Luận án Đảng bộ tỉnh Tuyên quang lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2010

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH LÝ THỊ THU ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010 LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HÀ NỘI - 2016 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH LÝ THỊ THU ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010 LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH : LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM MÃ SỐ : 62 22 03 15 NGƯỜI HƯ

pdf183 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 14/01/2022 | Lượt xem: 24 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Luận án Đảng bộ tỉnh Tuyên quang lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2010, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. PGS.TS NGUYỄN NGỌC HÀ 2. PGS.TS NGUYỄN DANH TIÊN HÀ NỘI - 2016 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Lý Thị Thu MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7 1.1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến luận án 7 1.2. Kết quả nghiên cứu liên quan đến luận án đã được giải quyết và những nội dung luận án cần tập trung nghiên cứu 24 CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2000 26 2.1. Những yếu tố tác động đến xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang 26 2.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang về xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số 50 2.3. Quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2000 62 CHƯƠNG 3: ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG LÃNH ĐẠO ĐỔI MỚI CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010 70 3.1. Quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới 71 3.2. Chủ trương đổi mới của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số từ năm 2001 đến năm 2010 76 3.3. Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang chỉ đạo đổi mới công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số từ năm 2001 đến năm 2010 80 CHƯƠNG 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 109 4.1. Nhận xét 109 4.2. Một số kinh nghiệm 131 KẾT LUẬN 147 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC 164 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ATK : An toàn khu BCHTW : Ban Chấp hành Trung ương BTV : Ban Thường vụ CNXH : Chủ nghĩa xã hội HĐND : Hội đồng nhân dân UBKT : Ủy ban kiểm tra UBND : Ủy ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chính sách cán bộ dân tộc thiểu số là một nội dung trọng yếu trong chính sách dân tộc của Đảng, không chỉ có ý nghĩa trong việc đảm bảo quyền tham chính của đồng bào các dân tộc, mà còn tạo ra yếu tố nội lực thúc đẩy kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc phát triển. Nếu như cán bộ “là gốc của mọi công việc”, theo cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì cũng có thể hiểu rằng, cán bộ người dân tộc thiểu số và công tác cán bộ người dân tộc thiểu số có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm thực hiện thành công đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Ngay từ khi ra đời và trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số. Nhờ vậy, trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ cũng như trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số đã có đóng góp quan trọng trên nhiều lĩnh vực, không chỉ tại địa bàn miền núi mà cả ở các địa phương đồng bằng và cả cấp Trung ương. Đây là một minh chứng sự đúng đắn, khoa học trong đường lối lãnh đạo của Đảng; minh chứng cho tinh thần “Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ", như lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa 1 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 18/12/1959). Hiện nay, trước yêu cầu và nhiệm vụ mới, trong quá trình tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số vẫn còn những hạn chế, bất cập: Số lượng cán bộ người dân tộc còn ít so với tỷ lệ dân số. Trình độ của đội ngũ cán bộ người dân tộc còn thấp so với mặt bằng chung, nhất là so với mặt bằng trình độ của 2 đội ngũ cán bộ người Kinh. Năng lực, trình độ còn hạn chế so với yêu cầu, nhiệm vụ. Mặt khác, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số chưa cân đối cả về cơ cấu giới tính, cơ cấu giữa các dân tộc và cơ cấu theo lĩnh vực công tác. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên, trong đó có nguyên nhân từ công tác lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số của Đảng ở tầm vĩ mô và ở việc tổ chức thực hiện của các địa phương. Nghiên cứu về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số của một Đảng bộ địa phương miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, sẽ góp phần làm sáng tỏ về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của Đảng, sự thể hiện sinh động và cụ thể chủ trương, đường lối của Đảng về công tác cán bộ trong điều kiện thực tế của địa phương. Qua đó nhận diện những sáng tạo và những khó khăn, hạn chế của Đảng bộ địa phương trong thực hiện công tác quan trọng này. Tỉnh Tuyên Quang nằm trong chiến khu Việt Bắc, là cái nôi của cách mạng cả nước từ thời kỳ tiền khởi nghĩa, đóng vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Bởi vậy, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang sớm hình thành, được tôi luyện qua nhiều thử thách, có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc cũng như ở địa phương. Tỉnh Tuyên Quang là nơi hội tụ của 22 dân tộc anh em sinh sống đan xen, cùng tồn tại và phát triển. Trong những năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở vùng miền núi, trong đó có tỉnh Tuyên Quang. Nhờ vậy, kinh tế - xã hội của tỉnh có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh Tuyên Quang còn thấp, chưa tương xứng với mức độ đầu tư và so với yêu cầu, đòi hỏi của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những hạn chế đó do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là đội ngũ cán bộ còn thiếu về số lượng, hạn chế về trình độ và năng lực. Việc sử dụng cán bộ cho từng vùng, từng lĩnh vực và theo từng dân tộc còn chưa hợp lý. 3 Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác cán bộ nói chung, xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số nói riêng, Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã có những chủ trương và thực hiện nhiều giải pháp để tăng cường xây dựng, phát huy vai trò đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số như: tăng cường công tác quy hoạch, xây dựng kế hoạch sử dụng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số; chú trọng tuyển chọn, sử dụng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số làm việc trong các cơ quan Đảng, chính quyền của tỉnh, huyện, xã; tăng cường đầu tư kinh phí đào tạo - bồi dưỡng cán bộ; luân chuyển cán bộ trong hệ thống chính trị; thực hiện chính sách cử tuyển cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số vào Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và thu hút, “giữ chân” đội ngũ cán bộ tại địa phương Tuy vậy, đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số vẫn còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số vẫn đang tồn tại không ít mâu thuẫn, đó là: mâu thuẫn giữa tăng cường số lượng và đảm bảo chất lượng, giữa nhu cầu đòi hỏi cao và khả năng đầu tư có giới hạn, giữa sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ và thu hút cán bộ từ nơi khác đến, giữa đào tạo và sử dụng, giữa yêu cầu và khả năng luân chuyển đội ngũ cán bộ tại địa phương Vì vậy, nghiên cứu vấn đề: "Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2010" có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc. 2. Mục đích, nhiệm vụ, nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu Luận án nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2010. Bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm qua thực tiễn Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số những năm (1991 - 2010). 4 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2010. Làm rõ những chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong 20 năm, từ năm 1991 đến năm 2010. Đánh giá những ưu điểm, hạn chế, những kết quả đạt được; Đúc kết một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2010. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu Luận án nghiên cứu về hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 1991, là năm tỉnh Tuyên Quang được tái lập, đến năm 2010, là năm kết thúc nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XIV Đảng bộ Tỉnh, Đảng bộ bắt đầu tổ chức thực hiện đường lối Đại hội XI của Đảng. Về không gian: Nghiên cứu công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong toàn tỉnh, bao gồm 1 thị xã và 6 huyện. Luận án nghiên cứu toàn bộ đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị từ cấp tỉnh đến cấp huyện và cơ sở, trong đó chú trọng nghiên cứu đội ngũ lãnh đạo quản lý các cấp là người dân tộc thiểu số. Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ gồm nhiều nội dung. Bám sát các khâu công việc của công tác cán bộ nói chung, luận án tập trung nghiên cứu công tác quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng, chế độ, chính sách cán bộ. 5 4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án 4.1. Cơ sở lý luận Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nói riêng. Luận án kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đã được công bố. 4.2. Cơ sở thực tiễn Luận án được nghiên cứu trên cơ sở thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang nói riêng, được phản ánh trong các văn kiện của Đảng bộ tỉnh, các báo cáo, số liệu thống kê của cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể và các cơ quan chức năng có liên quan; kết quả điều tra, khảo sát thực tế trên địa bàn tỉnh. 4.3. Phương pháp nghiên cứu Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic. Bên cạnh đó, là các phương pháp: + Phương pháp tổng hợp và phân tích, được sử dụng để thu thập và đánh giá các nguồn tài liệu liên quan, bao gồm các văn kiện của Đảng và Nhà nước ở Trung ương và địa phương; các công trình khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nói riêng. + Phương pháp so sánh: So sánh một số kết quả đạt được trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang với các tỉnh miền núi phía Bắc. + Phương pháp thống kê, được dùng trong xử lý các kết quả điều tra, khảo sát. 5. Đóng góp mới về khoa học của luận án - Cung cấp thêm nguồn tư liệu, nhất là tư liệu của địa phương về công tác lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của Đảng bộ Tuyên Quang, về thực trạng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang; 6 - Góp phần làm sáng tỏ tính đúng đắn, sáng tạo trong đường lối, chủ trương của Đảng về công tác dân tộc nói chung, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nói riêng; - Góp phần tổng kết, đánh giá về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số của Đảng bộ Tuyên Quang, cung cấp thêm cơ sở thực tiễn giúp Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang hoàn thiện hơn nữa công tác lãnh đạo của mình trong công tác quan trọng này; - Những kết quả nghiên cứu của luận án, nhất là những kinh nghiệm từ công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số của Tuyên Quang, có thể tham khảo vận dụng ở các địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số khác, nhất là ở khu vực miền núi phía Bắc. 6. Ý nghĩa thực tiễn của luận án - Kết quả nghiên cứu của luận án dùng làm tài liệu tham khảo, giúp các cấp ủy Đảng các cấp ở tỉnh Tuyên Quang nghiên cứu, tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở địa phương. - Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ hoạt động nghiên cứu, học tập của bộ môn Lịch sử Đảng ở trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang, Trường Đại học Tân Trào Tuyên Quang cũng như các cơ sở đào tạo khác. