càng thấm sâu vào MTVH đất Việt, lan tỏa, thẩm thấu vào từng địa phương, cơ sở, trong đó có các HV,TSQ quân đội. Từ những hướng tiếp cận trên, có thể quan niệm: Môi trường văn hoá ở các học viện, trường sĩ quan quân đội là một chỉnh thể thống nhất, chứa đựng toàn bộ các yếu tố văn hóa vật chất và tinh thần, do các thế hệ cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ tạo dựng trong không gian và thời gian xác định, thường xuyên tác động đến sự hình thành, phát triển, hoàn thiện phẩm chất nhân cách của cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ. Môi trường văn hóa ở các HV,TSQ quân đội là một bộ phận của MTVH quân đội và xã hội Việt Nam, được các thế hệ cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ tạo dựng trong suốt tiến trình lịch sử xây dựng, trưởng thành và phát triển của các nhà trường; tạo nên những dấu ấn văn hóa của sự nghiệp giáo dục, đào tạo đội ngũ cán bộ, sĩ quan quân đội trong các giai đoạn lịch sử. Môi trường văn hóa ở các HV,TSQ quân đội vừa chứa đựng những yếu tố bản sắc văn hoá chung của dân tộc Việt Nam, đồng thời mang những yếu tố văn hóa riêng có của MTVH quân sự, phản ánh tính đặc thù của môi trường hoạt động quân sự; không chỉ vậy, MTVH ở các HV,TSQ quân đội còn mang đậm nét văn hoá của môi trường giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học - Môi trường văn hoá sư phạm quân sự. Ở đó, các thế hệ cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ và các tập thể sư phạm cùng tham gia vào hoạt động giảng dạy, học tập, nghiên cứu, công tác và phục vụ cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học; xây dựng các HV,TSQ quân đội chính quy, tiên tiến, mẫu mực. Nói đến MTVH là nói đến một môi trường xã hội cụ thể, gắn với mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị trong một không gian, thời gian xác định. Không có MTVH chung chung của cả nhân loại. Môi trường văn hóa ở các HV,TSQ quân đội bên cạnh những nét văn hóa chung của môi trường hoạt động sư phạm quân sự là phải kể đến những đặc trưng văn hóa của mỗi nhà trường, do lịch sử truyền thống, đặc thù nhiệm vụ tạo nên bản sắc văn hóa riêng có. Nó được biểu hiện rõ nét nhất ở những giá trị văn hóa đặc trưng, nổi bật, mang tính thương hiệu của mỗi HV,TSQ. Như: ở Học viện Quân y là văn hóa “thầy thuốc như mẹ hiền” của những “chiến sĩ áo trắng”, Học viện Phòng không - Không quân là văn hóa “làm chủ bầu trời Tổ quốc”, Trường sĩ quan Pháo binh là văn hóa của những chiến sĩ “chân đồng, vai sắt”, Trường sĩ quan Tăng Thiết giáp là văn hóa của lực lượng đột kích mạnh, “đã ra quân là đánh thắng” Những đặc trưng văn hóa ấy thường xuyên tác động đến sự hình thành, phát triển, hoàn thiện phẩm chất nhân cách của các thế hệ cán bộ, học viên, nhân viên chiến sĩ thông qua hoạt động giáo dục, đào tạo và quá trình xây dựng, trưởng thành, phát triển của các HV,TSQ quân đội. Các yếu tố cấu thành môi trường văn hóa ở các học viện, trường sĩ quan quân đội Thứ nhất, hệ thống các giá trị văn hoá trong MTVH ở các HV,TSQ quân đội Giá trị văn hoá là kết tinh sự sáng tạo của con người được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, trở thành những chuẩn mực xã hội; đồng thời là tiêu chuẩn để đánh giá, xem xét các hiện tượng, quá trình ở những thời điểm lịch sử cụ thể là văn hóa hay phản văn hoá. Mục tiêu xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam là nhằm hướng đến các giá trị chân - thiện - mỹ, tức là hướng đến cái khách quan, đúng đắn, trung thực, chính đáng ...(chân); cái cao thượng, nhân ái, vị tha, tốt lành ... (thiện); cái đẹp đẽ, cao quý, hoàn hảo, hài hoà, đáng yêu ...(mỹ). Đây là những chuẩn mực giá trị văn hoá phổ quát mà con người cần hướng tới, nó tồn tại trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (chính trị, kinh tế, đạo đức, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo ...), tồn tại ở cả dạng vật thể và phi vật thể (giá trị văn hoá vật thể như các công trình kiến trúc, các di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, cơ sở hạ tầng, đời sống ẩm thực ...; giá trị văn hoá phi vật thể như lý tưởng, niềm tin, trí tuệ, bản lĩnh, ý chí, truyền thống dân tộc, quê hương, đất nước, nếp sống văn hoá, nghệ thuật ...). Các giá trị văn hoá trong MTVH ở các HV,TSQ quân đội là sự hoà quyện các giá trị văn hoá của dân tộc Việt Nam với các giá trị văn hoá trong môi trường hoạt động sư phạm quân sự; nó cũng tồn tại ở cả dạng văn hoá vật thể và phi vật thể. Ở dạng văn hoá vật thể bao gồm trình độ kiến trúc và hệ thống cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ các nhiệm vụ của nhà trường; cơ cấu tổ chức, biên chế, chức năng, nhiệm vụ; các quy chế, quy định trong giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, xây dựng chính quy; lễ tiết tác phong quân nhân; tổ chức đời sống ăn ở, sinh hoạt của bộ đội ... Ở dạng văn hoá phi vật thể như mục tiêu, lý tưởng cách mạng, trình độ tri thức, bản lĩnh chính trị, niềm tin, ý chí quyết tâm chiến đấu; tình yêu quê hương đất nước, tình cảm đồng chí - đồng đội, cấp trên - cấp dưới, tình thầy trò, tinh thần say mê giảng dạy, nghiên cứu, huấn luyện, học tập ... Thứ hai, hệ thống các quan hệ văn hoá trong MTVH ở các HV,TSQ quân đội Hệ thống các quan hệ văn hoá chính là mối quan hệ đan cài giữa con người với con người, con người với tự nhiên và với cộng đồng xã hội xung quanh, mà ở đó các chuẩn mực giá trị chân, thiện, mỹ thẩm thấu vào trong từng quan hệ ứng xử của con người hợp thành nền tảng của MTVH. Trong MTVH ở các HV,TSQ quân đội, hệ thống các quan hệ văn hoá vừa bao hàm các quan hệ phổ biến trong môi trường xã hội như quan hệ cấp trên - cấp dưới, lớn tuổi - trẻ tuổi, đồng nghiệp, bạn bè, gia đình, người thân, hay như quan hệ văn hoá trong các lĩnh vực chính trị, quân sự, nghệ thuật, giao tiếp ...; đồng thời vừa bao hàm các quan hệ văn hoá đặc trưng trong MTVH sư phạm quân sự, như quan hệ đồng chí - đồng đội, quan hệ thầy - trò, quan hệ quân - dân; quan hệ văn hoá trong các lĩnh vực hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, điều lệnh, kỷ luật quân đội, xây dựng nền nếp chính quy... Thứ ba, hệ thống các hình thái hoạt động văn hoá trong MTVH ở các HV,TSQ quân đội Mọi hoạt động của con người trong những điều kiện lịch sử xã hội nhất định luôn có xu hướng tìm ra những con đường, cách thức, phương pháp để đạt được hiệu quả cao nhất. Các hình thái hoạt động văn hoá được coi là những hoạt động văn hoá của con người trong các lĩnh vực đã được tối