Luận án Quản lý nhà nước về văn hóa cấp cơ sở (nghiên cứu trường hợp Hà Nội từ năm 2008 đến nay)

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM Hoàng Thị Bình QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VĂN HÓA CẤP CƠ SỞ (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP HÀ NỘI TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY) LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA Hà Nội - 2018 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM Hoàng Thị Bình QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VĂN HÓA CẤP CƠ SỞ (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP HÀ NỘI TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY) Chuyên ngàn

pdf297 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 14/01/2022 | Lượt xem: 171 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Luận án Quản lý nhà nước về văn hóa cấp cơ sở (nghiên cứu trường hợp Hà Nội từ năm 2008 đến nay), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
h: Quản lý văn hóa Mã số: 9319042 LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA Ngƣời hƣớng dẫn khoa học PGS.TS Lê Ngọc Thắng Hà Nội - 2018 1 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, bản luận án tiến sĩ Quản lý nhà nước về văn hóa cấp cơ sở (nghiên cứu trường hợp Hà Nội từ năm 2008 đến nay) là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chƣa từng bảo vệ ở bất kỳ học vị nào. Trong quá trình thực hiện luận án, mọi sự giúp đỡ đều đã đƣợc cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc. Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này. Hà Nội, ngày tháng năm 2018 Tác giả luận án Hoàng Thị Bình 2 MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................................ 1 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ................................................................................. 3 DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ ........................................................................................ 4 MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN ......... 15 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu................................................................................. 15 1.2. Cơ sở lý luận ................................................................................................................ 27 1.3. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu .............................................................................. 48 Tiểu kết ................................................................................................................................ 56 Chƣơng 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VĂN HÓA CẤP CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI ................................................................................................ 58 2.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nƣớc về văn hóa .............................................. 58 2.2. Cơ chế hoạt động quản lý nhà nƣớc về văn hóa cấp cơ sở ....................................... 61 2.3. Nguồn nhân lực quản lý nhà nƣớc về văn hóa cấp cơ sở ......................................... 65 2.4. Hoạt động quản lý nhà nƣớc về văn hóa cấp cơ sở ................................................... 74 2.5. Đánh giá công tác quản lý nhà nƣớc về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội .... 96 Tiểu kết .............................................................................................................................. 126 Chƣơng 3 ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VĂN HÓA CẤP CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI HIỆN NAY 128 3.1. Những yếu tố tác động đến quá trình quản lý nhà nƣớc về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội .................................................................................................................. 128 3.2. Định hƣớng quản lý nhà nƣớc về văn hóa cấp cơ sở ở Hà Nội trong tình hình mới........................................................................................................................... 140 3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội hiện nay ................................................................................................................ 143 Tiểu kết .............................................................................................................................. 159 KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 161 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ ......................... 165 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................... 166 PHỤ LỤC ....................................................................................................... 179 3 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa CNH Công nghiệp hóa DN Doanh nghiệp DSVH Di sản văn hóa ĐHVHHN Đại học Văn hóa Hà Nội HĐH Hiện đại hóa KT-XH Kinh tế - xã hội NCS Nghiên cứu sinh QL Quản lý QLNN Quản lý nhà nƣớc QLVH Quản lý văn hóa TDTT Thể dục thể thao TP Thành phố UBND Ủy ban nhân dân VH Văn hóa VHTT Văn hóa thông tin VHTTDL Văn hóa, Thể thao và Du lịch VHXH Văn hóa - Xã hội 4 DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Trang Biểu đồ 2.1: Thuận lợi trong tổ chức và quản lý hoạt động văn hóa tại xã, phƣờng 73 Biểu đồ 2.2: Những khó khăn trong tổ chức và quản lý hoạt động văn hóa tại xã, phƣờng 74 Biểu đồ 2.3: Phƣơng thức tổ chức các hoạt động văn hóa cơ sở 98 Biểu đồ 2.4: Hiệu quả quản lý và tổ chức hoạt động văn hóa tại xã 101 Biểu đồ 2.5: Hiệu quả quản lý và tổ chức hoạt động văn hóa tại phƣờng 101 Biểu đồ 2.6: Mức độ thay đổi đời sống văn hóa tại xã 102 Biểu đồ 2.7: Mức độ thay đổi đời sống văn hóa tại phƣờng 102 Biểu đồ 2.8: Mức độ hài lòng của ngƣời dân 104 Biểu đồ 2.9: Đánh giá của chính quyền 105 Biểu đồ 2.10: Sự cần thiết phải đổi mới, điều chỉnh QLNN về văn hóa cấp cơ sở 121 Biểu đồ 2.11: Những nội dung cần đổi mới, điều chỉnh 122 Biểu đồ 2.12: Vai trò của ngƣời dân 122 Sơ đồ 1.1: Phân cấp hành chính Việt Nam 35 Sơ đồ 1.2: Khung lý thuyết nghiên cứu quản lý nhà nƣớc về văn hóa cấp cơ sở 48 Sơ đồ 3.1: Những yếu tố tác động đến QLNN về văn hóa cấp cơ sở 128 5 MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Hệ thống hành chính ở nƣớc ta hiện nay, bao gồm: cấp trung ƣơng, cấp tỉnh/thành phố, cấp quận/huyện và cấp xã/phƣờng/thị trấn, trong đó, cấp xã/phƣờng/thị trấn là cấp thấp nhất. Đơn vị hành chính xã/phƣờng/thị trấn với bộ máy chính quyền cấp cơ sở đƣợc coi là nền tảng quan trọng trong bộ máy chính quyền bốn cấp, là nơi thể hiện trực tiếp và hiện thực hóa các chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc trong đời sống thực tiễn. Xã, phƣờng, thị trấn giữ vai trò thiết yếu, là địa bàn thuận tiện để tổ chức sáng tạo và thụ hƣởng văn hóa của ngƣời dân dƣới sự quản lý của nhà nƣớc. Vì vậy, vấn đề quản lý nhà nƣớc (QLNN) đối với cấp xã, phƣờng/thị trấn có vai trò quan trọng, đặc biệt là nhiệm vụ QLNN về văn hóa. QLNN về văn hóa của chính quyền cấp cơ sở (sau đây gọi là QLNN về văn hóa cấp cơ sở) chính là thực hiện nhiệm vụ đƣa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống, làm cho văn hóa ngày càng trở thành yếu tố khăng khít của đời sống xã hội và mọi hoạt động của nhân dân. Đây là một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lƣợc đối với sự nghiệp xây dựng văn hóa, lối sống, con ngƣời Việt Nam. Xuất phát từ việc coi trọng vị trí, vai trò của cơ sở, trong mọi thời kỳ, Đảng và Nhà nƣớc ta đã có những quyết sách quan trọng nhằm tăng cƣờng và phát huy sức mạnh tổng hợp của cơ sở trong mọi lĩnh vực, trong đó có văn hóa. Từ Đại hội V (1982) Đảng ta đã xác định rõ nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, coi đó là một chủ trƣơng lớn, có ý nghĩa quyết định trong xây dựng văn hóa và con ngƣời: Nhiệm vụ của cách mạng tƣ tƣởng và văn hóa là đƣa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân. Đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, đảm bảo mỗi nhà máy, công trƣờng, lâm trƣờng, mỗi đơn vị lực lƣợng vũ trang, công an nhân dân, mỗi cơ quan, trƣờng học, bệnh viện, cửa hàng, mỗi xã, hợp tác xã, phƣờng ấp, đều có đời sống văn hóa [28, tr.101]. Đến Đại hội VIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội” [29]. 