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình khoa học liên quan đến đề tài của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận án gồm 4 chương, 10 tiết. 7 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Nghiên cứu về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc nói chung, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nói riêng, đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố dưới góc độ của khoa học lịch sử, lịch sử Đảng, xây dựng Đảng, chính trị học, dân tộc học, xã hội học... Liên quan trực tiếp đến đề tài có thể khái quát thành những nhóm cơ bản sau: 1.1.1. Các công trình nghiên cứu trong nước 1.1.1.1. Nghiên cứu về chính sách dân tộc và công tác dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước Cuốn sách, Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi [48]. Tác giả đã đánh giá về vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng kinh tế - xã hội và những vấn đề cấp bách ở vùng dân tộc và miền núi, tác giả đã đưa ra những nhận thức và quan điểm cơ bản về chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới. Cuốn sách, Quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở các tỉnh Tây Bắc [105] đã đánh giá những thành tựu và hạn chế của quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở Tây Bắc những năm đầu đổi mới. Cuốn sách: Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước ta [54] đã đề cập đến những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng về vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc. Các tác giả đã nêu những đặc điểm nổi bật của dân tộc Việt Nam và nội dung công tác dân tộc trong sự nghiệp cách mạng. Cuốn sách, Nghiên cứu vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa [135] đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách dân tộc của Đảng và những định 8 hướng cơ bản trong quy hoạch dân cư, đẩy mạnh nhịp độ phát triển kinh tế hàng hóa phù hợp với đặc điểm từng vùng nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn và đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm sớm ổn định và cải thiện đời sống đồng bào dân tộc. Bài viết, "Công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới 1986 - 2006" [97], trong cuốn sách 60 năm cơ quan công tác dân tộc, đã đánh giá về đội ngũ cán bộ dân tộc trong những năm qua. Bài viết khẳng định: Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng và bố trí, sử dụng. Nhiều hình thức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ về lý luận chính trị, chuyên môn, học vấn, quản lý nhà nước ngày càng được chuẩn hóa, chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ dân tộc ở tất cả các cấp được nâng lên. Tác giả chỉ rõ "tỉ lệ đại biểu quốc hội là người dân tộc thiểu số qua các khóa ngày một tăng từ 10,2% khóa I lên 17,2% khóa XI. Ủy viên Trung ương Đảng là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ gần 9% khóa X và hàng vạn cán bộ người dân tộc thiểu số được tham gia trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, các ngành, các cấp" [97, tr.24]. Bên cạnh những kết quả đạt được, bài viết còn chỉ ra những tồn tại, hạn chế của công tác dân tộc là "Hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ dân tộc ở cơ sở vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế về tri thức và trình độ kỹ năng làm việc ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn rất nhiều đồng chí chưa đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương [97, tr.28]. Từ phân tích trên, tác giả chỉ ra một số bài học lớn về công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2006). Trong đó, bài học đáng chú ý là "Kiện toàn và phát huy vai trò của hệ thống chính trị chăm lo công tác đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số trong các vùng dân tộc thiểu số" [97, tr.30]. Cuốn sách, Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa IX [12], là tập hợp nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu khoa học đã tham gia 9 thảo luận, trao đổi, làm rõ kết quả, hạn chế yếu kém, đề xuất các giải pháp góp phần đổi mới thực hiện hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa IX về công tác dân tộc của Đảng. Cuốn sách, Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay [104] đã nêu rõ những nội dung cơ bản về dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng qua các thời kỳ cách mạng; phân tích những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện chính sách dân tộc và đề ra những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện chính sách dân tộc hiện nay. Cuốn sách, Nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng các dân tộc thiểu số đối với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay: Thực trạng và giải pháp [112] đã nghiên cứu, khảo sát nhằm mang lại những thông tin khách quan, trung thực về tình trạng này. Trên cơ sở đánh giá thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng các dân tộc thiểu số đối với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay, công trình nghiên cứu đã đề xuất những kiến nghị, giải pháp cơ bản nhằm góp phần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính sách đảm bảo thực hiện có hiệu quả chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, phát huy vai trò to lớn của cộng đồng các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghiên cứu cho thấy, sự đồng tình của người dân với chính sách được triển khai ở địa phương về "ưu tiên đào tạo cán bộ địa phương là người dân tộc" là 72,2%, "ưu tiên đào tạo thầy giáo, cô giáo, cán bộ y tế là người dân tộc" là 70,2%" [112 tr.102]. Cuốn sách: Dân tộc thiểu số và vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh [69], đã đề cập đến vấn đề: Trong nghiên cứu lý luận cách mạng, vấn đề dân tộc còn rất phong phú, còn phải bàn thêm. Nói riêng từng nước thì vấn đề dân tộc nổi lên là vấn đề số phận của từng tộc người trong cộng đồng dân tộc, của mỗi quốc gia. Tác giả khẳng định: Hồ Chí Minh thấy được phẩm chất, trình độ của các tộc người của đất nước ta, bởi Người thực sự gắn bó với bà 10 con người dân tộc thiểu số. Vì vậy, với Hồ Chí Minh, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng nhau, tất cả đều như anh chị em một nhà, không có sự phân biệt nòi giống, tiếng nói. Công trình: Báo cáo tổng hợp về nghiên cứu chính sách phát triển vùng miền núi và dân tộc thiểu số [60] và Đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị ở các tỉnh miền núi phía Bắc - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn [25] đã đánh giá nguồn nhân lực không nghiên cứu riêng biệt, mà được đặt trong mối quan hệ tương hỗ với sự phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đặc biệt là những nghiên cứu về giáo dục y tế, xóa đói giảm nghèo, lao động việc làm thường được đặt trong các mối liên hệ trực tiếp với phát triển thể lực, trí lực của nguồn nhân lực dân tộc thiểu số. Bài viết: "Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng sau 25 năm đổi mới" [52], đã khái quát toàn bộ chính sách của Đảng về vấn đề dân tộc đã và đang được thực hiện trong 25 năm đổi mới được thể hiện trong những chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng và giải quyết những vấn đề xã hội ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bài viết tiếp tục khẳng định: Đảng và Nhà nước ta luôn xác định vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Sự quan tâm về vấn đề dân tộc, về chính sách dân tộc không chỉ ở phần nhận thức, phần lý luận, mà nó phải được thể hiện bằng đường lối, bằng tổ chức. Đúng như tinh thần Sắc lệnh số 58 ngày 3/5/1946 của Người" chịu trách nhiệm xem xét các vấn đề chính trị và hành chính thuộc về các dân tộc thiểu số trong nước và thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam". Bài viết: "Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam" [53] theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào các dân tộc thiểu số là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam và nhân dân Việt Nam, đoàn kết dân tộc đặng "đi từ thái bình để cùng hưởng chung". Hồ Chí Minh cũng 11 cho rằng, đoàn kết dân tộc là một chính sách chứ không phải là một thủ đoạn chính trị, mị dân, do đó, phải thực lòng thực hành đoàn kết để đi từ mục tiêu chung là "hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh". Người coi đồng bào các dân tộc thiểu số là một lực lượng quan trọng của cách mạng Việt Nam. Với những nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, tác giả bài viết khẳng định: Trong tiến trình cách mạng nước ta, cần giải quyết đúng đắn và sáng tạo vấn đề dân tộc dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là: Phải luôn coi đồng bào các dân tộc thiểu số là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam, khai thông sức sáng tạo và tiềm năng của đồng bào các dân tộc. Bằng các chủ trương chính sách phù hợp, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của cả nước. Luận án tiến sĩ: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc ở một số tỉnh Tây Bắc từ năm 1996 đến năm 2006 [63] đã trình bày một cách có hệ thống quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc những năm đầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (1996 - 2006), từ đó thấy được sự phát triển trong tư duy lý luận và thực tiễn của Đảng; quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc ở một số tỉnh Tây Bắc; làm rõ thành tựu và hạn chế trong nhận thức cũng như trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc, từ đó đúc rút ra một số kinh nghiệm của Đảng trong quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc 1996 - 2006 ở Tây Bắc khi nghiên cứu về quan điểm và nội dung chính sách dân tộc của Đảng. Tác giả khẳng định: Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương gắn đoàn kết dân tộc với việc hoạch định chính sách dân tộc, đảm bảo miền núi tiến kịp miền xuôi, làm cho đồng bào dân tộc ít người được hưởng ngày càng đầy đủ hơn những quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa. Người chỉ ra rằng, Đảng và Chính phủ phải có kế hoạch dài hạn, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở miền núi, đồng bào miền xuôi phải giúp đỡ 12 đồng bào miền ngược. Đồng bào các dân tộc ít người cũng phải không ngừng vươn lên để xây dựng tổ chức chung, xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho tất cả các dân tộc hạnh phúc, ấm no. Những quan điểm trên đây của Người có giá trị và ý nghĩa như một tuyên ngôn chỉ đạo công tác dân tộc và giải quyết các mối quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay [63, tr.29]. 