ưu hoá về cách thức, phương pháp, quy trình trở thành các giá trị xã hội mà mỗi cá nhân, cộng đồng cần noi theo. Trong MTVH ở các HV,TSQ quân đội, hệ thống các hình thái hoạt động văn hoá rất đa dạng, phong phú, có những hình thái hoạt động thuần văn hóa (hoạt động văn hoá, nghệ thuật), như hoạt động văn nghệ quần chúng, nhà văn hoá, bảo tàng, thư viện, nhà truyền thống, phòng Hồ Chí Minh; các hoạt động tuyên truyền, cổ động, diễn đàn tuổi trẻ, tham quan, hội thi, hội thao ...; đồng thời, có các hoạt động chứa đựng những giá trị văn hoá, như: văn hoá trong giảng dạy, học tập, huấn luyện quân sự, rèn luyện kỷ luật; văn hoá lãnh đạo, quản lý, chỉ huy; văn hoá trong các mặt hoạt động tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, tài chính, dự án ... Thứ tư, hệ thống các thiết chế văn hoá trong MTVH ở các HV,TSQ quân đội Các thiết chế văn hoá nói chung bao gồm cả thiết chế cơ sở vật chất - văn hoá (thư viện, bảo tàng, nhà hát, phương tiện thông tin đại chúng ...) và thiết chế tổ chức xã hội (hệ thống thiết chế chính trị - xã hội, hệ thống giáo dục, truyền thông văn hoá, các hệ thống tổ chức xã hội, nghề nghiệp ...) có vai trò trực tiếp đáp ứng nhu cầu sáng tạo, truyền bá, tiếp thụ, bảo tồn các giá trị văn hoá của nhân dân. Trong MTVH ở các HV,TSQ quân đội, hệ thống các thiết chế văn hoá bao gồm: các thiết chế lãnh đạo - chỉ huy như đảng uỷ, ban giám đốc, hệ thống cấp uỷ, tổ chức đảng, người chỉ huy các cấp trong nhà trường; hệ thống nghị quyết, kế hoạch, quy chế, quy định hoạt động văn hoá...; các thiết chế tổ chức thực hiện như cơ quan chức năng, đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên trách tổ chức, hoạt động văn hoá và cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ ở các HV,TSQ quân đội...; các thiết chế cơ sở vật chất - văn hoá như nhà văn hóa, thư viện, nhà truyền thống, phòng Hồ Chí Minh, giảng đường, khu vui chơi giải chí, câu lạc bộ thể thao - văn hoá, kinh phí công tác văn hoá, văn nghệ... Trong đó, hệ thống thiết chế lãnh đạo - chỉ huy là hạt nhân của toàn bộ hệ thống thiết chế văn hoá ở các HV,TSQ quân đội, đóng vai trò lãnh đạo, quản lý điều hành và phát huy quyền làm chủ của các tổ chức, các lực lượng về văn hoá; đồng thời cũng là chủ thể xây dựng văn hoá trong lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện mọi hoạt động của HV,TSQ quân đội. Thứ năm, hệ thống cảnh quan văn hoá trong MTVH ở các HV,TSQ quân đội Cảnh quan văn hoá là sự biểu hiện mối quan hệ của con người với tự nhiên, bằng hoạt động lao động sáng tạo của con người làm cho môi trường tự nhiên trở nên đẹp đẽ, hài hoà, thân thiện góp phần nâng cao đời sống tinh thần của con người. Trong MTVH ở các HV,TSQ quân đội, hệ thống cảnh quan văn hoá bao gồm toàn bộ cơ sở hạ tầng kiến trúc, điều kiện ăn, ở, sinh hoạt, vui chơi, giải trí của cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ, tạo nên diện mạo của các HV,TSQ quân đội, bao gồm: hệ thống kiến trúc nhà ở, nhà làm việc, giảng đường, phòng học, nhà ăn, hội trường, nhà thể thao tổng hợp; hệ thống đường xá, khu vui chơi, giải trí, vườn hoa, cây cảnh, đài tưởng niệm...; các công trình phục vụ sinh hoạt, hệ thống điện, nước... tạo thành một chỉnh thể hài hoà, hiện đại, khang trang, sạch đẹp; tạo ra bầu không khí thân thiện, yêu mến đơn vị của mỗi cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ; làm cho MTVH ở các HV,TSQ trở nên hấp dẫn, gắn bó với con người. Đặc điểm môi trường văn hoá ở các học viện, trường sĩ quan quân đội Một là, MTVH ở các HV,TSQ quân đội là môi trường thống nhất, hoà quyện hữu cơ các yếu tố văn hoá Việt Nam, văn hóa quân sự và những đặc trưng văn hoá sư phạm quân sự Là một bộ phận của MTVH quân đội, MTVH ở các HV,TSQ quân đội không tồn tại biệt lập, tách rời mà gắn bó hữu cơ với MTVH quân đội và xã hội Việt Nam. Trong MTVH ở các HV,TSQ quân đội, các yếu tố văn hóa vừa mang tính thống nhất, vừa mang tính đặc thù, đa dạng, phong phú; vừa phản ánh sâu đậm bản sắc văn hoá dân tộc, tinh hoa văn hoá nhân loại; vừa mang những đặc tính văn hóa quân sự, đồng thời phản ánh đặc trưng văn hoá trong môi trường giáo dục, đào tạo những cán bộ, sĩ quan quân đội. Tính thống nhất đó bắt nguồn từ sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt của Đảng đối với quân đội tạo nên sự thống nhất bền vững về mục tiêu lý tưởng cách mạng của mỗi quân nhân và các tập thể quân nhân, thống nhất về nguyên tắc tổ chức, hoạt động quân sự... Vì vậy mà trong bất cứ MTVH ở HV,TSQ quân đội nào cũng chứa đựng những giá trị văn hoá về lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần quyết chiến, quyết thắng; về tình đồng chí, đồng đội, tinh thần đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, ý thức tổ chức kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Tính đặc thù của MTVH ở các HV,TSQ quân đội được quy định bởi chủ thể của nó, trước hết là những tổ chức quân sự và những cán bộ, chiến sĩ quân đội; hơn thế nữa, đó còn là các tập thể sư phạm quân sự và đội ngũ những người thầy, người trò, các nhà khoa học và đội ngũ cán bộ, nhân viên quản lý giáo dục với một hệ thống cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ đặc thù là giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học quân sự... Tính đặc thù của MTVH ở các HV,TSQ quân đội được biểu hiện trong tất cả các yếu tố cấu thành của nó. Trong hệ thống các giá trị văn hoá, giá trị cốt lõi, chủ đạo nhất đó chính là các chuẩn mực giá trị văn hoá dạy và học; trong các quan hệ văn hoá, quan hệ thầy - trò là quan hệ trung tâm, tuy nhiên quan hệ ấy được đặt trong một môi trường đặc thù - môi trường sư phạm quân sự, nó không đồng nhất với quan hệ thầy - trò ở các cơ sở giáo dục nói chung, quan hệ ấy được hoà quyện hữu cơ với quan hệ đồng chí - đồng đội, cấp trên - cấp dưới và chứa đựng cả những yếu tố văn hoá kỷ luật của quân đội. Hoạt động văn hoá ở các HV,TSQ quân đội mang tính đa dạng, phong phú, sáng tạo, hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu sáng tạo, tiếp nhận, hưởng thụ giá trị văn hóa cao của cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ. Hệ thống thiết chế văn hoá và cảnh quan văn hoá ở các HV,TSQ quân đội được quan tâm, đầu tư xây dựng, củng cố một cách đồng bộ, chính quy, mẫu mực theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá trong thời kỳ mới. Tính đa dạng, phong phú của MTVH ở các HV,TSQ quân đội được tạo nên bởi lịch sử, truyền thống văn hóa, tính chất, đặc điểm nhiệm vụ của mỗi nhà trường, điều đó tạo nên những dấu ấn văn hóa riêng có của mỗi HV,TSQ quân đội. Nói đến Học viện Chính trị là nói đến trung tâm đào tạo, bồi dưỡng những chính ủy trong quân đội, luôn đi đầu trong hoạt động đấu tranh tư tưởng, lý luận; nói đến Trường sĩ quan Không quân là nói đến nơi khởi nguồn “những cánh bay” bảo vệ bầu trời Tổ quốc, ở đó, những phẩm chất ý chí, bản lĩnh chiến đấu “làm chủ bầu trời Tổ quốc” là những giá trị văn hóa cốt lõi, xuyên suốt trong mọi hoạt động giáo dục, đào tạo, xây dựng, trưởng thành và phát triển của nhà trường. Hoặc là, nói đến Trường sĩ quan Lục quân 1, Trường sĩ quan Lục quân 2 là nói đến những cái nôi đào luyện, rèn dũa một cách tỉ mỉ, nghiêm khắc những phẩm chất nhân cách đặc trưng của người sĩ quan chỉ huy; tính chính quy, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong quân sự là những đặc trưng văn hóa nổi bật, mang tính thương hiệu ở các nhà trường. Hai là, MTVH ở các HV,TSQ quân đội là môi trường mẫu mực, điển hình về truyền thụ, tiếp nhận các giá trị văn hoá quân sự Khác với MTVH trong các tổ chức hoặc cộng đồng xã hội khác, kể cả MTVH trong các đơn vị quân đội làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu hay lao động sản xuất..., MTVH ở các HV,TSQ quân đội được coi là môi trường mẫu mực, điển hình về truyền thụ, tiếp nhận các giá trị văn hoá quân sự. Tính mẫu mực, điển hình đó do những yếu tố nội sinh của các HV,TSQ quân đội quy định. Nếu xét về chức năng, nhiệm vụ của các HV,TSQ quân đội, đó chính là thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, xây dựng nhà trường chính quy..., mà bản chất hoạt động giáo dục, đào tạo trong các HV,TSQ đã là hoạt động truyền thụ, tiếp nhận các giá trị văn hoá quân sự; hơn nữa, là môi trường để đào luyện nên người cán bộ, sĩ quan quân đội, tất yếu môi trường đó phải chứa đựng những chuẩn mực giá trị văn hoá mẫu mực, điển hình theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo, trở thành khuôn mẫu để mỗi cán bộ, học viên phấn đấu đạt tới. Tính mẫu mực, điển hình về truyền thụ, tiếp nhận văn hoá trong MTVH ở các HV,TSQ quân đội được biểu hiện: Mọi hoạt động ở các HV,TSQ đều được xác lập và tiến hành một cách bài bản, căn cơ, mẫu mực, mô phạm, nhằm thực hiện tốt mục tiêu, yêu cầu đào tạo của các nhà trường; trong đó, hoạt động dạy và học (truyền thụ và tiếp nhận giá trị văn hoá quân sự) là hoạt động cốt lõi, trung tâm của các HV,TSQ. Mặt khác, các yếu tố văn hoá trong MTVH ở các HV,TSQ quân đội là sự kết tinh với chất lượng cao của chuẩn mực giá trị chân, thiện, mỹ trong môi trường sư phạm quân sự, bởi đây là môi trường đào tạo nên những cán bộ, sĩ quan quân đội vừa có kiến thức, năng lực hoạt động quân sự, vừa có phẩm chất nhân cách của người cán bộ quân đội. Sẽ không thể có các thế hệ cán bộ, sĩ quan khi tốt nghiệp ra trường có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ nếu chất lượng lãnh đạo, quản lý của hệ thống cấp uỷ, chỉ huy nhà trường thấp kém; nội dung, chương trình giáo dục, đào tạo thiếu tính đồng bộ, tính khoa học. Không thể có những học viên giỏi nếu không có đội ngũ những người thầy giỏi, tận tụy, say mê, hết lòng vì học viên thân yêu; hoặc ngược lại, sẽ không thể có kết quả học tập, rèn luyện tốt nếu như người học thiếu tích cực, tự giác, say mê học tập, nghiên cứu, huấn luyện, rèn luyện. Cùng với đó, yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế trong giáo dục, đào tạo hiện nay đòi hỏi các HV,TSQ phải được xây dựng theo hướng “Nhà trường thông minh, tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” và VMTD “Mẫu mực, tiêu biểu”. Tất cả những yếu tố đó tạo nên cả diện mạo cũng như chiều sâu của MTVH ở các HV,TSQ, trở thành môi trường điển hình, trung tâm văn hoá giáo dục, rèn luyện cán bộ, sĩ quan quân đội cả về lý tưởng, đạo đức, tri thức và năng lực hoạt động thực tiễn quân sự. Ba là, MTVH ở các HV,TSQ quân đội là môi trường tiêu biểu gìn giữ, phát triển và làm lan tỏa giá trị phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là những giá trị cao đẹp được hình thành và phát triển trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta, cũng như trong quá trình rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu nỗ lực, bền bỉ, với bao mồ hôi, công sức và cả xương máu của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội. Giá trị phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là giá trị văn hoá điển hình, đặc trưng nhất của quân đội ta, trở thành biểu tượng cao quý của cán bộ, chiến sĩ quân đội, được nhân dân suy tôn, yêu mến, quý trọng, như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: “Hình ảnh và tên gọi Bộ đội Cụ Hồ là nét đẹp độc đáo trong văn hóa Việt Nam và lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc ta”. Giá trị phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” có tính bền vững, nhưng không phải “nhất thành bất biến”, mà nội dung và biểu hiện của những giá trị phẩm chất đó luôn có sự vận động, phát triển, đòi hỏi phải được giữ gìn, kế thừa và không ngừng bổ sung, hoàn thiện. Môi trường văn hoá ở các HV,TSQ quân đội là môi trường đào luyện nên đội ngũ cán bộ, sĩ quan quân đội; đồng nghĩa với điều đó, đây chính là môi trường tiêu biểu, mẫu mực nhất để giữ gìn, phát huy, làm lan toả, thẩm thấu giá trị phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” vào nhân cách, phẩm chất của các thế hệ cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ. Trong điều kiện hiện nay, các giá trị phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được cụ thể hoá thành các chuẩn mực phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” theo Chỉ thị 855 của Thường vụ QUTW về tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, đó là: Bản lĩnh chính trị vững vàng, động cơ trong sáng, trách nhiệm cao; đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh; có văn hóa, tri thức khoa học, trình độ quân sự, năng lực, phương pháp, tác phong công tác và sức khỏe tốt đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; thực hành dân chủ, kỷ luật, tự giác, nghiêm minh; chăm lo xây dựng đoàn kết nội bộ tốt, tôn trọng, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, có tinh thần quốc tế trong sáng... Những chuẩn mực giá trị này được cụ thể hoá trong mục tiêu, yêu cầu đào tạo; được thể hiện ở nội dung, chương trình giảng dạy, huấn luyện, rèn luyện đội ngũ cán bộ, sĩ quan quân đội; được lan tỏa, thẩm thấu vào nhân cách của những người học viên, nhân