Luận án Quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội tại thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2015

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI --------@&?-------- NGUYỄN NGỌC MẠNH QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2015 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ HÀ NỘI - 2020 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI --------@&?-------- NGUYỄN NGỌC MẠNH QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2015 Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam Mã số : 9.22.90.13 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊC

docx223 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 15/01/2022 | Lượt xem: 51 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Luận án Quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội tại thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2015, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
H SỬ Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Ngọc Cơ HÀ NỘI - 2020 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Ngọc Cơ. Các số liệu, bảng biểu, hình ảnh được sử dụng trong luận án đều có nguồn gốc rõ ràng và được dẫn nguồn khi trích dẫn. Các kết quả nghiên cứu được công bố trong luận án chưa từng được công bố trong một công trình nào khác. . Tác giả luận án Nguyễn Ngọc Mạnh MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ASXH An sinh xã hội BHXH Bảo hiểm xã hội BHYT Bảo hiểm y tế CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa HĐND Hội đồng Nhân dân GQVL Giải quyết việc làm Nxb Nhà xuất bản TGXH Trợ giúp xã hội UBND Uỷ ban nhân dân XĐGN Xóa đói, giảm nghèo DVXHCB Dịch vụ xã hội cơ bản DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Các cơ quan tham gia hiện chính sách ASXH ở Việt Nam 36 Bảng 2.2: Quy mô và gia tăng dân số Hải Phòng (1999 - 2015) 46 Bảng 2.3: Cơ cấu dân số Hải Phòng phân chia theo độ tuổi (1999 - 2015) 47 Bảng 3.1: Các doanh nghiệp và lao động trên địa bàn thành phố Hải Phòng (2000 - 2009) 57 Bảng 3.2: Sử dụng Quỹ quốc gia giải quyết việc làm (2001 - 2010) 58 Bảng 3.3: Số cơ sở và số lao động Hải Phòng đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài (2001 - 2009) 60 Bảng 3.4: Số cơ sở dạy nghề ở Hải Phòng (2001 - 2010) 61 Bảng 3.5: Cơ sở vật chất và nguồn nhân lực Y tế Hải Phòng (2002 - 2010) 79 Bảng 3.6: Các chỉ tiêu về y tế tại Hải Phòng (2001 - 2010) 81 Bảng 4.1: Cơ cấu lao động thành phố Hải Phòng (2011 - 2015) 93 Bảng 4.2: Kết quả của Quỹ quốc gia về Việc làm của Hải Phòng (2011-2015) 95 Bảng 4.3: Số lao động đi làm việc ở nước ngoài thành phố Hải Phòng (2011 - 2015) 95 Bảng 4.4: Hoạt động của Trung tâm Dịch vụ việc làm Hải Phòng (2011 - 2015) 96 Bảng 4.5: Hoạt động của Sàn giao dịch việc làm Hải Phòng (2011 - 2015) 97 Bảng 4.6: Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của Hải Phòng (2011- 2015) 100 Bảng 4.7: Số người tham gia BHXH, BHTN (2011 - 2015) 106 Bảng 5.1: Cơ cấu nguồn chi cho một số lĩnh vực ASXH của thành phố Hải Phòng ( 2000 - 2015) 126 Bảng 5.2: Các chỉ tiêu về y tế của thành phố Hải Phòng (2006 - 2015) 134 Bảng 5.3: Chỉ tiêu về lao động, việc làm thành phố Hải Phòng từ năm 2011 đến năm 2015 136 Bảng 5.4: Thu nhập bình quân đầu người/tháng của Hải Phòng so với cả nước và các tỉnh/thành phố thuộc Đồng bằng sông Hồng (2010- 2014) 138 Bảng 5.5: Mức độ chênh lệch thu nhập giữa các nhóm, các vùng 139 DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1: Các trụ cột chính sách ASXH Việt Nam 35 Sơ đồ 2.2: Chính sách xã hội của Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020 40 Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế thành phố Hải Phòng (1991 - 2000) 49 Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị ở Hải Phòng (2001 - 2010) 60 Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ hộ nghèo thành phố Hải Phòng trong (2001 - 2010) 66 Biểu đồ 3.3: Số người tham gia bảo hiểm xã hội (2002 - 2010) 69 Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ dân số Hải Phòng tham gia BHYT (2002 - 2010) 72 Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị (2011 - 2015) 98 Biểu đồ 4.2: Số người tham gia BHYT ở Hải Phòng (2011 - 2015) 108 Biểu đồ 5.1: So sánh tỷ lệ lao động qua đào tạo của Hải Phòng với cả nước, ĐBSH và một số địa phương (2015) 132 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 của Liên Hợp quốc tại Điều 22. Quyền An sinh xã hội của con người khẳng định: “Mọi người, như một thành viên của xã hội, có quyền an sinh xã hội và được quyền thực hiện, thông qua nỗ lực quốc gia và hợp tác quốc tế và phù hợp với tổ chức và các nguồn lực của mỗi quốc gia” [149, tr.451]. Điều đó đồng nghĩa, các quốc là thành viên của Liên Hợp quốc phải có trách nhiệm pháp lý, hành động cụ thể hiện thực hóa các mục về ASXH, đảm bảo quyền an sinh cho người dân. Đối với Việt Nam, ASXH không chỉ là thực hiện các cam kết quốc tế, những hoạt động về mặt ngoại giao hay xây dựng hình ảnh quốc gia mà còn là một vấn đề thuộc về bản chất của nhà nước - nhà của dân do dân và vì dân, gắn với mục tiêu cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đang phấn đấu thực hiện. Do đó, ngay từ khi ra đời năm 1945, Nhà nước Việt Nam đã khẳng định mục tiêu theo đuổi nhất quán là: “độc lập - tự do - hạnh phúc”. Trong điều kiện “thù trong, giặc ngoài” đe dọa đến sự tồn tại của chính quyền non trẻ nhưng những vấn đề về an sinh như: “diệt gặc đói”, “diệt giặc dốt” - xóa nạn mù chữ, mở mang trường học, tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống của người dân đã được đề ra và từng bước thực hiện. Điều này đã tạo được niềm tin sự ủng hộ của người dân đối với chế độ mới và là cơ sở để chính quyền đứng vững, vượt qua được tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Bước vào hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mục tiêu hàng đầu là hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, nhưng Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn quan tâm chăm lo đến đời sống của người dân ở hậu phương, thực hiện phát triển giáo dục, y tế, chăm lo cho các gia đình chính sách Điều đó đã góp phần quan trọng trong việc giữ gìn kỷ cương và an ninh xã hội, hoàn thành nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn. Đồng thời, thể hiện sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng trong giải quyết các vấn đề xã hội với điều kiện chiến tranh kéo dài. Bước vào thời kỳ đổi mới, vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội do phạm phải sai lầm trong việc duy trì quá lâu cơ chế quản lý kế hoạch tập trung bao cấp, Đảng và Nhà nước Việt Nam quyết tâm đổi mới, trong đó, đổi mới kinh tế là trọng tâm kết hợp đổi mới các vấn đề về xã hội. Từ đó, nhận thức của Đảng và Nhà nước về ASXH ngày càng rõ ràng cụ thể hơn. ASXH vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển bền vững, một trong những yếu tố thể hiện tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường. Do đó, Nghị quyết số 15, Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đặt ra yêu cầu phấn đấu đến năm 2020 cơ bản hình thành hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân; bảo đảm người dân có việc làm, thu nhập tối thiểu, tham gia bảo hiểm xã hội; bảo đảm hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; bảo đảm cho người dân tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu, góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân. Tuy nhiên, để hiện thực hóa được yêu cầu đó, Việt Nam phải đối diện với nhiều khó khăn và thử thách như: sự biến động bất lợi từ nền kinh tế thế giới; các khoản vay ưu đãi, các khoản viện trợ quốc tế bị cắt giảm; chịu ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu; xu hướng già hóa dân số diễn ra nhanh; cách thức và kết quả thực hiện chính sách ASXH đã bộc lộ nhiều bất cập và hạn chế. Xuất phát từ những yếu tố đó, tìm hiểu nghiên cứu ASXH ở Việt Nam trong điều kiện mới là một vấn đề cấp thiết đặt ra cho các cá nhân, cơ quan và tổ chức khoa học. Thành phố Hải Phòng từ khi thành lập (năm 1888) đã có vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của Việt Nam. Vai trò chiến lược của thành phố càng được thể hiện và khẳng định trong giai đoạn phát triển hiện nay khi là 1 trong 5 thành phố trực thuộc trung ương, đô thị loại I (lớn thứ 2 miền Bắc và thứ 3 Việt Nam). Trong tương lai, Hải Phòng được định hướng phát triển là: “Một cực tăng trưởng quan trọng của vùng kinh tế động lực phía Bắc; một trọng điểm phát triển kinh tế biển; một trong những trung tâm công nghiệp, thương mại lớn của cả nước và trung tâm dịch vụ, du lịch, thuỷ sản, giáo dục và y tế của vùng duyên hải Bắc Bộ; một pháo đài bất khả xâm phạm về quốc phòng - an ninh, đời sống Nhân dân ngày một nâng cao” [45]. Bởi vậy, đi liền với việc phát triển kinh tế, giải quyết những vấn đề về ASXH, bảo đảm thu nhập và các yêu cầu thiết yếu của người dân cũng chính là một trong những yếu tố quan trọng để hiện thực hóa những mục tiêu và định hướng trên. Đồng thời, phần khơi dậy những nghĩa cử cao đẹp trong các tầng lớp nhân dân với mục đích, ý nghĩa tốt đẹp “chung tay vì cộng đồng” và “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Từ những vấn đề trên, nghiên cứu sinh quyết định chọn: "Quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội tại thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2015" làm đề tài luận án tiến sĩ lịch sử. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích Làm sáng tỏ quá trình thực hiện chính sách ASXH từ năm 2001 đến năm 2015 tại Thành phố Hải Phòng. Từ đó, rút ra những đặc điểm, đánh giá tác động của quá trình thực hiện chính sách đối với vấn đề kinh tế và xã hội trên địa bàn thành phố. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện những nhiệm vụ sau: - Trình bày có hệ thống những vấn đề lý luận về ASXH. Trong thời gian gần đây, vấn đề ASXH nhận được sự quan tâm nghiên cứu và làm rõ ở nhiều góc độ khác nhau. Bởi vậy, thông qua việc khảo cứu các tài liệu, công trình nghiên cứu tác giả hệ thống, khái quát góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận về ASXH như: vai trò, chức năng, các trụ cột cơ bản cùng với các quan điểm, chủ trương, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam về ASXH - Phân tích những đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng. Quá trình thực thi chính sách phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội là yếu tố cơ bản và tác động thường xuyên nhất. Do đó, luận án có nhiệm vụ chỉ ra những đặc điểm nổi bật về tự nhiên, kinh tế, xã hội của Hải Phòng từ đó làm rõ những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện chính sách. - Tái hiện tiến trình lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách ASXH của Đảng bộ và Chính quyền thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2015. Từ hiện thực lịch sử và các nguồn tư liệu, sử liệu, số liệu thống kê và các nhân vật cụ thể, luận án tái hiện quá trình lãnh đạo, tổ chức thực hiện chính sách ASXH qua các giai đoạn và làm rõ những kết quả đạt được cũng như hạn chế, yếu kém trong các giai đoạn đó. - Rút ra những đặc điểm, đánh giá những tác động của quá trình thực thi chính sách. Luận án không chỉ mô tả, tái hiện tiến trình thực hiện chính sách ASXH mà còn có nhiệm vụ rút ra những đặc điểm, đánh giá những tác động của quá trình thực thi đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội và nêu lên những vấn đề đặt ra. - Tham quan thực tế, phỏng vấn. Tác giả luận án sẽ tiến hành các hoạt động tham quan thực tế tại cơ sở; phỏng vấn, tìm hiểu ý kiến đánh giá của người dân để có thêm những căn cứ, chứng cứ cụ thể phục vụ cho việc rút ra những kết luận của luận án. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình thực hiện chính sách ASXH tại thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2015. Chính sách ASXH là một trong những công cụ cơ bản để Đảng và Nhà nước thể hiện vai trò lãnh đạo và thực hiện chức năng quản lý của mình đối với các vấn đề xã hội. Chính sách ASXH được thể hiện trong Cương lĩnh, nghị quyết của Đảng, được thể chế hóa bằng những văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước cùng với các chương trình, đề án cụ thể. Do đó, quá trình thực hiện chính sách ASXH ở Hải Phòng được hiểu là việc các cơ quan, tổ chức của thành phố quán triệt, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước trên địa bàn thành phố. Đó là một quá trình vừa mang tính chấp hành vừa mang tính chủ động, linh hoạt và sáng tạo dựa trên những điều kiện cụ thể của địa phương. Phạm vi nghiên cứu - Về thời gian Luận án lựa chọn khoảng thời gian nghiên cứu từ năm 2001 đến năm 2015. Năm 2001, tại Đại hội IX (2001), lần đầu tiên Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức sử dụng khái niệm “an sinh xã hội” trong văn kiện. Đây là dấu mốc quan trọng trong quá trình đổi mới về tư duy nhận thức của Đảng về ASXH. Từ đó, ASXH được chú trọng hơn và dần trở thành một bộ phận quan trọng của mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam. Nghiên cứu về ASXH ở thành phố Hải Phòng, tác giả luận án chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2010, đây là giai đoạn đầu tiên thành phố Hải Phòng và cả nước thực hiện chính sách ASXH gắn với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 với quan điểm cơ bản là: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” [41, tr.25]. Giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015, 5 năm đầu thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, là giai đoạn đẩy mạnh thực hiện các mục tiêu về kinh tế - xã hội để tiến tới tổng kết 30 năm đổi mới. - Về mặt không gian Luận án nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hải Phòng, gồm có: 7 quận nội thành (Ngô Quyền, Hồng Bàng, Lê Chân, Dương Kinh, Đồ Sơn, Kiến An và Hải An); 6 huyện ngoại thành (Thuỷ Nguyên, Hải An, An Lão, Kiến Thụy, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo) và 2 huyện đảo (Cát Hải, Bạch Long Vĩ). - Về nội dung Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành trung ương khóa XI, ngày 01/6/2012 đã ra Nghị quyết số 15-NQ/TW, Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020, theo đó các nội dung chính trong chính sách ASXH gồm: 1) Chính sách giải quyết việc làm; 2) Chính sách xóa đói, giảm nghèo; 3) Chính sách bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế; 4) Chính sách trợ giúp xã hội; 5) Chính sách đảm bảo các dịch vụ xã hội cơ bản (giáo dục; y tế; nhà ở; nước sạch; thông tin), đây là cơ sở để nghiên cứu sinh xác định nội dung nghiên cứu trong luận án. 4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu Nguồn tài liệu Đề tài được thực hiện trên cơ sở sử dụng các nguồn tài liệu chính sau đây: - Tài liệu lưu trữ Đây là nguồn tài liệu được tác giả nghiên cứu để làm rõ đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước Việt Nam và của thành phố Hải Phòng về ASXH. Bao gồm: Cương lĩnh, văn kiện đại hội, văn kiện hội nghị Ban Chấp hành Trung ương và các chỉ thị, kết luận của Đảng chủ yếu từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội XII (2016). Các văn bản pháp quy của Quốc hội như: Hiến pháp, luật, pháp lệnh; nghị quyết. Các nghị định, thông tư, quyết định, chương trình, đề án của Chính phủ và bộ ngành có liên quan đến chính sách ASXH. Bên cạnh đó là các văn kiện, nghị quyết, quyết định, đề án, chương trình của Đảng bộ, HĐND, UBND thành phố Hải Phòng. - Tài liệu báo cáo, thống kê Nhóm tài liệu bày bao gồm: Báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội của UBND thành phố; Báo cáo tổng kết, sơ kết của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm xã hội thành phố, Sở Y tế, Sở Giáo dục và đào tạo v.v Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam, Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng của Cục Thống kê thành phố. Đây là những ấn phẩm được xuất bản hằng năm để giới thiệu số liệu về đơn vị hành chính, dân số, lao động, tài khoản quốc gia, ngân sách nhà nước, đầu tư, doanh nghiệp, bưu chính viễn thông, giáo dục, y tế v.v Nhóm tài liệu này là một trong những nguồn chính cung cấp số liệu được sử dụng trong đề tài. - Tài liệu tham khảo Gồm có các công trình nghiên cứu (chủ yếu bằng tiếng Việt và tiếng Anh) có liên quan trực tiếp đến chính sách ASXH, bao gồm: sách chuyên khảo, sách tham khảo, bài viết đăng trên tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học, luận án của các nghiên cứu sinh. Đây là nguồn tài liệu cung cấp cho nghiên cứu sinh những tri thức chung nhất về ASXH như khái niệm, nguồn gốc, chức năng, vai trò; cho thấy sự khác nhau trong mô hình, cách thức thực hiện ASXH giữa các quốc gia cũng như thực trạng và phương hướng, giải pháp thực hiện ASXH ở Việt Nam. - Tài liệu điền dã Tài liệu này có được thông qua hoạt động tham quan thực tế, phỏng vấn trực tiếp các đối tượng có liên quan, từ đó tác giả luận án thu được những thông tin về nhận xét, đánh giá và thái độ của người dân đối với quá trình thực hiện ASXH. Đây là nguồn tài liệu giúp tác giả đối chiếu, so sánh với các nguồn tài liệu khác và có cách nhìn trực quan về quá trình thực hiện chính sách ASXH ở thành phố Hải Phòng. - Tài liệu từ Internet Với việc phát triển mạnh mẽ của Internet và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước mà chính sách, hệ thống văn bản pháp luật, thủ tục hành chính, các số liệu thống kê, báo cáo được công bố công khai trên các cổng thông tin điện tử của các cơ quan và tổ chức. Nguồn tài liệu này vừa phong phú, đa dạng vừa mang tính chính thống được nghiên cứu sinh sử dụng bổ trợ cho nghiên cứu đề tài. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp luận Đề tài được thực hiện trên cơ sở thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng của Triết học Mác-Lênin. Đồng thời, vận dụng phương pháp luận sử học mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công tác nghiên lịch sử. - Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành Cũng như các công trình khoa học lịch sử khác, trong luận án, tác giả sử dụng hai phương pháp cơ bản là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Với phương pháp lịch sử, tác giả tái hiện quá trình tổ chức thực hiện chính sách ASXH theo một trình tự liên tục về mặt thời gian trong không gian cụ thể, làm rõ điều kiện, đặc điểm phát sinh, phát triển và kết quả đạt được; làm sáng tỏ sự tác động lẫn nhau giữa các yếu tố liên quan đến quá trình tổ chức thực hiện. Phương pháp này được tác giả sử dụng chủ yếu trong Chương 3, Chương 4 gắn với quá trình thực hiện chính sách ASXH tại thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2015. Phương pháp logic, tác giả sử dụng để rút ra các đặc điểm, khuynh hướng vận động và chỉ ra những vấn đề về bản chất của chính sách ASXH. Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở Chương 5 để làm rõ các đặc điểm, đánh giá tác động của quá trình thực hiện chính sách ASXH đối với các lĩnh vực kinh tế, xã hội và nêu lên những vấn đề đặt ra. - Phương pháp nghiên cứu liên ngành Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả vận dụng kết hợp các phương pháp khác như: thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh. Các phương pháp trên góp phần đánh giá chi tiết những chuyển biến, thay đổi qua các giai đoạn trong quá trình thực hiện chính sách ASXH ở Hải Phòng. Bên cạnh đó, tác giả luận án tiến hành hoạt động điền dã, thực tế tại một số xã, phường, thị trấn kết hợp với phỏng vấn, trao đổi với cán bộ và người dân. Phương pháp này giúp tác giả kiểm chứng, đối chiếu giữa chủ trương, chính sách với thực tiễn, từ đó làm cho luận án thêm phần cụ thể, sinh động. 5. Đóng góp của luận án Là công trình đầu tiên nghiên cứu về ASXH ở Hải Phòng một cách toàn diện trong thời gian tương đối dài (15 năm), do đó, luận án có những đóng góp nhất định về khoa học và thực tiễn: - Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về ASXH, khẳng định tính đúng đắn, phù hợp của quan điểm phát triển bền vững: Tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển của Việt Nam - Luận án góp phần làm rõ những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến quá trình thực hiện chính sách ASXH tại thành phố Hải Phòng. Từ đó khẳng định, Hải Phòng là một trong số ít địa phương hội tụ đầy đủ những yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để hiện thực hóa các mục tiêu về ASXH. - Từ việc tái hiện quá trình Đảng bộ và chính quyền thành phố tổ chức thực hiện và những kết quả đạt được trên các trụ cột của ASXH, luận án làm rõ vai trò chủ động, sáng tạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, các cá nhân, các thành phần kinh tế trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Trung ương và đề ra những chính sách mang tính đặc thù của địa phương. Mặt khác, từ những hạn chế tồn tại và nguyên nhân, luận án chỉ ra những điểm nghẽn, những trở ngại mà thành phố Hải Phòng cần phải vượt qua trong những giai đoạn phát triển tiếp theo. - Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc hoạch định chính sách an sinh xã hội và trong công tác nghiên cứu, học tập lịch sử địa phương. 6. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được chia làm 5 chương. Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2. Những yếu tố tác động đến quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội ở thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2015 Chương 3. Quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội ở thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2010 Chương 4. Đẩy mạnh thực hiện chính sách an sinh xã hội tại thành phố Hải Phòng từ năm 2011 đến năm 2015 Chương 5. Nhận xét quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội tại thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2015 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1. Những công trình nghiên cứu có liên quan đề đề tài 1.1.1. Những công trình nghiên cứu ASXH ở nước ngoài Ngày nay ASXH đã trở thành một vấn đề mang tính toàn cầu, là một tiêu chuẩn để đánh giá trình độ phát triển quốc gia trong cộng đồng quốc tế. Do đó, tìm hiểu các công trình nghiên cứu về ASHX ở nước ngoài sẽ góp phần nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về vấn đề này. Cuốn “An sinh xã hội ở các nước đang phát triển” (Social security in Developing Countries) [150] của các tác giả Ehtisham Ahmad, Jean Drèze, John Hills và Amartya Sen, năm 1991. Công trình nhấn mạnh đến sự cần thiết của hệ thống ASXH, cho rằng đó là một vấn đề mang tính phổ quát, là mong muốn của con người trong bất kỳ một xã hội nào, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Bởi vì, các nước đang phát triển tỷ lệ dân số và mức độ thiếu hụt các điều kiện sống nghiêm trọng hơn (so với các nước phát triển), mức độ phát triển thấp của các hệ thống an sinh xã hội, đối tượng hỗ trợ ít hoặc không phù hợp, sự thiếu hụt các nguồn lực và sự bất lực của người nghèo - những đối tượng dễ bị tổn thương bởi những tác động bất lợi của hoàn cảnh. Từ đó, các tác giả đã đề cập đến sự cần thiết can thiệp của Nhà nước trong việc thực hiện ASXH. Điều đó được lý giải là do sự thất bại của thị trường, thị trường không thể tự điều tiết tốt các vấn đề của ASXH, mặt khác nhà nước với các công cụ quan trọng (pháp luật, chính sách) và các