1.1.1.2. Những công trình nghiên cứu về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nói chung Cuốn sách: Chính sách dân tộc của các triều đại phong kiến Việt Nam (từ thế kỷ XI - XIX) [130] cho thấy, từ xa xưa, nhà nước phong kiến Việt Nam đã đề ra nhiều chính sách, biện pháp tích cực đối với miền núi, với các dân tộc thiểu số. Từ thời Lý (thế kỷ XI), chính sách "Nhu viễn" (mềm dẻo với phương xa) đã được thực hiện, sau này vẫn là quốc sách hàng đầu, phổ biến và lâu dài của các triều đại phong kiến tiếp theo. "Nhu viễn" xây dựng mối quan hệ đặc biệt giữa nhà nước Trung ương (phong kiến tập quyền) với cộng đồng các tù trưởng (người có uy tín, thế lực, đang điều hành, quản lý các tộc người bằng tự trị theo luật tục" thông qua việc ban phẩm tước cho tù trưởng; phân phong một số Hoàng Thân, quan lại lên tuần giữ vùng biên, đặc biệt là câu thức, lôi kéo quan hệ thân tộc (qua hôn nhân) giữa các tù trưởng với công chúa, cung phi của triều đình. Song song với chính sách "Nhu viễn", các triều đại phong kiến còn kiên quyết dùng chính sách "cường bạo lực" lúc cần thiết để trừng trị những kẻ gây mất đoàn kết các dân tộc, chống lại triều đình và cắt đất cho ngoại bang. Chính sách "Nhu" "Cương" hợp lý có ý nghĩa tích cực trong củng cố quốc gia thống nhất, đẩy lùi các thế lực cát cứ, xâm lấn và giữ gìn an ninh biên giới. Đó là kinh nghiệm lịch sử để trong quá trình xây dựng hệ thống chính trị vùng biên, miền núi, dân tộc thiểu số chúng ta phải chú ý đến vai trò của công tác cán bộ đối với người dân tộc thiểu số. Việc xây dựng 13 đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số phải trên tinh thần (không kỳ thị dân tộc), phải tăng cường sức mạnh cho đội ngũ này bằng việc điều động, luân chuyển cán bộ nơi khác về cơ sở; đồng thời cũng phải cương quyết sàng lọc nguồn trong quá trình xây dựng đội ngũ trên cơ sở tiêu chuẩn cán bộ, công chức do pháp luật quy định. Cuốn sách: Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa - luận cứ và giải pháp [111] là tập hợp kết quả nghiên cứu của 34 nhà khoa học, tập trung vào những vấn đề: Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chính sách của Đảng và nhà nước ta, cùng một số các yếu tố tác động về tâm lý, văn hóa tộc người liên quan đến vấn đề dân tộc, cán bộ dân tộc thiểu số, công tác cán bộ thiểu số; thực trạng và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nói chung trên một số lĩnh vực chuyên môn cụ thể. Nhiều giải pháp đổi mới, công tác cán bộ dân tộc thiểu số được đề xuất có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. Cuốn sách: Phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [108] đã cung cấp luận cứ lý thuyết và thực tiễn cho nhận thức đầy đủ và toàn diện vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số không chỉ cần nhiều nguồn lực đầu tư, mà phải tiến hành theo một quy trình, phương pháp, cách thức khoa học. Cuốn sách còn đề xuất hệ quan điểm, giải pháp toàn diện cho hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số. Tác giả khẳng định: Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu phát triển bền vững liên, xuyên thế hệ thành công hay không không thể thiếu sự đóng góp to lớn của nguồn nhân lực thiểu số, vì phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số cũng chính là phát triển nguồn nhân lực quốc gia - là lực lượng tiên phong và cũng là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy sự phát triển đất nước một cách toàn diện và bền vững. 14 Cuốn sách: Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay [117], đã chỉ ra rằng, nếu không xây dựng được một đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số vững mạnh, có đủ phẩm chất và năng lực đảm đương nhiệm vụ cách mạng thì mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta không thể đi vào cuộc sống, không thể phát huy được nội lực của đồng bào các dân tộc, đáp ứng yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để có được một đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số vững mạnh, trước tiên "phải giải quyết tốt vấn đề phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số, vì đây là khâu quan trọng nhất, đồng thời cũng là vấn đề khó khăn và yếu kém nhất trong công tác cán bộ dân tộc thiểu số hiện nay" [117, tr.9]. Chỉ trên cơ sở phát triển mạnh nguồn cán bộ dân tộc thiểu số, chúng ta mới có được thế hệ cán bộ dự bị, kế cận đông đảo, đủ tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực, để bổ sung vào các chức danh lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị các cấp và bổ sung cho đội ngũ cán bộ công chức là người dân tộc thiểu số ở các địa phương. Trên cơ sở đó, từng bước xây dựng và hoàn thiện quy hoạch cán bộ dân tộc thiểu số các cấp, các ngành; thực hiện đào tạo, bồi dưỡng liên tục thường xuyên, chủ động, có kế hoạch; kết hợp với cơ chế, chính sách sử dụng, quản lý đội ngũ cán bộ dân tộc mang tính đồng bộ, hệ thống từ trung ương đến cơ sở. Tác giả khẳng định: "Có như vậy, chúng ta mới giải quyết được căn bản các vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đủ mạnh, ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng đặt ra và phát triển vững chắc trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta" [117, tr.10]. Cuốn sách: Công tác quy hoạch cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn hiện nay [98] đã phân tích các đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên ở các tỉnh miền núi phía Bắc, về thực trạng công tác, quy hoạch cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý đặc biệt là nguồn cán bộ đưa vào quy hoạch còn gặp nhiều khó khăn, 15 nhất là cán bộ là người dân tộc thiểu số, cán bộ trẻ, cán bộ nữ. Tác giả còn đưa ra phương hướng, giải pháp thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh miền núi phía Bắc đến năm 2020: Cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quan điểm, phương châm, nguyên tắc của Đảng trong công tác quy hoạch cán bộ, tập trung, lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể trong tỉnh, xác định rõ phương hướng, mục tiêu của công tác quy hoạch cán bộ và tổ chức thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp... Xác định rõ nguồn, tạo nguồn cán bộ dồi dào, nhất là cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ trẻ, cán bộ nữ đưa vào quy hoạch [98, tr.227]. Cuốn sách: Phát huy vai trò của đội ngũ tri thức các dân tộc thiểu số nước ta trong sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay [20] và Nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số - Những phân tích xã hội học [66] đã cho thấy vai trò của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, thực trạng công tác cán bộ vùng dân tộc thiểu số trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bài viết: "Phát huy dân chủ, xây dựng, củng cố chính quyền và đào tạo cán bộ vùng dân tộc thiểu số trong giai đoạn cách mạng mới" [131] trong cuốn Các dân tộc thiểu số Việt N...g bào các dân tộc thiểu số. Người dân sẽ học chữ quốc ngữ song song cùng với chữ viết của dân tộc mình. Đây cũng là một biện pháp thiết thực nhằm bảo tồn nét văn hóa đặc sắc của dân tộc trước sự hội nhập quốc tế không ngừng gia tăng. Không chỉ duy trì những nét văn hóa trong cộng đồng người dân mà ngay cả các cán bộ quản lý trong khu vực có người dân tộc thiểu số sinh sống bất kể là người dân tộc nào cũng sẽ phải học và làm quen với tiếng nói và chữ viết của dân tộc đó. Đây là một điều rất cần thiết và thiết thực với công tác quản lý bởi có hiểu được người dân thì mới có thể đề ra các biện pháp và cách thức quản lý đúng đắn và phù hợp. 32 Vì vậy, vai trò của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số rất quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển cũng như phòng chống các biểu hiện tiêu cực trong tập tục của đồng bào các dân tộc thiểu số. 2.1.1.4. Yếu tố về xã hội và dân cư Tuyên Quang là địa bàn quần cư của nhiều dân tộc anh em sinh sống từ bao đời nay: Kinh, Tày, Nùng, H'Mông, Cao Lan, Sán Dìu, Cờ Lao, Pà Thẻn, La Chí, Pu Péo, Lô Lô, Bố Y, Dao, Hoa, Giấy, Mường Những dân tộc có dân số đông là Kinh, Tày sống tập trung ở thành phố Tuyên Quang và thị xã và huyện Yên Sơn, Hàm Yên. Các dân tộc thiểu số khác sống tập trung ở các huyện khác còn lại của tỉnh như Na Hang, Chiêm Hóa, Sơn Dương. Các dân tộc sống xen kẽ với nhau rất đoàn kết và hòa thuận. Theo điều tra dân số năm 1991, Tuyên Quang có 596.679 người, mật độ trung bình khoảng 100 người trên 1km2. Đến năm 2007, là 732.256 người. Phần đông đồng bào sống tập trung ở vùng thấp, ven sông và các thị trấn, thị xã. Ở vùng cao, dân cư thưa thớt hơn. Với đặc điểm sống cách xa nhau về mặt địa lý, là những bất lợi cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số. Để tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho dân tộc thiểu số tham gia vào hệ thống chính trị của tỉnh là một điều hết sức khó khăn. Hơn nữa, do nền kinh tế chuyển đổi và quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, với tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao, có tính chất liên tục trong thời gian dài dẫn tới việc phân tầng xã hội ngày càng gia tăng. Chính điều này đã tác động không nhỏ đến quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số. Đa số người dân tộc thiểu số là những người nghèo thuộc giai cấp nông dân. Cơ hội để phát triển của họ là không nhiều. Những điều kiện này đặt ra yêu cầu đối với các địa phương vùng nhiều đồng bào dân tộc thiểu số là phải đào tạo nghề cho người lao động thiểu số thông qua các chương trình, dự án. Chính vì thế, 33 các tộc người thiểu số thường dễ bị tổn thương và hay phải đứng trước những rủi ro khi có những biến động về kinh tế, chính trị và xã hội, cơ hội di động xã hội của họ không cao, do đó, nguy cơ tụt hậu hơn nữa là điều rất có thể xảy ra. Các tộc người thiểu số thường sống quây quần thành các làng bản. Tính cộng đồng trong dòng họ, thôn bản của đồng bào dân tộc thiểu số rất cao. Họ nhất nhất nghe theo người đứng đầu dòng họ hay trưởng bản. Điều này có lợi nhưng cũng là một điểm yếu để những "thế lực thù địch" lợi dụng chống lại đường lối của Đảng và Nhà nước. Trưởng bản, trưởng tộc là những người có uy tín được đồng bào cử ra điều khiển việc chung của một cộng đồng dân cư vùng dân tộc thiểu số. Đây không chỉ là một yêu cầu của cuộc sống mà còn là phong tục tốt đẹp, là nét văn hóa riêng của các dân tộc thiểu số đã hình thành và tồn tại từ rất lâu đời trong lịch sử. Trong điều kiện hiện nay, họ đang thực sự là nòng cốt, là cầu nối giữa dân với Đảng, với chính quyền, Mặt trận tổ quốc; họ có những đóng góp tích cực vào việc tuyên truyền, vận động con cháu trong