6 Không chỉ là tổng thể các chuẩn mực, các giá trị trong đời sống xã hội là hồ sơ để nhận diện những đặc điểm riêng của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc mà văn hóa còn là một nhân tố cốt lõi đảm bảo sự phát triển bền vững. Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng, đất nƣớc ta đang thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) và mở rộng giao lƣu, hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng thì văn hóa càng có vị trí, ý nghĩa vô cùng quan trọng khẳng định dân tộc ta, đất nƣớc ta là một, là duy nhất, không bị “hòa tan”. Để gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc, Đảng, Nhà nƣớc ta đã và đang chủ trƣơng triển khai thực hiện quyết liệt để: văn hóa với vai trò là yếu tố nội sinh ngày càng ngấm sâu hơn vào mọi ngõ ngách, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trên cơ sở đó, bản sắc dân tộc đƣợc bảo tồn, phát huy song song với sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới để tạo nên những hệ giá trị mới, những “khuôn vàng, thƣớc ngọc” là những chuẩn mực mới, làm nền tảng vững bền cho sự phát triển. Tuy nhiên để văn hóa thực sự “là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội” phải không ngừng nâng cao vai trò chủ thể của Nhà nƣớc trong QL văn hóa, nhằm đảm bảo luôn giữ đúng định hƣớng, điều tiết, tạo môi trƣờng lành mạnh cho văn hóa phát triển. Trong đó cần đặc biệt chú trọng đến vị trí, vai trò của chính quyền địa phƣơng cấp cơ sở, nơi trực tiếp chuyển tải và truyền đạt chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc đến với ngƣời dân và cộng đồng. Trong bối cảnh chung của quá trình phát triển, so với các địa phƣơng khác, Hà Nội có những đặc thù riêng rất đáng quan tâm. Sau khi sáp nhập, mở rộng địa giới hành chính từ tháng 8/2008, Hà Nội là một trong những thành phố có diện tích rộng và mật độ dân cƣ cao nhất nƣớc. Tốc độ đô thị hóa và phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nội diễn ra một cách mạnh mẽ, chất lƣợng đời sống của phần lớn ngƣời dân đƣợc nâng lên, nhu cầu thụ hƣởng các giá trị văn hóa cao. Đô thị hóa cơ bản đã có những tác động tạo kết quả tích cực đến cuộc sống ngƣời dân, đến công tác quản lý xã hội, quản lý đô thị. Bên cạnh đó, Hà Nội là nơi tập trung nhiều hoạt động, sự kiện văn hóa đa dạng, phong phú, các hoạt động giao lƣu, hợp tác về văn hóa diễn ra thƣờng xuyên Tuy nhiên, ở chiều cạnh nhất định, 7 phát triển đô thị, phát triển xã hội, trình độ dân trí cao cũng để lại mặt trái nhiều hệ lụy tiêu cực, là những tác động không nhỏ đến công tác QLNN cấp cơ sở, đặt ra nhiều khó khăn, thách thức mà thời kỳ trƣớc không hoặc chƣa có. Trong đó, có sự suy giảm ngoài ý muốn sự kết nối giữa quá khứ, truyền thống với hiện tại và tƣơng lai. Sự suy giảm kết nối đó đƣợc biểu hiện trong nhiều lĩnh vực, nhất là văn hóa. Do đó, trong công tác quản lý đô thị, việc nghiên cứu nhằm ngăn ngừa, hạn chế những tác động tiêu cực của đô thị hóa là một yêu cầu cấp thiết, luôn có tính thời sự, đƣợc sự quan tâm thƣờng xuyên của các nhà quản lý, của nhân dân và dƣ luận. Đó cũng là một trong những yêu cầu tiêu chí của phát triển bền vững. Cấp cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội có vị trí và ý nghĩa đặc thù so với các tỉnh, thành khác trên cả nƣớc. Tính “cơ sở” ở Hà Nội khác biệt bởi chất “Thủ đô” và bề sâu nghìn năm văn hiến. Tính đa dạng của các địa bàn, khu vực, giữa cơ sở ở nội thành, cơ sở ngoại thành, cơ sở ngoại thành mới đô thị hóa, sáp nhập, cơ sở ngoại thành có dân tộc ít