nguồn lực (tài chính) mới có thể thực hiện có hiệu quả các mục tiêu của ASXH. Tuy nhiên, chỉ duy nhất Nhà nước thực hiện là “điều không khả thi và không nên như thế”, mà cần có sự chia sẻ từ gia đình, cộng đồng, công ty, nhóm tôn giáo, có vai trò hỗ trợ và sự bổ sung cho nhà nước. Tác giả Peter A.Diamond và Peter R.Orszag, hai trong số các nhà kinh tế hàng đầu của Mỹ với cuốn “Tiết kiệm an sinh xã hội: Một cách tiếp cận cân bằng” (Saving Social Security: A Balanced Approach), năm 2005 [156]. Thông qua công trình này, một vấn đề quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công của ASXH ở nước Mỹ là tiết kiệm tài chính. Tác giả và các cộng sự khẳng định tầm quan trọng của tiết kiệm, yếu tố giúp cho con người vượt qua được những biến cố, những cú sốc về việc bị mất thu nhập, giúp họ duy trì và đảm bảo được cuộc sống trước những biến cố đó. Và theo các tác giả, thì yếu tố quan trọng nhất là chính phủ phải tạo điều kiện cho họ có việc làm, có nguồn thu nhập ổn định thì mới có tiết kiệm. Đi liền với vấn đề đó, cần đa dạng hóa các hình thức tiết kiệm, các loại hình bảo hiểm, sự linh hoạt trọng các gói tài chính và đảm bảo sự chi trả đúng hạn của các tổ chức tài chính điều đó, sẽ giúp cho vấn đề tiết kiệm được trở nên dễ dàng hơn, do đó, sẽ giảm được những gánh nặng cho ngân sánh khi có những biến cố xảy ra. Cuốn ‘Các chương trình an sinh xã hội và hưu trí trên toàn thế giới” (Social Security Programs and Retirement around the World) của nhóm tác giả Jonathan Gruber và David A Wise có các phần: Phần 1 “Ý nghĩa của cải cách tài chính” (Fiscal implications of reform), năm 2007 [153] và phần 2 “Mối quan hệ với việc làm của thanh niên” (The relationship to youth employment), năm 2010 [154]. Công trình tập hợp nhiều bài nghiên đến từ nhiều quốc gia khác nhau (chủ yếu các quốc gia phát triển như: Bỉ, Canada, Đan Mạch, Pháp, Ý, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Mỹ). Trong phần 1, các tác giả đã chỉ ra rằng, hệ thống tài chính của ASXH ở các nước này đang thực sự gặp khó khăn khi mức chi trả ngày một lớn dẫn đến mất cân bằng giữa thu và chi. Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là do sự gia tăng người lao động nghỉ hưu và nhận những trợ cấp hợp pháp. Trong phần 2, các tác giả đã chỉ ra mối quan hệ giữa việc nghỉ hưu với việc khéo dài thời gian lao động của cao tuổi; những tác động của cải cách an sinh xã hội với tỷ lệ làm việc của người lao động cao tuổi; mở rộng lực lượng lao động với chi phí an sinh xã hội. Từ đó, cuốn sách đi đến bác bỏ giả thuyết: sử dụng lao động lớn tuổi sẽ lấy mất việc làm của người trẻ và khẳng định đây là một biện pháp góp phần đảm bảo cho quỹ ASXH được duy trì. Cuốn “An sinh xã hội: Kinh tế và phát triển (Social Security, the Economy and development) của tác giả James Midgley, năm 2008 [151]. Thông qua phân tích về quá trình thực hiện ASXH của các nước như: Anh, Chile, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Na Uy, Singapore, Nam Phi và Hoa Kỳ cuốn sách góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa ASXH và phát triển kinh tế: An sinh xã hội góp phần tích cực vào phát triển kinh tế bằng cách thúc đẩy những khoản đầu tư xã hội. Đồng thời, tăng trưởng kinh tế góp phần tăng cường phúc lợi xã hội. Ngoài ra, tác giả James Midgley còn có cuốn (cộng tác với Mitsuhiko Hosaka) “Cơ sở an sinh xã hội ở châu Á: Hỗ trợ lẫn nhau, bảo hiểm vi mô và an sinh xã hội” (Basis of social security in Asia: mutual aid, micro-insurance and social security), năm 2012 [152]. Tác giả chỉ ra và chứng minh rằng, cơ sở của an sinh châu Á bao gồm ba yếu tố: Thứ nhất là sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các tổ chức trong phạm vi quốc gia và thế giới; Thứ hai là mô hình bảo hiểm vi mô và việc phát huy hiệu quả của mô hình bảo hiểm này; Thứ ba là xây dựng chiến lược ASXH toàn diện đóng góp rõ rệt cho mục tiêu xóa đói, giảm nghèo và cải thiện mức sống. Cuốn “Sự bảo vệ: Một nguyên tắc chung của luật an sinh xã hội ở châu Âu” (Security: A General Princeple of Social Security Law in Europe) của nhóm tác giả Ulrich Becker, Danny Pieters, Friso Ross, Paul Schoukens, năm 2010 [157]. Các tác giả một mặt cho rằng, hệ thống an sinh xã hội đang trải qua sự thay đổi sâu sắc trên toàn châu Âu do các nguyên nhân từ thay đổi trong xã hội, trong thị trường lao động và các tác động của toàn cầu hóa. Mặt khác, đã luận giải mối quan hệ giữa an sinh đối với quá trình lập pháp, trong đó khẳng định vai trò quan trọng của việc xây dựng hệ thống pháp luật về an sinh xã hội, xem đó là yếu tố hiệu quả nhất trong việc thực hiện các mục tiêu về ASXH. Bởi vì, luật pháp về ASXH không chỉ cung cấp thông tin cho người dân mà nó còn là một công cụ pháp lý mang tính bắt buộc trong thực tế và vì xét cho cùng, “đó là yếu tố cốt lõi của quốc gia để bảo vệ các thành viên trong xã hội mà không thể dựa vào tôn giáo hay sự trợ giúp nhân đạo của các nhóm xã hội”. Cuốn “An sinh xã hội, chăm sóc y tế và nhà ở xã hội” (Social Security, Medicare & Government Pensions), của Joseph Matthews Attorney, Dorothy Matthews Berman, năm 2013 [155] đã làm rõ các vấn đề: ASXH, chăm sóc y tế, nhà ở xã hội. Từ việc phân tích những lợi ích của hệ thống BHYT, cách thức để đảm bảo BHYT tốt nhất và nhà ở xã hội, tác giả đi đến khẳng định: Chăm sóc y tế và đảm bảo nhà ở xã hội là yếu tố quan trọng, cốt lõi của chính sách ASXH. Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu trong nước đã tìm hiểu hệ thống ASXH ở nước ngoài và rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam. Tác giả Đinh Công Tuấn với một loạt các công trình chuyên nghiên cứu về an sinh xã hội của các nước Châu Âu như: “Hệ thống an sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” (Nxb Khoa học xã hội, năm 2008) [127]; “An sinh xã hội Bắc Âu trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và bài học cho Việt Nam” (Nxb Khoa học xã hội, năm 2013) [128]; “Hệ thống an sinh xã hội của một số nước EU giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu” (Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2013) [129]. Thông qua các công trình trình trên, tác giả đã cung cấp những vấn đề mang tính tổng quan về hệ thống an sinh xã hội của các nước thuộc khối EU. Trong đó có đi sâu tìm hiểu mô hình hệ thống an sinh xã hội của một số quốc gia điển hình như Đan Mạch, Thụy Điển, Phần Lan, Đức. Tác giả đã làm rõ sự tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đến hệ thống an sinh xã hội và sự điều chỉnh trong thực hiện chính sách an sinh xã hội của các quốc gia này. Từ những những thành công, hạn chế, tác giả đã rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam: Thứ nhất, bài học về việc lựa chọn các mục tiêu giải quyết ASXH trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Cụ thể là thực hiện các chương trình về cứu trợ xã hội nhằm đảm bảo an toàn cho các thành viên trong xã hội như người già, người khuyết tật, trẻ em mồ côi, người nghèo, người có thu nhập thấp. Thứ hai, bài học về cơ chế đóng góp tài chính và trách nhiệm của các chủ thể tham gia hệ thống an sinh xã hội. Trong đó, sự đóng góp của người lao động và chủ sử dụng lao động là yếu tố chính đảm bảo cho quỹ ASXH được an toàn và ổn định. Thứ ba, bài học về phát triển thị trường lao động tích cực như làm việc bán thời gian, tăng tuổi lao động, giảm trợ cập đối người có khả năng lao động; Thứ tư, bài học về mức độ phổ quát và chất lượng của hệ thống an sinh xã hội. Thứ năm, bài học cần tránh về khiếm khuyết của một số mô hình an sinh xã hội, đó là: mức đóng góp của người dân thông qua thuế quá cao hoặc để thị trường tự điều tiết hoặc chí phủ chi quá nhiều nhưng ở mức thấp với đối tượng quá lớn. Như vậy, các công trình nghiên cứu ASXH ở nước ngoài cho thấy vấn đề tiếp cận theo nhiều góc độ khác nhau và đã làm rõ những vấn đề cơ bản như vai trò, chức năng của ASXH; những nguy cơ, thách thức đang đặt ra đối với quá trình thực thi ASXH; vai trò của nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong đảm bảo ASXH. Mặt khác, các nhà nghiên cứu đã rõ một số vấn đề cụ thể của ASXH như bảo hiểm, lương hưu, nhà ở, y tế đó là mối quan tâm thường trực và đặt ra nhiều áp lực cho chính phủ và người dân các nước. Từ đó, những lời khuyên hay khuyến cáo cho chính phủ và người dân được đưa ra để chủ động giải quyết tốt các vấn đề trên. 1.1.2. Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, ASXH đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan, tổ chức, các công trình ra đời góp phần làm rõ những vấn đề liên quan đến lĩnh vực quan trọng này. Cụ thể: Cuốn “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam” của tác giả Mai Ngọc Cường (Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2009) [25]. Cuốn sách là một trong những công trình đầu t...à cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập” [145, tr.9]. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “ASXH là một sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong” [145, tr.9]. Có thể thấy, điểm chung trong hai định nghĩa trên đều xoay quanh vấn đề thu nhập. ASXH được hiểu là những biện pháp của Nhà nước để duy trì, bảo vệ thu nhập cho người dân trước những biến động của tự nhiên và xã hội. Trong Nghị quyết số 15-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020 có nêu: “Ðến năm 2020, cơ bản bảo đảm ASXH toàn dân, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông, góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của Nhân dân”[48]. Tuy đây không phải là định nghĩa về ASXH nhưng đã cho thấy quan điểm của Đảng về một số vấn đề về đối tượng, mục tiêu, nội dung của chính sách ASXH ở Việt Nam. Trên cơ sở này, tác giả đưa ra định nghĩa chính sách ASXH để làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu: Chính sách ASXH là hệ thống các quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và biện pháp do Đảng và Nhà nước Việt Nam ban hành để bảo vệ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, đảm bảo những điều kiện tối thiểu về thu nhập, nhà ở, y tế, giáo dục, nước sạch và thông tin cho những người yếu thế trong xã hội, một yếu tố quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước. Định nghĩa trên thể hiện một số vấn đề cơ bản sau: Thứ nhất, về chủ thể ban hành chính sách. Đảng và Nhà nước là chủ thể ban hành chính sách. Trong đó, Đảng ban hành đường lối, chủ trương và định hướng lớn, Nhà nước thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp luật và các chương trình, đề án, kế hoạch cụ thể và bằng bộ máy cùng với các nguồn lực Nhà nước tổ chức thực hiện trong thực tiễn. Do đó, thực hiện chính sách ASXH là một vấn đề bắt buộc đối với các chủ thể có liên quan và các địa phương. Thứ hai, về đối tượng chính sách ASXH. Đối tượng ASXH là toàn dân, “đảm bảo ASXH toàn dân”, toàn bộ thành viên trong xã hội, thuộc mọi tầng lớp dân cư, thành phần xã hội và địa bàn cư trú. Trong đó, ưu tiên cho nhóm đối tượng yếu thế (người nghèo, người ở vùng khó khăn, người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người khuyết tật..) và người gặp phải rủi ro (do sự tác động tiêu cực tự nhiên và xã hội). Thứ ba, mục tiêu của ASXH. Mục tiêu chung nhất, mang tính tổng quát là bảo vệ cuộc sống người dân, bảo đảm cho mọi thành viên có cuộc sống an toàn, ổn định, góp phần xây dựng xã hội phát triển bền vững. Ở mức độ thấp hơn là bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông cho những những người yếu thế, những người gặp phải những rủi ro. * Các trụ cột chính của chính sách ASXH ở Việt Nam Cũng theo Nghị quyết 15-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, có thể xác định các trụ cột của chính sách ASXH của Việt Nam gồm: 1) Chính sách giải quyết việc làm. Việc làm là vấn đề không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, chi phối toàn bộ hoạt động của cá nhân và xã hội. Do đó, đây là vấn đề cốt lõi của chính sách ASXH. Trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, biến động cung - cầu lao động luôn phức tạp, tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm diễn ra căng thẳng. Do đó, tạo ra nhiều việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp trở thành mối quan tâm thường trực đối với Đảng và Nhà nước. Để giải quyết vấn đề này, nhiều chính sách về việc làm đã được ban hành: Chính sách phát triển thị trường lao động; Chính sách tín dụng ưu đãi hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm; Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề; Chính sách đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng 2) Chính sách xóa đói, giảm nghèo. Việt Nam có điểm xuất phát thấp, nền sản xuất nông nghiệp là chủ yếu; trải qua nhiều cuộc chiến tranh; lãnh thổ ¾ là đồi núi, nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào dân tộc ít người; cùng đó là ảnh hưởng nặng nề của thiên tai và dịch bệnh, do đó, tỷ lệ hộ đói nghèo, xã nghèo lớn. Bởi vậy, chính sách xóa đói giảm nghèo là hợp phần quan trọng trong chính sách ASXH của Viêt Nam. Chính sách này nhằm thực hiện mục tiêu giảm nghèo, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn với thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư. Chính sách xóa đói giảm nghèo bao gồm: các chính sách hỗ trợ cho hộ nghèo, cận nghèo và các chính sách hỗ trợ xã nghèo, huyện nghèo. 