dòng tộc và các thành viên trong cộng đồng dân cư thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, giữ yên gia đình, làng, bản của mình. Trong những năm gần đây, nhận thức của đồng bào các dân tộc thiểu số về giáo dục và đào tạo cũng đã có những tiến bộ đáng kể. Thể hiện ở việc dự định của họ cho con em đi học ở các cấp học khác nhau. Đây là nguồn vô cùng quan trọng trong xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số. Chính sách cử tuyển của Đảng và Nhà nước áp dụng cho vùng dân tộc thiểu số đã mở ra hướng mới, nhằm mục đích nâng cao chất lượng nguồn cán bộ dân tộc thiểu số, để bổ sung vào đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số kế cận sau này. Tuy nhiên, điều này cũng vấp phải một rào cản lớn, đó là sự ỷ lại của đồng bào dân tộc thiểu số. Họ sống phụ thuộc quá nhiều vào tự nhiên với tâm lý 34 dễ thì làm, khó thì bỏ và tâm lý này duy trì cả trong việc học tập. Họ luôn bằng lòng với những gì sẵn có, thiếu ý thức phấn đấu cầu thị, chưa có ý thức học tập để tạo ra nền xã hội cho lập nghiệp, lập thân và rộng hơn là tìm cơ hội phát triển. Năng lực tham gia của các dân tộc thiểu số vào quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và thể chế chính trị cũng góp phần vào sự phát triển của nguồn cán bộ dân tộc thiểu số tạo điều kiện thuận lợi cho xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ cách mạng. Các dân tộc thiểu số sống đan xen. Vì thế đoàn kết dân tộc sẽ thúc đẩy sự giao lưu học hỏi lẫn nhau, làm cho tri thức chung ngày càng mở rộng, và như thế quá trình xây dựng cán bộ dân tộc thiểu số sẽ có những bước chuyển biến mới và có khả năng nâng cao tri thức một cách rõ ràng. 2.1.1.5. Yếu tố quốc tế Hiện nay Việt Nam đang có quan hệ với khoảng 650 tổ chức phi chính phủ nước ngoài, trong đó có trên 500 tổ chức hoạt động thường xuyên và cam kết dài hạn. Nguồn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ chủ yếu tập trung vào các ngành y tế, giáo dục; giải quyết các vấn đề xã hội cũng như phát triển kinh tế (nhất là du lịch). Đặc biệt các nguồn vốn này sẽ được ưu tiên nhiều hơn tới các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, môi trường xã hội còn nhiều hạn chế. Những chương trình, dự án của các tổ chức quốc tế đem tới Việt Nam đã góp phần tích cực vào việc xoá đói, giảm nghèo cũng như nâng cao đời sống và năng lực của người dân tại các vùng dự án. Khả năng giao lưu quốc tế được mở rộng cho phép các dân tộc có nhiều cơ hội tiếp xúc với nhau. Các phần tử xấu cũng lợi dụng chính sách mở cửa của Việt Nam để thâm nhập, chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện chủ nghĩa ly khai. Tại một số nơi trong tỉnh, những phần 35 tử này đã dựa vào miền núi, vùng sâu vùng xa, lợi dụng lòng tin, nhận thức còn bị hạn chế, đời sống vật chất khó khăn, thiếu thốn của đồng bào các dân tộc thiểu số để tuyên truyền, xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Như sự kiện "Tổ chức tín ngưỡng Dương Văn Minh" những năm cuối thế kỷ XX ở Tuyên Quang đã lợi dụng nhận thức còn hạn chế của đồng dân tộc thiểu số, đặc biệt là người H'Mông. Chúng đã kích động, lôi kéo họ tham gia theo "Tín ngưỡng Dương Văn Minh" mà thực chất đó là một tà đạo. Kích động đồng bào H'Mông khiếu kiện với chính quyền đòi công nhận sự tồn tại của "Tín ngưỡng Dương Văn Minh", nhưng thực chất của mục đích là chống lại Đảng và Nhà nước Việt Nam. Sau khi Dương Văn Minh bị bắt, chính quyền địa phương đã giác ngộ, phân tích cho đồng bào H'Mông trong tỉnh nhận thức được bản chất của tín ngưỡng này, giúp họ trở lại với cuộc sống hàng ngày, và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Như vậy, xét về yếu tố môi trường tự nhiên, đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang sống rải rác, xen kẽ nhau. Về kinh tế - văn hóa, xã hội, văn hóa các dân tộc thiểu số có trình độ phát triển không đều nhau. Tuy cùng chia sẻ một số giá trị văn hóa chung, nhưng mỗi dân tộc lại có những giá trị và sắc thái riêng. Tất cả những yếu tố trên đã có những tác động và là một thách thức không nhỏ đối với Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong công tác lãnh đạo, xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở địa phương. 2.1.2. Thực trạng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang trước năm 1991 Người Việt Nam luôn tự hào về nền văn hóa truyền thống của mình, bởi đó là một nền văn hóa phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc. Sự phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc đó là do sự đóng góp của 54 dân tộc anh em cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Mỗi dân tộc tự xây 36 dựng nên một nền văn hóa truyền thống của riêng mình. Nền văn hóa ấy có xu hướng hòa nhập với nền văn hóa chung của dân tộc trong quá trình giao lưu, tiếp bước, vừa mang nét độc đáo riêng của mỗi dân tộc. Đây chính là cơ sở để hình thành một nền văn hóa Việt Nam đa dạng trong thống nhất. Văn hào R.Tago đã nói "Mỗi dân tộc phải biết rõ mình, đồng thời phải biết thể hiện mình trước thế giới". Theo Vũ Ngọc Khánh trong Truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, tập 1 có viết "Từ khi buổi bình minh của lịch sử, tổ tiên của các dân tộc thiểu số hiện nay đã là chủ nhân của những nền văn hóa xưa nhất của nhân loại" [68, tr.17]. Người dân tộc thiểu số là cư dân sống lâu đời ở mảnh đất Tuyên Quang được gọi là "Trấn biên" che chở cho "Kinh chấn". Không kể người Kinh, có khoảng 22 dân tộc khác nhau cùng sinh sống, trong đó chiếm số lượng nhiều hơn cả là người Tày, người Dao, người Cao Lan và người Nùng. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang vốn có truyền thống yêu nước, cần cù, khéo tay, sáng tạo trong lao động, thông minh, hiếu học, giàu lòng nhân ái, kiên cường, bất khuất trong chiến đấu, đã tạo nên một Tuyên Quang giàu bản sắc và truyền thống văn hóa, một Tuyên Quang - quê hương cách mạng. Thời phong kiến, dưới các triều đại Lý, Trần, Lê thời Tây Sơn, nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang đã phối hợp với triều đình đứng lên đánh đuổi kẻ thù xâm lược bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ. Những năm đầu thế kỷ 20, nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang đã tham gia vào cuộc đấu tranh chống thực hiện dân Pháp xâm lược, hưởng ứng phong trào yêu nước, giải phóng dân tộc. Từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930 và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đồng bào các dân tộc ở Tuyên Quang đã một lòng theo Đảng, tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc; kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và thống nhất đất nước. 37 Trong thời kỳ cách mạng mới, các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang là lực lượng xã hội quan trọng góp phần vào sự thành công của công cuộc xây dựng CNXH. Trong sản xuất, họ là lực lượng lao động đông đảo, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế ở Tuyên Quang. Với 22 dân tộc khác nhau, người dân tộc thiểu số đã thực sự mang đến cho Tuyên Quang nhiều sắc thái giá trị đó là truyền thống cần cù lao động, chịu thương chịu khó, lối sống tiết kiệm, chắt chiu thành quả, là nghị lực phấn đấu, vượt qua hoàn cảnh để sinh tồn, tạo dựng một chỗ đứng của bản thân trong cộng đồng các dân tộc anh em, với trình độ học vấn ngày càng được nâng lên, đã đóng góp vào thành tựu phát triển chung của tỉnh, đồng thời là nguồn nhân lực quan trọng trong quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số. Trong hệ thống chính trị cơ sở của tỉnh, tỉ lệ cán bộ, công chức chuyên trách và không chuyên trách là người dân tộc thiểu số có số lượng đáng kể. Hơn ai hết, họ gần gũi với đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, hiểu tiếng nói, phong tục tập quán tâm lý, lề lối, thói quen... của đồng bào nên đã phát huy tốt vai trò tuyên truyền, vận động đồng bào thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Phát huy được vai trò của cộng đồng, người dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh - xã hội, là nhân tố mang lại sự ổn định, phát triển bền vững của vùng đất "Trấn biên" của Tổ quốc. Bởi vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số không chỉ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt mà còn là vấn đề có tính chiến lược lâu dài cho vùng đất đa dân tộc này. Tuy nhiên, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trước năm 1991 chưa thực sự được quan tâm. Cán bộ là người dân tộc thiểu số tham gia vào hệ thống chính trị một cách ngẫu nhiên do nhu cầu công việc nên tỉ lệ quá thấp so với tổng số cán bộ trong tỉnh. 38 Cán bộ dân tộc thiểu số là sợi dây liên hệ giữa Đảng và quần chúng các dân tộc. Giữa họ và dân tộc có mối quan hệ ruột thịt với nhau, do đó, họ có điều kiện thuận lợi đoàn kết và động viên nhân dân các dân tộc phát triển sự nghiệp cách mạng và xây dựng quê hương theo con đường của Đảng. Giai đoạn này, Đảng bộ tỉnh Hà Tuyên còn thiếu kế hoạch chủ động và biện pháp tích cực lâu dài, nhằm củng cố và xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số. Hơn nữa, trong suốt một thời gian dài, chúng ta còn có thái độ đối với những cán bộ vốn là người thuộc tầng lớp trên của dân tộc ít người, quy chụp và hiểu một cách lệch lạc phương hướng giai cấp trong công tác cán bộ, đã gạt bỏ những người thuộc thành phần lớp trên hoặc khá giả, còn có ảnh hưởng quan trọng trong dân tộc thiểu số, đã tham gia công tác nhiều năm, dẫn tới sự bất mãn của đội ngũ cán bộ này gây ảnh hưởng tới công tác xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ dân tộc thiểu số nói riêng. Bên cạnh việc sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số không hiệu quả, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của tỉnh cũng chưa phù hợp với chuyên môn và đặc điểm từng địa phương, nhất là đào tạo cán bộ kỹ thuật, quản lý kinh tế và chuyên môn nghiệp vụ là người dân tộc thiểu số. Để sử dụng tốt cán bộ dân tộc, về mặt tư tưởng, phải chống khuynh hướng hẹp hòi, xây dựng quan điểm đúng đắn với việc nhìn nhận và đánh giá cán bộ dân tộc, mạnh dạn sử dụng và tích cực bồi dưỡng cán bộ dân tộc. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đặc biệt là cán bộ lãnh đạo và chỉ đạo ở cấp tỉnh còn rất ít, nhất là những cán bộ chủ chốt. Phần lớn các chức vụ phụ trách các ngành ở tỉnh và các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng ở cấp tỉnh, huyện vẫn do cán bộ miền xuôi hoặc ở nơi khác đến đảm nhiệm. Trong đội ngũ chuyên môn, khoa học, kỹ thuật từ các ngành y tế, giáo dục tương đối nhiều cán bộ dân tộc hơn, còn lại các ngành khác, cán bộ dân 39 tộc thiểu số tham gia vẫn ít. Trong cán bộ dân tộc, số cán bộ thuộc các dân tộc ít người như Dao, Nùng, Cao Lan, Sán Dìu... chiếm số quá ít, chưa tương xứng với số dân của họ. Phần lớn cán bộ dân tộc thiểu số chủ yếu là người dân tộc Tày. Nhận thức rõ vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số cũng như những hạn chế trong công tác cán bộ dân tộc thiểu số giai đoạn này, Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã đề ra những chủ trương đúng đắn để xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, và sử dụng có hiệu quả hơn trong hệ thống chính trị của tỉnh. 2.1.3. Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số và vai trò của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số 2.1.3.1. Khái niệm "cán bộ", "dân tộc thiểu số" và "cán bộ dân tộc thiểu số" * Khái niệm "cán bộ": Là một từ được du nhập vào Việt Nam khoảng nửa đầu thế kỷ XX. Ban đầu, từ "cán bộ" được dùng trong quân đội để phân biệt giữa chiến sĩ và người chỉ huy (từ cấp tiểu đội trở lên). Về sau, từ "cán bộ" được dùng để chỉ tất cả những người thoát ly gia đình đi hoạt động kháng chiến để phân biệt với nhân dân. Trong một thời gian dài, ở Việt Nam từ "cán bộ" được dùng phổ biến, thay thế cho từ công chức. Theo cách hiểu thông thường hiện nay, cán bộ được coi là tất cả những người làm việc trong bộ máy của Đảng, chính quyền, đoàn thể và lực lượng vũ trang. Trong quan niệm hành chính, cán bộ được coi là những người có mức lương từ bậc cán sự trở lên, để phân biệt với những nhân viên có mức lương dưới cán sự. Theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm "cán bộ" có hai nghĩa cơ bản: - "Cán bộ là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước. - Cán bộ là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ" [136, tr.109]. 40 Trong Bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa ngày 20/2/1947, khi giải đáp về người cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được" [86, tr.54]. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại một lần nữa khẳng định: Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng [86, tr.269]. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ hoàn toàn phù hợp với quan điểm của V.I.Lênin. Sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi, đứng trước những nhiệm vụ cực kỳ to lớn và phức tạp của chính quyền Xôviết non trẻ, đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ thực sự có năng lực, V.I.Lênin đã viết: "Nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh. Hiện nay đó là then chốt; nếu không thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định chỉ là mớ giấy lộn" [76, tr. 449]. Cán bộ là những cá nhân có trách nhiệm, tư cách cụ thể, rõ ràng, gắn với một tổ chức nhất định. Khi tách rời tổ chức đó, người cán bộ sẽ mất tư cách của mình. Chính vì vậy, để trở thành cán bộ, mỗi cá nhân phải rèn luyện và học tập và để giữ vững tư cách cán bộ, mỗi cá nhân phải tự tu dưỡng và trau dồi đạo đức cách mạng. Cán bộ, công chức là công bộc của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; phải không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức, học tập nâng 41 cao trình độ và năng lực công tác để thực hiện tốt nhiệm vụ, công vụ được giao. Công tác cán bộ, công chức đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo đảm nguyên tắc tập thể, dân chủ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị. Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, cán bộ được hiểu là: Những người công tác trong một tổ chức xác định của hệ thống chính trị; có những trách nhiệm và quyền hạn nhất định được tổ chức và nhân dân giao phó; có năng lực và trình độ công tác đáp ứng các yêu cầu của nhiệm vụ được giao; có phẩm chất đạo đức cách mạng; tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, hết lòng tận tụy phục vụ nhân dân; sẵn sàng chiến đấu và hy sinh vì lợi ích tối cao của Đảng, của dân tộc. Tất cả cán bộ công tác trong hệ thống các cơ quan nhà nước và hưởng lương từ ngân sách nhà nước đều thuộc phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh cán bộ, công chức. Trong trường hợp này, tất cả các công chức, viên chức nhà nước; các công chức, viên chức công tác trong các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội; sĩ quan, sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng công tác trong Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp công tác trong lực lượng Công an nhân dân đều được coi là cán bộ. * Khái niệm dân tộc thiểu số Khái niệm "dân tộc thiểu số" được sử dụng phổ biến tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, trong các văn bản của các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), hoặc các tổ chức quốc tế của Liên hợp quốc như (UNDP, UNICEF...), người ta thường sử dụng khái niệm "người bản địa", hay các "dân tộc bản địa" thay cho khái niệm "dân tộc thiểu số" như cách gọi của chúng ta. 42 Đối với thực tiễn tộc người Việt Nam, khái niệm "người bản địa" (hay còn gọi là "người bản xứ") chỉ xuất hiện vào thời Pháp thuộc, khi phân biệt người dân Việt Nam với người Pháp. Có 54 tộc người sinh sống lâu đời trên lãnh thổ Việt Nam nhưng không có tộc người nào là bản địa hay tộc người nào phi bản địa - dù có tộc người sinh sống lâu đời có tộc người nhập cư muộn hơn - mà chỉ có tộc người đa số và tộc người thiểu số. Do đó, khái niệm "tộc người thiểu số" (hay "dân tộc thiểu số") được sử dụng là phù hợp thực tiễn tộc người ở nước ta. Gọi tộc người thiểu số là để phân biệt với tộc người đa số mà tiêu chí phổ dụng là xem xét tỷ lệ dân số tộc người trong tổng dân số quốc gia. "Theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, cả nước có 85.846.997 người, trong đó người Kinh là 73.574.427 người (chiếm 85,73%), nên được xem là tộc người đa số, 53 tộc người còn lại (và 2.134 người ngoại quốc) là 12.252.570 người (chiếm 14,27%), nên được xem là các tộc người thiểu số" [108, tr.19-20]. Một tộc người chỉ được xem là thiểu số khi đặt dân số tộc người đó với tổng dân số cả nước mà không xem xét ở phạm vi vùng hay địa phương. Bởi vì, một tộc người thiểu số nào đó (của cả nước) nhưng đặt trong phạm vi một địa phương nhất định có khi lại chiếm đa số, như trường hợp người Mường ở Hòa Bình, người Thái ở Sơn La hay người Nùng ở Lạng Sơn. Thuật ngữ "thiểu số" hay "ít người" cũng đều hàm nghĩa giống nhau, một bên nghĩa Hán - Việt, còn bên kia là thuần Việt. Tuy nhiên, khi nói "ít người" dễ hiểu lầm với các tộc người thiểu số có dân số ít (thường dưới 10.000 người), nên thuật ngữ "ít người" ít được sử dụng. Còn nếu gọi "dân tộc thiểu số" ở nước ta thì được hiểu là "tộc người thiểu số", tức 53 tộc người còn lại ngoài người Kinh. Các tài liệu phổ biến ở nước ta thường phân biệt tộc người này với tộc người khác ở các dấu hiệu về ngôn ngữ, đặc trưng sinh hoạt văn hóa, ý thức tự giác tộc người (thường thể hiện ở tên tự gọi). 43 * Khái niệm "cán bộ dân tộc thiểu số" Về thực chất, đây là một khái niệm kép - một tập hợp của hai khái niệm "cán bộ" và "dân tộc thiểu số". Khái niệm này dùng để chỉ những người đang công tác trong các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị có thành phần dân tộc xuất thân là các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Tiêu chí để phân biệt "cán bộ dân tộc thiểu số" trong "đội ngũ cán bộ" nói chung là có thành phần dân tộc xuất thân từ các "dân tộc thiểu số". Từ sự phân tích trên có thể đi tới một quan niệm chung, thống nhất về "cán bộ dân tộc thiểu số": Cán bộ dân tộc thiểu số là những người công tác trong một tổ chức xác định của hệ thống chính trị, có thành phần xuất thân từ các dân tộc thiểu số; có những trách nhiệm và quyền hạn nhất định được tổ chức giao phó; có năng lực và trình độ công tác đáp ứng các yêu cầu của nhiệm vụ tuyệt đối trung thành đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, hết lòng tận tụy phục vụ nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì lợi ích tối cao của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân. Trong một số văn kiện của Đảng và Nhà nước ta, cụm từ "cán bộ dân tộc thiểu số" được thay thế bằng cụm từ "cán bộ là người dân tộc thiểu số". Xét về ngữ nghĩa, đây là hai cụm từ đồng nghĩa. Xét về nội hàm khái niệm thì đây là hai khái niệm có cùng một nội hàm, có thể thay thế cho nhau. 2.1.3.2. Một số quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số Chính sách dân tộc đối với cán bộ dân tộc thiểu số dựa trên một hệ thống các quan điểm rất cơ bản và nhất quán, cô đọng ở các nội dung sau: Một là, các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, củng cố và phát triển khối đại đoàn kết, sự thống nhất đại gia đình các dân tộc Việt Nam: Đảng và Nhà nước ta trước sau như một tôn trọng quyền bình đẳng giữa các dân tộc, phấn đấu cho sự bình đẳng được thực hiện sinh động trên 44 thực tế, không ngừng củng cố đại đoàn kết các dân tộc trong mọi thời kỳ của cách mạng. Đặc biệt từ Đại hội VI đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã nhấn mạnh việc tạo ra sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc, gắn quá trình này với việc củng cố, phát triển cả cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta. Tính cộng đồng, tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo trong bản sắc mỗi dân tộc. Chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng phải là một xã hội trong đó tất cả các dân tộc đều bình đẳng, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, đều không ngừng phát triển và phát huy bản sắc độc đáo của mình hoà vào sự phát triển chung của cả nước. Trong quá trình đó, phải kiên quyết chống mọi biểu hiện của tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, mọi hành động kỳ thị chia rẽ dân tộc. Chính bởi vậy, nguyên tắc xuyên suốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước là: - Đoàn kết các dân tộc - Thực hiện bình đẳng dân tộc - Các dân tộc tương trợ, giúp đỡ nhau như anh em một nhà. Các nguyên tắc đó được quán triệt trong tất cả các nội dung công tác liên quan đến vấn đề dân tộc; được quán triệt đến các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị. Hai là, phát huy mọi tiềm năng, nhân tài, vật lực của tất cả các dân tộc, các vùng đất nước vì sự nghiệp chung xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát thấp về kinh tế - xã hội, nước ta phải khai thác, phát huy mọi tiềm năng, nhân tài, vật lực của tất cả các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các thành phần kinh tế, các tổ chức chính trị - xã hội, các dân tộc, các vùng của đất nước. Đây không phải là "giải pháp tình thế" cốt để khai thác miền núi; trái lại, sự thể hiện tư tưởng chiến lược cách mạng là sự nghiệp của quảng đại quần chúng nhân dân, tất cả 45 mọi người đều có quyền và nghĩa vụ tham gia làm chủ đất nước, làm chủ mọi cuộc sống của mình. Việc khai thác tiềm năng và xây dựng miền núi về mọi mặt là lợi ích trực tiếp của nhân dân miền núi, đồng thời là vì lợi ích chung cả nước. Đầu tư cho phát triển miền núi là đầu tư để khai thác các tiềm năng, các nguồn lực của đất nước cho sự phát triển miền núi, và của cả nước. Cần tránh quan niệm coi miền núi là gánh nặng, đầu tư kiểu "ban phát" và khuynh hướng chỉ chủ tâm khai thác tài nguyên và lao động rẻ của miền núi và không quan tâm bảo vệ, bồi đắp, tái tạo tài nguyên, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đồng bào vùng cao. Về phần mình, các địa phương miền núi cần khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư, chỉ đạo của