viên, chiến sĩ thông qua môi trường giáo dục, đào tạo ở các HV,TSQ, trở thành hành trang mang theo của các thế hệ cán bộ quân đội, lan tỏa đến với toàn quân, trên mọi miền Tổ quốc. Quan niệm, nội dung, hình thức, biện pháp xây dựng môi trường văn hoá ở các học viện, trường sĩ quan quân đội Quan niệm xây dựng MTVH ở các HV,TSQ quân đội Xây dựng MTVH ở các HV,TSQ quân đội là nhiệm vụ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là một nội dung hoạt động CTĐ,CTCT đặt dưới sự lãnh đạo, quản lý trực tiếp của đảng uỷ, ban giám đốc (ban giám hiệu) nhà trường; sự chỉ đạo, hướng dẫn của TCCT và các cơ quan chức năng BQP; sự phối hợp của cấp uỷ, chính quyền địa phương và các cơ quan, đơn vị trên địa bàn đóng quân của các HV,TSQ. Hiện nay, quán triệt và triển khai thực hiện chỉ thị, hướng dẫn của QUTW và TCCT về thực hiện “Cuộc vận động xây dựng môi trường văn hoá tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong các đơn vị quân đội”, nhiệm vụ xây dựng MTVH ở các HV,TSQ quân đội càng được coi trọng và triển khai đồng bộ, thường xuyên, nhằm tạo dựng ở các HV,TSQ quân đội môi trường chính quy, tiên tiến, mẫu mực, hiện đại trong thời kỳ mới. Xây dựng MTVH ở các HV,TSQ quân đội thực chất là quá trình xây dựng, phát triển, hoàn thiện những yếu tố cấu thành MTVH; trong đó các chuẩn mực giá trị văn hoá trong môi trường hoạt động sư phạm quân sự là hạt nhân cốt lõi. Quá trình xây dựng MTVH ở các HV,TSQ quân đội cần được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục với những nội dung, hình thức, biện pháp phong phú, đa dạng, linh hoạt, sáng tạo; phát huy được sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng cả trong và ngoài đơn vị. Từ những vấn đề trên, có thể quan niệm: Xây dựng MTVH ở các HV,TSQ quân đội là tổng thể các hoạt động có mục đích, có tổ chức, tích cực, sáng tạo của chủ thể và các lực lượng trong tạo lập, phát triển những yếu tố cấu thành MTVH; phát huy vai trò của MTVH trong nuôi dưỡng, hình thành, phát triển, hoàn thiện phẩm chất nhân cách của cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ; góp phần thúc đẩy thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, xây dựng các HV,TSQ quân đội chính quy, tiên tiến, mẫu mực. Mục đích xây dựng MTVH ở các HV,TSQ quân đội Nhằm tạo dựng và phát triển những yếu tố cấu thành MTVH với những đặc trưng giá trị mang tính giáo dục, tính nhân văn, tính mô phạm; trở thành môi trường xã hội mẫu mực nuôi dưỡng, hình thành, phát triển và hoàn thiện kiến thức, năng lực, phẩm chất nhân cách của cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới; góp phần thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học; ngăn ngừa sự ảnh hưởng của các yếu tố phản văn hóa; xây dựng các HV,TSQ quân đội chính quy, tiên tiến, mẫu mực. Chủ thể xây dựng MTVH ở các HV,TSQ quân đội Chủ thể lã... các chủ trương, biện pháp lãnh đạo xây dựng MTVVH của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp ở các đảng bộ HV,TSQ quân đội? Tốt o Khá o Trung bình o Khó trả lời o 4- Đồng chí đánh giá như thế nào về phương pháp tác phong công tác và vai trò nêu gương của cấp ủy viên các cấp trong đảng bộ HV,TSQ quân đội? Rất tốt o Tốt o Chưa tốt o Khó trả lời o 5- Đánh giá của đồng chí về chất lượng nội dung, chương trình, mục tiêu, yêu cầu đào tạo của các HV, TSQ quân đội? Rất tốt o Tốt o Chưa tốt o Khó trả lời o 6- Đồng chí đánh giá như thế nào về chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên ở các HV, TSQ quân đội? Tốt o Khá o Trung bình o Khó trả lời o 7- Đồng chí đánh giá như thế nào về hệ thống cơ sở hạ tầng, vật chất, phương tiện bảo đảm cho nhiệm vụ giáo dục đào tạo ở các HV, TSQ quân đội? Rất hiện đại o Hiện đại o Chưa hiện đại o Lạc hậu o 8- Đánh giá về hệ thống thiết chế văn hoá ở các HV, TSQ quân đội? Tốt o Khá o Trung bình o Yếu o 9- Đánh giá của đồng chí về sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng MTVH của cấp uỷ các cấp ở các HV, TSQ quân đội? Rất quan tâm o Có quan tâm o Chưa quan tâm o Khó trả lời o 10- Đồng chí đánh giá về chất lượng các hoạt động văn hoá quần chúng ở các HV, TSQ quân đội? Tốt o Khá o Trung bình o Yếu o 11- Đánh giá của đồng chí về mức độ văn hoá trong quan hệ ứng xử giữa thầy và trò ở các HV,TSQ quân đội? Rất văn hoá o Có văn hoá o Chưa có văn hoá o Khó trả lời o 12- Đánh giá về công tác bảo đảm định mức, tiêu chuẩn đời sống văn hoá tinh thần ở các HV,TSQ quân đội? Tốt o Khá o Trung bình o Khó trả lời o 13- Theo đồng chí những hạn chế về chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy các HV,TSQ quân đội bắt nguồn từ các nguyên nhân nào sau đây? - Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng MTVH của một số cấp ủy, chỉ huy ở đơn vị cơ sở còn hạn chế o - Trình độ, năng lực, phương pháp tác phong và vai trò nêu gương về văn hóa của một số cán bộ chủ trì ở các HV,TSQ quân đội còn hạn chế o - Chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng trong và ngoài đơn vị trong hoạt động lãnh đạo xây dựng MTVH o - Vai trò trách nhiệm của đội ngũ giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ ở các HV,TSQ quân đội trong xây dựng MTVH còn nhiều hạn chế o - Các yếu tố khác o 14- Để nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy HV, TSQ quân đội cần coi trọng thực hiện những giải pháp nào sau đây? - Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng đối với nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy HV,TSQ quân đội o - Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy đảng ủy HV, TSQ quân đội o - Xây dựng văn hoá lãnh đạo của cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp làm cơ sở nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng uỷ HV,TSQ quân đội o - Xây dựng và phát huy vai trò của cơ quan chức năng, lực lượng chuyên trách cùng với hệ thống thiết chế cơ sở vật chất - văn hoá trong nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng uỷ HV,TSQ quân đội o - Phát huy sức mạnh tổng hợp trong nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy đảng ủy HV, TSQ quân đội o - Biện pháp khác.................... ... 