3) Chính sách bảo hiểm xã hội. BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH. Chính sách bảo hiểm vai trò tích cực cho sự ổn định kinh tế - xã hội, mang đến trạng thái an toàn về tinh thần, giảm bớt sự lo âu trước rủi ro, bất trắc cho người được bảo hiểm; giảm sức ép đối với hệ thống ASXH. Có hai hình thức BHXH, BHYT là tự nguyện và bắt buộc. 4) Chính sách trợ giúp xã hội. Trợ giúp xã hội có hai hình thức là trợ giúp thường xuyên và trợ giúp xã hội đột xuất. Trợ giúp xã hội thường xuyên, bao gồm: Thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng những người không tự lo được cuộc sống tại cơ sở bảo trợ xã hội và tại cộng đồng bằng hình thức tiền mặt. Trợ giúp xã hội đột xuất là hình thức Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ những người không may gặp phải rủi ro (lũ lụt, mất mùa, dịch bệnh...) hoặc những biến cố khác nhằm khắc phục khó khăn để ổn định đời sống và sản xuất. 5) Chính sách đảm bảo các dịch vụ xã hội cơ bản (giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin). Trong việc đảm bảo các DVXHCB thường có hai cách tiếp cận để giải quyết. Thứ nhất, đảm bảo các DVXHCB ở mức tối thiểu cho những đối tượng yếu thế (người tàn tật, người nghèo, người dân ở biên giới, hải đảo). Thứ hai, đảm bảo các DVXHCB ở mọi cấp độ, phù hợp với mọi yêu cầu khác nhau của người dân và được thực hiện với tư cách một loại hàng hóa dịch vụ gắn với cơ chế thị trường. Đảm bảo các DVXHCB là nội dung phổ quát nhất trong hệ thống chính sách ASXH, có tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến mọi đối tượng trong xã hội. Việc tiếp cận các DVXHCB có thể coi là một yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực tự an sinh của người dân. Sơ đồ 2.1: Các trụ cột chính sách ASXH Việt Nam TRỤ CỘT HỆ THỐNG ASXH VIỆC LÀM Tín dụng Xuất khẩu LĐ Phát triển TTLĐ Dạy nghề XĐGN Hộ trợ hộ nghèo Hỗ trợ xã nghèo BHXH, BHYT Bắt buộc Tự nguyện TGXH Thường xuyên Đột xuất DVXHCB Giáo dục Y tế Nhà ở Nước sạch Thông tin (Nguồn: NCS sơ đồ theo Nghị quyết số 15-NQ/TW) Có thể thấy, chính sách ASXH ở Việt Nam bao gồm nhiều lĩnh vực có sự tham gia của nhiều bộ, ngành và cơ quan liên quan như: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.... Sự tham gia của các cơ quan trên được quy định trong các quyết định về chức năng, nhiệm vụ do Chính phủ ban hành và trong từng chính sách cụ thể. Trong đó, Bộ Lao động -Thương Binh và Xã hội là cơ quan chính, có vai trò quan trọng nhất trong việc đề xuất, tham mưu xây dựng chính sách, điều phối và tổng kết việc thực hiện chính sách. Bảng 2.1: Các cơ quan tham gia hiện chính sách ASXH ở Việt Nam TT Cơ quan thực hiện Nội dung thực hiện 1 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Giải quyết việc làm Trợ giúp xã hội Xóa đói, giảm nghèo Bảo hiểm xã hội 2 Bộ Giáo dục và Đào tạo Đảm bảo dịch vụ giáo dục 3 Bộ Y tế Đảm bảo về dịch vụ y tế 4 Bộ Xây dựng Đảm bảo về nhà ở Đảm bảo nước sạch ở đô thị 5 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đảm bảo nước sạch ở nông thôn 6 Bộ Thông tin và Truyền thông Đảm bảo dịch vụ thông tin 7 Bảo Hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế (Nguồn: NCS tổng hợp) * Chức năng của chính sách ASXH Chính sách ASXH là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước để quản lý phát triển xã hội nói chung và quản lý rủi ro nói riêng. Theo đó, quản lý rủi ro gồm 3 cấp độ: phòng ngừa rủi ro; giảm thiểu rủi ro và khắc phục rủi ro [145, tr.15]. 1) Phòng ngừa rủi ro. Gồm những chính sách hỗ trợ người dân để có nguồn lực, năng lực chủ động ngăn ngừa rủi ro trong cuộc sống. Đó là những chính sách về thị trường lao động, tạo việc làm, dạy nghề giúp cho người dân có việc làm, thu nhập, có nguồn lực cần thiết để đối phó một cách tốt nhất với rủi ro và tự bảo vệ mình trước rủi ro. 2) Giảm thiểu rủi ro. Gồm những chính sách giúp cho người dân có nguồn lực để bù đắp những thiếu hụt về thu nhập do các biến cố về sức khỏe; sản xuất kinh doanh và môi trường tự nhiên. Để giảm thiểu được rủi ro đòi hỏi phải có sự tham gia các bên Nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Đó là chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 3) Khắc phục rủi ro. Gồm những chính sách hỗ trợ kịp thời, trực tiếp cho những người yếu thế trong xã hội, bảo đảm điều kiện sống ở mức tối thiểu cho họ. Đó là chính sách về trợ giúp xã hội hướng vào những người tàn tật, trẻ em mồ côi, người già cô đơn 2.1.2. Đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về an sinh xã hội. Trong quá trình lãnh đạo đất nước, nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề an sinh xã hội ngày càng rõ ràng, cụ thể, phù hợp với sự vận động của kinh tế thị trường và hội nhập nhập quốc tế. Đại hội IX (2001), lần đầu tiên thuật ngữ an sinh xã hội được Đảng đề nêu ra: “từng bước mở rộng vững chắc hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội” [41, tr.105]. Đây được coi là một bước tiến trong tư duy của Đảng khi thuật ngữ này đã được đề cập trực tiếp trong một văn kiện Đại hội Đảng. Đại hội X (2006), với thức tiễn sau 20 năm đổi mới, Đảng nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của việc thực hiện an sinh xã hội, khẳng định là lĩnh vực thể hiện rõ nhất bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Do đó, cần giải quyết các vấn đề xã tương xứng với nhịp độ phát triển kinh tế: “Kết hợp chặt chẽ, hợp lý các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi với nghĩa vụ, cống hiến với hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ hơn cho phát triển kinh tế - xã hội” [42, tr.148]. Đại hội XI (2011), nhận thức về ASXH được thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011): “Chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người là động lực mạnh mẽ phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [43, tr.78]. Đại hội tiếp đề ra những định hướng cho việc đảm bảo ASXH: Hoàn thiện hệ thống chính sách, kết hợp chặt chẽ các mục tiêu, chính sách kinh tế với các mục tiêu, chính sách xã hội; thực hiện tốt tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững. Cụ thể hóa tư tưởng chỉ đạo của Đại hội XI, Nghị quyết số 15-NQ/TW của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XI ngày 1/6/2012 về Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020 đã đề ra mục tiêu: “Ðến năm 2020, cơ bản bảo đảm an sinh xã hội toàn dân, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông, góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân”. Nghị quyết số 15 là một bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng về ASXH, đánh dấu sự hoàn thiện về đường lối ASXH. Đại hội XII (2016), công cuộc đổi mới đất nước tiến hành được 30 năm, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Tại Đại hội, Đảng khẳng định bảo đảm an sinh xã hội là một trong các nhiệm vụ trọng tâm trong thời kỳ mới, đồng thời đề ra định hướng lớn là: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Mở rộng đối tượng và nâng cao hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội tới mọi người dân Chuyển từ hỗ trợ nhân đạo sang bảo đảm quyền an sinh xã hội của công dân” [44, tr.137]; “Khuyến khích nâng cao khả năng tự bảo đảm an sinh xã hội của mỗi người dân. Mọi người dân đều có cơ hội và điều kiện bảo đảm an sinh xã hội và phát huy khả năng tự bảo đảm an sinh xã hội của mình” [44, tr.300]. Từ quá trình thay đổi nhân thức trên, quan điểm chỉ đạo được rút ra là: Một là, bảo đảm ASXH là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Ðảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Hai là, chính sách ASXH phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và khả năng huy động, cân đối nguồn lực của đất nước trong từng thời kỳ; ưu tiên người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số. Ba là, hệ thống ASXH phải đa dạng, toàn diện, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ; bảo đảm bền vững, công bằng. Bốn là, Nhà nước bảo đảm thực hiện và giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện chính sách ASXH; đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp và người dân tham gia. Ðồng thời tạo điều kiện để người dân nâng cao khả năng tự bảo đảm an sinh. Năm là, tăng cường hợp tác quốc tế để có thêm nguồn lực, kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách ASXH. Bên cạnh đó, những chủ trương lớn cũng được đề cho một số lĩnh vực cụ thể: Về giải quyết việc. Hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm, học nghề, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, ưu tiên người nghèo, người dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, xã nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăn; kết nối cung - cầu về lao động. Về xóa đói giảm nghèo. Thực hiện hỗ trợ cho các địa phương đặc biệt khó khăn và hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo; Khuyến khích làm giàu hợp pháp, đồng thời ra sức xóa đói giảm nghèo; Tạo điều kiện về cơ sở hạ tầng và năng lực sản xuất để địa phương hoặc người nghèo có thể tự phát triển; Đa dạng hoá các nguồn lực và phương thức bảo đảm giảm nghèo bền vững. Về BHXH, BHYT. Tăng nhanh diện bao phủ đối tượng tham gia BHXH, thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân; Quản lý, sử dụng an toàn, hiệu quả Quỹ BHXH, BHYT; Xây dựng hệ thống BHXH, BHYT hiện đại, chuyên nghiệp; Đa dạng sản phẩm dịch vụ BHYT, áp dụng thêm các loại BHXH mới. Về trợ giúp xã hội. Mở rộng đối tượng thụ hưởng; nâng dần mức trợ cấp xã hội; Củng cố, nâng cấp hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân; Hỗ trợ kịp thời người gặp rủi ro nhanh chóng ổn định cuộc sống. Về đảm bảo các dịch vụ xã hội cơ bản. Xây dựng hệ thống cơ sở vật chất, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng dịch vụ; Đẩy mạnh xã hội hóa, đồng thời đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị công lập theo hướng nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, công khai, minh bạch, hiệu quả; Tạo điều kiện các cơ sở ngoài công lập tham gia cung ứng dịch vụ. Sơ đồ 2.2: Chính sách xã hội của Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020 CHÍNH SÁCH XÃ HỘI CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG CHÍNH SÁCH ASXH Việc làm BHXHBHYT Trợ giúp xã hội Dịch vụ XH cơ bản XĐGN (Nguồn: NCS thiết kế theo Nghị quyết số 15-NQ/TW) Trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước thể chế hóa bằng văn bản quy phạm pháp luật và các chính sách cụ thể. Hiến pháp năm 2013, Điều 34 quy định: “Công dân có quyền được bảo đảm ASXH”. Đây là lần điều tiên Quốc hội Việt Nam dành hẳn một điều độc lập để khẳng định quyền ASXH của người dân trong một văn bản pháp lý cao nhất - Hiến pháp. Bên cạnh đó, trên các trụ cột của ASXH, hệ thống pháp luật, chính sách cũng được Nhà nước ban hành, bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn [Phụ lục 2.1]. Có thể nói, đường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước về ASXH đã tạo ra sự thống nhất trong chỉ đạo thực hiện, góp phần nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin cho cán bộ đảng viên và người dân cả nước nói chung, thành phố Hải Phòng nói riêng. 