Trung ương, phát huy tinh thần phấn đấu vươn lên khai thác các tiềm năng và thế mạnh của mình, phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa miền núi. Ba là, đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số là những chiến sĩ xung kích của Đảng và Nhà nước ở vùng đông đồng bào dân tộc, là biểu tượng sinh động của khối đoàn kết dân tộc Cùng với các kế hoạch, chính sách và pháp luật, Đảng và Nhà nước ta luôn coi việc xây dựng đội ngũ cán bộ - bao gồm cả cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ đoàn thể - người dân tộc thiếu số là nhân tố, có vai trò cực kỳ quan trọng. Trong các chủ trương, biện pháp đối với miền núi đều đề cập đến việc xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ công tác ở miền núi, đặc biệt là các cán bộ dân tộc thiểu số. Trong công tác cán bộ dân tộc, Đảng và Nhà nước ta quan tâm đến các khâu quy hoạch, lựa chọn, bố trí sử dụng, dân tộc và bồi dưỡng, đánh giá, kiểm tra và giải quyết các chế độ chính sách. Việc Đảng và Nhà nước coi trọng vai trò của đội ngũ cán bộ dân tộc là xuất phát từ những quan điểm đúng đắn: 46 - Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Sự nghiệp phát triển miền núi, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi và phải phát huy cao độ trí tuệ, sức lực của đồng bào và cán bộ dân tộc. - Muốn thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc phải có cán bộ của người dân tộc đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng đồng thời coi trọng đội ngũ cán bộ miền xuôi lên công tác ở miền núi và vùng dân tộc như một yêu cầu khách quan. - So với cán bộ miền xuôi lên công tác ở miền núi, cán bộ người dân tộc công tác ở vùng dân tộc có nhiều lợi thế hơn về am hiểu tình hình miền núi, phong tục tập quán, tâm lý và ngôn ngữ của đồng bào dân tộc, gắn bó với gia đình, họ hàng, bà con thân thích và quê hương bản quán của mình, đứng chân lâu dài ở vùng biên giới, vùng xa, vùng sâu, hẻo lánh. - Bản thân đội ngũ cán bộ người dân tộc, tuy còn có những hạn chế nhất định, nhưng nhìn chung nếu được đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đúng sẽ có đủ sức gánh vác các nhiệm vụ chủ yếu lãnh đạo, quản lý ở các địa phương miền núi. - Sự tham gia của các cán bộ dân tộc thiểu số vào đội ngũ cán bộ nói chung là biểu hiện rõ rệt nhất, sinh động nhất của khối đại đoàn kết các dân tộc và của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, tạo niềm tin cho đồng bào các dân tộc vào chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước, là bằng chứng hùng hồn chống lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động. Bốn là, đối với đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, cần có sự quan tâm đặc biệt và có chính sách có tính chất ưu đãi phù hợp với tính đặc thù của đội ngũ này Do sự chi phối của hoàn cảnh khách quan, cán bộ là người dân tộc thiểu số chịu nhiều thiệt thòi, phải vượt qua nhiều khó khăn hơn so với cán bộ người Việt (Kinh) và cán bộ ở thành phố, đồng bằng. Đội ngũ này có một số 47 hạn chế về kiến thức, năng lực. Vì vậy, trong chính sách không thể cào bằng giữa cán bộ dân tộc thiểu số và cán bộ dân tộc đa số. Tư tưởng về sự ưu đãi đặc biệt đối với cán bộ dân tộc thiểu số được thể hiện trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước. Tựu trung lại, quan điểm về sự ưu đãi đối với cán bộ người dân tộc được cụ thể hoá trong các biện pháp phát triển giáo dục và đào tạo phổ thông ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số; ưu tiên đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý và người dân tộc; nâng mức phụ cấp cho cán bộ lãnh đạo; trợ cấp cho cán bộ dân tộc để mua sắm một số vật dụng cần thiết; cải tiến các chính sách phụ cấp thâm niên, phụ cấp lưu trú, công tác phí, chế độ hưu... Nhìn chung lại, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với miền núi và cán bộ dân tộc thiểu số là rõ ràng, toàn diện, nhất quán và ngày càng cụ thể, tạo điều kiện cho các tổ chức, các ngành, các cấp cụ thể hóa và thực hiện tốt chính sách này. Thông qua độ...ập, tập 4, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 80. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 16, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 81. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 4, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 82. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 5, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 83. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 12, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 84. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 8, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 85. Hồ Chí Minh (2009), Toàn tập, tập 3, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 86. Hồ Chí Minh (2009), Toàn tập, tập 5, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 87. Moto F (1989), "Chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam" (Luận án Tiến sĩ). 88. Ngân hàng Phát triển châu Á - Văn phòng Hà Nội - Việt Nam (2000), Chính sách dân tộc bản địa của Ngân hàng Phát triển châu Á, Hà Nội. 89. Ngân hàng Thế giới - Văn phòng Hà Nội - Việt Nam (2000), Chính sách dân tộc bản địa của Ngân hàng Thế giới, Hà Nội. 90. Lê Hữu Nghĩa (chủ biên) (2001), Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện người các dân tộc ở Tây Nguyên, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 159 91. Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên) (2000), Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hóa đời sống xã hội nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 92. Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên) (2006), Công bằng và bình đẳng xã hội trong quan hệ tộc người ở các quốc gia đa tộc người, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội. 93. Nguyễn Quốc Phẩm (chủ nhiệm đề tài) (2005), Phát huy nội lực từng vùng và các dân tộc nhằm đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, Đề tài cấp bộ, Hà Nội. 94. Nguyễn Trọng Phúc (2000), Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 95. Nguyễn Trọng Phúc (chủ biên) (2000), Một số kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 96. Nguyễn Trọng Phúc (2009), Đổi mới ở Việt Nam - từ nhận thức đến thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 97. KSor Phước (2006), "Công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới 1986 - 2006", trong cuốn sách 60 năm cơ quan công tác dân tộc, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 98. Thân Minh Quế (2012), Công tác quy hoạch cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 99. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2002), Kỷ yếu về hoạt động của Hội đồng dân tộc Quốc hội khóa X (1997 - 2002), NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội. 100. Quy định mới về chính sách hỗ trợ đối với đồng bào dân tộc thiểu số (2006), Các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành trong các năm (2005 - 2006), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 160 101. Quyết định số 34/2006/QĐ-TTg, ngày 08/02/2006 của Thủ tướng Chính phủ về đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức xã, phường, thị trấn là người dân tộc thiểu số giai đoạn 2006 - 2010. 102. Trần Xuân Sầm (chủ biên) (1998), Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 103. Nguyễn Văn Sáu (chủ biên) (1999), Về những yêu cầu của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn hiện nay, Hà Nội. 104. Phan Xuân Sơn, Lưu Huy Quảng (chủ biên) (2010), Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội. 105. Lưu Văn Sùng (1998), Quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở các tỉnh Tây Bắc, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 106. Lê Ngọc Thắng (2005), Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, Trường Đại học Văn hóa, Hà Nội. 107. Ngô Ngọc Thắng (Chủ nhiệm), (1997), Văn hóa bản làng của các dân tộc Thái, H’Mông ở một số tỉnh miền núi Tây Bắc và việc phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện hiện nay, Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội. 108. Nguyễn Đăng Thành (2012), Phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 109. Lê Ngọc Thắng (chủ biên), Lâm Bá Nam (1999), Thiết chế xã hội cổ truyền các dân tộc thiểu số Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội. 110. Lê Phương Thảo (2001), Nâng cao năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện biên giới phía Bắc trong tình hình hiện nay, Đề tài khoa học cấp bộ. 161 111. Lê Thị Phương Thảo, Nguyễn Cúc và Doãn Hùng (đồng chủ biên) (2005), Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa - luận cứ và giải pháp, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội. 112. Nguyễn Đình Tấn, Trần Thị Bích Hằng (2010), Nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng các dân tộc thiểu số đối với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay: Thực trạng và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 113. Tỉnh ủy Đắc Lắc - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (1994), Cơ cấu, tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã và huyện ở tỉnh Đắc Lắc - Thực trạng và giải pháp. 114. Tỉnh ủy Tuyên Quang (2006), Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2005 - 2010. 115. Tỉnh ủy Tuyên Quang (2007), Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang 50 năm xây dựng và phát triển, Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang. 116. Tỉnh ủy Tuyên Quang (2008), Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị định số 03-NQ/HNTW ngày 18/6/1997 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 117. Lô Quốc Toản (2010), Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 118. Đặng Văn Trọng (2012), Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của Đảng bộ Bộ đội biên phòng từ năm 1996 đến năm 2006, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia, Hà Nội. 119. Vĩnh Trọng (2009), "Sóc trăng quy hoạch đào tạo, sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số Khmer", Tạp chí Xây dựng Đảng, (9), tr. 24. 162 120. Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (2001), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 121. Bùi Xuân Trường (chủ nhiệm), (1997), Tác động của luật tục đối với việc quản lý xã hội ở các dân tộc Thái, H’Mông thuộc Tây Bắc Việt Nam, Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội. 122. Nguyễn Thị Tư (2010), Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ cấp huyện người dân tộc thiểu số trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở một số tỉnh miền núi phía Bắc, Đề tài khoa học cấp bộ. 123. Nguyễn Minh Tuấn (2012), Tiếp tục đổi mới đồng bộ công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 124. Nguyễn Thanh Tuấn (1998), Một số vấn đề về trí thức Việt Nam, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội. 125. Ủy ban Dân tộc và miền núi - Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (1996), Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 126. Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2004), Báo cáo sơ kết thực hiện Quyết định số 74/2001/TTg của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Tuyên Quang. 127. Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2010), Báo cáo Thực hiện Kế hoạch số 09-KH/TU ngày 04/6/2006 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV. 128. Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1987), Một số vấn đề kinh tế - xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 129. Ủy ban Nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2011), Địa chí Tuyên Quang. 163 130. Đàm Thị Uyên (1998), Chính sách dân tộc của các triều đại phong kiến Việt Nam (từ thế kỷ XI - XIX), NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội. 131. Cư Hòa Vần (2001), "Phát huy dân chủ, xây dựng, củng cố chính quyền và đào tạo cán bộ vùng dân tộc thiểu số trong giai đoạn cách mạng mới", trong cuốn Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 132. Đặng Nghiêm Vạn (1982), Đặc điểm kinh tế xã hội truyền thống các dân tộc ít người ở miền núi Việt Nam, NXB Văn hóa Dân tộc. 133. Đặng Nghiêm Vạn (1993), Quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia dân tộc, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 134. Nguyễn Hoài Văn, Đặng Duy Thìn (đồng chủ biên) (2012), Chính sách đào tạo, sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông và công tác cán bộ hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 135. Viện Nghiên cứu chính sách dân tộc và miền núi (2002), Nghiên cứu vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 136. Viện Ngôn ngữ học (2000), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng. 137. Nghiêm Đình Vỳ, Nguyễn Đắc Hưng (2002), Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 138. Trương Thị Bạch Yến (2013), Tạo nguồn cán bộ, công chức xã người dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia, Hà Nội. B. Tài liệu nghiên cứu của nước ngoài 139. Jamieson N (2000), b. Rethinking Approaches to Ethenic Minority Development, The Case of Vietnam (Nghĩ lại cách tiếp cận chương trình phát triển dân tộc thiểu số, Trường hợp Việt Nam). Concept Paper perpared for the World Bank, Unpublíhed. 164 PHỤ LỤC PHỤ LỤC 1 Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số Trong quy hoạch các chức danh thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể tỉnh (Tính đến tháng 12/2010) Lãnh đạo các cơ quan, ban Đảng Tỉnh ủy Lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể tỉnh Lãnh đạo sở, ban ngành tỉnh và tương đương Các chỉ tiêu Ủy viên BCH đảng bộ tỉnh Ủy viên BTV Tỉnh ủy Bí thư Tỉnh ủy Phó Bí thư Tỉnh ủy Cấp trưởng Cấp phó Cấp trưởng Cấp phó Chủ tịch HĐND tỉnh Phó Chủ tịch UBND tỉnh Chủ tịch UBND tỉnh Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cấp trưởng Cấp phó (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) (11) (12) (13) (14) (15) Số lượng 116 23 2 7 30 75 27 40 4 3 3 7 104 210 Dân tộc ít người 37 10 2 3 10 16 14 13 3 1 2 2 18 36 Trong đó: 1. Tuổi đời bình quân 47,9 49,9 50,5 47 47,1 45,8 46,71 46 50,33 50 46,5 46,6 49,33 45,1 - Từ 40 trở xuống 4 2 3 2 2 1 9 - Từ 41 - 45 3 1 1 2 2 2 3 1 1 9 - Từ 46 - 50 17 5 1 2 4 8 6 5 2 1 1 1 9 10 - Từ 51 - 55 12 4 1 3 2 2 1 8 6 - Từ 56 - 60 1 2 1 2 - Trên 60 1 1 2. Lý luận chính trị - Cao cấp trở lên 36 10 2 3 10 16 14 13 3 1 2 2 17 31 - Trung cấp 1 1 5 3. Đã học quản lý Nhà nước 29 7 1 3 9 15 12 10 2 2 2 17 4. Trình độ chuyên môn - Tiến sỹ - Thạc sỹ 4 2 1 2 3 2 2 3 1 2 2 1 3 - Đại học, cao đẳng 33 8 1 1 7 14 12 13 1 17 32 - Trung cấp 1 5. Ngoại ngữ - Bằng C trở lên 4 1 1 3 5 3 2 1 6 9 - Bằng A, B 21 5 1 3 5 9 9 6 2 1 2 2 10 17 Nguồn: Tỉnh ủy Tuyên Quang, năm 2011 "Báo cáo số 24-BC/TU - Tình hình công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số giai đoạn 2005 - 2010 165 PHỤ LỤC 2 Đội ngũ cán bộ nữ dân tộc thiểu số Trong quy hoạch các chức danh thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể tỉnh (Tính đến tháng 12/2010) Lãnh đạo các cơ quan, ban Đảng Tỉnh ủy Lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể tỉnh Lãnh đạo sở, ban ngành tỉnh và tương đương Các chỉ tiêu Ủy viên BCH đảng bộ tỉnh Ủy viên BTV Tỉnh ủy Cấp trưởng Cấp phó Cấp trưởng Cấp phó Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cấp trưởng Cấp phó (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) Số lượng 116 23 30 75 27 40 7 104 210 Nữ 25 4 7 21 8 13 1 12 36 Trong đó 1. Dân tộc ít người 6 1 2 6 5 3 7 2. Tuổi đời bình quân 42,75 48,78 46,5 46,5 44 50 44,08 42,47 - Từ 40 trở xuống 10 1 1 4 3 15 - Từ 41 - 45 2 1 3 8 - Từ 46 - 50 12 4 5 5 3 1 9 11 - Từ 51 - 55 1 1 2 3 2 - Từ 56 - 60 - Trên 60 3. Lý luận chính trị - Cao cấp trở lên 24 4 8 8 12 1 8 19 - Trung cấp 1 1 1 16 4. Đã học quản lý Nhà nước 25 4 7 8 10 1 10 5. Trình độ chuyên môn - Tiến sỹ - Thạc sỹ 6 2 5 2 1 3 6 - Đại học, cao đẳng 19 2 3 6 13 9 30 - Trung cấp 6. Ngoại ngữ - Bằng C trở lên 8 2 3 3 2 4 7 - Bằng A, B 15 1 3 5 8 1 5 21 Nguồn: Tỉnh ủy Tuyên Quang, năm 2011 "Báo cáo số 24-BC/TU - Tình hình công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số giai đoạn 2005 - 2010 166 PHỤ LỤC 3 Đội ngũ cán bộ trẻ dân tộc thiểu số Trong quy hoạch các chức danh thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể tỉnh (Tính đến tháng 12/2010) Lãnh đạo các cơ quan, ban Đảng Tỉnh ủy Lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể tỉnh Lãnh đạo sở, ban ngành tỉnh và tương đương Các chỉ tiêu Ủy viên BCH đảng bộ tỉnh Ủy viên BTV Tỉnh ủy Bí thư Tỉnh ủy Phó Bí thư Tỉnh ủy Cấp trưởng Cấp phó Cấp trưởng Cấp phó Chủ tịch HĐND tỉnh Phó Chủ tịch UBND tỉnh Chủ tịch UBND tỉnh Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cấp trưởng Cấp phó (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) (11) (12) (13) (14) (15) Số lượng 116 23 2 7 30 75 27 40 4 3 3 7 104 210 Cán bộ trẻ (40 tuổi trở xuống) 21 1 4 17 7 9 10 57 Trong đó: 1. Nữ 10 1 8 1 4 3 15 2. Dân tộc ít người 4 2 3 2 2 1 9 3. Lý luận chính trị - Cao cấp trở lên 18 1 4 9 6 8 2 17 - Trung cấp 3 8 1 1 4 28 4. Đã học quản lý Nhà nước 21 1 3 14 7 9 8 5. Trình độ chuyên môn - Tiến sỹ - Thạc sỹ 5 1 1 5 2 2 4 7 - Đại học, cao đẳng 16 3 12 5 7 6 50 - Trung cấp 6. Ngoại ngữ - Bằng C trở lên 6 1 1 7 3 3 4 15 - Bằng A, B 15 3 9 4 6 6 38 Nguồn: Tỉnh ủy Tuyên Quang, năm 2011 "Báo cáo số 24-BC/TU - Tình hình công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số giai đoạn 2005 - 2010 167 PHỤ LỤC 4 Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số Trong quy hoạch các chức danh thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể huyện (Tính đến tháng 12/2010) Các chỉ tiêu Ủy viên BTV huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Bí thư huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Phó Bí thư huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Chủ tịch HĐND huyện, thành phố Phó Chủ tịch HĐND huyện, thành phố Chủ tịch UBND huyện, thành phố Phó Chủ tịch UBND huyện thành phố (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) Số lượng 221 38 69 27 32 66 Dân tộc ít người 61 11 18 9 7 24 Trong đó: 1. Tuổi đời bình quân 47,59 47,64 47,5 49,33 48,7 47,71 46,54 - Từ 40 trở xuống 6 1 1 4 - Từ 41 - 45 10 2 4 1 2 4 - Từ 46 - 50 27 5 10 6 4 3 7 - Từ 51 - 55 17 3 4 2 4 2 9 - Từ 56 - 60 1 1 - Trên 60 2. Lý luận chính trị - Cao cấp trở lên 59 11 18 9 9 7 24 - Trung cấp 2 1 3. Đã học quản lý Nhà nước 51 10 15 6 9 5 21 4. Trình độ chuyên môn - Tiến sỹ - Thạc sỹ 1 - Đại học, cao đẳng 61 11 18 9 10 7 23 - Trung cấp 5. Ngoại ngữ - Bằng C trở lên 8 2 2 1 2 4 - Bằng A, B 43 6 11 5 4 4 15 Nguồn: Tỉnh ủy Tuyên Quang, năm 2011 "Báo cáo số 24-BC/TU - Tình hình công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số giai đoạn 2005 - 2010 168 PHỤ LỤC 5 Đội ngũ cán bộ nữ dân tộc thiểu số Trong quy hoạch các chức danh thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể huyện (Tính đến tháng 12/2010) Các chỉ tiêu Ủy viên BTV huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Bí thư huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Phó Bí thư huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Chủ tịch HĐND huyện, thành phố Phó Chủ tịch HĐND huyện, thành phố Chủ tịch UBND huyện, thành phố Phó Chủ tịch UBND huyện thành phố (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) Số lượng 221 38 69 27 21 32 66 Nữ 30 2 12 5 7 2 15 Trong đó 1. Dân tộc ít người 10 1 4 2 3 1 4 2. Tuổi đời bình quân 45,7 44,5 45,58 44,2 46 46,5 45,07 - Từ 40 trở xuống 6 2 1 1 3 - Từ 41 - 45 4 2 3 2 1 3 - Từ 46 - 50 17 6 2 5 2 8 - Từ 51 - 55 3 1 1 - Từ 56 - 60 - Trên 60 3. Lý luận chính trị - Cao cấp trở lên 29 2 12 5 6 2 15 - Trung cấp 1 1 4. Đã học quản lý Nhà nước 24 1 11 4 6 12 5. Trình độ chuyên môn - Tiến sỹ 1 - Thạc sỹ 1 1 - Đại học, cao đẳng 29 2 12 5 7 1 14 - Trung cấp 6. Ngoại ngữ - Bằng C trở lên 5 3 1 1 5 - Bằng A, B 19 1 7 3 5 7 Nguồn: Tỉnh ủy Tuyên Quang, năm 2011 "Báo cáo số 24-BC/TU - Tình hình công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số giai đoạn 2005 - 2010 169 PHỤ LỤC 6 Đội ngũ cán bộ trẻ dân tộc thiểu số Trong quy hoạch các chức danh thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể huyện (Tính đến tháng 12/2010) Các chỉ tiêu Ủy viên BTV huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Bí thư huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Phó Bí thư huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Chủ tịch HĐND huyện, thành phố Phó Chủ tịch HĐND huyện, thành phố Chủ tịch UBND huyện, thành phố Phó Chủ tịch UBND huyện thành phố (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) Số lượng 221 38 69 27 21 32 66 Cán bộ trẻ (40 tuổi trở xuống) 36 2 7 3 6 12 Trong đó: 1. Nữ 6 2 1 1 3 2. Dân tộc ít người 6 1 4 3. Lý luận chính trị - Cao cấp trở lên 34 2 7 2 5 11 - Trung cấp 2 1 1 1 4. Đã học quản lý Nhà nước 30 2 7 3 6 12 5. Trình độ chuyên môn - Tiến sỹ - Thạc sỹ 5 1 2 1 - Đại học, cao đẳng 31 1 5 3 6 11 - Trung cấp 6. Ngoại ngữ - Bằng C trở lên 5 1 3 1 3 - Bằng A, B 22 1 3 3 5 9 Nguồn: Tỉnh ủy Tuyên Quang, năm 2011 "Báo cáo số 24-BC/TU - Tình hình công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số giai đoạn 2005 - 2010 170 PHỤ LỤC 7 Biểu tổng hợp khảo sát đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số Thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể tỉnh (Cán bộ đương chức) Thời điểm 31/12/2010 Lãnh đạo các cơ quan, ban Đảng Tỉnh ủy Lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể tỉnh Lãnh đạo sở, ban ngành tỉnh và tương đương Các chỉ tiêu Ủy viên BCH đảng bộ tỉnh Ủy viên BTV Tỉnh ủy Bí thư Tỉnh ủy Phó Bí thư Tỉnh ủy Cấp trưởng Cấp phó Cấp trưởng Cấp phó Chủ tịch HĐND tỉnh Chủ tịch UBND tỉnh Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cấp trưởng Cấp phó (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) (11) (12) (13) (14) Số lượng 55 15 1 2 5 14 6 13 1 1 3 45 72 Dân tộc ít người 22 8 1 1 4 2 3 3 1 1 1 9 11 Trong đó: 1. Tuổi đời bình quân 47,18 50,3 53 48 46,2 44 52 53 53 48 43 53,89 59,18 - Từ 40 trở xuống 4 