15- Đồng chí vui lòng cho biết một số thông tin về bản thân - Sĩ quan chính trị £ - Quân hàm cấp tá £ - Sĩ quan chỉ huy £ - Cán bộ tiểu đoàn (hệ) £ - Quân hàm cấp tá £ - Quân hàm cấp úy £ - Cán bộ đại đội (lớp) £ - Cán bộ trung đội £ - Học viên £ * Ngoài những nội dung trên, theo đồng chí còn vấn đề gì xin Aghi vào các dòng dưới đây: ... ... Xin cảm ơn đồng chí! Phụ lục 3 TỔNG HỢP Kết quả điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến - Đối tượng: Dùng cho cấp uỷ viên, cán bộ, giảng viên ở cơ quan, khoa giáo viên - Đơn vị điều tra: HV Hậu cần, HV Phòng không - Không quân, HV Biên phòng, TSQ Lục quân 1, TSQ Thông tin, TSQ Công binh. Trong đó: + Cấp uỷ viên các cấp: 120 đồng chí + Cán bộ, giảng viên: 180 đồng chí. - Tổng số phiếu điều tra: 300 phiếu - Thời gian điều tra: Tháng 5 năm 2020. TT NỘI DUNG KẾT QUẢ SL TỈ LỆ % 1 Đánh giá về tầm quan trọng và sự cần thiết nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy HV, TSQ quân đội - Rất cần thiết - Cấn thiết - Bình thường - Khó trả lời 250 50 83 17 2 Đánh giá về chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy HV, TSQ quân đội - Tốt - Khá - Trung bình - Khó trả lời 140 150 10 47 50 3 3 Đánh giá về năng lực quán triệt, triển khai tổ chức thực hiện các chủ trương, biện pháp lãnh đạo xây dựng MTVH cấp ủy, tổ chức đảng ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội - Tốt - Khá - Trung bình - Yếu 180 100 20 60 33 7 4 Đánh giá về chất lượng dạy và học của các HV, TSQ quân đội - Tốt - Khá - Trung bình - Yếu 180 90 30 60 30 10 5 Đánh giá về mức độ phong phú, lôi cuốn của các hoạt động văn hoá ở các HV,TSQ quân đội - Rất phong phú - Phong phú - Chưa phong phú - Khó trả lời 120 140 45 40 45 15 6 Đánh giá về duy trì thực hiện nền nếp xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật của các HV,TSQ quân đội - Rất nghiêm túc - Nghiêm túc - Chưa nghiêm túc - Khó trả lời 60 200 30 10 20 67 10 3 7 Đánh giá về đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn công tác văn hoá quần chúng ở các HV, TSQ quân đội - Tốt - Khá - Trung bình - Yếu 90 170 40 30 57 13 8 Đánh giá về chất lượng, hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hoá ở các HV, TSQ quân đội - Tốt - Khá - Trung bình - Kém 70 210 20 23 70 7 9 Đánh giá về việc bảo đảm tiêu chuẩn, định mức đời sống văn hoá tinh thần ở các HV, TSQ quân đội - Tốt - Khá - Trung bình - Yếu 60 190 50 20 63 17 10 Đánh giá về phẩm chất, năng lực, trách nhiệm của đội ngũ cấp ủy viên các cấp của các đảng ủy HV, TSQ quân đội - Tốt - Khá - Trung bình - Yếu 120 150 30 40 50 10 11 Những nguyên nhân hạn chế chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy HV,TSQ quân đội - Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng môi trường văn hóa của một số cấp ủy, chỉ huy ở đơn vị cơ sở còn hạn chế o - Trình độ, năng lực, phương pháp tác phong và vai trò nêu gương về văn hóa của một số cán bộ chủ trì ở các HV,TSQ quân đội còn hạn chế o - Chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng trong và ngoài đơn vị trong hoạt động lãnh đạo xây dựng môi trường văn hóa o - Vai trò trách nhiệm của đội ngũ giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ ở các HV,TSQ quân đội trong xây dựng môi trường văn hóa còn nhiều hạn chế - Các yếu tố khác 260 250 270 250 45 87 83 90 83 15 12 Giải pháp nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy HV, TSQ hiện nay - Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng đối với nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy HV,TSQ quân đội. - Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy đảng ủy HV, TSQ quân đội. - Xây dựng văn hoá lãnh đạo của cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp làm cơ sở nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng uỷ HV,TSQ quân đội. o - Xây dựng và phát huy vai trò của cơ quan chức năng, lực lượng chuyên trách cùng với hệ thống thiết chế cơ sở vật chất - văn hoá trong nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng uỷ HV,TSQ quân đội. o - Phát huy sức mạnh tổng hợp trong nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy đảng ủy HV, TSQ quân đội. o - Giải pháp khác 255 245 250 265 250 82 83 88 83 88 Phụ lục 4 TỔNG HỢP Kết quả điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến - Đối tượng: Dùng cho cán bộ, đảng viên, học viên ở đơn vị quản lý học viên. - Đơn vị điều tra: HV Hậu cần, HV Phòng không - Không quân, HV Biên phòng, TSQ Lục quân 1, TSQ Thông tin, TSQ Công binh. - Thời điểm: tháng 5 năm 2020 - Tổng số phiếu điều tra: 500 phiếu TT NỘI DUNG KẾT QUẢ SL TỈ LỆ % 1 Đánh giá về vị trí, vai trò cuả MTVH ở các HV,TSQ quân đội - Rất quan trọng - Quan trọng - Bình thường - Khó trả lời 380 75 45 76 15 9 2 Đánh giá về sự cần thiết nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy HV,TSQ quân đội - Rất cấp thiết - Cấp thiết - Bình thường - Khó trả lời 240 190 55 15 48 38 11 3 3 Đánh giá về năng lực quán triệt, triển khai tổ chức thực hiện chủ trương, biện pháp lãnh đạo xây dựng MTVH của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp ở các đảng ủy HV, TSQ quân đội - Tốt - Khá - Trung bình - Yếu 255 180 65 51 36 13 4 Đánh giá về phương pháp tác phong công tác và vai trò nêu gương của cấp uỷ viên các cấp trong đảng bộ HV,TSQ quân đội - Rất tốt - Tốt - Chưa tốt - Khó trả lời 280 170 40 10 56 34 8 2 5 Đánh giá về chất lượng nội dung, chương trình, mục tiêu, yêu cầu đào tạo của các HV,TSQ quân đội - Rất phù hợp - Phù hợp - Bình thường - Khó trả lời 190 230 65 15 38 46 13 3 6 Đánh giá về chất lượng giảng dạy của của đội ngũ giảng viên - Tốt - Khá - Trung bình - Yếu 250 200 50 50 40 10 7 Đánh giá về hệ thống cơ sở hạ tầng, vật chất, phương tiện bảo đảm cho nhiệm vụ giáo dục, đào tạo ở các HV,TSQ quân đội - Tốt - Khá - Trung bình - Yếu 240 190 70 48 38 14 8 Đánh giá về hệ thống thiết chế văn hoá ở các HV,TSQ quân đội - Tốt - Khá - Trung bình - Yếu 270 160 70 54 32 14 9 Đánh giá về sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng MTVH của cấp uỷ các cấp ở các HV, TSQ quân đội - Rất quan tâm - Có quan tâm - Chưa quan tâm - Khó trả lời 180 255 65 36 51 13 10 Đánh giá về chất lượng tự học, tự nghiên cứu của học viên ở HV, TSQ quân đội - Tốt - Khá - Trung bình - Yếu 250 170 80 50 34 16 11 Đánh giá về chất lượng các hoạt động văn hoá quần chúng ở các HV,TSQ quân đội - Tốt - Khá - Trung bình - Yếu 200 240 60 40 48 12 12 Đánh giá về mức độ văn hoá trong quan hệ ứng xử giữa thầy và trò ở các HV, TSQ quân đội - Có văn hoá cao - Có văn hoá - Chưa có văn hoá - Khó trả lời 260 220 20 52 44 4 13 Những nguyên nhân hạn chế về chất lượng lãnh dạo xây dựng MTVH của các đảng ủy HV, TSQ quân đội - Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng môi trường văn hóa của một số cấp ủy, chỉ huy ở đơn vị cơ sở còn hạn chế. o - Trình độ, năng lực, phương pháp tác phong và vai trò nêu gương