Luận án Nâng cao chất lượng công tác cán bộ của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Nguyễn Kim Hùng MỤC LỤC Trang LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT MỞ ĐẦU 5 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 10 1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án 10 1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề tà

doc174 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 15/01/2022 | Lượt xem: 25 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Luận án Nâng cao chất lượng công tác cán bộ của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ài luận án 17 1.3. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết 28 Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA CẤP UỶ CƠ SỞ Ở CÁC ĐẢNG BỘ HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 32 2.1. Cấp uỷ cơ sở và công tác cán bộ của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam 32 2.2. Những vấn đề cơ bản về chất lượng và nâng cao chất lượng công tác cán bộ của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam 52 Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA CẤP UỶ CƠ SỞ Ở CÁC ĐẢNG BỘ HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 71 3.1. Thực trạng nâng cao chất lượng công tác cán bộ của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam 71 3.2. Nguyên nhân và một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng công tác cán bộ của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam 98 Chương 4 YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA CẤP UỶ CƠ SỞ Ở CÁC ĐẢNG BỘ HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY 113 4.1. Những yếu tố tác động và yêu cầu nâng cao chất lượng công tác cán bộ của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay 113 4.2. Những giải pháp nâng cao chất lượng công tác cán bộ của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay 121 KẾT LUẬN 159 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 161 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 162 PHỤ LỤC 176 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt 01 Ban Bí thư BBT 02 Ban Chấp hành Trung ương BCHTW 03 Bộ Chính trị BCT 04 Bộ Quốc phòng BQP 05 Chủ nghĩa xã hội CNXH 06 Công tác cán bộ CTCB 07 Công tác đảng, công tác chính trị CTĐ, CTCT 08 Đảng Cộng sản Việt Nam ĐCSVN 09 Đội ngũ cán bộ ĐNCB 10 Giáo dục, đào tạo GD, ĐT 11 Hệ thống chính trị HTCT 12 Học viện, trường sĩ quan HV, TSQ 13 Nghiên cứu khoa học NCKH 14 Quân đội nhân dân QĐND 15 Quân ủy Trung ương QUTW 16 Trong sạch vững mạnh TSVM 17 Vững mạnh toàn diện VMTD MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài luận án Cán bộ và xây dựng ĐNCB có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng; là nhân tố gắn liền với vận mệnh của đất nước và chế độ. Chính vì vậy, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến CTCB. Đảng ta luôn xác định CTCB là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; cán bộ và CTCB là vấn đề cốt lõi của công tác tổ chức, vấn đề chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng. CTCB là công tác với con người, là công tác xây dựng con người, tạo điều kiện cho ĐNCB không ngừng tiến bộ, trưởng thành. Do đó, thường xuyên chăm lo xây dựng ĐNCB là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trực tiếp là của cấp ủy, tổ chức đảng. Cấp ủy, tổ chức đảng lãnh đạo xây dựng ĐNCB thuộc quyền, trực tiếp tiến hành CTCB theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp. Vì vậy, chất lượng CTCB của cấp ủy, tổ chức đảng trực tiếp quyết định đến sinh mệnh chính trị của mỗi cán bộ cũng như ĐNCB thuộc quyền. Các HV, TSQ quân đội là những trung tâm GD, ĐT, nghiên cứu, ứng dụng, phát triển khoa học của quân đội và của quốc gia; có vai trò rất quan trọng trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quân đội, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội là hạt nhân chính trị, lãnh đạo các mặt công tác và mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị; trực tiếp quản lý, giáo dục, rèn luyện ĐNCB, đảng viên, học viên. CTCB của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội có vai trò rất quan trọng trong nâng cao chất lượng ĐNCB; thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị; góp phần xây dựng cấp uỷ, tổ chức cơ sở đảng TSVM, xây dựng cơ quan, đơn vị VMTD. Nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò CTCB của cấp ủy cơ sở; những năm qua, đảng ủy, chỉ huy, cơ quan chức năng các HV, TSQ đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng CTCB của cấp ủy cơ sở. Chất lượng CTCB của cấp ủy cơ sở ở các HV, TSQ đã có nhiều chuyển biến tích cực; ĐNCB không ngừng được tăng cường về số lượng, chất lượng ngày càng được nâng lên, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ GD, ĐT, NCKH, xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng TSVM, nhà trường VMTD. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, CTCB của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ vẫn còn bộc lộ những hạn chế, bất cập cả về nhận thức, trách nhiệm và nội dung, hình thức, biện pháp thực hiện. Công tác quy hoạch, tạo nguồn tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, bố trí sử dụng, thực hiện chế độ chính sách đối với ĐNCB có mặt chất lượng, hiệu quả chưa cao. Một số cán bộ phẩm chất, năng lực còn hạn chế; uy tín thấp; sự chuyển biến tiến bộ của một số cán bộ chưa vững chắc. Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị và nhiệm vụ GD, ĐT, NCKH ở các HV, TSQ quân đội. Trong những năm tới, dự báo tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều thay đổi rất nhanh, phức tạp, khó lường; đất nước ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức và hạn chế. Nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng và lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại, làm nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân có bước phát triển mới, đặt ra yêu cầu ngày càng cao. Trong khi đó, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch; những tác động của mặt trái cơ chế thị trường; các tiêu cực và tệ nạn xã hội; đặc biệt là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã và đang tác động trực tiếp đến CTCB và quá trình xây dựng ĐNCB ở tất cả các cấp. Đối với các HV, TSQ quân đội, yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD, ĐT, nâng cao chất lượng NCKH, xây dựng đảng bộ HV, TSQ trong sạch vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; xây dựng nhà trường thông minh, VMTD đáp ứng yêu cầu của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đòi hỏi phải tập trung xây dựng ĐNCB có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ. Điều đó đặt ra yêu cầu khách quan phải nâng cao chất lượng CTCB của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. Từ những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn vấn đề: “Nâng cao chất lượng công tác cán bộ của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ, chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu Luận giải làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn; đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng công tác cán bộ của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. Nhiệm vụ nghiên cứu Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, khái quát kết quả nghiên cứu và chỉ ra những vấn đề luận án tập trung giải quyết. Luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn nâng cao chất lượng công tác cán bộ của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ Quân đội nhân dân Việt Nam. Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng CTCB của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ. Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng công tác cán bộ của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Nâng cao chất lượng công tác cán bộ của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ Quân đội nhân dân Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn về chất lượng và nâng cao chất lượng công tác cán bộ của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội. Tiến hành điều tra, khảo sát chất lượng, nâng cao chất lượng công tác cán bộ của cấp ủy cơ sở ở 08 HV, TSQ gồm: Học viện Chính trị, Học viện Hậu cần, Trường Sĩ quan Lục quân 2, Trường Sĩ quan Chính trị, Học viện Phòng không - Không quân, Học viện Biên Phòng, Trường Sĩ quan Thông tin, Trường Sĩ quan Pháo binh. Đối tượng tiến hành khảo sát bằng phiếu trưng cầu ý kiến là cán bộ, giảng viên ở các cơ quan chức năng, khoa giáo viên, đơn vị quản lý học viên ở 08 HV, TSQ quân đội. Các tư liệu, số liệu điều tra, khảo sát thực tiễn phục vụ luận án chủ yếu từ năm 2011 đến nay; các giải pháp của luận án có giá trị ứng dụng thực tiễn đến năm 2025. 4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận Đề tài luận án được nghiên cứu dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; về GD, ĐT, NCKH; về cán bộ, công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội. Cơ sở thực tiễn Thực tiễn chất lượng và nâng cao chất lượng công tác cán bộ của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ; các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định, các báo cáo tổng kết công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tổng kết công tác Đảng, công tác Chính trị; công tác cán bộ của QUTW, Tổng cục Chính trị, đảng uỷ HV, TSQ, các cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ; các số liệu điều tra, khảo sát của tác giả và kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố. Phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành và liên ngành, trong đó chú trọng sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp; lôgic, lịch sử; hệ thống, cấu trúc; thống kê, so sánh; tổng kết thực tiễn, điều tra xã hội học và phương pháp chuyên gia. 5. Những đóng góp mới của luận án Xây dựng và luận giải làm rõ quan niệm chất lượng, nâng cao chất lượng CTCB của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ Quân đội nhân dân Việt Nam. Rút ra một số kinh nghiệm có giá trị vận dụng nâng cao chất lượng CTCB của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ Quân đội nhân dân Việt Nam. Đề xuất một số nội dung, biện pháp cụ thể, khả thi trong các giải pháp nâng cao chất lượng CTCB của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. 6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần luận giải sâu sắc thêm những vấn đề cơ bản về nâng cao chất lượng CTCB của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ Quân đội nhân dân Việt Nam. Cung cấp thêm những luận cứ khoa học cho cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị ở các học viện, trường sĩ quan xác định chủ trương, biện pháp nâng cao chất lượng CTCB của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ. Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo nghiên cứu, giảng dạy, học tập, bồi dưỡng trong các nhà trường quân đội. 7. Kết cấu của luận án Luận án gồm: Mở đầu, 4 chương (9 tiết), kết luận, các công trình khoa học của tác giả đã được công bố, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án 1.1.1. Các công trình nghiên cứu về cán bộ và công tác cán bộ A.M. Ioblev (1979), Hoạt động của Đảng Cộng sản Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo cán bộ quân đội [90]. Tác giả khẳng định: nguồn gốc sức mạnh của các lực lượng vũ trang xô viết là ở chỗ Đảng Cộng sản Liên Xô là người tổ chức, lãnh đạo và giáo dục quân đội. Một kinh nghiệm lớn của Đảng Cộng sản Liên Xô đó là: “Đảng thường xuyên chăm lo giáo dục, xây dựng đội ngũ cán bộ sĩ quan vững về tư tưởng, giỏi về quân sự và kỹ thuật” [90, tr.3]. Đề cập đến việc xây dựng lực lượng vũ trang, tác giả đã phân tích các nghị quyết của BCHTW Đảng Cộng sản Liên Xô và khẳng định: Muốn xây dựng một quân đội mạnh phải xây dựng được ĐNCB mạnh, để có ĐNCB mạnh phải tiến hành đồng bộ tất cả các khâu, các bước của quá trình xây dựng ĐNCB; trong đó, đặc biệt chú trọng khâu đào tạo, bồi dưỡng ĐNCB. A.M. Ioblev nhấn mạnh phải luôn đổi mới mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo của các học viện, nhà trường của quân đội Xô viết. Công tác bồi dưỡng cán bộ của Hồng quân phải làm thường xuyên, liên tục, ráo riết về bản lĩnh chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, tác chiến, cách đánh và kinh nghiệm chiến đấu phù hợp với đặc điểm của từng thời kỳ, từng mặt trận của Quân đội và Hải quân Liên Xô. Chương Tư Nghị (1986), Công tác Đảng, công tác Chính trị của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc [109]. Trong phần 4, từ chương 13-16 có 13 bài giảng là nội dung về xây dựng ĐNCB. Đặt vấn đề cho mặt công tác này, tác giả khẳng định “Con người là gốc của mọi sáng nghiệp, đối với quân đội, CTCB là cái gốc của công tác xây dựng quân đội, xây dựng hiện đại hóa quân đội phải dựa vào cán bộ” [101, tr.312]. Để đạt được điều đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc từ trước tới nay luôn lấy việc tăng cường xây dựng ĐNCB là một nhiệm vụ tổ chức quan trọng, là một bộ phận cấu thành công tác chính trị của quân đội. Trung Quốc chủ trương xây dựng ĐNCB Đảng, chính quyền theo phương châm “bốn hóa”: cách mạng hóa, trẻ hóa, trí thức hóa, chuyên nghiệp hóa. Việc thực hiện phương châm đó có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác xây dựng ĐNCB quân đội. Tác giả xác định nguyên tắc cơ bản của CTCB là: đề bạt cán bộ lấy đức tài làm trọng, đức tài song toàn; quản lý, đánh giá cán bộ theo quan điểm phát triển toàn diện và nguyên tắc dùng người theo tài năng. Cách làm chính của công tác xây dựng ĐNCB là phải quy hoạch đào tạo, quy phạm chặt chẽ về tiêu chuẩn, quy trình và yêu cầu đối với các khâu, các bước của công tác tạo nguồn cán bộ, mở rộng dân chủ, thực hiện đường lối quần chúng, đi sâu sát các địa phương, ban, ngành; sử dụng biện pháp đào tạo, bồi dưỡng da dạng, kết hợp với rèn luyện thực tiễn, nắm chắc nguồn đầu vào, tuyển chọn ở các trường đại học, cao đẳng những sinh viên tốt nghiệp khá, giỏi, có đạo đức tốt để đào tạo và rèn luyện tại cơ sở một cách có kế hoạch. Nhiệm Khắc Lễ (1995), Công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay [97]. Tác giả cuốn sách đã khẳng định: “Sau khi xác định đường lối chính trị, cán bộ là nhân tố quyết định. Then chốt quyết định sự nghiệp của Đảng phát triển có thuận lợi hay không, chính là vấn đề cán bộVì vậy hiện nay, xây dựng ĐNCB là vấn đề bức bách và quan trọng” [97, tr.268]. Mục III, chương V tập trung làm rõ “vai trò quyết định của cán bộ” đó là: 1. Cán bộ Đảng là nhân tố quyết định trong việc thực hiện sự lãnh đạo của Đảng. 2. Cán bộ của Đảng không chỉ là người định ra đường lối chung, phương châm, chính sách của Đảng, mà còn là người định ra các chính sách của các tổ chức các cấp của Đảng và ngành. 3. Cán bộ của Đảng là người chấp hành cụ thể đường lối, phương châm, chính sách của Đảng. 4. Cán bộ có vai trò đặc biệt trong uốn nắn Đảng phong. 5. Cán bộ có vai trò quyết định trong vấn đề người kế tục sự nghiệp của Đảng. Trong xây dựng ĐNCB, vấn đề hàng đầu là xác định tiêu chuẩn cán bộ phải vừa có đức vừa có tài, không thể thiên lệch; sau đó là lựa chọn và bổ nhiệm cán bộ theo hướng hiểu người, biết dùng người; giải quyết tốt mối quan hệ giữa “ổn định” và “xông lên”, mạnh dạn sử dụng nhân tài dám xông lên, dám thể nghiệm. Muốn vậy, phải “xây dựng chế độ cán bộ”, tức là những “pháp quy hoặc chuẩn tắc hành động do tổ chức có liên quan của Đảng và Nhà nước định ra, dựa vào trình tự đó để làm việc, quản lý và ràng buộc cán bộ” [97, tr.289] với 4 nội dung chủ yếu là: Hiểu đúng đắn và kiên trì nguyên tắc Đảng quản lý cán bộ. Kiên trì chế độ tập hợp tập thể lãnh đạo và phân công cá nhân phụ trách. Thực hiện thiết thực chế độ luân chuyển cán bộ. Tăng cường công tác khảo sát và kiểm tra kỷ luật cán bộ. Vôngxavăn Xaynhavông (2013), “Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở Lào-Thực trạng và giải pháp” [143]. Tác giả bài báo đã phân tích những ưu điểm, hạn chế của công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNCB công chức ở Lào từ năm 2006 đến năm 2012. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp đào tạo, bồi dưỡng ĐNCB công chức ở Lào hiện nay là: tiến hành phân loại cán bộ công chức để có các hình thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với yêu cầu sử dụng và trình độ cán bộ, công chức; thực hiện đào tạo, bồi dưỡng theo quy hoạch, gắn chặt với quy hoạch cán bộ, công chức; đầu tư hợp lý và có chế độ, chính sách thích hợp cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức; thực hiện đào tạo, bồi dưỡng toàn diện; đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng, chăm lo xây dựng đội ngũ giảng viên có trình độ cao và tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức. Sẳmlan Phănkhảvông (2014), Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng cấp tỉnh của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nay [114]. Luận án đã khái quát kinh nghiệm “Thực hiện đồng bộ các khâu của CTCB, trong đó tập trung hơn vào thu hút cán bộ có đức, có tài để đào tạo, bồi dưỡng thành những cán bộ chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng đáp ứng tốt nhiệm vụ” [114, tr.112] và “Phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ ở Trung ương để đẩy mạnh hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là nhân tố không thể thiếu để xây dựng ĐNCB chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng của tỉnh, thành phố có chất lượng tốt”[114, tr.113]. Theo tác giả, trong giai đoạn hiện nay để nâng cao chất lượng ĐNCB này cần tập trung vào một số giải pháp như: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy tỉnh, thành phố, ĐNCB, đảng viên về xây dựng ĐNCB chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng. Cụ thể hóa tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ, công chức chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng. Xây dựng và thực hiện quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, đánh giá, sử dụng và thực hiện chính sách đối với cán bộ. Ban hành cơ chế, chính sách và đề ra các biện pháp về tư tưởng, tổ chức để đẩy mạnh việc tự đào tạo, rèn luyện của cán bộ. Lý Lương Đống (Chủ biên) (2020), Nghiên cứu vấn đề cải cách và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc [73]. Tác giải cuốn sách đã khái quát đặc điểm của cán bộ, công chức ở Trung Quốc như sau: Cán bộ, công chức của Trung Quốc là một khái niệm rộng hơn nhiều so với các nước khác, gần như bao trùm phạm vi của khái niệm cán bộ thông thường; phạm vi của cán bộ, công chức của Trung Quốc không chỉ bao gồm cán bộ, nhân viên của cơ quan nhà nước, hơn nữa bao gồm cả cán bộ làm công tác Đảng của đảng cầm quyền; cán bộ, nhân viên của các đơn vị sự nghiệp công, nhân viên quản lý giám sát và kinh doanh tài sản nhà nước và tập thể, cũng như cán bộ, nhân viên trong các đoàn thể nhân dân và một số đoàn thể xã hội [73, tr.340]. Đặc điểm này quyết định tính rộng rãi của chủ thể quyền lực ở Trung Quốc nhưng cũng đặt ra những thách thức gay gắt đối với việc củng cố địa vị cầm quyền của Đảng; biểu hiện như lòng nhiệt tình cách mạng và ý thức trách nhiệm của một số cán bộ, đảng viên không cao, tư tưởng, tác phong không đúng đắn; xa rời quần chúng, tham nhũng, thoái hóa, biến chất làm suy giảm quyền uy của Đảng và niềm tin của quần chúng nhân dân. 1.1.2. Các công trình nghiên cứu về chất lượng, nâng cao chất lượng công tác cán bộ Bunlon Saluôisắc (2014), Xây dựng đội ngũ thủ trưởng chính trị ở các trung đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay [128]. Luận án đã khái quát hình thức tổ chức của tổ chức cơ sở đảng trong Quân đội nhân dân Lào như sau: tiểu đoàn có đảng bộ cơ sở, đảng bộ các trung đoàn bộ binh là tổ chức đảng cấp trên cơ sở. Bàn về nhận thức, trách nhiệm, nhiệm vụ của đảng ủy tiểu đoàn trong xây dựng đội ngũ thủ trưởng chính trị, tác giả phân tích: Trong công tác quy hoạch, “Đảng ủy tiểu đoàn xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ xây dựng đội ngũ thủ trưởng chính trị ở Tiểu đoàn trong từng giai đoạn, từng thời điểm bảo đảm khoa học, phù hợp. Gắn quy hoạch, sắp xếp thủ trưởng chính trị tiểu đoàn với kiện toàn cấp ủy đảng và gắn với nhiệm kỳ đại hội đảng các cấp” [128, tr.135]. Đổi mới việc bố trí, sử dụng đội ngũ thủ trưởng chính trị ở các tiểu đoàn theo hướng mạnh dạn bố trí, sắp xếp cán bộ trẻ; giữ vững ổn định lâu dài. Kouyang Sisomblong (2016), Chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy ở các Trường Chính trị - Hành chính tỉnh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào giai đoạn hiện nay [129]. Luận án đưa ra quan niệm: Chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy ở các trường Chính trị - Hành chính tỉnh nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào là tổng hợp các thuộc tính, đặc trưng của người cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, bảo đảm cho họ hoàn thành nhiệm vụ được giao, bao gồm phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; năng lực công tác; số lượng và cơ cấu, giới tính, dân tộc, tôn giáo, thành phần xuất thân, tuổi đời, tuổi đảng, tuổi nghề và kết quả thực hiện nhiệm vụ của từng cán bộ nghiên cứu, giảng dạy [129, tr.53]. Tiêu chí đánh giá chất lượng ĐNCB gồm: nhóm tiêu chí về số lượng, cơ cấu đội ngũ; nhóm tiêu chí về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng; nhóm tiêu chí về trình độ chuyên môn, năng lực giảng dạy và NCKH của từng người; nhóm tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ của cán bộ. Bàn về trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng; tác giả cho rằng cần phải nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng; cải tiến và hoàn thiện các khâu trong xây dựng ĐNCB nghiên cứu, giảng dạy; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ của cấp ủy, chính quyền, cơ quan chức năng và nhà trường cấp trên. Bunthăn Chănthạlyma (2016), Bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán bộ các cơ quan chiến lược Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Lào hiện nay [27]. Bàn về trách nhiệm của chủ thể bồi dưỡng năng lực công tác của ĐNCB, tác giả luận giải như sau: Trên cơ sở đánh giá đúng chất lượng đội ngũ cán bộ, cấp ủy, tổ chức đảng xác định những chủ trương, phương hướng bồi dưỡng; tổ chức phổ biến, động viên, quán triệt các lực lượng tích cực, chủ động tham gia bồi dưỡng; thủ trưởng quân chính các cơ quan phân công tổ chức thực hiện, điều hành quản lý chung hoạt động bồi dưỡng trong tổng thể các hoạt động của cơ quan theo chức trách và quyền hạn đã xác định, tạo điều kiện thời gian, cơ sở vật chất, tài chính và giám sát, kiểm tra, động viên, nhắc nhở cán bộ và các lực lượng thực hiện tốt nhiệm vụ bồi dưỡng [27, tr.59 - 60]. Neang Phát (2016), Xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội Hoàng gia Campuchia hiện nay [113] Luận án đã rút ra một số kinh nghiệm trong xây dựng ĐNCB Quân đội Hoàng gia Campuchia như: Các cấp, các ngành, các tổ chức, các lực lượng CTCB nhận thức đúng đắn, đầy đủ về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng ĐNCB. Thực hiện đúng đắn, nhất quán những quy định về tiêu chuẩn chức danh cán bộ; giải quyết tốt mối quan hệ giữa số lượng với chất lượng và cơ cấu đội ngũ. Kết hợp chặt chẽ nhiều hình thức đào tạo, bồi dưỡng; thường xuyên coi trọng công tác giáo dục, rèn luyện ĐNCB các cấp trong thực tiễn xây dựng, chiến đấu và công tác. Xây dựng ĐNCB các cấp trong Quân đội Hoàng gia Campuchia phải gắn với xây dựng, hoàn thiện hệ thống tổ chức biên chế của quân đội và các đơn vị. Để xây dựng ĐNCB Quân đội Hoàng gia Campuchia hiện nay, luận án đề xuất những giải pháp cơ bản là: Tạo sự chuyển biến về nhận thức trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng đối với xây dựng ĐNCB Quân đội Hoàng gia Campuchia. Thực hiện tốt quy hoạch, tạo nguồn và tuyển chọn ĐNCB. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNCB. Làm tốt công tác quản lý, đánh giá, bố trí sử dụng ĐNCB. Thực hiện tốt chính sách đối với cán bộ. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng trong xây dựng xây dựng ĐNCB Quân đội Hoàng gia Campuchia. Lý Thận Minh (Chủ biên) (2017), Tính trước nguy cơ - suy ngẫm sau 20 năm Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng [107]. Cuốn sách khẳng định: Đường lối cán bộ là bộ phận cấu thành quan trọng của đường lối tổ chức. Đường lối cán bộ của Đảng Cộng sản Liên Xô là tư tưởng và nguyên tắc chỉ đạo trong việc tuyển chọn, bồi dưỡng và phân bổ cán bộ của Đảng Cộng sản Liên Xô. Vì vậy, vấn đề cán bộ là vấn đề hạt nhân trong việc điều hành và xây dựng đất nước của Đảng Cộng sản Liên Xô [107, tr.569]. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự suy yếu trong lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Liên Xô là vấn đề “nói một đằng, làm một nẻo” trong đường lối cán bộ của Đảng Cộng sản Liên Xô. Đó là “Chủ nghĩa hình thức trong công tác giáo dục và bồi dưỡng cán bộ; tư tưởng chủ quan trong công tác tuyển chọn và bổ nhiệm cán bộ cũng như chủ nghĩa thực dụng trong công tác sát hạch và đánh giá cán bộ” [107, tr.574]. Từ đó, “công bộc của xã hội” trở thành “chủ nhân của xã hội”, “con cái” của nhân dân trở thành “cha mẹ” của nhân dân. Ngoài ra, cuốn sách còn đi sâu phân tích vai trò, địa vị và vấn đề tổ chức cơ sở Đảng Cộng sản Liên Xô cũng là nguyên nhân dẫn đến sự suy yếu trong lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Liên Xô. Sinnakhone Douangbandith (2020), “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức các Ban Tổ chức Tỉnh ủy của nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào” [39]; tác giả bài báo luận giải, chất lượng của đội ngũ công chức các Ban Tổ chức Tỉnh ủy là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để nâng cao chất lượng tham mưu cho sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào. Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức các Ban Tổ chức Tỉnh ủy sẽ góp phần xây dựng đội ngũ công chức của Đảng và Nhà nước Lào vững mạnh, đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, bài báo đã đề xuất một số giải pháp như: hoàn thiện hệ thống chính sách; đổi mới công tác tuyển dụng công chức; nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng; xây dựng các tiêu chí đánh giá công chức; cải thiện điều kiện, môi trường làm việc; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát. Trong đó, giải pháp thứ tư: Xây dựng các tiêu chí đánh giá công chức “Tiêu chí về ý thức tổ chức kỷ luật, phẩm chất đạo đức; về năng lực và kỹ năng công tác; về kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao” [39, tr.78], có vai trò rất quan trọng, mang tính đột phá trong nâng cao chất lượng đội ngũ công chức các Ban Tổ chức Tỉnh ủy của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. 1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài luận án 1.2.1. Các công trình nghiên cứu về cán bộ và công tác cán bộ của Đảng Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (2001), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [135]. Nhóm tác giả đã tập trung làm sáng tỏ luận cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng ĐNCB; đề cập những vấn đề lý luận và phương pháp nâng cao chất lượng ĐNCB thời kỳ mới; xây dựng và phân tích khái niệm cán bộ, phân loại cán bộ; khái niệm chuyên gia, cán bộ lãnh đạo, chính khách. Công trình đã làm rõ những nội dung: vị trí, vai trò của cán bộ và CTCB; tiêu chuẩn cán bộ; phát hiện, lựa chọn, đánh giá, sử dụng và cân nhắc cán bộ; huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; công tác kiểm tra, quản lý và chính sách đối với cán bộ. Nhóm tác giả rút ra những kinh nghiệm xây dựng ĐNCB trong các thời kỳ cách mạng của Đảng, trong đó cơ bản, xuyên suốt là phải xuất phát từ lập trường giai cấp công nhân, vì lợi ích dân tộc, chuẩn bị đường lối chính trị, đường lối tổ chức và chiến lược cán bộ, coi trọng tiêu chuẩn cán bộ và trọng dụng nhân tài. Trần Đình Hoan (2008), Đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [81]. Tác giả đã đi sâu nghiên cứu cơ sở phương pháp luận của CTCB ở nước ta, những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đối với công tác đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ. Trong chương 3, tác giả đã đặt ra vấn đề đổi mới, nâng cao hiệu quả CTCB là: “Làm thế nào để có một cơ chế ràng buộc trách nhiệm, kiểm tra, đánh giá lẫn nhau nhưng lại quy rõ trách nhiệm cá nhân trong đánh giá và sử dụng cán bộ” [81, tr.401]. Điều đó phụ thuộc rất lớn vào khâu chuẩn bị và tổ chức thực hiện. Trách nhiệm của cấp uỷ là thảo luận để đưa ra quyết định phải dân chủ, khách quan, công bằng. Người đứng đầu chịu trách nhiệm thi hành quyết định của tập thể. Để sự phối hợp này được nhịp nhàng phải có cơ chế giám sát để vừa đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, vừa khắc phục được những yếu tố chủ quan, tiêu cực trong tiến hành CTCB. Cầm Thị Lai (2012), Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, hành chính cho đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc giai đoạn hiện nay [93]. Luận án đã luận giải làm rõ vị trí, vai trò của ĐNCB chuyên trách cấp xã là những người liên hệ trực tiếp, mật thiết, thường ngày với nhân dân, giải quyết những vấn đề liên quan đến mọi mặt đời sống của nhân dân ở cơ sở; góp phần quan trọng trong xây dựng, củng cố HTCT và tạo nguồn lãnh đạo, quản lý cho địa phương. Đào tạo, bồi dưỡng ĐNCB cấp xã là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong thực hiện công chức hóa, chuẩn hóa, trẻ hóa; nâng cao kiến thức, trình độ, giác ngộ cho ĐNCB cấp xã. Đảng ủy xã cần thực hiện nghiêm túc việc lựa chọn, quy hoạch, sử dụng ĐNCB cấp xã; nâng cao trình độ, năng lực của ĐNCB trực tiếp thực hiện các khâu của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Cấp ủy cơ sở và cấp ủy cấp trên trực tiếp phải phối hợp chặt chẽ với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng để quản lý cán bộ; phân công, bổ nhiệm cán bộ chuyên trách cấp xã theo đúng năng lực, sở trường; thực hiện đồng bộ các chế độ, chính sách đối với ĐNCB chuyên trách cấp xã. Nguyễn Minh Tuấn (2012), Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá [138]. Tác giả khẳng định: “nhiệm vụ then chốt” là đổi mới, chỉnh đốn Đảng thì xây dựng ĐNCB là “khâu then chốt”. Chủ thể của CTCB là cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng, cơ quan tham mưu là ban tổ chức của cấp uỷ các cấp, lực lượng tham gia là các tổ chức trong hệ thống chính trị và toàn xã hội. Tuy nhiên, nhiều cấp uỷ đảng chưa nhận thức đúng và chưa làm đúng như vị trí, vai trò không thể phủ nhận của nó trong thời gian qua. Để tập thể cấp uỷ có quyết định đúng, từng uỷ viên phải thực sự phát huy dân chủ trong tất cả các khâu của CTCB. Đồng thời tiếp tục cụ thể hoá, thể...hòng (ban) sau đại học, phòng (ban) khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT, phòng (ban) thông tin khoa học quân sự, phòng (ban) Tài chính, ban Quản lý dự án; riêng Học viện Quốc phòng có một số cục thay cho phòng. Một số HV, TSQ có viện nghiên cứu; tạp chí khoa học; trường đào tạo; bệnh viện, trung tâm nghiên cứu, huấn luyện, thực hành và đơn vị phục vụ bảo đảm. Các khoa giáo viên gồm: Khoa khoa học cơ bản, khoa khoa học cơ sở, khoa chuyên ngành. Cơ cấu tổ chức của các khoa gồm: Chỉ huy khoa, các bộ môn và đội ngũ giảng viên, trợ giảng. Các đơn vị quản lý học viên gồm: Các hệ, tiểu đoàn quản lý học viên; dưới hệ có các lớp; dưới tiểu đoàn có các đại đội, trung đội quản lý học viên. Hệ thống tổ chức đảng ở các HV, TSQ gồm: Các đảng bộ HV, TSQ trực thuộc QUTW và các đảng bộ HV, TSQ trực thuộc đảng bộ tổng cục, quân chủng, binh chủng, Bộ đội Biên phòng (đảng bộ cấp trên cơ sở). Các đảng ủy HV, TSQ quân đội là ban chấp hành đảng bộ - cơ quan lãnh đạo của đảng bộ HV, TSQ quân đội giữa hai kỳ đại hội; có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, các mối quan hệ công tác theo Điểm II, Mục B, Quy định số 59 của BCT “về tổ chức Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam” [17, tr.9-13]. Đảng ủy HV, TSQ trực thuộc QUTW có số lượng từ 9 đến 17 ủy viên. Đảng ủy HV, TSQ trực thuộc các đảng ủy tổng cục và các đảng ủy quân chủng, binh chủng có số lượng từ 9 đến 15 ủy viên. Tổ chức cơ sở đảng ở các HV, TSQ được thiết lập ở các cơ quan chức năng, các khoa giáo viên, đơn vị quản lý học viên. Hệ thống tổ chức cơ sở đảng gồm tổ chức cơ sở đảng hai cấp và một cấp. Các tổ chức quần chúng trong các HV, TSQ gồm: Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn cơ sở, Hội phụ nữ cơ sở được thành lập ở các cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị. Hội đồng quân nhân được thành lập ở các cơ quan chức năng, khoa giáo viên, đơn vị quản lý học viên. Chức năng, nhiệm vụ của các HV, TSQ quân đội: Điều lệ Công tác nhà trường QĐND Việt Nam [24, tr.5-6] quy định: các HV, TSQ quân đội có chức năng thực hiện nhiệm vụ GD, ĐT, NCKH, xây dựng nhà trường quân đội chính quy, cấp văn bằng, chứng chỉ theo quy định của Nhà nước và BQP. Các HV, TSQ có nhiệm vụ: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, sĩ quan quân đội, giảng viên, đào tạo sau đại học; đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng-an ninh, lý luận chính trị cao cấp và tham gia đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; thực hiện liên kết, hợp tác, tham gia GD, ĐT, NCKH trong nước và quốc tế; bồi dưỡng năng lực thực hành cho cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ, hạ sĩ quan, binh sĩ theo yêu cầu của quân đội. Nghiên cứu, ứng dụng, phát triển hoạt động khoa học và công nghệ, khoa học quân sự, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học chuyên ngành phục vụ quân sự, hợp tác trao đổi khoa học trong GD, ĐT, NCKH, sáng kiến cải tiến kỹ thuật quân sự. Huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, xây dựng nhà trường chính quy, tiên tiến, mẫu mực; rèn luyện kỷ luật, chấp hành điều lệnh, điều lệ và các chế độ, quy định của quân đội. Xây dựng các HV, TSQ vững mạnh toàn diện. Xây dựng đảng bộ nhà trường TSVM, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao. Thực hiện các nhiệm vụ khác khi được cấp trên giao. Cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ học viện, trường sĩ quan quân đội Quan niệm, hình thức tổ chức, cơ cấu cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ Điểm 2, Điều 9, Điều lệ ĐCSVN quy định: “Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên. Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là BCHTW, ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp ủy)” [55 tr.7]. Theo đó, có thể quan niệm: Cấp uỷ cơ sở (ban chấp hành đảng bộ, chi bộ cơ sở) ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội (hội nghị), được đại hội đảng bộ (chi bộ) cơ sở bầu ra hoặc cấp ủy cấp trên chỉ định theo quy định của Điều lệ Đảng, của BCHTW, BCT, BBT, QUTW và hướng dẫn của Tổng cục Chính trị; là hạt nhân chính trị lãnh đạo mọi mặt hoạt động ở các cơ quan, đơn vị cơ sở; nghiên cứu, đề xuất với đảng ủy (Ban thường vụ) HV, TSQ những vấn đề có liên quan đến nhiệm vụ chính trị và CTĐ, CTCT. Hình thức tổ chức của cấp uỷ cơ sở: Cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ tổ chức và hoạt động theo quy định của Điều lệ Đảng, của BCHTW, BCT, BBT, QUTW, hướng dẫn của Tổng cục Chính trị. Đảng ủy cơ sở được lập ở các phòng, một số khoa giáo viên, viện nghiên cứu, hệ, tiểu đoàn; đảng ủy cơ sở có ủy ban kiểm tra đảng ủy; số lượng đảng uỷ viên đảng ủy cơ sở là 5 đến 7 uỷ viên; dưới là các chi ủy trực thuộc như chi ủy ban, chi ủy bộ môn, chi ủy lớp, chi ủy đại đội. Chi ủy cơ sở được lập ở các ban trực thuộc ban giám đốc (ban giám hiệu), một số khoa giáo viên, tạp chí; cơ quan, đơn vị phục vụ, bảo đảm; số lượng chi uỷ viên chi ủy cơ sở là 3 đến 5 uỷ viên. Cơ cấu của cấp uỷ cơ sở: Cơ cấu tham gia vào cấp ủy cơ sở cơ quan chức năng thường là trưởng phòng, phó trưởng phòng, một số trưởng ban (phó trưởng ban) và cán bộ phụ trách đầu ngành; một đồng chí phó trưởng phòng (phó trưởng ban) là bí thư cấp uỷ; đồng chí trưởng phòng (trưởng ban) là phó bí thư cấp uỷ. Đối với khoa giáo viên, thành phần tham gia cấp ủy cơ sở thường là trưởng khoa, phó trưởng khoa, một số chủ nhiệm bộ môn; một đồng chí phó trưởng khoa là bí thư cấp uỷ; đồng chí trưởng khoa là phó bí thư cấp uỷ. Đối với các đơn vị quản lý học viên, thành phần tham gia cấp ủy cơ sở thường là hệ trưởng (tiểu đoàn trưởng), chính trị viên hệ (chính trị viên tiểu đoàn), phó hệ trưởng (phó tiểu đoàn trưởng), một số lớp trưởng (đại đội trưởng) và lớp phó (chính trị viên đại đội); đồng chí chính trị viên hệ (chính trị viên tiểu đoàn) là bí thư cấp uỷ, đồng chí hệ trưởng (tiểu đoàn trưởng) là phó bí thư cấp uỷ. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ học viện, trường sĩ quan Quân đội Căn cứ Quy định số 59-QĐ/TW ngày 22/12/2016 của BCT “về tổ chức đảng trong QĐND Việt Nam” [17] và Quy định số 116-QĐ/TW ngày 25/01/2018 của BBT Trung ương Đảng khóa XII về “chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở ở học viện, nhà trường trong QĐND Việt Nam” [1]; có thể khái quát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội hiện nay như sau: Về chức năng: Cấp ủy cơ sở ở học viện, nhà trường trong quân đội là hạt nhân chính trị, lãnh đạo các mặt công tác, mọi hoạt động của đơn vị; nghiên cứu, đề xuất với cấp trên những vấn đề có liên quan đến lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và CTĐ, CTCT. Về nhiệm vụ của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội Thứ nhất, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị Cấp ủy cơ sở ở các cơ quan: Nghiên cứu, nắm vững nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên; thực hiện tốt chức năng tham mưu, đề xuất với đảng ủy, ban giám đốc (giám hiệu) nhà trường những chủ trương, biện pháp lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ GD, ĐT, NCKH, hoạt động CTĐ, CTCT và các hoạt động khác; chỉ đạo, hướng dẫn cơ quan, đơn vị và tổ chức thực hiện các mặt công tác theo chức năng, nhiệm vụ; lãnh đạo xây dựng cơ quan VMTD. Cấp ủy cơ sở ở các khoa giáo viên: Lãnh đạo đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giảng dạy và NCKH; xây dựng đội ngũ giáo viên; chấp hành nghiêm quy chế GD, ĐT của nhà trường; lãnh đạo xây dựng khoa giáo viên VMTD. Cấp ủy cơ sở ở các đơn vị quản lý học viên: Lãnh đạo đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ tổ chức quản lý, giáo dục, rèn luyện học viên; xây dựng ĐNCB quản lý; xây dựng đơn vị chính quy, VMTD. Thứ hai, lãnh đạo công tác hậu cần, kỹ thuật, tài chính Lãnh đạo công tác bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần đối với cán bộ, đảng viên và quần chúng trong đơn vị và chính sách hậu phương quân đội. Lãnh đạo chấp hành nghiêm việc quản lý, sử dụng vũ khí, trang bị, cơ sở vật chất hậu cần, kỹ thuật, tài chính, đất quốc phòng; thực hành tiết kiệm, không để xảy ra tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, mất mát, hư hỏng. Thứ ba, lãnh đạo công tác tư tưởng Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phát huy truyền thống dân tộc, truyền thống của Đảng, Quân đội và đơn vị; xây dựng tinh thần làm chủ, tình đoàn kết, hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau trong cán bộ, đảng viên và quần chúng; kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên, quần chúng để giải quyết và báo cáo lên cấp trên. Thường xuyên bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nâng cao trình độ chính trị, kiến thức và năng lực công tác; xây dựng ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ. Thứ tư, lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ Lãnh đạo xây dựng và thực hiện nghiêm quy hoạch, kế hoạch CTCB theo phân cấp. Xây dựng ĐNCB có số lượng đủ và nguồn dự trữ; có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức tốt; có trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tiễn; có năng lực giảng dạy, quản lý và NCKH đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của học viện, nhà trường. Kết hợp xây dựng ĐNCB với xây dụng đội ngũ đảng viên. Cấp ủy cơ sở xây dựng và thực hiện đúng quy chế về CTCB theo quy định; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập thể đảng uỷ, chi bộ thống nhất lãnh đạo và quyết định mọi mặt CTCB trong đơn vị theo phân cấp. Lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức chỉ huy vững mạnh; thực hiện đúng quy định của cấp trên về tổ chức, biên chế đơn vị; xây dựng đơn vị VMTD. Thứ năm, lãnh đạo các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân Lãnh đạo xây dựng các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân vững mạnh, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của cấp trên và điều lệ của mỗi tổ chức. Lãnh đạo xây dựng và thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Thứ sáu, xây dựng tổ chức đảng Cấp ủy cơ sở đề ra chủ trương, nhiệm vụ và biện pháp xây dựng đảng bộ, chi bộ TSVM gắn với xây dựng đơn vị VMTD; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp uỷ, tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên. Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong đảng bộ, chi bộ. Xây dựng cấp uỷ có đủ phẩm chất, năng lực, hoạt động có hiệu quả và là trung tâm đoàn kết, thống nhất trong đảng bộ, chi bộ và đơn vị. Kết hợp chặt chẽ xây dựng cấp uỷ với xây dụng ĐNCB chủ trì. Thứ bảy, lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng Cấp ủy cơ sở lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định của cấp trên, cấp mình và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Về quyền hạn của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội Thứ nhất, quyết định thành lập, giải thể tổ chức đảng trực thuộc Thứ hai, chuẩn y kết quả bầu cử cấp ủy, bí thư, phó bí thư; chỉ định bổ sung cấp ủy viên cấp ủy trực thuộc Thứ ba, đề nghị hoặc quyết định khen thưởng, kỷ luật đối với tổ chức đảng, đảng viên; quản lý, sử dụng tài chính đảng theo Điều lệ Đảng và các quy định, hướng dẫn của cấp trên Về mối quan hệ công tác của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ Quan hệ giữa cấp ủy cơ sở với đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy HV, TSQ quân đội là mối quan hệ giữa phục tùng sự lãnh đạo và lãnh đạo. Cấp ủy cơ sở phải phục tùng sự lãnh đạo trực tiếp của đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy HV, TSQ quân đội; quán triệt và chấp hành nghiêm nghị quyết, chỉ thị của đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy HV, TSQ. Thực hiện đúng chế độ báo cáo tình hình và chủ động xin ý kiến giải quyết những vấn đề vượt phạm vi, quyền hạn của cấp mình. Quan hệ giữa cấp ủy cơ sở với giám đốc (hiệu trưởng), chính ủy HV, TSQ là mối quan hệ giữa phục tùng sự chỉ đạo và chỉ đạo. Cấp ủy cơ sở phải phục tùng sự chỉ đạo của giám đốc (hiệu trưởng), chính ủy HV, TSQ. Giám đốc (hiệu trưởng), chính ủy HV, TSQ thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra mọi hoạt động của cấp ủy cơ sở; nhất là trong chỉ đạo, quản lý, điều hành nhiệm vụ GD, ĐT, NCKH, CTĐ, CTCT, xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng TSVM. Quan hệ giữa cấp ủy cơ sở với cơ quan chính trị; ủy ban kiểm tra đảng ủy HV, TSQ là quan hệ giữa chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và chỉ đạo, hướng dẫn về CTĐ, CTCT và công tác kiểm tra, giám sát. Cấp ủy cơ sở chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm tra của cơ quan chính trị HV, TSQ và ủy ban kiểm tra đảng ủy HV, TSQ về CTĐ, CTCT và công tác kiểm tra, giám sát. Quan hệ giữa cấp ủy cơ sở với chính trị viên (bí thư cấp uỷ), người chỉ huy đơn vị là mối quan hệ giữa lãnh đạo và phục tùng. Chính trị viên (bí thư cấp uỷ), người chỉ huy phải phục tùng sự lãnh đạo của cấp ủy cơ sở; kịp thời báo cáo tình hình đơn vị và mọi nhiệm vụ được cấp trên giao; đề xuất chủ trương, biện pháp lãnh đạo để cấp ủy cơ sở thảo luận, quyết định và có trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm nghị quyết theo chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn. Cấp ủy cơ sở tạo điều kiện để chính trị viên (bí thư cấp uỷ), người chỉ huy thực hiện nhiệm vụ theo chức trách, quyền hạn. Quan hệ giữa bí thư đảng uỷ, chi bộ (chính trị viên) với người chỉ huy đơn vị là mối quan hệ phối hợp công tác. Bí thư đảng uỷ, chi bộ (chính trị viên) và người chỉ huy đơn vị phải kịp thời thông báo và trao đổi cho nhau các nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên; thống nhất đánh giá tình hình, đề xuất chủ trương, biện pháp lãnh đạo, báo cáo đảng uỷ, chi bộ quyết định. Trường hợp có ý kiến khác nhau phải cùng nhau trao đổi để thống nhất, nếu đã trao đổi kỹ mà chưa thống nhất phải kịp thời đưa ra đảng uỷ, chi bộ thảo luận, quyết định hoặc báo cáo cấp trên quyết định. Quan hệ giữa đảng ủy cơ sở với với cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và ủy ban kiểm tra đảng ủy cấp mình là mối quan hệ giữa lãnh đạo với phục tùng sự lãnh đạo. Đảng ủy cơ sở thường xuyên nắm chắc tình hình, xác định chủ trương, biện pháp xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới một cách cụ thể, phù hợp; trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát, tổ chức và hoạt động của ủy ban kiểm tra đảng ủy cấp mình. Cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới, ủy ban kiểm tra đảng ủy phải phục tùng sự lãnh đạo, chỉ đạo và luôn quán triệt, chấp hành nghiêm nghị quyết, kế hoạch của đảng ủy cơ sở. Quan hệ giữa cấp ủy cơ sở với các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân trong đơn vị là mối quan hệ giữa lãnh đạo và phục tùng. Các tổ chức qụần chúng và hội đồng quân nhân đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt của cấp ủy cơ sở. Cấp ủy cơ sở có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân trong đơn vị vững mạnh, tạo mọi điều kiện cho các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân hoạt động có hiệu quả, đúng chức năng, nhiệm vụ; chăm lo sự tiến bộ, trưởng thành và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của quần chúng. Quan hệ giữa cấp ủy cơ sở với cấp uỷ, chính quyền địa phương và các cơ quan, đơn vị trên địa bàn là mối quan hệ phối hợp công tác. Cấp ủy cơ sở có trách nhiệm thông báo tình hình, nhiệm vụ có liên quan với cấp uỷ, chính quyền địa phương và phối hợp với các cơ quan, đơn vị trên địa bàn để thống nhất chủ trương, biện pháp lãnh đạo các nhiệm vụ theo sự chỉ đạo của cấp trên và của cấp uỷ, chính quyền địa phương. Cấp uỷ, chính quyền địa phương có trách nhiệm thông báo cho cấp ủy cơ sở tình hình và nhiệm vụ của địa phương có liên quan; lãnh đạo nhân dân và các ban, ngành, đoàn thể địa phương giúp đỡ đơn vị hoàn thành nhiệm vụ. 2.1.2. Cán bộ và công tác cán bộ của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam Quan niệm đội ngũ cán bộ ở các cơ quan, đơn vị cơ sở học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam Từ điển tiếng Việt định nghĩa cán bộ là: “1. Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước. Cán bộ nhà nước. Cán bộ khoa học. Cán bộ chính trị. 2. Người làm công tác trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ” [140, tr.109]. Theo Hồ Chí Minh: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ để đề đạt chính sách cho đúng” [103, tr.309]. Luật Cán bộ, công chức xác định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của ĐCSVN, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [125, tr.1]. Từ điển CTĐ, CTCT trong QĐND Việt Nam quan niệm: “Cán bộ quân đội là cán bộ của ĐCSVN và Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam hoạt động trong quân đội; được bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo, chỉ huy quản lý bộ đội, đảm nhiệm các công việc chuyên biệt, chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ khác” [141, tr 46-47]. Cán bộ quân đội được chia thành nhiều nhóm loại, theo chuyên môn nghề nghiệp có: Cán bộ tham mưu; cán bộ chính trị; cán bộ hậu cần; cán bộ kỹ thuật; cán bộ chuyên môn nghiệp vụ. Theo loại hình đơn vị có: Cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược; cán bộ cơ sở. Theo cấp bậc quân hàm có cán bộ cấp tướng, cán bộ cấp tá, cán bộ cấp úy. Theo chức vụ có cán bộ trung đội, cán bộ đại đội, cán bộ tiểu đoàn...Theo lĩnh vực công tác có: Cán bộ chỉ huy, quản lý; cán bộ nghiên cứu, giảng dạy; cán bộ quản lý doanh nghiệp, sản xuất quốc phòng; cán bộ tư pháp, thanh tra, pháp chế Đội ngũ cán bộ ở các cơ quan, đơn vị cơ sở HV, TSQ là một bộ phận trong ĐNCB của QĐND Việt Nam, bao gồm những sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức quốc phòng được cấp có thẩm quyền quyết định đảm nhiệm chức danh biên chế là sĩ quan trong các cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị cơ sở HV, TSQ. ĐNCB ở các cơ quan, đơn vị cơ sở HV, TSQ có thể phân thành các nhóm chính: Đội ngũ cán bộ ở các cơ quan chức năng bao gồm: sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức quốc phòng được cấp có thẩm quyền quyết định đảm nhiệm chức danh biên chế là sĩ quan trong các cục, phòng, ban; được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm các chức danh: cục trưởng, phó cục trưởng, trưởng phòng, phó trưởng phòng, trưởng ban, phó trưởng ban và trợ lý. Đội ngũ cán bộ ở các khoa giáo viên, bộ môn bao gồm những sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức quốc phòng được cấp có thẩm quyền quyết định đảm nhiệm chức danh biên chế là sĩ quan trong các khoa, bộ môn; được bổ nhiệm, sắp xếp theo tiêu chuẩn chức danh chuyên môn của BQP, Bộ GD và ĐT. Đội ngũ cán bộ ở viện nghiên cứu, tạp chí khoa học bao gồm những sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức quốc phòng được cấp có thẩm quyền quyết định đảm nhiệm chức danh biên chế là sĩ quan trong các viện nghiên cứu, tạp chí khoa học; được bổ nhiệm, sắp xếp theo tiêu chuẩn chức danh chuyên môn: viện trưởng, phó viện trưởng, trưởng ban, nghiên cứu viên, tổng biên tập, phó tổng biên tập, biên tập viên. Đội ngũ cán bộ ở các đơn vị quản lý học viên là những sĩ quan được biên chế trong các hệ, lớp, tiểu đoàn, đại đội, trung đội; được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm các chức danh: hệ trưởng, chính trị viên hệ, phó hệ trưởng; tiểu đoàn trưởng, chính trị viên tiểu đoàn, phó tiểu đoàn trưởng; đại đội trưởng, chính trị viên đại đội, phó đại đội trưởng; trung đội trưởng. Ngoài ĐNCB chỉ huy, quản lý còn có một lực lượng đông đảo học viên là sĩ quan đào tạo các chức danh chỉ huy, quản lý, đào tạo giảng viên; đào tạo sau đại học; đào tạo ngắn, các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị cao cấp. Quan niệm công tác cán bộ của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam Công tác cán bộ là toàn bộ các hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của các chủ thể ở các cấp, các ngành, các đơn vị trong việc quán triệt, vận dụng thực hiện đường lối, quan điểm, nguyên tắc, nội dung CTCB của Đảng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và tình hình thực tiễn ở cấp, ngành, đơn vị mình nhằm xây dựng ĐNCB có số lượng đủ, cơ cấu hợp lý, chất lượng cao, thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng, nhiệm vụ của từng cấp, ngành, đơn vị. “Công tác cán bộ trong quân đội là một bộ phận CTCB của Đảng, một nội dung chủ yếu của CTĐ, CTCT; là một mặt công tác của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên (bí thư), người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp và sự tham gia của các ngành trong quân đội nhằm xây dựng ĐNCB đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của quân đội trong từng giai đoạn cách mạng” [121, tr.5]. Trong quân đội, cấp uỷ các cấp trực tiếp lãnh đạo và tổ chức tiến hành CTCB ở cấp mình theo phạm vi, quyền hạn. Ở mỗi cấp đều phải quán triệt, vận dụng đường lối, quan điểm, nguyên tắc CTCB của Đảng; nghiêm chỉnh chấp hành các nghị quyết, chỉ thị, quy định về CTCB của cấp ủy cấp trên; xác định nội dung, hình thức, biện pháp cụ thể xây dựng ĐNCB đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đơn vị mình. Cấp uỷ các cấp phát huy trách nhiệm của cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng, các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân tham gia xây dựng ĐNCB. Do đó, có thể quan niệm: Công tác cán bộ của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội là toàn bộ hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện đường lối, quan điểm, nguyên tắc, nghị quyết, chỉ thị của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; nghị quyết, chủ trương, quy chế, quy định, hướng dẫn của QUTW, BQP, Tổng cục Chính trị, cấp uỷ cấp trên và cấp mình về cán bộ và CTCB nhằm xây dựng ĐNCB thuộc quyền đáp ứng yêu cầu về số lượng, cơ cấu và chất lượng, phát triển vững chắc, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Mục đích CTCB của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ nhằm xây dựng ĐNCB thuộc quyền có số lượng đủ, cơ cấu hợp lý và chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị. Chủ thể: Chủ thể lãnh đạo CTCB của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ là QUTW, các đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy tổng cục, quân chủng, binh chủng, Bộ đội Biên phòng; đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy HV, TSQ quân đội. Chủ thể chỉ đạo CTCB của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ là BQP, Tổng cục Chính trị; cán bộ chủ trì, cục chính trị các tổng cục, quân chủng, binh chủng, Bộ đội Biên phòng; cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị các HV, TSQ quân đội. Chủ thể tiến hành CTCB của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ là cấp uỷ cơ sở, ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở; các chi ủy thuộc đảng bộ cơ sở ở các HV, TSQ. Lực lượng tham gia CTCB của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ là các cơ quan chức năng của các tổng cục, quân chủng, binh chủng, Bộ đội Biên phòng; các cơ quan chức năng của các HV, TSQ. Tổ chức chỉ huy, các tổ chức quần chúng, hội đồng quân nhân; mọi cán bộ, đảng viên, học viên đang công tác, học tập, sinh hoạt ở cơ quan, đơn vị cơ sở thuộc các HV, TSQ. Cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền nơi đóng quân, đơn vị kết nghĩa; cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân nơi cán bộ, đảng viên cư trú. Đối tượng CTCB của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ là toàn bộ cán bộ thuộc biên chế ở các cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị cơ sở HV, TSQ quân đội. Học viên ở các đơn vị quản lý học viên. Trách nhiệm, quyền hạn CTCB của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ Quy chế CTCB trong QĐND Việt Nam [121] xác định trách nhiệm, quyền hạn CTCB của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ gồm: 1) Lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nghị quyết, chủ trương, chính sách, quyết định của cấp trên về cán bộ và CTCB trong phạm vi phụ trách; quyết định kiểm tra, giám sát CTCB của các cấp ủy trực thuộc. 2) Chuẩn bị nhân sự đảng ủy, ủy ban kiểm tra đảng ủy nhiệm kỳ mới. 3) Tham gia ý kiến về nhân sự đối với cán bộ trong đơn vị giữ chức vụ thuộc thẩm quyền cấp trên quyết định. 4) Đề nghị về việc nhận xét, phong, thăng, giáng, tước quân hàm, nâng, hạ lương cán bộ, điều động, bổ nhiệm, miễn nhiệm, thôi giữ chức, đình chỉ chức vụ, kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ đối với cán bộ trong đơn vị giữ các chức vụ, cấp bậc, quân hàm thuộc thẩm quyền cấp trên quyết định; tuyển chọn, tuyển dụng vào ĐNCB; cán bộ đi tham quan, nghỉ dưỡng ở nước ngoài, chế độ khám, chữa bệnh, đưa thân nhân đi khám, chữa bệnh, đi thăm thân ở nước ngoài; cán bộ tham gia các dự án nhà ở chính sách. 5) Xây dựng quy hoạch cán bộ các đơn vị cấp dưới trực tiếp. Nội dung CTCB của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ Một là, quy hoạch, tạo nguồn tuyển chọn cán bộ. Trong đó, quy hoạch cán bộ được tiến hành theo nhiệm kỳ của đại hội đảng bộ, chi bộ cơ sở, trên cơ sở đó hằng năm được rà soát, bổ sung quy hoạch và triển khai thực hiện nội dung quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Tạo nguồn, tuyển chọn cán bộ được cấp ủy cơ sở tiến hành thường xuyên nhằm phát hiện và lựa chọn, đề nghị tuyển dụng những cán bộ đáp ứng đầy đủ các điều kiện, tiêu chuẩn cho các chức danh cán bộ của cơ quan, đơn vị đang có nhu cầu. Hai là, thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Căn cứ vào quy hoạch cán bộ và quyết định nhân sự cán bộ của cấp trên, cấp ủy cơ sở xem xét, phát hiện và đề xuất nhân sự cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng tại các cơ sở giáo dục, đào tạo trong và ngoài quân đội. Ngoài ra, cấp ủy cơ sở ở các hệ, tiểu đoàn thuộc HV, TSQ thực hiện nhiệm vụ quản lý học viên trong suốt quá trình đào tạo. Ba là, thực hiện quản lý, bố trí, sử dụng cán bộ thuộc quyền quản lý. Cấp ủy cơ sở xem xét, đề nghị ban thường vụ đảng ủy HV, TSQ về công tác nhân sự cán bộ, đề bạt, điều động, bổ nhiệm, luân chuyển, quản lý, nhận xét, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật cán bộ; thẩm tra, xác minh những vấn đề lai lịch chính trị, quan hệ xã hội của gia đình và bản thân cán bộ. Bốn là, thực hiện các chế độ, chính sách đối với cán bộ. Cấp ủy cơ sở quán triệt, thực hiện nghiêm các chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nước, quân đội và của đơn vị đối với đội ngũ cán bộ thuộc quyền và nghiên cứu, đề xuất với cơ quan chính trị, cấp ủy cấp trên các chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ và gia đình hậu phương cán bộ. Hình thức, biện pháp CTCB của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ Một là, quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định của QUTW, BQP, hướng dẫn của Tổng cục Chính trị; các nghị quyết, chỉ thị của đảng ủy HV, TSQ và hướng dẫn của cơ quan chính trị về cán bộ và CTCB; xác định các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện phù hợp với thực tiễn đội ngũ cán bộ và CTCB của cơ quan, đơn vị mình. Hai là, phổ biến, quán triệt, triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy HV, TSQ và hướng dẫn của cơ quan chính trị HV, TSQ về cán bộ và CTCB; chỉ đạo cấp ủy, chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở và cán bộ, đảng viên thuộc quyền thực hiện các chủ trương, biện pháp của cấp ủy cơ sở về cán bộ và CTCB. Ba là, lãnh đạo các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân tham gia xây dựng ĐNCB thuộc quyền. Bốn là, liên hệ với cấp ủy, chính quyền địa phương nơi cán bộ cư trú và nơi cơ quan, đơn vị đóng quân để phối hợp giải quyết những vấn đề liên quan đến cán bộ và CTCB. Năm là, tiến hành công tác kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng cấp dưới và cán bộ đảng viên thuộc quyền về CTCB. Sáu là, thực hiện các chế độ, nề nếp liên quan đến cán bộ và CTCB. Đặc điểm CTCB của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội Một là, CTCB của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội luôn bám sát và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ GD, ĐT, NCKH, xây dựng cơ quan, đơn vị VMTD. Mỗi cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ có chức năng, nhiệm vụ khác nhau song đều tập trung thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trung tâm của HV, TSQ là GD, ĐT, NCKH; xây dựng cơ quan, đơn vị VMTD. Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt, tổ chức thực hiện quan điểm, nguyên tắc, nghị quyết, chỉ thị, quy định về cán bộ và CTCB của cấp ủy cơ sở luôn gắn liền với việc quán triệt, xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện các nội dung GD, ĐT, NCKH. Đối với cấp ủy cơ sở ở các cơ quan tập trung xây dựng ĐNCB đảm bảo hoàn thành tốt chức trách cơ bản là tổng hợp, phát hiện vấn đề; tham mưu, đề xuất nội dung, biện pháp giải quyết; quản lý, hướng dẫn; phối hợp hiệp đồng; bảo đảm và kiểm tra tổ chức thực hiện theo phạm vi, nhiệm vụ được phân công. Đối với cấp ủy cơ sở ở các khoa giáo viên tập trung kiện toàn, phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng nhiệm vụ biên soạn giáo án, giáo trình, tài liệu và thực hành giảng dạy theo các chuyên ngành; đồng thời vừa làm nhiệm vụ NCKH. Cấp ủy cơ sở ở đơn vị quản lý học viên tiến hành quản lý, giáo dục, rèn luyện học viên thực hiện nhiệm vụ học tập, NCKH, chấp hành kỷ luật, quy chế, quy định theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo; để sau khi ra trường, người học hình thành được những phẩm chất, tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác, gương mẫu, nâng cao kiến thức, năng lực, trình độ tổ chức quản lý, chỉ huy bộ đội ở đơn vị. Đặc điểm trên đây cho thấy CTCB của cấp ủy cơ sở phải phục tùng nhiệm vụ chính trị của các HV, TSQ và nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, đơn vị. Vì thế, khi tiến hành CTCB; cấp uỷ đảng, cán bộ chủ trì vừa phải nắm vững yêu cầu nhiệm vụ chung vừa phải chú ý đến đặc điểm, nhiệm vụ của từng đơn vị; hoàn cảnh, điều kiện, công việc của mỗi cán bộ để có chủ trương, biện pháp lãnh đạo thực hiện nội dung CTCB, xây dựng ĐNCB có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao. Hai là, chủ thể CTCB của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ có trình độ học vấn cao, có kinh nghiệm chỉ huy, quản lý. Chủ thể CTCB của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ đa số có bề dày công tác trong môi trường GD, ĐT, NCKH cho nên có trình độ học vấn cao; có nhiều kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo và tiến hành CTCB. Số liệu thống kê ở Phụ lục 9 cho thấy: nhiệm kỳ 2020-2025 có 100% bí thư cấp uỷ và cán bộ chủ trì ở cơ sở ở các HV, TSQ đều được đào tạo cơ bản ở các trường trong và ngoài quân đội. Hầu hết các đồng chí cấp ủy viên cấp ủy cơ sở là cán bộ chủ trì, có tuổi đời từ 41 đến 50 (52,26%), quân hàm từ Thượng tá đến Đại tá (56,01%), có trình độ học vấn cao (Thạc sĩ 41,36%, Tiến sĩ 20,92%, Phó Giáo sư 2%); có nhiều kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, GD, ĐT, NCKH (88,47% tham gia cấp ủy 2 nhiệm kỳ trở lên). Đặc điểm trên tạo thuận lợi cơ bản để nâng cao chất lượng CTCB của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội. Tuy nhiên, chủ thể CTCB của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ có tuổi đời khá cao (trên 51 tuổi chiếm 25,81%); đến nay không có cấp ủy viên cấp ủy cơ sở đã qua chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Có nhiều loại cán bộ tham gia cấp ủy cơ sở và chủ yếu là cán bộ kiêm nhiệm, chưa được đào tạo chuyên sâu về công tác xây dựng Đảng, ...và trong nước tiếp tục có những diễn biến phức tạp; sự phát triển yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội trong tình hình mới; nhiệm vụ đào tạo cán bộ của các nhà trường quân đội nói chung, nhiệm vụ GD, ĐT, NCKH và xây dựng đảng bộ của các HV, TSQ nói riêng; nhất là yêu cầu, mục tiêu xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới, đang đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ, phức tạp, đòi hỏi ngày càng cao đối với CTCB. Nâng cao chất lượng CTCB của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của nhiều tổ chức, nhiều lực lượng; vì vậy phải tiến hành đồng bộ và hệ thống các giải pháp. Mỗi giải pháp có vị trí, vai trò không ngang bằng nhau, có nội dung, yêu cầu và biện pháp cụ thể khác nhau; nhưng có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất, tác động, hỗ trợ, tạo điều kiện cho nhau cùng hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng CTCB của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội. Vì vậy, các chủ thể và các lực lượng tham gia không được tuyệt đối hóa hoặc xem nhẹ giải pháp nào. Tuy nhiên, mỗi HV, TSQ có những đặc điểm, điều kiện riêng; vì vậy, tùy theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng đối tượng CTCB của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ để vận dụng linh hoạt, sáng tạo để đem lại chất lượng và hiệu quả thiết thực. KẾT LUẬN 1. Kết quả tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước có liên quan đến đề tài luận án cho thấy, các công trình đã nghiên cứu khá sâu sắc, toàn diện về cán bộ, xây dựng ĐNCB và nâng cao chất lượng CTCB. Đây là những tài liệu có giá trị cả về lý luận và thực tiễn để tác giải tham khảo, tiếp thu, kế thừa trong quá trình thực hiện luận án. Tuy có sự giao thoa ở một mức độ nhất định về khách thể, đối tượng, phạm vi, nội dung nghiên cứu nhưng cho tới nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện, chuyên sâu về nâng cao chất lượng CTCB của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội. Vì vậy, đề tài luận án là công trình nghiên cứu độc lập, không trùng lặp với các công trình khoa học đã được công bố. 2. Các HV, TSQ quân đội là những trung tâm GD, ĐT, NCKH của quân đội và của quốc gia; có vai trò rất quan trọng trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quân đội, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. CTCB của cấp uỷ cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ có vị trí, vai trò rất quan trọng; góp phần xây dựng ĐNCB vững mạnh, xây dựng cấp uỷ, tổ chức đảng TSVM, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Nâng cao chất lượng CTCB của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ là yêu cầu khách quan, thường xuyên, đồng thời là vấn đề có ý nghĩa thiết thực cả lý luận và thực tiễn. Nâng cao chất lượng CTCB của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội cần quán triệt những vấn đề có tính nguyên tắc và các nhóm tiêu chí đã xác định. Đồng thời, phải bám sát chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, đơn vị ở HV, TSQ quân đội và mục tiêu, yêu cầu xây dựng ĐNCB giai đoạn hiện nay. 3. Trong những năm qua, cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ quân đội đã có nhiều chủ trương, hình thức, biện pháp nâng cao chất lượng CTCB, góp phần quan trọng xây dựng tổ chức đảng TSVM; cơ quan, đơn vị VMTD. Tuy nhiên, ở mức độ khác nhau vẫn còn hạn chế trong nhận thức, trách nhiệm; trong thực hiện nội dung, hình thức biện pháp nâng cao chất lượng CTCB của cấp ủy cơ sở; vì thế, số lượng, cơ cấu, chất lượng cán bộ có mặt chưa đáp ứng yêu cầu, kết quả hoàn thành nhiệm vụ của một số cán bộ còn thấp. Những ưu điểm, hạn chế trong nâng cao chất lượng CTCB của cấp ủy cơ sở bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là cơ bản, quyết định. Do đó, những kinh nghiệm trong nâng cao chất lượng CTCB của cấp ủy cơ sở đã được đúc kết cần được nghiên cứu, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn hiện nay. 4. Nâng cao chất lượng CTCB của cấp ủy cơ sở ở các đảng bộ HV, TSQ hiện nay chịu tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan; đặc biệt là yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Đảng, xây dựng quân đội, sự phát triển của nhiệm vụ GD, ĐT, NCKH, trong đó tập trung xây dựng ĐNCB là “then chốt”. Vì vậy, yêu cầu các cấp ủy cơ sở phải nhận thức đúng, thường xuyên phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của chủ thể và các lực lượng tham gia thực hiện CTCB; chấp hành nghiêm quan điểm, đường lối, nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quân đội, nhiệm vụ CTĐ, CTCT, nhiệm vụ của các HV, TSQ và yêu cầu xây dựng ĐNCB trong thời kỳ mới. Tiến hành đồng bộ các giải pháp với sự tham gia của các tổ chức, các lực lượng, các cấp, các ngành trong quân đội. Mỗi giải pháp có vị trí, vai trò không ngang bằng nhau, nhưng có mối quan hệ biện chứng, tác động, tương trợ lẫn nhau. Vì vậy, không được tuyệt đối hóa hoặc xem nhẹ bất kỳ giải pháp nào; trong quá trình thực hiện cần căn cứ vào đặc điểm, tình hình nhiệm vụ, đối tượng cụ thể để nghiên cứu, vận dụng một cách thiết thực, hiệu quả. 5. Chất lượng CTCB là vấn đề “then chốt”, lâu dài, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng ĐNCB hiện nay. Tình hình nhiệm vụ của cách mạng, của quân đội, nhiệm vụ của các HV, TSQ tiếp tục có sự vận động phát triển. Vì vậy, kết quả nghiên cứu của luận án mới chỉ là bước đầu. Những vấn đề mới còn có thể tiếp tục đặt ra liên quan trực tiếp đến luận án cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện, bổ sung, phát triển với phạm vi, quy mô rộng hơn. DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nguyễn Kim Hùng (2017), “Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 14/3/2017 (Chỉ số 1265 ISSN0866-7276). 2. Nguyễn Kim Hùng (2017), “Đổi mới phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của cấp uỷ cơ sở hiện nay”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 4, tr.71-72. 3. Nguyễn Kim Hùng (2017), “Nâng cao chất lượng công tác cán bộ, góp phần xây dựng tổ chức cơ sở đảng vững mạnh”, Tạp chí Phòng không - Không quân, số 2, tr.53-55. 