1 1 1 - Từ 41 - 45 2 1 1 1 1 - Từ 46 - 50 8 3 1 2 1 1 1 2 3 - Từ 51 - 55 7 4 1 1 1 1 1 1 4 2 - Từ 56 - 60 1 1 - Trên 60 1 2. Lý luận chính trị - Cao cấp trở lên 21 8 1 1 4 2 3 3 1 1 1 8 10 - Trung cấp 1 1 1 3. Đã học quản lý Nhà nước 20 5 3 1 1 5 7 4. Trình độ chuyên môn - Tiến sỹ - Thạc sỹ 4 2 1 2 1 1 1 - Đại học, cao đẳng 18 6 1 2 2 3 3 1 8 10 - Trung cấp 1 5. Ngoại ngữ - Bằng C trở lên 5 1 1 2 1 1 1 - Bằng A, B 13 4 1 2 2 1 1 1 4 5 Nguồn: Tỉnh ủy Tuyên Quang, năm 2011 "Báo cáo số 24-BC/TU - Tình hình công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số giai đoạn 2005 - 2010 171 PHỤ LỤC 8 Biểu tổng hợp khảo sát đội ngũ cán bộ trẻ dân tộc thiểu số thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể tỉnh (Cán bộ đương chức tính đến tháng 12/2010) Lãnh đạo các cơ quan, ban Đảng Tỉnh ủy Lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể tỉnh Lãnh đạo sở, ban ngành tỉnh và tương đương Các chỉ tiêu Ủy viên BCH đảng bộ tỉnh Ủy viên BTV Tỉnh ủy Cấp trưởng Cấp phó Cấp trưởng Cấp phó Cấp trưởng Cấp phó (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) Số lượng 55 15 5 14 6 13 45 72 Cán bộ trẻ (40 tuổi trở xuống) 10 1 1 3 1 2 2 8 Trong đó: 1. Nữ 6 2 1 2 3 2. Dân tộc ít người 4 1 1 3. Lý luận chính trị - Cao cấp trở lên 9 1 1 3 1 2 2 4 - Trung cấp 1 4 4. Đã học quản lý Nhà nước 9 1 1 3 1 2 2 8 5. Trình độ chuyên môn - Tiến sỹ - Thạc sỹ 2 1 1 1 4 - Đại học, cao đẳng 8 3 1 1 2 4 - Trung cấp 6. Ngoại ngữ - Bằng C trở lên 3 1 1 1 1 1 2 3 - Bằng A, B 7 2 1 2 4 Nguồn: Tỉnh ủy Tuyên Quang, năm 2011 "Báo cáo số 24-BC/TU - Tình hình công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số giai đoạn 2005 - 2010 172 PHỤ LỤC 9 Biểu tổng hợp khảo sát đội ngũ cán bộ nữ dân tộc thiểu số thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể tỉnh (Cán bộ đương chức tính đến tháng 12/2010) Lãnh đạo các cơ quan, ban Đảng Tỉnh ủy Lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể tỉnh Lãnh đạo sở, ban ngành tỉnh và tương đương Các chỉ tiêu Ủy viên BCH đảng bộ tỉnh Ủy viên BTV Tỉnh ủy Cấp trưởng Cấp phó Cấp trưởng Cấp phó Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cấp trưởng Cấp phó (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) Số lượng 55 15 5 14 6 13 3 45 72 Nữ 16 2 1 6 1 4 1 6 12 Trong đó 1. Dân tộc ít người 6 1 1 1 1 2 2 2. Tuổi đời bình quân 40,19 48 46 44,33 51 45,25 50 45,66 44,5 - Từ 40 trở xuống 6 2 1 2 3 - Từ 41 - 45 2 - Từ 46 - 50 9 2 1 2 2 1 3 5 - Từ 51 - 55 1 2 1 1 1 2 3. Lý luận chính trị - Cao cấp trở lên 15 2 1 6 1 4 1 6 11 - Trung cấp 1 1 4. Đã học quản lý Nhà nước 16 2 1 4 3 1 5 8 5. Trình độ chuyên môn - Tiến sỹ - Thạc sỹ 3 1 1 1 4 - Đại học, cao đẳng 13 1 1 5 1 4 6 8 - Trung cấp 6. Ngoại ngữ - Bằng C trở lên 4 1 1 1 2 3 - Bằng A, B 10 1 1 3 1 3 5 Nguồn: Tỉnh ủy Tuyên Quang, năm 2011 "Báo cáo số 24-BC/TU - Tình hình công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số giai đoạn 2005 - 2010 173 PHỤ LỤC 10 Biểu tổng hợp khảo sát đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể huyện (Cán bộ đương chức) Thời điểm 31/12/2010 Các chỉ tiêu Ủy viên BTV huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Bí thư huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Phó Bí thư huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Chủ tịch HĐND huyện, thành phố Phó Chủ tịch HĐND huyện, thành phố Chủ tịch UBND huyện, thành phố Phó Chủ tịch UBND huyện thành phố (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) Số lượng 69 11 20 6 4 7 16 Dân tộc ít người 19 5 8 5 3 10 Trong đó: 1. Tuổi đời bình quân 48 49,4 47,75 48,8 46,66 47,6 - Từ 40 trở xuống 1 1 - Từ 41 - 45 3 2 1 1 3 - Từ 46 - 50 9 1 5 3 2 3 - Từ 51 - 55 5 3 1 4 - Từ 56 - 60 - Trên 60 2. Lý luận chính trị - Cao cấp trở lên 19 5 8 5 3 10 - Trung cấp 3. Đã học quản lý Nhà nước 12 3 5 4 2 6 4. Trình độ chuyên môn - Tiến sỹ - Thạc sỹ 1 - Đại học, cao đẳng 19 4 8 5 3 9 - Trung cấp 5. Ngoại ngữ - Bằng C trở lên 3 - Bằng A, B 10 2 4 3 2 2 Nguồn: Tỉnh ủy Tuyên Quang, năm 2011 "Báo cáo số 24-BC/TU - Tình hình công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số giai đoạn 2005 - 2010 174 PHỤ LỤC 11 Biểu tổng hợp khảo sát đội ngũ cán bộ trẻ dân tộc thiểu số thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể tỉnh (Cán bộ đương chức tính đến tháng 12/2010) Các chỉ tiêu Ủy viên BTV huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Bí thư huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Phó Bí thư huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Chủ tịch HĐND huyện, thành phố Phó Chủ tịch HĐND huyện, thành phố Chủ tịch UBND huyện, thành phố Phó Chủ tịch UBND huyện thành phố (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) Số lượng 69 11 20 6 4 7 16 Cán bộ trẻ (40 tuổi trở xuống) 8 2 1 3 Trong đó: 1. Nữ 4 1 1 2. Dân tộc ít người 1 1 1 3. Lý luận chính trị - Cao cấp trở lên 7 2 1 1 - Trung cấp 1 2 4. Đã học quản lý Nhà nước 8 2 1 3 5. Trình độ chuyên môn - Tiến sỹ - Thạc sỹ - Đại học, cao đẳng 8 2 1 3 - Trung cấp 6. Ngoại ngữ - Bằng C trở lên 2 - Bằng A, B 8 1 1 1 Nguồn: Tỉnh ủy Tuyên Quang, năm 2011 "Báo cáo số 24-BC/TU - Tình hình công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số giai đoạn 2005 - 2010 175 PHỤ LỤC 12 Biểu tổng hợp khảo sát đội ngũ cán bộ nữ dân tộc thiểu số thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể tỉnh (Cán bộ đương chức tính đến tháng 12/2010) Các chỉ tiêu Ủy viên BTV huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Bí thư huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Phó Bí thư huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Chủ tịch HĐND huyện, thành phố Phó Chủ tịch HĐND huyện, thành phố Chủ tịch UBND huyện, thành phố Phó Chủ tịch UBND huyện thành phố (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) Số lượng 69 11 20 6 4 7 16 Nữ 13 1 1 1 1 1 Trong đó 1. Dân tộc ít người 4 1 1 1 1 2. Tuổi đời bình quân 44,69 47 45 45 38 35 - Từ 40 trở xuống 4 1 1 - Từ 41 - 45 2 1 1 - Từ 46 - 50 6 1 - Từ 51 - 55 1 3. Lý luận chính trị - Cao cấp trở lên 13 1 1 1 1 1 - Trung cấp 4. Đã học quản lý Nhà nước 9 1 1 1 5. Trình độ chuyên môn - Tiến sỹ - Thạc sỹ 1 - Đại học, cao đẳng 13 1 1 1 1 - Trung cấp 6. Ngoại ngữ - Bằng C trở lên 1 - Bằng A, B 9 1 1 Nguồn: Tỉnh ủy Tuyên Quang, năm 2011 "Báo cáo số 24-BC/TU - Tình hình công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số giai đoạn 2005 - 2010 176 PHỤ LỤC 13 Kết quả đào tạo cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn là người dân tộc thiểu số năm 2007 Kết quả đào tạo năm 2007 Đã tốt nghiệp năm 2007 Cử đi đào tạo năm 2007 Kết quả bồi dưỡng năm 207 Văn hóa Chuyên môn Văn hóa Chuyên môn Quản lý nhà nước STT Đối tượng Trung học cơ sở Trung học phổ thông Đại học Cao đẳng Trung cấp Trung cấp lý luận chính trị Trung học cơ sở Trung học phổ thông Đại học Cao đẳng Trung cấp Chuyên viên Cán sự Bồi dưỡng Tin học Kỹ năng nghiệp vụ Bí thư Đảng ủy 1 3 1 Pho Bí thứ Đảng ủy 1 Thường trực Đảng ủy 1 3 2 1 2 6 Chủ tịch Hội đồng nhân dân 1 Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân 2 1 14 6 4 11 Chủ tịch Ủy ban nhân dân 1 2 1 4 2 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân 2 1 6 13 6 5 2 Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc 2 1 1 2 5 Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ 2 2 2 38 1 43 Chủ tịch Hội Nông dân 1 1 44 3 66 Chủ tịch Hội Cựu chiến binh 2 1 1 Cán bộ chuyên trách Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 2 1 7 5 42 2 53 Trưởng Công an 1 2 2 40 7 2 1 9 Chỉ huy Trưởng quân sự 5 11 2 2 1 5 Văn phòng - Thống kê 7 5 8 23 4 6 Địa chính - Xây dựng 6 4 4 2 3 17 5 5 Tài chính - Kế toán 1 5 3 1 Tư pháp - Hộ tịch 2 1 3 1 3 7 8 4 24 2 Công chức cấp xã Văn hóa - xã hội 2 2 3 9 1 5 3 Cán bộ, công chức nguồn 1 6 6 Cộng: 0 23 1 0 38 22 0 0 46 0 64 96 0 164 53 241 Nguồn: Sở Nội vụ Tuyên Quang năm 2010 177 PHỤ LỤC 14 Kết quả đào tạo cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn là người dân tộc thiểu số năm 2008 Đào tạo về trình độ Bồi dưỡng Văn hóa Chuyên môn LL chính trị Quản lý nhà nước STT Đối tượng Trung học cơ sở Trung học phổ thông Đại học Cao đẳng Trung cấp Cao cấp Trung cấp Chuyên viên Cán sự Bồi dưỡng Tin học Kỹ năng nghiệp vụ Bí thư Đảng ủy 3 4 2 Pho Bí thứ Đảng ủy Thường trực Đảng ủy 2 1 Chủ tịch Hội đồng nhân dân 1 5 Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân 1 1 1 2 Chủ tịch Ủy ban nhân dân 1 1 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân 1 8 12 Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc 5 1 6 1 Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ 2 6 3 Chủ tịch Hội Nông dân 2 3 Chủ tịch Hội Cựu chiến binh 4 5 8 60 1 Cán bộ chuyên trách Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 7 9 2 Trưởng Công an 13 5 7 37 Chỉ huy Trưởng quân sự 1 4 10 21 Văn phòng - Thống kê 5 20 18 1 8 5 44 Địa chính - Xây dựng 3 22 8 24 4 8 44 Tài chính - Kế toán 12 2 6 15 Tư pháp - Hộ tịch 3 3 17 16 5 10 39 2 Công chức cấp xã Văn hóa - xã hội 1 14 13 2 12 29 3 Cán bộ, công chức nguồn Cộng: 0 29 52 0 46 0 138 41 73 13 229 60 Nguồn: Sở Nội vụ Tuyên Quang năm 2010 178 PHỤ LỤC 15 Biểu tổng hợp quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thực hiện chương trình 21-CTr/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lãnh đạo các cơ quan, ban Đảng Tỉnh ủy Lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể tỉnh Lãnh đạo Sở, ban ngành tỉnh và tương đương Các chỉ tiêu Tổng số Ủy viên BCH đảng bộ tỉnh Ủy viên BTV Tỉnh ủy Bí thư Tỉnh ủy Phó Bí thư Tỉnh ủy Cấp trường Cấp phó Cấp trường Cấp phó Chủ tịch HĐND tỉnh Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Chủ tịch UBND tỉnh Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cấp trường Cấp phó 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 1. Số lượng 651 116 23 2 7 30 75 27 40 4 3 3 7 104 210 2. Ngoài đảng 0 3. Nữ 122 25 4 1 7 21 8 13 1 10 32 4. Dân tộc ít người 160 34 10 2 3 10 16 14 13 3 1 2 2 17 33 5. Thành phần bản thân là công nhân 6. Tuổi đời binh quân 46,67 50,39 50,5 49,57 48,37 45,57 46,33 46,12 51,25 51,25 47 49,71 48,62 45,38 - Từ 40 trở xuống 123 21 1 4 17 7 9 7 57 - Từ 41-45 92 18 1 1 4 13 2 6 1 1 9 36 - Từ 46 - 50 243 44 12 1 5 12 26 10 13 2 2 2 5 43 66 - Từ 51 - 55 159 31 8 1 1 8 19 3 6 2 1 1 35 43 - Từ 56 - 60 28 2 1 2 3 5 7 8 - Trên 60 3 2 1 7. Lý luận chính trị - Cao cấp trở lên 552 113 23 2 7 30 70 26 37 4 3 3 7 91 136 - Trung cấp 91 3 4 1 3 13 67 8. Quản lý Nhà nước 579 107 21 2 7 30 68 25 37 4 3 3 7 82 183 9. Trình độ chuyên môn 0 - Tiến sỹ, phó tiến sỹ 5 2 1 2 - Thạc sỹ 86 13 6 1 3 10 10 2 1 2 2 1 4 14 17 - Đại học, cao đẳng 559 101 17 1 4 20 65 25 39 2 1 2 3 89 190 - Trung cấp 1 1 10. Ngoại ngữ - Bằng C trở lên 163 19 4 1 2 9 15 6 18 1 1 1 34 52 - Bằng A, B 386 82 14 1 5 20 54 21 20 3 3 2 6 58 97 Nguồn: Tỉnh ủy Tuyên Quang

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_dang_bo_tinh_tuyen_quang_lanh_dao_xay_dung_doi_ngu_c.pdf
  • docTom tat (tieng Viet) cua NCS Ly Thi Thu 2.doc
  • pdfTrang thong tin Viet-Anh.pdf
Tài liệu liên quan