về văn hóa của một số cán bộ chủ trì ở các HV,TSQ quân đội còn hạn chế. o - Chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng trong và ngoài đơn vị trong hoạt động lãnh đạo xây dựng môi trường văn hóa. o - Vai trò trách nhiệm của đội ngũ giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ ở các HV,TSQ quân đội trong xây dựng môi trường văn hóa còn nhiều hạn chế. - Các yếu tố khác 350 380 390 435 70 76 78 87 14 Giải pháp nâng cao NLLĐ thực hiện nhiệm vụ GD&ĐT của các đảng ủy HV, TSQ hiện nay - Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng đối với nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy HV,TSQ quân đội. o - Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy đảng ủy HV, TSQ quân đội. o - Xây dựng văn hoá lãnh đạo của cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp làm cơ sở nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng uỷ HV,TSQ quân đội. - Xây dựng và phát huy vai trò của cơ quan chức năng, lực lượng chuyên trách cùng với hệ thống thiết chế cơ sở vật chất - văn hoá trong nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng uỷ HV,TSQ quân đội. o - Phát huy sức mạnh tổng hợp trong nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng MTVH của các đảng ủy đảng ủy HV, TSQ quân đội. o - Giải pháp khác 420 410 430 420 450 84 82 86  84 90 Phụ lục 5 THỐNG KÊ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ ĐẢNG ỦY VIÊN ĐẢNG ỦY HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN (Số lượng / tỷ lệ % so với tổng số) Nội dung HV Chính trị HV PK - KQ TSQ Lục quân 1 TSQ Chính trị TSQ Công binh TSQ Thông tin Tuổi đời Dưới 50 1/17 = 5,88 2/15 = 13,33 2/17 = 11,76 2/15 = 13,33 4/15 = 26,67 5/15 = 33,34 50 - 55 14/17 = 82,35 7/15 = 46,67 8/17 = 47,06 7/15 = 46,67 9/15 = 60 8/15 = 53,33 Trên 55 2/17 = 11,76 6/15 = 40 7/17 = 41,18 6/15 = 40 2/15 = 13,33 2/15 = 13,33 Tuổi quân 25 - 30 năm 1/17 = 5,88 1/15 = 6,67 2/17 = 11,76 6/15 = 40 3/15 = 20 2/15 = 13,33 30 - 35 năm 10/17 = 58,82 6/15 = 40 7/17 = 41,18 6/15 = 40 9/15 = 60 10/15 = 66,67 Trên 35 năm 6/17 = 35,29 8/15 = 53,33 8/17 = 47,06 3/15 = 20 3/15 = 20 3/15 = 20 Quân hàm Thượng, đại tá 11/17 = 64,7 13/15 = 86,67 11/17 = 64,7 9/15 = 60 15/15 = 100 15/15 = 100 Thiếu tướng 5/17 = 29,42 2/15 = 13,33 5/17 = 29,42 4/15 = 26,67 Trung tướng 1/17 = 5,88 1/17 = 5,88 2/15 = 13,33 Đào tạo Trung, sư đoàn 10/17 = 58,82 7/15 = 46,66 8/17 = 47,06 6/15 = 40 14/15 = 93,3 3/15 = 20 Chiến dịch, chiến lược 7/17 = 41,18 8/15 = 53,34 9/17 = 52,94 9/15 = 60 1/15 = 6,67 12/15 = 80 Học hàm, học vị PGS, GS 7/17 = 41,18 3/15 = 20 5/17 = 29,42 2/15 = 13,33 2/15 = 13,33 3/15 = 20 Tiến sĩ 2/17 = 11,76 9/15 = 60 1/17 = 5,88 6/15 = 40 4/15 = 26,67 6/15 = 40 Thạc sĩ 5/17 = 29,41 3/15 = 20 7/17 = 41,18 4/15 = 26,67 3/15 = 20 4/15 = 26,67 Cử nhân 3/15 = 17,65 4/17 = 23,52 3/15 = 20 6/15 = 40 2/15 = 13,33 Nguồn: Phòng Chính trị các HV, TSQ cung cấp tháng 5/2020 Phụ lục 6 TỔNG HỢP KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CHẤT LƯỢNG ĐẢNG ỦY VIÊN ĐẢNG ỦY HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN (Số lượng/tỷ lệ % so với tổng số) Đơn vị Năm HTXS HTT HTNV KHTNV Đảng ủy HV Chính trị 2015 9/17=52,94 8/17=47,06 2016 8/17=47,06 9/17=52,94 2017 8/17=47,06 9/17=52,94 2018 7/17=41,18 10/17=58,82 2019 7/17=41,18 10/17=58,82 Đảng ủy HV Biên phòng 2015 5/15=33,34 10/15=66,66 2016 4/15=26,67 11/15=73,33 2017 7/15=46,67 8/15=53,33 2018 4/15=26,67 11/15=73,33 2019 3/15=20 12/15=80 Đảng ủy TSQ Lục quân 1 2015 4/17=23,53 13/17=76,47 2016 3/17=17,65 14/17=82,35 2017 3/17=17,65 14/17=82,35 2018 3/17=17,65 14/17=82,35 2019 5/17=29,41 12/17=70,59 Đảng ủy TSQ Chính trị 2015 4/15=26,67 11/15=73,33 2016 3/15=20 12/15=80 2017 5/15=33,34 10/15=66,66 2018 3/15=20 12/15=80 2019 4/15=26,67 11/15=73,33 Đảng ủy TSQ Công binh 2015 5/15=33,34 10/15=66,66 2016 3/15=20 12/15=80 2017 11/15=73,33 4/15=26,67 2018 4/15=26,67 11/15=73,33 2019 3/15=20 12/15=80 Nguồn: Phòng Chính trị các HV, TSQ cung cấp tháng 5 năm 2020 Phụ lục 7 TỔNG HỢP KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CHẤT LƯỢNG ĐẢNG VIÊN TRONG CÁC ĐẢNG BỘ HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN Đơn vị Năm (%) HTXSNV (%)HTTNV (%)HTNV (%)KHTNV Đảng bộ Học viện Lục quân 2015 14.1 84.2 1.7 2016 13.0 83.8 3.1 0.1 2017 14.7 84.3 1.0 2018 13.3 84.9 1.8 2019 13.8 83.6 2.6 Đảng bộ Học viện Kỹ thuật quân sự 2015 13.9 78.1 8.0 2016 11.9 79.1 8.8 0.2 2017 12.0 81.6 6.4 2018 13.8 78.1 8.1 2019 12.7 80.5 6.7 0.1 Đảng bộ Trường Sĩ quan Pháo binh 2015 9.5 80.1 10.2 0.2 2016 10.2 80.5 9.3 2017 13.0 79.8 7.2 2018 11.2 80.6 8.2 2019 12.4 80.1 7.5 Đảng bộ Học viện HảI quân 2015 9.1 73.3 17.6 2016 7.8 78.5 13.6 0.1 2017 9.3 76.8 13.9 2018 6.2 71.6 18.1 0.17 2019 8.4 79.2 12.2 0.14 Đảng bộ Trường sĩ quan Phòng hóa 2015 9.1 84.1 6.0 0.7 2016 6.1 86.5 5.5 1.6 2017 8.0 85.8 5.0 2018 7.3 84.2 7.9 0.6 2019 8.7 81.5 9.8 Nguồn: Phòng Chính trị các HV, TSQ cung cấp tháng 5 năm 2020 Phụ lục 8 TỔNG HỢP KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG CÁC TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TRONG CÁC ĐẢNG BỘ HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI Năm Đảng bộ Học viện Lục quân Đảng bộ Học viện Chính trị Đảng bộ Học viện Hậu cần Tổng số TCCSĐ Phân tích chất lượng Tổng số TCCSĐ Phân tích chất lượng Tổng số TCCSĐ Phân tích chất lượng HTSXNV (TSVM) HTTNV HTNV HTSXNV (TSVM) HTTNV HTNV HTSXNV (TSVM) HTTNV HTNV 2015 32 16 16 33 24 9 38 20 16 2 2016 32 15 16 33 22 11 38 23 15 2017 33 14 17 33 26 7 38 19 18 1 2018 33 13 18 33 25 8 38 17 19 2 2019 33 7 22 33 27 6 38 18 18 2 Năm Đảng bộ Học viện Hải quân Đảng bộ Trường Sĩ quan Chính trị Đảng bộ Trường Sĩ quan Lục quân 1 Tổng số TCCSĐ Phân tích chất lượng Tổng số TCCSĐ Phân tích chất lượng Tổng số TCCSĐ Phân tích chất lượng HTSXNV (TSVM) HTTNV HTNV HTSXNV (TSVM) HTTNV HTNV HTSXNV (TSVM) HTTNV HTNV 2015 35 16 19 31 26 5 38 23 14 1 2016 35 17 18 31 22 9 38 22 16 2017 35 15 19 1 31 20 11 38 13 13 2 2018 35 18 17 31 9 22 38 14 24 2019 34 7 27 31 12 19 38 12 26 Năm Đảng bộ Trường Sĩ quan Phòng Hóa Đảng bộ Trường Sĩ quan Công binh Đảng bộ Trường Sĩ quan Pháo binh Tổng số TCCSĐ Phân tích chất lượng Tổng số TCCSĐ Phân tích chất lượng Tổng số TCCSĐ Phân tích chất lượng HTSXNV (TSVM) HTTNV HTNV HTSXNV (TSVM) HTTNV HTNV HTSXNV (TSVM) HTTNV HTNV 2015 24 23 1 21 10 11 20 12 8 2016 25 15 5 5 21 11 9 1 20 13 7 2017 27 13 10 4 21 9 12 20 14 5 1 2018 27 3 23 1 21 4 17 20 5 15 2019 27 5 20 2 