2.2. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tác động đến quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội tại thành phố Hải Phòng 2.2.1. Điều kiện tự nhiên * Vị trí địa lý Hải Phòng là thành phố ven biển nằm phía Đông vùng Duyên hải Bắc bộ. Về phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh; phía Tây Bắc giáp Hải Dương, phía Tây Nam giáp Thái Bình và phía Đông là bờ biển chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Hải Phòng thuộc một trong 3 đỉnh của tam giác tăng trưởng kinh tế miền Bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, nằm trên hai hành lang một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc, nơi tiếp nhận vận chuyển hàng hóa trong nước và quốc tế lớn hàng đầu cả nước.Với vị trí địa lý đó, Hải Phòng đóng vai trò chiến lược đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của Việt Nam. Có thể nói, vị trí địa lý thuận lợi là một động lực quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế của thành phố, từ đó tạo những nguồn lực cần thiết cho đảm bảo ASXH. * Địa hình Địa hình thành phố Hải Phòng khá phức tạp, có đồi núi xen kẽ với đồng bằng và ngả thấp dần về phía nam ra biển. Phía Bắc (giáp với tỉnh Quảng Ninh) là huyện Thủy Nguyên có vùng đồi núi kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam đi ra biển. Phía Nam là vùng đồng bằng tương đối rộng lớn nhưng bị chia cắt bởi một dãy núi theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ các huyện An Lão đến Đồ Sơn. Ngoài ra, vùng đồng bằng cũng chia cắt bởi các con sông thuộc phụ lưu của sông Hồng và sông Thái Bình. Tính chất địa hình tuy thuận lợi cho phát triển giao thông thủy nhưng gây cản trở cho giao thông đường bộ. Do đó, để tạo sự gắn kết giữa các quận huyện, thành phố phải ưu tiên nguồn kinh phí lớn để xây dựng hệ thống giao thông. * Đặc điểm về khí hậu Khí hậu Hải Phòng mang đầy đủ đặc điểm của của khí hậu miền Bắc Việt Nam: cận nhiệt đới, gió mùa ẩm, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông rõ rệt. Do nằm sát biển nên thời tiết về mùa đông ấm hơn và mùa hè mát hơn khoảng 1°C so với Hà Nộ và ít chịu ảnh hưởng của bão, lũ lụt lớn. Trong những năm gần đây do biến đổi khí hậu, thời tiết có diễn biến bất thường nhưng so với các địa phương thuộc các vùng khác (Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung bộ) sự thiệt hại về người và kinh tế ít hơn. Sự thuận lợi về khí hậu là yếu tố quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, góp phần ổn định cuộc sống, nâng cao thu nhập của người dân. * Tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên đất: Ngoài diện tích nhỏ đất đồi núi tập trung ở khu vực phía Bắc của thành phố, phần lớn đất của Hải Phòng là đất phù sa, đất ven biển (đất ngập mặn). Trên cơ sở khai thác tài nguyên đất, ở Hải Phòng đã hình thành các vùng chuyên canh trồng lúa, trồng hoa và cây công nghiệp ngắn ngày với quy mô lớn, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao giá trị sản phẩm góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân, đảm bảo ASXH ở nông thôn. Tài nguyên nước: Hải Phòng có nguồn tài nguyên nước phong phú với mạng lưới sông ngòi dày đặc như sông Thái Bình, sông Văn Úc, sông Lạch Tray, sông Cấm, sông Đá Bạc, sông Giá, sông Đa Độ, sông Tam Bạc Tổng lượng dòng chảy năm trên các sông của thành phố Hải Phòng là 77,2 tỷ m3/năm, trong đó có 19,6 tỷ m3/năm có khả năng khai thác [142]. Nguồn tài nguyên nước đáp ứng đủ cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân. Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm, xâm nhập mặn có chiều hướng gia tăng, do đó đòi hỏi nguồn vốn lớn và công nghệ hiện đại trong việc xây dựng các nhà máy nước phục vụ sinh hoạt cho người dân. Bên cạnh đó, huyện đảo Cát Hải và Bạch Long Vĩ vẫn còn tình trạng thiếu nước ngọt, nước sạch. Tài nguyên khoáng sản: Tài nguyên khoáng sản của Hải Phòng không nhiều, trữ lượng không lớn. Một số loại khoáng sản như sắt, cao lanh (Thủy Nguyên), kẽm (Cát Bà), than đá (Vĩnh Bảo) vì trữ lượng ít nên việc khai thác được hạn chế để tránh nguy cơ ảnh hưởng xấu đến môi trường và sản xuất nông nghiệp. Tài nguyên biển: Tài nguyên biển là yếu tố quan trọng nhất và tác động sâu sắc nhất đến các hoạt động kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng. Biển Hải Phòng là một bộ phận thuộc Tây Bắc vịnh Bắc bộ với đường bờ biển dài hơn 125 km (kể cả bờ biển quanh các đảo). Ngoài khơi thuộc địa phận Hải Phòng có nhiều đảo như: Cát Bà, Bạch Long Vĩ. Trong đó, Đảo Cát Bà với các danh thắng trên đảo trở thành một khu du lịch nổi tiếng, một địa điểm làm nên thương hiệu Hải Phòng. Trong lòng biển, theo Viện Nghiên cứu hải sản, vùng biển Hải Phòng có 135 loài thực vật nổi, 138 loài rong, 23 loài cây nước mặn, 500 loài động vật đáy vùng triều, 150 loài san hô, 189 loài cá, tôm, trong đó nhiều loài có giá trị kinh tế cao đang được nuôi trồng và bảo vệ như tôm he, tôm rảo, tu hài, bào ngư, ngọc trai, rong câu [109, tr.255]. Dựa vào tài nguyên biển, Hải Phòng đã xây dựng cơ cấu kinh tế biển đa dạng từ đóng tàu, vận tải, du lịch, khai thác và nuôi trồng thủy sản. Đây đều là những ngành kinh tế chủ lực thu hút được nhiều lao động, góp phần trực tiếp vào đảm bảo ASXH trên địa bàn thành phố. 2.2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội * Đặc điểm kinh tế Hải Phòng có những đặc điểm về kinh tế khá thuận lợi, tạo những tiền đề tốt cho thực hiện chính sách ASXH trên địa bàn. Hải Phòng là thành phố cảng biển, có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội cả miền Bắc. Cảng Hải Phòng được xếp vào nhóm cảng biển quan trọng nhất trong khu vực Đông Nam Á với quy mô lớn và công nghệ xếp dỡ hiện đại. Hệ thống cảng biển Hải Phòng không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của thành phố và đất nước. Hải Phòng có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu kinh tế đa dạng, năng động và chuyển dịch hợp lý. Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hải Phòng luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng trung bình của cả nước. Kinh tế Hải Phòng đứng thứ hai ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, sau thủ đô Hà Nội. Cùng với sự tăng lên về quy mô nền kinh tế, cơ cấu kinh tế Hải Phòng có sự dịch chuyển tích cực theo hướng CNH, HĐH. [phụ lục 2.2] Sự đa dạng trong cơ cấu kinh tế, sự dịch chuyển hợp lý giữa các ngành nghề đã đóng góp tích cực trong việc giải quyết việc làm, tăng thêm thu nhập, giảm bớt số lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp, tạo việc làm thêm cho những lao động ở nông thôn, góp phần quan trọng vào công tác xóa đói giảm nghèo, đảm bảo ASXH của Hải Phòng. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, ngày càng được đầu tư phát triển hiện đại. Hải Phòng hội đủ 5 loại hình giao thông là đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, đường hàng không và hệ thống cảng biển. Ngoài hệ thống cảng biển, Hải Phòng có các tuyến đường bộ huyết mạch nối với các tỉnh thành khác như: Quốc lộ 5, quốc lộ 10, quốc lộ 37... các tuyến đường cao tốc: Đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, Hải Phòng - Hạ Long, cao tốc ven biển Quảng Ninh - Hải Phòng - Ninh Bình. Có tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng kết nối với Lào Cai - Vân Nam (Trung Quốc) và Lạng Sơn - Quảng Tây (Trung Quốc). Có Cảng hàng không quốc tế Cát Bi nằm trong quy hoạch tổng thể về giao thông đường hàng không của cả nước nói chung và thành phố Hải Phòng nói riêng. Cùng với đó là hạ tầng điện, nước, viễn thông không ngừng được mở rộng về quy mô, chất lượng tăng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế và đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân. Bên cạnh những đặc điểm thuận lợi đó, kinh tế Hải Phòng cũng còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện các mục tiêu của chính sách ASXH. Kinh tế Hải Phòng phát triển chưa tương xứng với vị trí, tiềm năng, lợi thế vốn có. Quy mô của nền kinh tế vẫn còn nhỏ, tỷ trọng đóng góp vào ngân sách nhà nước còn khiêm tốn. Trong một khoảng thời gian dài, nền kinh tế Hải Phòng không có bước đột phá, không tạo ra được động lực phát triển. Bởi vậy, Hải Phòng từng được xem là “thành phố ngủ quên”. Nền kinh tế Hải Phòng thiếu sự ổn định, ảnh hưởng trực tiếp từ sự tác động bất lợi của bên ngoài. Kinh tế Hải Phòng được phát triển trên nền tảng là cảng biển, thiên về hướng ngoại, bởi vậy sự biến động của nền kinh tế thế giới sẽ tác động trực tiếp đến kinh tế thành phố. Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của khủng kinh tế thế giới, nền kinh tế Hải Phòng có sự tăng trưởng không ổn định. Điều này, tạo ra nhiều áp lực đối với vấn đề việc làm cho người lao động. Cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu của phát triển. Cơ sở hạ tầng, nhất là mạng lưới giao thông vận tải đường bộ và đường sắt vẫn còn những bất cập nhất định. Hệ thống giao thông nội đô, cấp thoát nước được xây dựng từ lâu đã trở nên chật chội, xuống cấp, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống của người dân. * Đặc điểm xã hội - Dân số: Trong các yếu tố tác động đến quá trình thực hiện ASXH, dân số và nguồn lao động là yếu tố có tác động lớn và trực tiếp nhất. Bảng 2.2: Quy mô và gia tăng dân số Hải Phòng (1999 - 2015) 1999 2005 2009 2015 Quy mô (nghìn người) 1.677,5 1.791,7 1.837,2 1.963,3 Tỷ lệ gia tăng dân số (%) 1,03 1,22 1,23 0,96 -Tr.đó: + Gia tăng tự nhiên (‰) 10,23 10,9 10,5 8,1 + Gia tăng cơ học (‰) -9,2 1,3 1,8 1,5 Tỷ suất di cư thuần (‰) -9,2 1,3 1,8 1,5 - Tr.