4. Nguyễn Kim Hùng (2017), “Biện pháp nâng cao chất lượng công tác cán bộ của cấp uỷ cơ sở ở Đảng bộ Trường Sĩ quan Chính trị”, Tạp chí Khoa học chính trị quân sự, số 2, tr.57-60. 5. Nguyễn Kim Hùng (2018), “Nâng cao chất lượng đánh giá cán bộ của các đảng bộ học viện, trường sĩ quan trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 11, tr.69-73. 6. Nguyễn Kim Hùng (2019), “Nâng cao khả năng làm việc trong môi trường quốc tế của đội ngũ cán bộ quân đội hiện nay”, Tạp chí Quân sự Quốc phòng, số 10, tr.46-49. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Ban Bí thư Trung ương (2018), Quy định về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở ở học viện, nhà trường trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Số 116-QĐ/TW ngày 25/01/2018, Hà Nội. Ban Chấp hành Trung ương (1997), Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18/6/1997, Nxb CTQG, Hà Nội. Ban Chấp hành Trung ương (2008), Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 02/02/2008, Nxb CTQG, Hà Nội. Ban Chấp hành Trung ương (2009), Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020, Kết luận số 37-KL/TW của Hội nghị lần thứ 9, ngày 02/02/2009, Hà Nội. Ban Chấp hành Trung ương (2017), Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2017, Nxb CTQG, Hà Nội. Ban Chấp hành Trung ương (2017), Quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, Số 102-QĐ/TW ngày 15/11/2017, Nxb CTQG, Hà Nội. Ban Chấp hành Trung ương (2018), Quy định về công tác kiểm tra của tổ chức đảng đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, Số 109-QĐ/TW ngày 03/01/2018, Nxb CTQG, Hà Nội. Ban Chấp hành Trung ương (2018), Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018, Hà Nội. Ban Chấp hành Trung ương (2018), Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018, Hà Nội. Ban Chấp hành Trung ương (2019), Về nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng, Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 21/01/2019, Hà Nội. Ban Chấp hành Trung ương (2019), Quy định về chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ, Số 179-QĐ/TW ngày 25/02/2019, Hà Nội. Trần Danh Bích (2000), Xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, Nxb QĐND, Hà Nội. Bộ Chính trị (2005), Về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính uỷ, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 20/7/2005, Hà Nội. Bộ Chính trị (2006), Về tổ chức cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 07/11/2006, Hà Nội. Bộ Chính trị (2011), Về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011, Hà Nội. Bộ Chính trị (2016), Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016, Hà Nội. Bộ Chính trị (2016), Tổ chức Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Quy định số 59-QĐ/TW ngày 22/12/2016, Hà Nội. Bộ Chính trị (2017), Khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, Quy định số 89-QĐ/TW ngày 04/8/2017, Hà Nội. Bộ Chính trị (2017), Tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, Quy định số 90-QĐ/TW ngày 04/8/2017, Hà Nội. Bộ Chính trị (2017), Quy định về Luân chuyển cán bộ, Số 98-QĐ/TW ngày 07/10/2017, Hà Nội. Bộ Chính trị (2017), Phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, Quy định số 105-QĐ/TW ngày 19/12/2017, Hà Nội. Bộ Chính trị (2019), Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền, Quy định số: 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019, Hà Nội. Bộ Quốc phòng (2013), Chiến lược phát triển giáo dục-đào tạo trong Quân đội giai đoạn 2011 - 2020, Nxb QĐND, Hà Nội. Bộ Quốc phòng (2016), Điều lệ công tác nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam, Thông tư số 51/2016/TT-BQP ngày 20/4/2016, Hà Nội. Bộ Quốc phòng Liên Xô (1972), Công tác Đảng trong các lực lượng vũ trang Xô Viết, Nxb, Matxcơva. Phạm Đình Bộ (2007), Bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội binh chủng hợp thành trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị Quân sự, Hà Nội. Bunthăn Chănthạlyma (2016), Bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán bộ các cơ quan chiến lược Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Lào hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị, Hà Nội. Khămphủi Chănthavađy (2010), Luân chuyển cán bộ diện Ban Thường vụ tỉnh uỷ Luang phrabang quản lý trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội Phạm Minh Chính (2018), “20 năm thực hiện chiến lược cán bộ và những bài học quý giá cho chúng ta”, Tạp chí Cộng sản, số 907, tr.7-15. Phạm Minh Chính (2018), “Quán triệt sâu sắc các quan điểm chỉ đạo của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ và đổi mới công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển thời kỳ mới của Hội nghị Trung ương 7, khóa XII”, Tạp chí Cộng sản, số 908, tr.11-18. Cục Cán bộ (2016), Kết quả thực hiện công tác cán bộ năm 2016; phương hướng, nhiệm vụ công tác cán bộ năm 2017, Báo cáo số 2317-BC/CB ngày 15/12/2016, Hà Nội. Cục Cán bộ (2017), Kết quả thực hiện công tác cán bộ năm 2017; phương hướng, nhiệm vụ công tác cán bộ năm 2018, Báo cáo số 2609-BC/CB ngày 22/12/2017, Hà Nội. Trịnh Cư, Nguyễn Duy Hùng, Lê Văn Yên (2009), Kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ ở Trung Quốc, Nxb CTQG, Hà Nội. Bùi Quang Cường (2012), “Quán triệt quan điểm của Đảng trong xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội hiện nay”, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, số 01, tr.24-27. Bùi Quang Cường (2020), “Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác nhân sự cấp ủy của đại hội Đảng các cấp trong Quân đội hiện nay”, Tạp chí Quân sự Quốc phòng, số 17, tr.37-39. Hạ Quốc Cường (2004), “Không ngừng nâng cao trình độ lãnh đạo và trình độ cầm quyền, tăng cường năng lực chống tha hóa, phòng chống biến chất và chống rủi ro”, Hội thảo lý luận Việt Nam - Trung Quốc, Xây dựng Đảng cầm quyền - kinh nghiệm của Việt Nam, kinh nghiệm của Trung Quốc, Nxb CTQG, Hà Nội, tr.40-70. Lương Cường (2017), “Xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 11, tr.1-6. Lương Cường (2019), “Phát huy vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội hiện nay”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 2, tr.4-7. Sinnakhone Douangbandith (2020), “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức các Ban Tổ chức Tỉnh ủy của nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số (5), tr. 76 - 79. Vũ Phú Dũng (2018), “Một số biện pháp tăng cường kiểm tra, giám sát công tác cán bộ của cấp ủy cơ sở trong quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” , Tạp chí Khoa học Chính trị Quân sự, số 1, tr.60-67. Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1998. Đảng bộ Hệ Sau đại học, Học viện Chính trị (2020), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Hệ sau đại học nhiệm kỳ 2020 - 2025, Hà Nội. Đảng bộ Học viện Biên phòng (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Học viện Biên phòng lần thứ XVIII, Nhiệm kỳ 2015 - 2020, Hà Nội. Đảng bộ Học viện Chính trị (2020), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Học viện Chính trị lần thứ XVI, Nhiệm kỳ 2020 - 2025, Hà Nội. Đảng bộ Học viện Hậu cần (2020), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Học viện Hậu cần lần thứ XXII, Nhiệm kỳ 2020 - 2025, Hà Nội. Đảng bộ Học viện Phòng không-Không quân (2020), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Học viện Phòng không - Không quân lần thứ V, nhiệm kỳ 2020-2025, Hà Nội. Đảng bộ Trường Sĩ quan Chính trị (2020), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Trường Sĩ quan Chính trị lần thứ X, Nhiệm kỳ 2020 - 2025, Hà Nội. Đảng bộ Trường Sĩ quan Lục quân 2 (2020), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Trường Sĩ quan Lục quân 2 lần thứ XV, Nhiệm kỳ 2020 - 2025, Đồng Nai. Đảng bộ Trường Sĩ quan Pháo binh (2020), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Trường Sĩ quan Pháo binh lần thứ XXI, Nhiệm kỳ 2020-2025, Hà Nội. Đảng bộ Trường Sĩ quan Thông tin (2020), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Trường Sĩ quan Thông tin lần thứ XVI, Nhiệm kỳ 2020 - 2025, Khánh Hòa. Đảng Cộng sản Trung Quốc (2001), Toàn thư công tác đảng vụ, chương trình KX.X chủ trì thực hiện năm 2004, bản dịch sang tiếng Việt của Ban tổ chức Trung ương Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam (1976), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb CTQG, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb CTQG, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Điều lệ ĐCSVN, Nxb CTQG, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI, Nxb CTQG, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Nxb CTQG, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb CTQG Sự thật, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 2, Nxb CTQG Sự thật, Hà Nội. Đảng ủy Học viện Chính trị (2019), Nghị quyết về xây dựng đội ngũ cán bộ giai đoạn 2019 - 2030, số 35-NQ/ĐU ngày 18/6/2019, Hà Nội. Đảng ủy Học viện Chính trị (2020), Quy chế lãnh đạo công tác cán bộ của Đảng ủy Học viện Chính trị, số 31-QC/ĐU ngày 14/9/2020, Hà Nội. Đảng ủy Quân sự Trung ương (1995), Tiếp tục đổi mới công tác đào tạo cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật và xây dựng nhà trường chính quy, Nghị quyết số 93-NQ/ĐUQSTW, Nxb QĐND, Hà Nội. Đảng ủy Quân sự Trung ương (1998), Về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội trong thời kỳ mới, Nghị quyết số 94 - NQ/ĐUQSTW, Nxb QĐND, Hà Nội. Đảng ủy Quân sự Trung ương (2007), Tiếp tục đổi mới công tác giáo dục-đào tạo trong quân đội thời kỳ mới, Nghị quyết số 86 - NQ/ĐUQSTW ngày 29/3/2007, Nxb QĐND, Hà Nội. Đảng ủy Quân sự Trung ương (2008), Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đâu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội giai đoạn mới, Nghị quyết số 147-NQ/ĐU ngày 04/4/2008, Nxb QĐND, Hà Nội. Đảng ủy Trường Sĩ quan Chính trị (2020), Quy chế lãnh đạo công tác cán bộ của Đảng ủy Trường Sĩ quan Chính trị, số 40 - QC/ĐU ngày 28/9/2020, Hà Nội. Đảng ủy Trường Sĩ quan Chính trị (2021), Nghị quyết về xây dựng đội ngũ cán bộ giai đoạn 2021-2025, số 117-NQ/ĐU ngày 20/01/2021, Hà Nội. Đảng ủy Trường Sĩ quan Lục quân 2 (2018), Nghị quyết về xây dựng đội ngũ cán bộ giai đoạn 2016-2020, số 35-NQ/ĐU ngày 09/6/2018, Đồng Nai. Đảng ủy Trường Sĩ quan Thông tin (2018), Nghị quyết lãnh đạo công tác cán bộ đến năm 2020, số 624-NQ/ĐU ngày 02/02/2018, Khánh Hòa. Đặng Nam Điền (2004), Nâng cao đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ chính trị quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới, Luận án Tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành xây dựng Đảng, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội. Đặng Nam Điền (2018), “Góp phần đưa công tác cán bộ thực sự trở thành “then chốt của then chốt”, Tạp chí Quốc phòng Toàn dân, số 9, tr.25-32. Lý Lương Đống (Chủ biên) (2020), Nghiên cứu vấn đề cải cách và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc (Sách tham khảo nội bộ), Nxb CTQG Sự thật, Hà Nội. A.A. Êpisép (Chủ biên) (1976), Công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang Liên Xô 1918-1973, sách tham khảo bằng tiếng Việt, Nxb QĐND, Hà Nội. Huỳnh Thị Gấm (2012), “Một số giải pháp nâng cao chất lượng cấp ủy đảng ở cơ sở”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 8, tr.22-26. Nguyễn Văn Giới (2019), Chất lượng đội ngũ cán bộ hậu cần trung đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội. A.A. Grê-Scô (1978), Các lực lượng vũ trang của