21 5 16 20 3 17 Nguồn: Phòng Chính trị các HV, TSQ cung cấp tháng 5 năm 2020 Phụ lục 9 THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG, CHẤT LƯỢNG NHÀ GIÁO Ở CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI TT Nội dung Năm học 2015-2016 (% so với tổng số) Năm học 2016-2017 (% so với tổng số) Năm học 2017-2018 (% so với tổng số) Năm học 2018-2019 (% so với tổng số) Năm học 2019-2020 (% so với tổng số) 1 Số lượng theo nhu cầu 7.022 7.162 7.159 7.197 7.393 2 Số lượng hiện có 6.594 (93.9%) 6.498 (90.7%) 6.867 (95.9%) 6.987 (97.1%) 6.978 (94.4%) 3 Trình độ cao đẳng 12 (0.18%) 6 (0.09%) 5 (0.07%) 5 (0.07%) 6 (0.09%) 4 Trình độ đại học 2.524 (38.3%) 2.197 (33.8%) 2.129 (31%) 2.005 (28.7%) 1.885 (27%) 5 Trình độ thạc sĩ 2.908 (44.1%) 2.992 (46.1%) 3.407 (49.6%) 3.457 (49.5%) 3.498 (50.1%) 6 Trình độ tiến sĩ 937 (14.2%) 965 (14.9%) 1.049 (15.3%) 1.157 (16.6%) 1.218 (17.5%) 7 Chức danh Giáo sư 16 14 12 14 11 8 Chức danh phó Giáo sư 247 233 233 280 272 9 Danh hiệu Nhà giáo Nhân dân 1 10 Danh hiệu Nhà giáo ưu tú 27 16 12 17 11 Nguồn: Theo Báo cáo tổng kết thực hiện chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong quân đội giai đoạn 2011 - 2020 Phụ lục 10 THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG, CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Ở CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI TT Nội dung Năm học 2015-2016 (% so với tổng số) Năm học 2016-2017 (% so với tổng số) Năm học 2017-2018 (% so với tổng số) Năm học 2018-2019 (% so với tổng số) Năm học 2019-2020 (% so với tổng số) 1 Số lượng theo nhu cầu 4.766 4.615 4.794 4.909 4.968 2 Số lượng hiện có 4.616 (96.9%) 4.325 (93.7%) 4.609 (96.1%) 4.716 (96.1%) 4.761 (95.8%) 3 Trình độ cao đẳng 106 (2.3%) 101 (2.3%) 87 (1.9%) 74 (1.7%) 62 (1.3%) 4 Trình độ đại học 3.231 (70%) 3.216 (74.4%) 3.199 (69.4%) 3.163 (67.1%) 3.140 (66%) 5 Trình độ thạc sĩ 880 (19.1%) 966 (22.3%) 1.053 (22.8%) 1.143 (24.2%) 1.194 (25.1%) 6 Trình độ tiến sĩ 268 (5.8%) 276 (6.4%) 271 (5.9%) 278 (5.9%) 288 (6.1%) 7 Chức danh Giáo sư 7 9 7 8 9 8 Chức danh phó Giáo sư 111 92 88 93 90 9 Danh hiệu Nhà giáo Nhân dân 1 1 10 Danh hiệu Nhà giáo Ưu tú 22 16 17 18 13 Nguồn: Theo Báo cáo tổng kết thực hiện chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong quân đội giai đoạn 2011 - 2020 Phụ lục 11 THỐNG KÊ THIẾT CHẾ VĂN HÓA THƯ VIỆN Ở CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI Học viện, trường sĩ quan Số lượng thư viện Số, chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên thư viện Số lượng Trình độ Qua đào tạo Đúng chuyên ngành Không đúng chuyên ngành Học viện Quốc phòng 1 17 Đại học: 10 Cao đẳng, trung cấp: 7 11 6 Học viện Chính trị 1 12 Đại học: 7 Cao đẳng, trung cấp: 4 Chưa qua đào tạo: 1 5 6 Học viện Lục quân 1 15 Đại học: 6 Cao đẳng, trung cấp: 9 9 6 Học viện Kỹ thuật quân sự 1 20 Đại học:11 Cao đẳng, trung cấp: 9 15 5 Học viện Hậu cần 1 21 Đại học: 9 Cao đẳng, trung cấp: 12 19 2 Trường Sĩ quan Chính trị 1 18 Đại học:10 Cao đẳng, trung cấp: 8 12 6 Trường Sĩ quan Lục quân 1 1 12 Đại học: 6 Cao đẳng, trung cấp: 6 9 3 Trường Sĩ quan Lục quân 2 1 16 Đại học: 7 Cao đẳng, trung cấp: 9 11 5 Học viện Hải quân 1 15 Đại học: 8 Cao đẳng, trung cấp: 7 12 3 Học viện Biên phòng 1 13 Đại học: 6 Cao đẳng, trung cấp: 7 7 5 Học viện PK-KQ 1 8 Đại học: 6 Cao đẳng, trung cấp: 2 5 3 Trường Sĩ quan Pháo binh 1 5 Đại học: 2 Cao đẳng, trung cấp: 3 3 2 Trường Sĩ quan Thông tin 1 11 Đại học: 6 Cao đẳng, trung cấp: 5 7 4 Trường Sĩ quan Công binh 1 5 Đại học: 3 Cao đẳng, trung cấp: 2 3 2 Trường Sĩ quan Tăng thiết giáp 1 11 Đại học: 6 Cao đẳng, trung cấp: 5 7 4 Nguồn: Phòng Chính trị các HV, TSQ cung cấp tháng 5 năm 2020 Phụ lục 12 THỐNG KÊ THIẾT CHẾ VĂN HÓA NHÀ VĂN HÓA Ở CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI Học viện, trường sĩ quan Số lượng nhà văn hóa Số, chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên nhà văn hóa Số lượng Trình độ Qua đào tạo Đúng chuyên ngành Không đúng chuyên ngành Học viện Quốc phòng 1 8 Đại học: 5 Cao đẳng, trung cấp: 3 5 3 Học viện Chính trị 1 7 Đại học: 5 Cao đẳng, trung cấp: 2 5 2 Học viện Lục quân 1 8 Đại học: 4 Cao đẳng, trung cấp: 4 5 3 Học viện Kỹ thuật quân sự 1 10 Đại học: 4 Cao đẳng, trung cấp: 6 6 4 Học viện Hậu cần 1 9 Đại học: 7 Cao đẳng, trung cấp: 2 6 3 Trường Sĩ quan Chính trị 1 6 Đại học: 4 Cao đẳng, trung cấp: 2 5 1 Trường Sĩ quan Lục quân 1 1 7 Đại học: 4 Cao đẳng, trung cấp: 3 6 1 Trường Sĩ quan Lục quân 2 1 8 Đại học: 5 Cao đẳng, trung cấp: 3 6 2 Học viện Hải quân 1 7 Đại học: 5 Cao đẳng, trung cấp: 2 5 2 Học viện Biên phòng 1 6 Đại học: 4 Cao đẳng, trung cấp: 2 4 2 Học viện PK-KQ 1 5 Đại học: 3 Cao đẳng, trung cấp: 2 3 2 Trường Sĩ quan Pháo binh 1 3 Đại học: 1 Cao đẳng, trung cấp: 2 1 2 Trường Sĩ quan Thông tin 1 4 Đại học: 3 Cao đẳng, trung cấp: 1 2 2 Trường Sĩ quan Công binh 1 3 Đại học: 1 Cao đẳng, trung cấp: 2 2 1 Trường Sĩ quan Tăng thiết giáp 1 4 Đại học: 3 Cao đẳng, trung cấp: 1 2 2 Nguồn: Phòng Chính trị các HV, TSQ cung cấp tháng 5 năm 2020 Phụ lục 13 THỐNG KÊ THIẾT CHẾ VĂN HÓA NHÀ TRUYỀN THỐNG Ở CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI Học viện, trường sĩ quan Số lượng Số, chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn Số lượng Trình độ Qua đào tạo Đúng chuyên ngành Không đúng chuyên ngành Học viện Quốc phòng 1 2 Đại học: 1 Cao đẳng: 1 1 1 Học viện Chính trị 1 2 Đại học: 1 1 1 Học viện Lục quân 1 1 Đại học: 1 1 Học viện Kỹ thuật quân sự 1 2 Đại học: 1 Trung cấp: 1 1 1 Học viện Hậu cần 1 1 Đại học: 1 1 Trường Sĩ quan Chính trị 1 2 Đại học: 2 1 1 Trường Sĩ quan Lục quân 1 1 1 Đại học: 1 1 Trường Sĩ quan Lục quân 2 1 2 Đại học: 1 Cao đẳng: 1 1 1 Học viện Hải quân 1 1 Cao đẳng: 1 1 Học viện Biên phòng 1 1 Đại học: 1 1 1 Học viện PK-KQ 1 2 Đại học: 1 Cao đẳng: 1 1 1 Trường Sĩ quan Pháo binh 1 1 Cao đẳng: 1 1 Trường Sĩ quan Thông tin 1 1 Đại học: 1 1 Trường Sĩ quan Công binh 1 1 Cao đẳng: 1 1 Trường Sĩ quan Tăng thiết giáp 1 1 Đại học: 1 1 1 Nguồn: Phòng Chính trị các HV, TSQ cung cấp tháng 5 năm 2020 Phụ lục 14 THỐNG KÊ THIẾT CHẾ VĂN HÓA PHÒNG HỒ CHÍ MINH, PHÒNG SINH HOẠT ĐẠI ĐỘI, LỚP HỌC VIÊN Ở ĐƠN VỊ CƠ SỞ TRONG CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI TT Học viện, trường sĩ quan Phòng Hồ Chí Minh Phòng sinh hoạt đại đội, lớp học viên Tổng số Tổ, đội công tác phòng Hồ Chí Minh Tổng số Tổ công tác phòng sinh hoạt đại đội, lớp học viên Học viện Quốc phòng 7 25 Học viện Lục quân 8 30 Học