đó: + Tỷ suất xuất cư (‰) 19,1 2,9 3,8 1,4 + Tỷ suất nhập cư (‰) 9,9 4,1 5,6 2,9 (Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng, 2000, 2005, 2010, 2015) Năm 1999 dân số Hải Phòng là 1,67 triệu người [17, tr.40], đến năm 2015 tăng lên hơn 1,9 triệu người [20, tr.35]. Với quy mô này, dân số Hải Phòng chiếm 9,4% dân số Đồng bằng Sông Hồng (đứng thứ hai sau Hà Nội); trên 2,1% dân số cả nước, xếp thứ 7 trong tổng số 63 tỉnh/thành phố. Về sự gia tăng dân số Hải Phòng, bên cạnh tỷ lệ gia tăng tự nhiên còn có sự thay đổi trong tỷ lệ gia tăng cơ học. Trước năm 2000, Hải Phòng là thành phố xuất cư, tuy nhiên, từ sau năm 2000, dòng người xuất cư giảm xuống và dòng người nhập cư tăng lên. Năm 2015, tỷ suất nhập cư là 2,9‰ so với 1,4‰ tỷ xuất suất cư [20, tr.35]. Đa số những người nhập cư vào thành phố Hải Phòng là người trong độ tuổi lao động với mong muốn tìm kiếm việc làm, ổn định cuộc sống. Điều này, góp phần bổ sung nguồn lao động nhưng cũng kéo theo nhiều vấn đề phải quan tâm như việc làm, nhà ở, giáo dục, an ninh trật tự. Về cơ cấu dân số theo nhóm tuổi, Hải Phòng đang trong giai đoạn cơ cấu dân số vàng. Năm 2015, nhóm dân số trong độ tuổi 15 - 60 chiếm tỷ lệ 63,7%; nhóm dân số trong độ tuổi 0 - 14 là 22,8% (có xu hướng giảm cả về số lượng và tỷ trọng); nhóm dân số trên 60 tuổi là 13,5% (có xu hướng tăng lên về cả quy mô và tỷ trọng) [20, tr.36]. Bảng 2.3: Cơ cấu dân số Hải Phòng phân chia theo độ tuổi (1999 - 2015) 1999 2009 2015 Nhóm tuổi (%) 0-14t 15-60t 60+ 0-14t 15-60t 60+ 0-14t 15-60t 60+ 29,4 60,8 9,8 21,0 68,7 10,3 22,8 63,7 13,5 (Nguồn: Niên giám thống thành phố Hải Phòng 2001,2010, 2015) Cơ cấu dân số vàng đồng nghĩa nguồn lao động dồi dào là điều kiện “nhân hòa” một động lực quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Tuy nhiên, xu thế già hóa dân số xuất hiện cũng đặt ra nhiều áp lực về kinh tế, trong đó có vấn đề về bảo hiểm xã hội. Về phân bổ dân cư. Dân cư phân bổ không đồng đều, có sự chênh lệch giữa phần đất liền với khu vực hải đảo [phụ lục 2.3]. Hai huyện đảo Cát Hải và Bạch Long Vĩ có mật độ dân cư thấp so với các quận, huyện trên đất liền, mật độ bình quân năm 2017 của các huyện đảo này là lần lượt là 101 và 360 người/km2 trong khi các quận huyện trên đất liền trung bình là 1.500 người/km2, đặc biệt, quận Ngô Quyền là 15.401 người/km2, quận Lê Chân là 18.805 người/km2. Khu vực thành thị có mật độ đông đúc hơn hẳn so với khu vực nông thôn: 3.479 người/km2 so với 806 người/km2 [21, tr.12]. Sự phân bổ dân cư này đặt ra yêu cầu, một mặt phải có những chính sách kinh tế, ASXH đặc thù cho các huyện đảo, đồng thời có những giải pháp để giải quyết những áp lực về giáo dục, y tế, nước sạch, nhà ở trong các quận nội thành. Tính cách con người Hải Phòng. Trong Chuyên đề Nghiên cứu đề xuất chủ trương, giải pháp xây dựng và phát triển văn hóa đến năm 2010 và 2020 để văn hóa thật sự là nền tảng tinh thần xã hội do Sở Văn hóa - Thông tin thực hiện, trên cơ sở phân tích những yếu tố về lịch sử, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đã chỉ ra những đặc trưng tính cách của người Hải Phòng, đó là: 1) Cương trực, dũng cảm, có nghĩa khí và dám đương đầu với cái khó; 2) Năng động, sáng tạo, nhạy bén với cái mới; 3) Lao động cần cù, thông minh và tài hoa; 4) Thẳng thắn, cởi mở, hòa đồng, bao dung và độ lượng [110, tr.232]. Đây chính là những điều kiện thuận lợi để phát huy và nâng cao năng lực tự an sinh cho người dân Hải Phòng. Bên cạnh những phẩm chất đáng quý nêu trên, tính cách người Hải Phòng có bộ lộ nhiều hạn chế đó là: “Sự bảo thủ, ương ngạnh, thậm chí có phần liều lĩnh và thiếu tính kỷ luật; không kiên trì, ưa làm việc lớn nhưng thiếu tính kiên nhẫn, không đi đến cùng của mọi việc; tính cầu thị và học hỏi không cao” [110, tr.232]. Những tính cách này cũng chính là trở ngại cần được lưu ý và khắc phục trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung, đảm bảo ASXH nói riêng. 2.2.3. Tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội tại thành phố Hải Phòng sau 15 năm đầu đổi mới (1986 - 2000) Trong những năm đầu đổi mới, Hải Phòng cũng như cả nước đứng trước những khó khăn, thử thách lớn. Sự khủng hoảng và sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đã tác động lớn đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội ở trong nước, các khoản viện trợ bị cắt giảm, các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, thương mại, bị đình trệ. Trong khi đó, việc bị cấm vận về kinh tế, cô lập về chính trị làm cho tình trạng khủng hoảng - kinh tế xã hội ở Hải Phòng cũng như cả nước diễn ra trầm trọng hơn. Đứng trước thực trạng đó, trong 5 năm đầu đổi mới, những khó khăn của cơ chế mới dần được khắc phục, tinh thần của đổi mới được thích nghi và lan tỏa tạo ra động lực lớn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Hả...uồn: NCS chụp) 5. Bệnh viện Đa khoa quốc tế Hải Phòng cùng với hệ thống bệnh viện tư nhân ngày càng phát triển góp phần đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về dịch vụ y tế của người dân. (Nguồn: Báo Công thương) 6. Khu nhà ở xã hội Bắc Sơn, Kiến An (Nguồn: Báo Hải Phòng) PHẦN 3: PHIẾU PHỎNG VẤN Danh sách người được phỏng vấn STT HỌ VÀ TÊN NGHỀ NGHIỆP 1 Trần Văn Huy Phó Giám đốc Sở LĐ-TB và XH 2 Nguyễn Thị Lộc Phó Giám đốc BHXH Hải Phòng 3 Ngô Thị Minh Hà Phó Chủ tịch Hội Nông dân 4 Nguyễn Sơn Linh Lao động tự do 5 Nguyễn Thị Hòa Hưu trí 6 Trần Văn Lương Công nhân 7 Nguyễn Thị Lữ Nông dân PHIẾU PHỎNG VẤN SỐ 1 I. THÔNG TIN CHUNG NGƯỜI ĐƯỢC PHỎNG VẤN 1. Họ và tên: Trần Văn Huy 2. Đơn vị công tác: Sở Lao động, Thương binh và Xã hội 3. Chức vụ công tác: Phó Giám đốc 4. Ngày phỏng vấn: 15/7/2016 5. Địa điểm: Văn phòng làm việc, Số 2 Đinh Tiên Hoàng - Hồng Bàng II. NỘI DUNG PHỎNG VẤN NCS. Thưa ông, xin Ông cho biết những kết quả đảm bảo an sinh xã hội mà thành phố Hải Phòng đã đạt được trong thời gian qua? Ông Trần Văn Huy. Thực hiện Nghị quyết số 32-NQ/TW, ngày 05/8/2003 của Bộ Chính trị khoá IX "Về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước", cũng như các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố, công tác đảm bảo an sinh xã hội (hay thực hiện chính sách ASXH) trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong những năm gần đây thực sự có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được những kết quả quan trong trên nhiều mặt. Cụ thể: Năm 2015, toàn thành phố giải quyết việc làm cho 54.200 lượt lao động, đạt 100,12% kế hoạch năm và bằng 102,22% so với năm 2014, quan hệ lao động tương đối ổn định; tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị giảm xuống còn 4%. Các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, sàn giao dịch kết nối cung - cầu lao động; giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp duy trì hoạt động tốt. Công tác dạy nghề được triển khai đồng bộ, đào tạo nghề cho lao động nông thôn đạt 100% kế hoạch; tỷ lệ có việc làm sau đào tạo đạt trên 80%, hoàn thành 100% kế hoạch đề ra. Các chế độ chính sách của Nhà nước đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng. Triển khai nhiều biện pháp đồng bộ, quyết liệt, tạo chuyển biến rõ nét trong công tác giải quyết tình trạng người lang thang trên địa bàn thành phố. Các Trung tâm Giáo dục lao động xã hội tiếp tục được duy trì ổn định, không để xảy ra đột xuất bất ngờ, góp phần tích cực vào giữ gìn tình hình an ninh trật tự trên địa bàn thành phố. Thực hiện tốt các nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em, nhiệm vụ bình đẳng giới năm. Công tác giảm nghèo được tập trung đẩy mạnh với nhiều giải pháp đồng bộ, năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo thành phố còn 1,58%. Những kết quả thực hiện nhiệm vụ của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố đã trực tiếp góp phần bảo đảm an sinh xã hội, giữ ổn định tình hình thành phố, tạo môi trường thuận lợi thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát triển. NCS: Có được những kết quả trên do những nguyên nhân và điều kiện nào? Ông Trần Văn Huy: Để đạt được những kết quả đảm bảo an sinh xã hội trong tỉnh như trên là do: Hệ thống văn bản pháp luật về thực hiện các chính sách trợ giúp xã hội không ngừng được hoàn thiện; Các cấp ủy, chính quyền, sự phối hợp tích cực của các ban, ngành, hội đoàn thể các cấp, xem đây là nhiệm vụ chính trị của địa phương, thực hiện đảm bảo đúng đối tượng, đầy đủ, kịp; Đặc biệt, cùng với sự phát triển kinh tế của thành phố, nguồn kinh phí thực hiện các chính sách ASXH được đảm bảo trong dự toán ngân sách hàng năm, từ đó góp phần thực hiện đầy đủ các chính sách đối với đối. NCS. Bên cạnh những kết quả đạt được, đâu là khó khăn, hạn chế hay là thách thức lớn đối với quá trình thực hiện ASXH ở thành phố trong thời gian qua. Ông Trần Văn Huy. Hải Phòng là thành phố cảng, trung tâm công nghiệp của miền Bắc nói riêng và cả nước nói chung, cho nên, hằng năm, thu hút một lượng lớn người (gồm cả người đi học, tìm kiếm việc làm, định cư) điều này không chỉ gây ra khó khăn trong công tác quản lý mà còn tạo áp lực lớn đối với một số vấn đề về việc làm, nhà ở, y tế, giáo dục và cả đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội. Đây có thể nói là một trong những khó khăn và thách thức lớn của thành phố. Bên cạnh đó, một số nội dung, lĩnh vực về ASXH mà thuộc phạm quản lý của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội còn hạn chế như: về tỷ lệ giảm nghèo chưa thực sự bền vững; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn tương đối cao, đặc biệt đối với một số huyện như Thủy Nguyên, An Lão, Kiến Thụy; Do chịu ảnh hưởng sâu sắc của suy thoái kinh tế, tái cơ cấu kinh tế, tình hình lao động - việc làm có nhiều biến động như: tỷ lệ thất nghiệp trong những năm gần đây còn tương đối cao; xuất khẩu lao rất thấp; việc chấp hành pháp luật về lao động trong các doanh nghiệp còn nhiều vi phạm. Nợ bảo hiểm xã hội bắt buộc của các doanh nghiệp trên địa bàn cao, đời sống một bộ phận người lao động trên địa bàn rất khó khăn. Công tác tuyển sinh mới trình độ cao đẳng và trung cấp nghề không đạt được theo kế hoạch NCS: Trước những khó khăn, hạn chế đó, ngành Lao động, Thương binh và Xã hội có những phương hướng, giải pháp cụ thể nào để nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện chính sách ASXH trong thời gian tới? Ông Trần Văn Huy: Tiếp tục quán triệt, thực hiện các chủ trương, đường lối chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và của thành phố về ASXH. Đặc biệt Kết luận số 72-KL/TW về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 32-NQ/TW, ngày 05/8/2003 của Bộ Chính trị khoá IX "Về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước"; Nghị quyết số 15 Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI Đối với một số lĩnh vực cụ thể: Đẩy mạnh công tác hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp thực hiện Bộ Luật lao động; chú trọng phổ biến tuyên truyền và giáo dục pháp luật lao động cho người lao động và người sử dụng lao động, xây dựng quan hệ lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố. Tạo điều kiện cho người lao động dễ tiếp cận và có nhiều cơ hội tìm kiếm được việc làm. Nâng cao chất lượng, tần suất hoạt động của Sàn giao dịch việc làm. Sử dụng có hiệu quả Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm. Tập trung đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực dạy nghề. Thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách, chế độ của Nhà nước đối với người có công với cách mạng và các đối tượng chính sách theo quy định. Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách trợ giúp các đối tượng Bảo trợ xã  hội; Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Tăng cường cải cách hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong điều hành, xử lý công việc; chú trọng công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư, khiếu nại tố cáo. Xin trân trọng cảm ơn Ông! PHIẾU PHỎNG VẤN SỐ 2 I. THÔNG TIN CHUNG VỀ NGƯỜI ĐƯỢC PHỎNG VẤN 1. Họ và tên: Nguyễn Thị Lộc 2. Đơn vị công tác: BHXH thành phố Hải Phòng 3. Chức vụ công tác: Phó Giám đốc BHXH Hải Phòng 4. Ngày phỏng vấn: 22/8/2018 5: Địa điểm: Văn phòng làm việc, Số 2 Thất Khê, Minh Khai, Hồng Bàng II. NỘI DUNG PHỎNG VẤN Nghiên cứu sinh (NCS): Thưa bà, trong quá trình thực hiện chính sách BHXH ở thành phố Hải Phòng có những thuận lợi và khó khăn nào? Bà Nguyễn Thị Lộc: BHXH thành phố luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của BHXH Việt Nam; của Thành uỷ, HĐND, UBND thành phố và sự phối hợp chặt chẽ của các sở ngành, đoàn thể trong việc tổ chức tuyên truyền, thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, BHYT. Bên cạnh đó, với sự đoàn kết, nhất trí và nỗ lực phấn đấu của tập thể cán bộ, công chức, viên chức, BHXH Hải Phòng ngày càng trưởng thành và lớn mạnh, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp an sinh xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố. Qua đó khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước về ASXH. Tuy nhiên vẫn còn những khó khăn nhất định. Nhận thức của một bộ phận người dân về BHXH chưa đầy đủ, chưa cao. Thậm chí gần đây, với sự mở rộng của loại hình bảo hiểm nhân thọ của các công ty Bảo hiểm, để thu hút người dân tham gia, một số người bán bảo hiểm đã có những nhận xét không đúng về BHXH, làm cho người dân không hiểu hết ý nghĩa của BHXH. Tình trạng trốn đóng, chậm đóng, nợ đọng BHXH kéo dài còn xảy ra ở nhiều doanh nghiệp hay tình trạng lạm dụng quỹ BHYT còn chưa được khắc phục triệt để; Tỷ lệ người lao động tham gia BHXH tự nguyện, số người tham gia BHYT hộ gia đình còn thấp so với tiềm năng hiện có là những khó khăn mà ngành BHXH Thành phố đang phải đối mặt. NCS. Trên cơ sở những thuận lợi và khó khăn đó, BHXH thành phố đã có những giải pháp và kết quả được những kết quả như thế nào? Bà Nguyễn Thị Lộc: Về giải pháp, đầu tiên và quan trọng nhất là kiện toàn tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, hoạt động chuyên nghiệp và tận tâm. Nếu ngày đầu mới thành lập, hệ thống BHXH TP chỉ có 5 phòng nghiệp vụ, 12 BHXH quận, huyện, thị xã với 90 cán bộ nhân viên. Đến nay (2017), toàn ngành đã có 430 cán bộ nhân viên, trong đó 390 người có trình độ đại học và trên đại học. Bên cạnh đó, BHXH Hải Phòng đã không ngừng nâng cao tinh thần trách nhiệm, thái độ, phục vụ nhân dân. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; ứng dụng công nghệ - thông tin trong công tác quản lý, nghiệp vụ nhằm tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện Luật BHXH, Luật BHYT tại các đơn vị sử dụng lao động, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và có biện pháp xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, hành vi lạm dụng, trục lợi quỹ BHYT. Về kết quả thực hiện. - Năm 2003 số người tham gia BHXH, BHYT: + Số người tham gia BHXH bắt buộc: 160.319 người. + Số người tham gia BHYT: 447.998 người (chiếm 29,38% dân số) - Đến năm 2017, số người tham gia BHXH, BHYT: + Số người tham gia BHXH bắt buộc: 341.359 (trong đó có 325.978 người tham gia BHTN), tăng 2,12 lần so với năm 2003. + Số người tham gia BHYT: 1.657.595 (đã bao gồm số người thuộc lực lượng vũ trang và thân nhân quân nhân), (bằng 3,7 lần so với năm 2003) chiếm 82,83% dân số toàn thành phố. - Về thu: Năm 2003: toàn thành phố thu BHXH, BHYT đạt: 307.362 triệu đồng, đến năm 2017 số thu BHXH, BHYT, BHTN đạt: 7.412.369 triệu đồng, tăng 24,12 lần so với năm 2003 (trong đó năm 2009 bắt đầu triển khai thu BHTN). Bên cạnh đó, một số vấn đề BHXH thành phố đã làm tốt và tiếp tục duy trì như: BHXH Thành phố đã thực hiện quy trình cấp lại thẻ BHYT do mất, hỏng mà không thay đổi thông tin tại bộ phận “Một cửa”. Đồng thời, BHXH TP.Hải Phòng tiếp tục triển khai có hiệu quả việc nhận, trả kết quả TTHC qua Bưu điện và giao dịch điện tử. Hiện nay, người dân, NLĐ hoặc DN chỉ phải đến cơ quan BHXH để nộp các giấy tờ liên quan phục vụ cho việc giao dịch với cơ quan BHXH, không phải trực tiếp quay trở lại để nhận kết quả. Sau khi có kết quả, cơ quan BHXH sẽ gửi trả cho người dân, NLĐ theo địa chỉ đã đăng ký với Bưu điện. NCS: Theo bà, trong thời gian tới, BHXH thành phố tập trung thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm nào? Bà Nguyễn Thị Lộc: BHXH Hải Phòng chủ động, kịp thời tham mưu cho Thành ủy, HĐND, UBND TP ban hành nhiều văn bản chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn. Đồng thời liên tục triển khai đồng bộ các giải pháp để đôn đốc thu, giảm nợ đọng và phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHYT, BHTN. Thực hiện tốt công tác giám định chi phí KCB BHYT, triển khai hiệu quả các giải pháp nhằm quản lý chặt chẽ quỹ BHYT cũng như tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các tổ chức và cá nhân tham gia BHXH, BHYT. NCS. Đối với vẫn đề quản lý quỹ BHYT, ở thành phố Hải Phòng có tình trạng bội chi quỹ khám chữa bệnh tại một số đơn vị, bà có thể cho biết rõ hơn về tình trạng này và nguyên nhân do đâu? Bà Nguyễn Thị Lộc: Đối với Hải Phòng, bình quân/lượt chi khám chữa bệnh là 936.000 đồng, cao thứ 3 toàn quốc. Cơ cấu chi KCB cao chủ yếu tập trung vào các dịch vụ xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, phẫu thuật – thủ thuật, thuốc, tỷ lệ vào điều trị nội trú, số ngày điều trị nội trú kéo dài Một số cơ sở có số chi khám chữa bệnh nội trú cao như: Bệnh viện hữu nghị Việt Tiệp chi bình quân/lượt nội trú là 12,18 triệu, cao thứ 8 so với các bệnh viện tuyến tỉnh toàn quốc. Bệnh viện tâm thần Hải Phòng chi 7,4 triệu/lượt, cao thứ 2 toàn quốc so với các bệnh viện cùng chuyên khoa, cao gấp 1,5 lần bình quân chung của các bệnh viện cùng chuyên khoa. Bệnh viện Kiến An có số chi bình quân/lượt ngoại trú là 1,57 triệu đồng, cao gấp 3,6 lần chi bình quân ngoại trú của bệnh viện tuyến tỉnh toàn quốc (432.000 đồng) Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng vượt quỹ BHYT là do nhiều cơ sở khám chữa bệnh có biểu hiện gia tăng chỉ định không hợp lý như: Chỉ định bệnh nhân vào điều trị nội trú, điều trị bằng y học cổ truyền, phục hồi chức năng với tỷ lệ cao; chỉ định 1 số dịch vụ kỹ thuật (DVKT) lặp lại quá mức cần thiết. Xét nghiệm sinh hóa máu lặp lại trong đái tháo đường, tăng huyết áp, điện tâm đồ, siêu âm dopler tim, nội soi tai mũi họng, thay băng, hút xoang áp lực tâm, lấy dị vật kết mạc; chỉ định và thanh toán DVKT lấy nút biểu bì ống tai, DVKT thay băng vết thương Bên cạnh đó, nhiều cơ sở khám chữa bệnh lựa chọn sử dụng thuốc trúng thầu giá cao; tỷ lệ sử dụng thuốc biệt dược gốc tại một số cơ sở khám chữa bệnh còn cao; sử dụng vật tư y tế giá cao gây lãng phí quỹ khám chữa bệnh BHYT. NCS. BHXH TP có những giải pháp gì để bảo đảm an toàn cho Quỹ BHYT? Bà Nguyễn Thị Lộc: Để thực hiện tốt việc quản lý, chúng tôi đã yêu cầu Trưởng phòng giám định BHYT, Giám đốc BHXH các quận, huyện tập trung chỉ đạo các giám định viên thông báo với cơ sở khám chữa bệnh tình hình thực hiện dự toán được giao và chỉ ra các yếu tố gây gia tăng chi phí KCB tại các cơ sở y tế. Đồng thời yêu cầu cơ sở KCB phải điều chỉnh giảm các chỉ định không phù hợp với bệnh tật của người bệnh nhằm bảo đảm quyền lợi của người có thẻ BHYT khi đi KCB và bảo đảm không lãng phí quỹ BHYT. Bên cạnh đó, chúng tôi còn tăng cường kiểm tra, đối chiếu chứng chỉ hành nghề trước khi thực hiện giám định, thanh toán quyết toán chi phí KCB BHYT với cơ sở KCB. Tăng cường kiểm tra bệnh nhân điều trị nội trú, khuyến cáo cơ sở KCB những trường hợp bệnh nhẹ chỉ định vào nội trú; đặc biệt chú ý bệnh nhân điều trị y học cổ truyền, phục hồi chức năng, da liễu, cơ sở II có điều trị nội trú. Đồng thời thường xuyên phân tích dữ liệu chi phí KCB do Phòng giám định BHYT chuyển về để so sánh với tháng trước liền kề, yêu cầu cơ sở KCB hạn chế tối đa các xét nghiệm trùng lặp không cần thiết. Ngoài ra chúng tôi còn thường xuyên giám định việc chỉ định thuốc tương ứng với bệnh tật, khuyến cáo cơ sở KCB việc sử dụng thuốc giá cao đã được cảnh báo; sử dụng thuốc biệt dược gốc, sử dụng nhiều thuốc bổ trợ bởi các chi phí về thuốc nêu trên được coi là nguyên nhân chủ quan gây ra lãng phí quỹ KCB BHYT. Mặt khác, chúng tôi còn tăng cường giám định chặt chẽ việc cơ sở KCB chỉ định bệnh nhân có thẻ BHYT ra viện vào sáng ngày hôm sau không có chỉ định theo dõi, chăm sóc gây lãng phí quỹ BHYT. Bên cạnh đó, BHXH thành phố thường xuyên phối hợp với Sở Y tế, các cơ sở KCB, hàng tháng thông báo với Sở Y tế và các cơ sở về tỷ lệ liên thông dữ liệu, thông báo tình hình thực hiện dự toán, thông báo các nguyên nhân gây gia tăng chi phí cao để sở Y tế kịp thời chỉ đạo cũng như các cơ sở KCB điều chỉnh các yếu tố gây gia tăng chi phí Ngoài ra, BHXH thành phố yêu cầu các giám định viên thực hiện nghiêm túc kỷ luật, kỷ cương và quy tắc ứng xử của ngành trong quá trình phối hợp với cơ sở KCB nhằm bảo đảm quyền lợi của người có thẻ BHYT khi đi KCB và hạn chế đến mức tối đa các nguyên nhân gây lãng phí quỹ BHYT Xin trân trọng cảm ơn bà! PHIẾU PHỎNG VẤN SỐ 3 I. THÔNG TIN CHUNG VỀ NGƯỜI ĐƯỢC PHỎNG VẤN 1. Họ và tên: Ngô Thị Minh Hà 2. Đơn vị: Hội Nông dân thành phố 3. Chức vụ công tác: Phó Chủ tịch 4. Ngày phỏng vấn: 05/9/2017 5. Địa điểm: Văn phòng làm việc, Số 99 đường Trần Phú, Cầu Đất, Ngô Quyền II. NỘI DUNG THÔNG TIN PHỎNG VẤN Nghiên cứu sinh (NCS): Thưa bà, chính sách an sinh xã hội tại địa phương thì có ý nghĩa như thế nào đối với người dân nói chung và người nông dân nói riêng? Bà Ngô Thị Minh Hà: Chính sách ASXH là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, thực hiện chính sách này sẽ góp phần đảm bảo cuộc sống cho người dân, giúp họ vượt qua được những khó khăn trong cuộc sống. Đặt biệt là đối với người nông dân, đây được coi là đối tượng gặp nhiều khó khăn và dễ bị tổn thương nhất cho nên chính sách ASXH. NCS. Thưa bà, Hội Nông dân thành phố có những hoạt động nào để giúp đỡ người nông dân trong xóa đói nghèo, cũng như đảm bảo ASXH? Bà Ngô Thị Minh Hà: Thứ nhất, phổ biến đầy đủ những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xóa đói, giảm nghèo về ASXH đến các chi hội, hội viên, giúp họ tiếp cận được các thông tin quan trọng để nâng cao nhận thức cho người dân. Thứ hai, lãnh đạo các chi hội phát động các phong trào thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, giúp nhau xóa đói, giảm nghèo giữa các hội viên; Thứ ba, phối hợp với các Ngân hàng như Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách xã hội; các Sở ban ngành như Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và các doanh nghiệp để hỗ trợ người nông dân về vốn, tập huấn chuyển giao khoa học, kỹ thuật, hỗ trợ tìm đầu ra cho các sản phẩm NCS. Bà có thế nêu cụ thể về những kết quả mà Hội đã đạt được trong việc giúp đỡ người nông dân. Bà Ngô Thị Minh Hà: Ví dụ, phong trào thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng ngày càng phát triển sâu rộng với gần 10 nghìn hộ nông dân được công nhận hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi của Hội Nông dân TP Hải Phòng. Đến năm 2017, số hộ nông dân đạt tiêu chuẩn hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi tăng hơn 16 nghìn hộ so với năm 2012. Trong đó có 7.730 hộ đạt tiêu chuẩn hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi cấp thành phố, tăng gần gấp hai lần so với năm 2002. Các cấp hội tín chấp cho 10.921 hộ vay của Ngân hàng NN và PTNT với số vốn 66 tỷ 366 triệu đồng, 32.366 hộ vay của Ngân hàng Chính sách xã hội 188 tỷ 315 triệu đồng và hàng chục tỷ đồng tiền vật tư, phân bón trả chậm từ việc liên kết giữa các cấp hội nông dân với các doanh nghiệp; Các phong trào chuyển đổi cơ cấu kinh tế ngành nghề, cơ cấu mùa vụ, chuyển giao tiến bộ KH-KT, đưa công nghệ mới vào sản xuất với nhiều mô hình ngày càng được nhân rộng, góp phần đẩy nhanh tiến trình sản xuất hàng hóa, thực hiện CNH, HÐH nông nghiệp, nông thôn. Mô hình luân canh tăng vụ ở xã Cấp Tiến, huyện Tiên Lãng với việc mở rộng diện tích trồng khoai tây Hà Lan, ớt xuất khẩu, rau màu trong vụ đông và mới đây là trồng nấm rơm... Các mô hình luân canh tăng vụ cũng phát triển ở nhiều địa phương khác như: xã Trung Lập, Tân Liên huyện Vĩnh Bảo, xã Tú Sơn, Ðoàn Xá huyện Kiến Thụy, mô hình nuôi cá lồng bè ở thị trấn Cát Bà huyện Cát Hải; mô hình chuyên canh rau màu ở xã Thủy Ðường huyện Thủy Nguyên, xã An Thọ huyện An Lão, xã Hồng Phong huyện An Dương...  