Nhà nước Xô Viết, Nxb QĐND, Hà Nội. Phạm Việt Hải (2017), Chất lượng lãnh đạo của đảng bộ trung đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học chính trị, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội. Lương Thanh Hân (2019), “Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Quân đội theo phân cấp chức danh hiện nay”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 3, tr.31-33. Phạm Đức Hoài (2015), “Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quân đội đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong tình hình mới”, Tạp chí Giáo dục Lý luận Chính trị, số 6, tr.73 - 75. Trần Đình Hoan (2008), Đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb CTQG, Hà Nội. Học viện Chính trị Quân sự (2007), Xây dựng đội ngũ cán bộ của học viện đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, Nxb QĐND, Hà Nội. Học viện Chính trị Quân sự (2008), Công tác cán bộ ở Học viện Chính trị Quân sự trong thời kỳ mới, Nxb QĐND, Hà Nội. Trần Ngọc Hồi (2019), “Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ chủ nhiệm bộ môn ở Học viện Chính trị”, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, số 6, tr.43-45. Đoàn Minh Huấn (2019), ““Hai trọng tâm” và “Năm đột phá” trong xây dựng đội ngũ cán bộ và đổi mới công tác cán bộ của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII”; Tạp chí Cộng sản, số 913, tr.5-11. Đinh Thế Huynh, Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Viết Thông (2015), 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội. Đoàn Phú Hưng (2018), Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Luận án tiến sĩ Hồ Chí Minh học, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội. Hoàng Mạnh Hưng (2013), Nâng cao chất lượng đội ngũ chính trị viên ở các sư đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị, Hà Nội. Nguyễn Giao Hưởng, (2014) Nâng cao chất lượng nguồn đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự cho các học viện, trường sĩ quan trong quân đội hiện nay, đề tài khoa học TTST, Học viện Chính trị, Hà Nội. A.M. Ioblev (1979), Hoạt động của Đảng Cộng sản Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo cán bộ quân đội, Học viện Quân sự cấp cao, Hà Nội. Nguyễn Minh Khôi (2011), Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ quan quản lý giáo dục - đào tạo ở các học viện, trường sĩ quan trong quân đội hiện nay, luận án tiến sĩ Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị, Hà Nội. Chu Phúc Khởi (2004), “Xuất phát từ đại cục, hướng tới lâu dài, cố gắng xây dựng một đội ngũ cán bộ dự bị tố chất cao”, Hội thảo Xây dựng đảng cầm quyền, kinh nghiệm của Việt Nam, kinh nghiệm của Trung Quốc, Nxb CTQG, Hà Nội, tr.74-82. Cầm Thị Lai (2012), Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, hành chính cho đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội. Bùi Đức Lại (2007), “Về trách nhiệm người đứng đầu trong công tác cán bộ”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 6, tr.33-36. Bùi Đức Lại (2012), “Vai trò của bí thư cấp ủy trong công tác cán bộ”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 3, tr.19-22. Nhị Lê (2018), “Kiến tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược ngang tầm công cuộc đổi mới toàn diện đồng bộ”, Tạp chí Cộng sản, số 135, tr.24-29. Nhiệm Khắc Lễ (1995), Công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay, sách tham khảo, Nxb CTQG, Hà Nội. Ngô Xuân Lịch (2018), "Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội ngang tầm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới", Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 7, tr.1-5. Nguyễn Trần Long (2017), Gắn đào tạo với sử dụng đội ngũ giảng viên của các học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị, Hà Nội. Đặng Sĩ Lộc (2008), Bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ doanh nghiệp quân đội trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị, Hà Nội. Mạch Quang Lợi (2015), “Xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới”, Tạp chí Nghệ thuật quân sự Việt Nam, số 01, tr. 9-12. Lê Đức Lự (2019), “Bàn về xây dựng đội ngũ cán bộ ở đơn vị cơ sở trong Quân đội hiện nay” , Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 10/2019, tr. 96-98. Hồ Chí Minh (1947), “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.269-346. Hồ Chí Minh (1950), “Nói chuyện tại hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.355-363. Hồ Chí Minh (1963), “Những chi bộ tốt và chi bộ chưa tốt”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 14, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.193-195. Hồ Chí Minh (1967), “Bài nói tại lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 15, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.275-284. Lý Thận Minh (Chủ biên) (2017); Tính trước nguy cơ - suy ngẫm sau 20 năm Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng, Nxb CTQG Sự thật, Hà Nội. Xone Monevilay (2015), Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ngành lao động và phúc lợi xã hội Cộng hoà dân chủ Nhân dân Lào giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội. Chương Tư Nghị (1986), Công tác Đảng, công tác Chính trị của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, Nxb Đại học Quốc phòng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Lý Bồi Nguyên, (2004), “Thực tiễn và sự tìm tòi về xây dựng đội ngũ đảng viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc”, Xây dựng đảng cầm quyền, kinh nghiệm của Việt Nam, kinh nghiệm của Trung Quốc, Nxb CTQG, Hà Nội. Cấn Thanh Niên (2016), “Nâng cao năng lực tiến hành công tác cán bộ của bí thư cấp uỷ cơ sở ở các học viện, trường sĩ quan Quân đội”, Tạp chí Giáo dục Lý luận Chính trị Quân sự, số 4, tr.38-40. Nguyễn Quang Phát (2001), Xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội của Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Luận án tiến sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị Quân sự, Hà Nội. Neang Phát (2016), Xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội Hoàng gia Campuchia hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị, Hà Nội. Sẳmlan Phănkhảvông (2014), Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng cấp tỉnh của nước Cộng hoà dân chủ Nhân dân Lào giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội. Nguyễn Văn Phương (2017), Xây dựng đội ngũ cán bộ ban tổ chức ở các sư đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị, Hà Nội. Quân ủy Trung ương (2012), Xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội giai đoạn 2013-2020 và những năm tiếp theo, Nghị quyết số 769-NQ/QUTW ngày 21/12/2012, Nxb QĐND, Hà Nội. Quân ủy Trung ương (2014), Về việc giải quyết số lượng cán bộ, Chỉ thị số 967-CT/QUTW ngày 13/10/2014, Hà Nội. Quân ủy Trung ương (2017), Về thẩm quyền phê duyệt, xác nhận quy hoạch và quy trình bổ nhiệm cán bộ chỉ huy, quản lý trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Quy định số 496-QĐ/QU ngày 12/6/2017, Hà Nội. Quân ủy Trung ương (2017), Tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá VIII về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” trong Đảng bộ Quân đội, Báo cáo số 1028-BC/QU ngày 10/11/2017, Hà Nội. Quân ủy Trung ương (2018), Về luân chuyển và điều động thực tế cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Quy định số 366-QĐ/QU ngày 12/4/2018, Hà Nội. Quân ủy Trung ương (2018), Quy chế công tác cán bộ trong Quân đội nhân Việt Nam, Quyết định số 548-QĐ/QU ngày 29/5/2018, Hà Nội. Quân ủy Trung ương (2018), Về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá, xếp loại cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Quy định 842 - QĐ/QU ngày 06/8/2018, Hà Nội. Quân ủy Trung ương (2019), Về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, Nghị quyết số 109 - NQ/QUTW ngày 11/02/2019, Hà Nội. Quân ủy Trung ương (2019), Về tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội giai đoạn mới, Kết luận số 111- KL/QUTW ngày 12/02/2019, Hà Nội. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Luật cán bộ, Công chức, Số 22/2008/QH12, ngày 13/11/2008, Hà Nội. Nguyễn Tiến Quốc (2011), Nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Nxb QĐND, Hà Nội. Trần Thanh Sang (2018), Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội. Bunlon Saluôisắc (2014), Xây dựng đội ngũ thủ trưởng chính trị ở các trung đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị, Hà Nội. Kouyang Sisomblong (2016), Chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy ở các trường Chính trị - Hành chính tỉnh nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội. Võ Mạnh Sơn (2015), Phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của các tỉnh ủy ở Bắc Trung Bộ giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội. Phạm Trung Thành (2020), Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ quan chính trị ở các học viện, trường sỹ quan trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị, Hà Nội. Đặng Văn Thuấn (2017), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ban tuyên huấn ở các học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị, Hà Nội. Tổng cục Chính trị (2015), Tài liệu nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 - 2020, Dùng cho cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Quân đội, Nxb QĐND, Hà Nội. Tổng cục Chính trị (2020), Đề cương học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025, Dùng cho cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Quân đội, Nxb QĐND, Hà Nội. Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (2001), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb CTQG, Hà Nội. Trần Quang Trung (2019), “Nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội người dân tộc thiểu số trong Quân đội hiện nay”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 2, tr.35-38. Trần Thu Truyền (2011), Bồi dưỡng phương pháp, tác phong công tác của đội ngũ chính trị viên Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị, Hà Nội. Nguyễn Minh Tuấn (2012), Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb CTQG, Hà Nội. Nguyễn Văn Tuyên (2008), Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan trong quân đội trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị, Hà Nội. Từ điển tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998. Viện khoa học xã hội nhân văn quân sự (2007), Từ điển công tác đảng, công tác chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội. Nguyễn Hữu Vĩnh (2018), Chất lượng thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của tổ chức cơ sở đảng ở các đảng bộ học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị, Hà Nội. Vôngxavăn Xaynhavông (2013), “Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở Lào - Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Lý luận Chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia, số 10, tr.92-96.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docluan_an_nang_cao_chat_luong_cong_tac_can_bo_cua_cap_uy_co_so.doc
  • doc1. BÌA LUẬN ÁN - KIM HUNG.doc
  • doc1. PHỤ LỤC LUẬN ÁN HÙNG - KIM HUNG.doc
  • doc2. BÌA TÓM TẮT TIẾNG VIỆT - KIM HUNG.doc
  • doc2. TÓM TẮT LA TIẾNG VIỆT - KIM HUNG.doc
  • doc3. BÌA TÓM TẮT TIẾNG ANH - KIM HUNG.doc
  • docx3. TÓM TĂT LA TIẾNG ANH - KIM HUNG.docx
  • doc4. THÔNG TIN MẠNG (Tiếng Anh) - KIM HUNG.doc
  • doc4. THÔNG TIN MẠNG (TIẾNG VIỆT) - KIM HUNG.doc
Tài liệu liên quan