viện Chính trị 8 2 52 Học viện Kỹ thuật quân sự 11 4 48 20 Học viện Hậu cần 10 6 26 15 Học viện Quân y 12 8 33 Trường Sĩ quan Chính trị 16 9 95 70 Trường Sĩ quan Lục quân 1 12 7 45 18 Học viện Hải quân 9 5 29 Học viện Phòng không - không quân 6 4 30 Trường Sĩ quan Không quân 16 4 22 9 Học viện Biên phòng 8 6 25 Trường Sĩ quan Tăng thiết giáp 5 3 14 8 Trường Sĩ quan Thông tin 8 5 15 12 Trường Sĩ quan Công binh 7 4 25 10 Trường Sĩ quan Phòng hóa 5 4 12 Trường Sĩ quan Pháo binh 6 4 18 8 Trường Sĩ quan Đặc công 5 4 15 5 Nguồn: Phòng Chính trị các HV,TSQ quân đội cung cấp tháng 5/2020 Phụ lục 15 TỔNG HỢP TÌNH HÌNH VI PHẠM KỶ LUẬT Ở CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI TỪ NĂM 2016 ĐẾN NĂM 2020 TT Học viện, trường sĩ quan Tổng số vụ vi phạm Đối tượng vi phạm đã xử lý kỷ luật Hình thức kỷ luật Số vụ vi phạm Số lượt người vi phạm Học viện Quốc phòng 02 02 Giảng viên: 01 Học viên: 01 Khiển trách: 01 Cảnh cáo: 01 Học viện Lục quân 10 08 QNCN: 02 Sĩ quan: 04 Cảnh cáo: 04 Giáng cấp bậc quân hàm: 02 Học viện Chính trị 02 02 Học viên: 02 Khiển trách: 01 Cảnh cáo: 01 Học viện Hậu cần 13 13 Học viên: 02 Chiến sĩ: 01 QNCN: 02 Không xử 5 vụ/5 người do người vi phạm đã chết Xử lý hình sự: 02 Khiển trách: 01 Cảnh cáo: 02 Tước danh hiệu quân nhân: 02 Học viện Kỹ thuật quân sự 07 07 Học viên: 04 Sĩ quan mới tốt nghiệp: 03 Cảnh cáo: 02 Tước danh hiệu quân nhân” 05 Học viện Quân y 05 07 QNCN: 04 Sĩ quan: 03 Khiển trách: 02 Cảnh cáo: 03 Tước danh hiệu quân nhân: 02 Trường Sĩ quan Lục quân 1 16 16 Học viên: 05 Chiến sĩ: 03 QNCN: 02 Sĩ quan: 05 Khiển trách: 02 Cảnh cáo: 08 Hạ bậc lương: 01 Giáng cấp bậc quân hàm: 02 Cách chức: 01 Tước danh hiệu quân nhân: 01 Trường Sĩ quan Lục quân 2 19 19 Học viên: 03 QNCN: 03 Sĩ quan: 03 Khởi tố hình sự: 01 Cảnh cáo: 04 Giáng cấp bậc quân hàm: 01 Đào ngũ cắt quân số: 03 Trường sĩ quan Chính trị 05 05 Chiến sĩ: 01 Sĩ quan: 02 02 vụ/02 người không xử lý do người vi phạm đã chết Cảnh cáo 03 Cộng 79 79 Tổng số vụ vi phạm trong toàn quân 1814 1932 Nguồn: Báo cáo số 1854/BC-TM ngày 30/7/2020 của Bộ Tổng tham mưu về tình hình chấp hành kỷ luật, pháp luật và xử lý của các cơ quan, đơn vị toàn quân từ 2016 đến 7/2020 Phụ lục 16 THỐNG KÊ CÁC VỤ VIỆC VI PHẠM KỶ LUẬT NGHIÊM TRỌNG Ở CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NĂM 2019 VÀ 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2020 TT Học viện, trường sĩ quan Năm 2019 6 tháng đầu năm 2020 Số vụ Số lượt người Lỗi phạm Số vụ Số lượt người Lỗi phạm Học viện Lục quân 02 02 Tự tử, tự sát; mất an toàn giao thông 01 01 Mất an toàn giao thông Học viện Chính trị 01 02 Cố ý gây thương tích Học viện Hậu cần 01 01 Tự tử, tự sát Học viện Quân y 01 01 Đánh nhau với người dân 02 02 Mất an toàn giao thông Học viện Kỹ thuật quân sự 02 02 Đánh bạc; tự tử, tự sát Trường sĩ quan Lục quân 1 01 01 Tàng trữ trái phép chất ma túy 01 01 Tự tử Trường sĩ quan Lục quân 2 06 06 Đào ngũ, tự tử, tự sát, vay nợ, mất an toàn giao thông Trường sĩ quan Chính trị Trường Sĩ quan Tăng thiết giáp 01 01 Tự tử Học viện Phòng không - Không quân 01 02 Giết người, tự sát Nguồn: Báo cáo tình hình kỷ luật toàn quân năm 2019 và 6 tháng đầu năm 2020 của Cục Quân huấn, Bộ Tổng tham mưu Phụ lục 17 TỔNG HỢP KẾT QUẢ PHÂN LOẠI TỐT NGHIỆP CỦA HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG SĨ QUAN LỤC QUÂN 1 Năm Tổng quân số Phân loại tốt nghiệp Xuất sắc + Giỏi Khá Trung bình khá Tổng số Tỷ lệ % Tổng số Tỷ lệ % Tổng số Tỷ lệ % 2015 904 36 3,98 739 81,75 129 14,27 2016 964 51 5,29 778 80,71 135 14 2017 878 42 4,78 720 82 116 13,22 2018 747 27 3,61 622 83,27 98 13,12 2019 788 31 3,93 634 80,46 123 15,61 Cộng 4281 187 4,37 3493 81,69 601 14,04 Nguồn: Phòng Đào tạo Trường sĩ quan Lục quân 1 cung cấp tháng 5/2020 Phụ lục 18 TỔNG HỢP KẾT QUẢ PHÂN LOẠI TỐT NGHIỆP CỦA HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG SĨ QUAN CÔNG BINH Năm Tồng quân số Phân loại tốt nghiệp Xuất sắc + Giỏi Khá Trung bình khá +TB Tổng số Tỷ lệ % Tổng số Tỷ lệ % Tổng số Tỷ lệ % 2015 416 36 8,65 248 59,62 132 31,73 2016 427 33 7,73 258 60,42 136 31,85 2017 670 81 12,09 462 68,96 127 18,95 2018 706 91 12,89 426 60,34 189 26,77 2019 806 75 9,31 568 70,47 163 20,22 Cộng 3025 316 10,45 1962 64,86 747 24,69 Nguồn: Phòng đào tạo Trường sĩ quan Công Binh cung cấp tháng 5/2020 Phụ lục 19 TỔNG HỢP KẾT QUẢ PHÂN LOẠI TỐT NGHIỆP CỦA HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG SĨ QUAN THÔNG TIN Năm Tồng quân số Phân loại tốt nghiệp Xuất sắc + Giỏi Khá Trung bình khá +TB Kém Tổng số Tỷ lệ % Tổng số Tỷ lệ % Tổng số Tỷ lệ % Tổng số Tỷ lệ % 2015 535 20 3,74 271 50,65 243 45,42 01 0,19 2016 496 12 2,42 275 55,44 208 41,94 01 0,2 2017 547 18 3,29 281 51,37 247 45,16 01 0,18 2018 747 45 6,02 380 50,87 322 43,11 2019 674 39 5,79 419 62,16 214 31,75 02 0,3 Cộng 2.999 134 4,47 1,626 54,22 1234 41,15 5 0,16 Nguồn: Phòng đào tạo Trường sĩ quan Thông tin cung cấp tháng 5/2020 Phụ lục 20 TỔNG HỢP KẾT QUẢ PHÂN LOẠI TỐT NGHIỆP CỦA HỌC VIÊN Ở HỌC VIỆN BIÊN PHÒNG Năm Tồng quân số Phân loại tốt nghiệp Xuất sắc + Giỏi Khá Trung bình khá Tổng số Tỷ lệ % Tổng số Tỷ lệ % Tổng số Tỷ lệ % 2015 980 39 3,98 843 86,02 98 10 2016 748 50 6,68 648 86,64 50 6,68 2017 1191 37 3,1 1031 86,57 123 10,33 2018 1145 71 6,2 793 69,26 281 24,54 2019 1136 72 6,34 830 73,06 234 20,6 Cộng 5200 269 5,17 4145 79,71 786 15,12 Nguồn: Phòng Đào tạo Học viện Biên phòng cung cấp tháng 5/2020 Phụ lục 21 TỔNG HỢP KẾT QUẢ PHÂN LOẠI TỐT NGHIỆP CỦA HỌC VIÊN Ở HỌC VIỆN PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN Năm Tồng quân số Phân loại tốt nghiệp Xuất sắc + Giỏi Khá Trung bình khá Tổng số Tỷ lệ % Tổng số Tỷ lệ % Tổng số Tỷ lệ % 2015 1432 95 6,63 1125 78,56 212 14,81 2016 1620 100 6,17 1387 85,62 133 8,21 2017 1564 115 7,35 1189 76,02 260 16,63 2018 1204 75 6,23 1077 89,45 52 4,32 2019 1079 128 11,86 872 80,82 79 7,32 Cộng 6899 513 7,44 5650 81,89 736 10,67 Nguồn: Phòng đào tạo Học viện Phòng không - Không quân cung cấp tháng 5/2020

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docluan_an_chat_luong_lanh_dao_xay_dung_moi_truong_van_hoa_cua.doc
  • doc2 BÌA TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾNG VIỆT - DUC GIANG.doc
  • doc2 TÓM TẮT TIẾNG VIỆT - DUC GIANG.doc
  • doc3 BIA TÓM TẮT TIẾNG ANH - DUC GIANG.doc
  • doc3 TÓM TẮT TIẾNG ANH - DUC GIANG.doc
  • doc4 THÔNG TIN MẠNG TIẾNG ANH - DUC GIANG.doc
  • doc4 THÔNG TIN MẠNG TIẾNG VIỆT - DUC GIANG.doc
Tài liệu liên quan