cho mức thu nhập từ 60-100 triệu đồng/ha/năm. NCS. Thưa bà, những khó khăn nào mà Hội thường gặp phải trong quá trình tổ chức thực hiện các chính sách về xóa đói, giảm nghòe cũng như ASXH. Bà Ngô Thị Minh Hà: Có rất nhiều khó khăn gặp phải trong quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của Thành phố như: Một số địa phương còn thuộc vùng khó khăn như huyện đảo Cát Hải, Bạch Long Vỹ, Thủy Nguyên, dân cư ít, địa bàn rộng, bị chia cắt, giao thông đi lại khó khăn. Cán bộ hội ở cơ sở vẫn còn mỏng, trình độ đào tạo thuộc nhiều ngành nghề khác nhau chuyên qua làm công tác hội nên còn thiếu kinh nghiệm; chế độ lương, phụ cấp nhìn chung còn thấp, trong khi đó công việc đảm nhiều nhiều. Đời sống của người nông dân còn khó khăn, nhận thức và trình độ chưa thực sự cao cho nên việc triển khai một số chương trình, hoạt động hiệu quả đạt được chưa thực sự cao. Trong khi đó, không ít người còn có tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ của Nhà nước. Xin trân trọng cảm ơn Bà! PHIẾU PHỎNG VẤN SỐ 4 I. THÔNG TIN CHUNG VỀ NGƯỜI ĐƯỢC PHỎNG VẤN 1. Họ và tên: Nguyễn Sơn Linh, 2. Tuổi: 36 tuổi, 3. Địa chỉ: 1/169 Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng 4. Nghề nghiệp: Lao động tự do 5. Ngày phỏng vấn: 29/4/2018 6. Địa điểm phỏng vấn: Nhà riêng II. NỘI DUNG THÔNG TIN PHỎNG VẤN NCS: Công việc và thu nhập của anh có ổn định và đảm bảo được cuộc sống không? Anh Linh: Công việc và thu nhập cũng không thực sự ổn định. Có những lúc việc làm không hết nhưng có những lúc không có việc để làm. Khi có việc thì thu nhập cao (vì ngoài khoảng lương cứng thì còn có những khoản thu nhập bên ngoài). Thu nhập cơ bản đảm bảo được cuộc sống nhưng để tích lũy thì không được nhiều? NCS: Anh có được công ty đóng BHXH, BHYT không? Anh Linh: Có! Công ty có đóng BHXH,BHYT nhưng làm một thời gian lâu thì công ty mới đóng cho. NCS: Anh có nghe đến các chính sách về ASXH? Anh Linh: Thỉnh thoảng có nghe trên tivi. Nhưng không quan tâm lắm, vì mình không phải là đối tượng được hưởng. ASXH chỉ dành cho người nghèo thôi! NCS: Thời gian gần đây, anh có phải đi khám hay chữa bệnh gì không? Nếu có thì khám và chữa bệnh ở đâu? Anh đánh giá gì về khám và chữa bệnh ở các bệnh viên công? Anh Linh: Cũng lâu rồi mình không đi khám hãy chữa bệnh gì. Nhưng con mình thì có. Cháu 3 tuổi, thỉnh thoảng bị ốm. Nhưng mình toàn cho ra bệnh viện tư cho nhanh và chất lượng cũng đảm bảo. Đến bệnh viện công, thì ngại phải chờ đợi, thủ tục nó rườm rà và không thích dùng thuốc bảo hiểm. Mình toàn mua thuốc ngoài. NCS: Các con của anh học ở trường công hay tư? Anh đánh giá thế nào trường công và tư. Anh Linh: Mình có 3 cháu, cả 3 đứa đều học mầm non tư thục. Học mầm non tư thục có nhiều cái tiện lợi, thời gian đưa đón thoải mái, đón muộn cũng được, tiến học hàng tháng (1,2 triệu/tháng) so với trường công thì cao hơn nhưng không đáng kể, lại được học cả thứ 7. Cháu lớn học ở trường công thấy nhiều khoảng đóng góp, cái gì cũng quy ra tiền. Về cơ sở chất của trường công và tư thì tốt, khang trang. Xin cảm ơn Anh! PHIẾU PHỎNG VẤN SỐ 5 I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN/ HỘ GIA ĐÌNH 1. Họ và tên: Nguyễn Thị Hòa 2. Tuổi: 61 tuổi, 3. Địa chỉ: Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng: 4. Nghề nghiệp: Hưu trí 5. Ngày phỏng vấn: 29/4/2018 6. Địa điêm phỏng vấn: Nhà riêng II. NỘI DUNG THÔNG TIN PHỎNG VẤN Nghiên cứu sinh (NCS): Gia đình Bà có được hưởng chế độ chính sách nào từ địa phương không? Bà Hòa: Gia đình tôi được hưởng một số chế độ chính sách từ địa phương. Cá nhân tôi được hưởng lương công nhân nghỉ mất sức, hơn 1 triệu đồng/tháng; Gia đình, có em trai là liệt sĩ, vào các ngày lễ, tết đều có quà từ Nhà nước và thành phố, gọi là tiền hương khói cho liệt sĩ. NCS: Ngoài những khoản hỗ trợ trên, thu nhập gia đình bà còn có từ đâu nữa không? Bà Hòa: Ngoài sự hỗ trợ nêu trên, tôi có thu nhập từ việc cho thuê 3 phòng trọ, được 3 triệu/tháng. Chồng tôi, trước đây làm công nhân cơ khí, sau đó xin nghỉ làm, hưởng chế độ một lần, nay không có lương hưu. Ngoài ra, gia đình, có một người e trai, bị tai biến, không có khả năng lao động. Với hoàn cảnh gia đình như vậy, nguồn thu nhập chỉ đủ trang trải cuộc sống hằng này. NCS: Vấn đề khó khăn nhất, đối với việc ổn định cuộc sống gia đình bà hiện nay là gì? Bà Hòa: Nhà tôi nằm trong dự án làm đường của thành phố, mà dự án đã có từ hơn 10 năm nay mà không thấy có triển khai, không thấy có nhắc đến vấn đề thu hồi hay đền bù gì. Nên khi ra phường xin giấy phép xây dựng, sửa nhà đều không được đồng ý. Nhà xây đã lâu, hiện tại xuống cấp nhiều, mưa bị dột, ngập nhưng không được sữa chữa, cải tạo gì nên điều kiện sinh hoạt rất khó khăn. Ngoài ra, do nằm trong dự án không thể nhập hộ khẩu cho em trai, không làm được các thủ tục để nhận hỗ trợ cho người già, bệnh tật, không có thu nhập. (Em trai trước ở nơi khác, từ khi bị tai biến, vợ và con bỏ đi, không ai chăm sóc, bây giờ về ở với gia đình tôi). NCS: Khi làm các thủ tục, giấy tờ để nhận sự hỗ trợ, bà có gặp khó khăn gì không? Bà Hòa: Gặp rất nhiều khó khăn, đi lại nhiều lần, gặp nhiều người để xác minh. Phải quen biết và mất tiền mới được nhận trợ cấp. Khi nghỉ việc ở nhà máy, tôi không có lương hưu, sau nay, có nhờ người quen ở trên quận giúp đỡ mới được hưởng và mất mấy triệu mới có sổ hưu. Nói chung, thủ tục hành chính phức tạp. NCS: Bà có thường xuyên sử dụng BHYT để khám và chữa bệnh không? Bà đánh giá như thế nào về khám và chữa bệnh BHYT. Bà Hòa: Tôi có BHYT của Nhà nước cấp, còn chồng tôi tự mua BHYT. Tuổi già, nhiều bệnh nên thường xuyên sử dụng BHYT. Việc sử dụng BHYT để khám và chữa bệnh, tôi thấy bây giờ tốt hơn rất nhiều. Chồng tôi, tháng nào cũng ra viện để làm các xét nghiệm, kiểm tra sức khỏe, làm theo BHYT nên trả ít tiền, hầu như không phải trả, mua thuốc ngoài thì mới trả thêm. Ngày trước, điều trị ở bệnh viện, bác sĩ, y tá hay quát mắng, thái độ nặng nhẹ nhưng bây giờ thì không còn. NCS: Bà có nguyên vọng hay có ý kiến gì cho chính quyền để đảm bảo cuộc sống tốt hơn cho người dân? Bà Hòa: Tôi chỉ mong, chính quyền, thành phố sớm triển khai dự án, nếu không làm dự án nữa thì cũng phải thông báo, tạo điều kiện để chúng tôi có thể sửa nhà, xây nhà hoặc bán đất. Chúng tôi đã già, chỉ có nguyện vọng có chỗ ở tốt hơn! Xin trân trọng cảm ơn Bà! PHIẾU PHỎNG VẤN SỐ 6 I. THÔNG TIN CHUNG VỀ NGƯỜI ĐƯỢC PHỎNG VẤN 1. Họ và tên: Trần Văn Lương 2. Tuổi: 46 tuổi 3. Địa chỉ: 27/90 đường Trung Lực, Đằng Lâm, Hải An, Hải Phòng 4. Nghề nghiệp: Công nhân 5. Ngày phỏng vấn: 15/4/2018 6. Địa điểm phỏng vấn: Nhà trọ, 27/90 đường Trung Lực, Đằng Lâm, Hải An, Hải Phòng II. NỘI DUNG PHỎNG VẤN Nghiên cứu sinh (NCS): Anh có thể cho biết điều kiện kinh tế gia đình anh như thế nào? Anh Lương: Gia đình tôi, có 4 người: tôi, vợ và 2 con (đứa lơn học lớp 11, đứa nhỏ học lớp 6). Hai vợ chồng tôi là cùng công ty sản xuất đồ vàng mã, xuất khẩu sang Đài Loan. Thu nhập của hai vợ chồng 12 triệu/tháng (còn tùy thuộc vào đơn hàng, tăng ca). Cả gia đình, đang ở thuê nhà trọ, khoảng 15m2, tiền thuê nhà 1,5 triệu đồng/tháng, bao gồm điện, nước. NCS: Với mức thu nhập hiện có, cuộc sống gia đình anh như thế nào Anh Lương: Chật vật! Khó khăn. NCS: Anh có được công ty đóng BHXH, BHYT không? Anh Lương: Không! NCS: Vì sao? Anh Lương: Cái đó do công ty, mình muốn không được. NCS: Anh có mua BHXH, BHYT tự nguyên không? Anh Lương: Không có điều kiện để mua. NCS: Hiện nay, thành phố có triển khai các dự án nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp, anh có biết thông tin về vấn đề đó không? Anh Lương: Tôi đi làm cả ngày, nên không có điều kiện để tiếp cận thông tin. Hơn nữa, nhà ở xã hội nhưng chắc phải mất nhiều tiền mới có thể mua được, nằm ngoài khả năng của gia đình. NCS: Các ngân hàng có triển khai các gói vay cho người mua nhà ở xã hội, anh có nghĩ mình sẽ được vay? Anh Lương: Muốn vay được tiền ngân hàng phải có tài sản, nhà đất để thế chấp những cái đó gia đình không có. Mà vay chắc chúng tôi không có khả năng để trả. NCS: Anh có dự định đầu tư cho con cái học lên đại học không? Anh Lương: Nếu như các cháu có khả năng, tôi sẽ cố gắng. Còn nếu không, học hết lớp 12, đi làm công nhân. NCS: Anh có được chính quyền hỗ trợ gì trong cuộc sống không? Anh Lương: Gia đình chúng tôi thuê trọ, mặc dù có đăng ký tạm trú nhưng chưa bao giờ được chính quyền để ý đến hay hỗ trợ gì cả. Chắc không nằm trong đối tượng được hỗ trợ. Xin cảm ơn anh! PHIẾU PHỎNG VẤN SỐ 7 I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN/ HỘ GIA ĐÌNH 1. Họ và tên: Nguyễn Thị Lữ 3. Tuổi: 45 4. Nghề nghiệp: Nông dân (Hộ nghèo) 5. Địa chỉ: Lại Xuân, Thủy Nguyên, Hải Phòng 6. Ngày phỏng vấn: 20/5/2018 II. NỘI DUNG THÔNG TIN PHỎNG VẤN Nghiên cứu sinh (NCS): Là gia đình hộ nghèo bà được hưởng những chính sách gì từ thành phố? Bà Lữ: Tôi được cấp BHYT, được hỗ trợ 50 số điện hàng tháng, ngày tết được tặng quà. NCS: Để được hưởng sự hỗ trợ trên, bà có gặp khó khăn gì không? Bà Lữ: Tôi không gặp khó khăn gì cả. Chính quyền biết tôi bị bệnh hiểm nghèo nên làm thủ tục cũng đơn giản và chỉ làm một lần. NCS: Khi đến bệnh viện khám chữa bằng bảo hiểm y tế, Bà thấy chất lượng phục vụ của đội ngũ y tế ra sao? Bà Lữ: Tôi đến viện điều trị thường xuyên nên cán bộ y tế đã quen biết nên mọi thủ tục hành chính cũng như thái độ của bác sĩ không có gì khó khăn. Bệnh viện được cải tạo, xây mới, máy móc cũng hiện đại. NCS: Chính quyền địa phương đã có những biện pháp gì giúp gia đình vươn lên thoát nghèo không? Bà Lữ: Tôi bị bệnh hiểm nghèo được hưởng BHYT, nên không có ý định thoát nghèo. Không chỉ riêng tôi, mà nhiều gia đình có người bệnh đều xin là hộ nghèo để được hưởng BHYT NCS: Theo Bà, việc trợ giúp cho gia đình có kịp thời, hiệu quả không? Bà Lữ: Tôi thấy rất kịp thời và hiệu quả. Nếu như không có BHYT thì tôi không biết phải xoay sở như thế nào? NCS: Ngoài hỗ trợ về BHYT thì bà còn nhận được sự hỗ trợ nào nữa không? Ví dụ vay tiền để sản xuất hay sữa chữa nhà cửa Bà Lữ: Về vay tiền thì để sản xuất vì mặc bệnh hiểm nghèo nên người ta không cho vay. Còn hỗ trợ tiền sửa nhà thì nghe bảo là được hỗ trợ, nhưng tôi phải sửa nhà xong rồi làm thủ tục mới được hỗ trợ. Mà hiện tại thì tôi không có khả năng sửa nhà. NCS: Đội ngũ cán bộ làm chính sách an sinh xã hội có nhiệt tình, năng động trong công việc không? Bà Lữ: Thỉnh thoảng cán bộ thôn có vào hỏi thăm động viên. Khi có việc cần ra xã là thủ tục thì được hưởng dẫn nhiệt tình, không có khó khăn gì! NCS: Theo Bà, trong quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội cho người dân trên địa bàn có biểu hiện tiêu cực không? Bà Lữ: Tôi không biết được ở đâu có tiêu cực hay không, nhưng riêng trường hợp của tôi khi đưa ra thôn để bình bầu thì mọi người hoàn toàn nhất trí. Đưa lên xã thì được duyệt luôn, không phải mất thêm gì cả. NCS: Bà có khuyến nghị gì với chính quyền nhằm đẩy mạnh việc thực hiện chính sách an sinh xã hội cho người dân trong thời gian tới? Bà Lữ: Tôi mong muốn chính quyền có thể hỗ trợ tiền để sửa nhà. Chứ để chúng tôi sửa nhà rồi mới hỗ trợ thì không biết đến bao giờ tôi mới làm được! Xin cảm ơn Bà!

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxluan_an_qua_trinh_thuc_hien_chinh_sach_an_sinh_xa_hoi_tai_th.docx
  • pdf2.Toàn văn L.ÁN.pdf
  • docx3.Tóm tắt L.AN (tiếng Anh).docx
  • pdf4.Tóm tắt L.AN (tiếng Anh).pdf
  • docx5.Tóm tắt L.ÁN (tiếng Việt).docx
  • pdf6.Tóm tắt L.ÁN (tiếng Việt).pdf
  • docx7.Thông tin Kết luận của L.ÁN.docx
  • pdf8.Thông tin Kết luận của L.ÁN.pdf