ngƣời sinh sống Việc nhận diện QLNN cấp cơ sở nói chung, QLNN về văn hóa cấp cơ sở nói riêng ở Hà Nội góp phần đánh giá, định hƣớng sự phát triển xã hội. Do đó, công tác QLNN về văn hóa cấp cơ sở cần phải đƣợc tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện về chủ thể, đối tƣợng, nội dung, phƣơng pháp và công cụ quản lý. Hiểu rõ công tác QLNN về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội là hiểu rõ thực trạng, những vấn đề đặt ra nhằm đề xuất đƣợc các giải pháp có giá trị thực tiễn cho việc quản lý và phát triển bền vững văn hóa và con ngƣời Thủ đô nói riêng, sự nghiệp văn hóa và con ngƣời Việt Nam nói chung trong tình hình hiện nay. Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên, đồng thời tiếp thu những công trình khoa học đi trƣớc, NCS chọn đề tài: Quản lý nhà nước về văn hóa cấp cơ sở (nghiên cứu trường hợp Hà Nội từ năm 2008 đến nay) làm nội dung nghiên cứu cho Luận án của mình. 2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 2.1. Đối tượng nghiên cứu Luận án nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và hoạt động QLNN về văn hóa 8 cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội. 2.2. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản trong hoạt động QLNN về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội. - Phạm vi không gian: Luận án lựa chọn nghiên cứu chủ yếu là địa bàn phƣờng và xã, cụ thể là một số xã, phƣờng thuộc các quận nội thành, ngoại thành Hà Nội: phƣờng Thổ Quan, Phƣơng Liên (quận Đống Đa), phƣờng Hàng Bồ, Tràng Tiền (quận hoàn Kiếm), phƣờng Phúc Đồng (quận Long Biên), phƣờng Dịch Vọng, Nghĩa Đô (quận Cầu Giấy); xã Minh Trí, Phù Linh, Tân Dân (huyện Sóc Sơn), xã Ba Trại, Ba Vì (huyện Ba Vì), xã Cổ Loa, Đông Hội, Kim Nỗ (huyện Đông Anh), xã Quất Động, thị trấn Thƣờng Tín (huyện Thƣờng Tín). - Phạm vi thời gian: Từ năm 2008 đến nay (thời điểm mở rộng địa giới hành chính Hà Nội). 3. Mục đích nghiên cứu 3.1. Mục đích tổng quát Nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động văn hóa và QLNN về văn hóa cấp cơ sở (xã, phƣờng), từ đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội trong tình hình hiện nay. 3.2. Mục đích cụ thể - Nghiên cứu các vấn đề lý thuyết QLNN về văn hóa và QLNN về văn hóa cấp cơ sở. - Nghiên cứu đặc điểm, nội dung, yêu cầu của QLNN về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội. - Nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động văn hóa và công tác QLNN về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2008 đến nay, tìm ra những ƣu điểm, hạn chế trong công tác QLNN về văn hóa cấp cơ sở, xác định nguyên nhân dẫn đến những ƣu điểm và hạn chế đó. - Nghiên cứu những yếu tố tác động đến quá trình QLNN về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội cũng nhƣ định hƣớng phát triển văn hóa của Đảng làm căn 9 cứ đƣa ra giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về văn hóa cấp cơ sở ở Hà Nội trong tình hình hiện nay. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Căn cứ vào mục đích và đối tƣợng nghiên cứu đã xác định, Luận án sử dụng phƣơng pháp tiếp cận liên ngành, các phƣơng pháp phân tích tổng hợp, phân tích hệ thống, nghiên cứu thực địa, điều tra xã hội học, phƣơng pháp chuyên gia, thống kê. Ngoài ra còn có các bảng, biểu, sơ đồ để giải thích, chứng minh những vấn đề liên quan đến luận án. 4.1. Phương pháp luận Luận án dựa trên quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc về văn hóa và QLNN về văn hóa nhƣ là một phƣơng pháp cơ bản, tổng quát và xuyên suốt, bên cạnh việc vận dụng phƣơng pháp luận của khoa học quản lý. 4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể - Phương pháp phân tích tổng hợp và phân tích hệ thống: Đây là phƣơng pháp cơ bản và quan trọng đƣợc sử dụng phổ biến trong hầu hết các nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong trƣờng hợp khi đối tƣợng nghiên cứu có mối quan hệ đa chiều và có những biến đổi theo thời gian và không gian. Cụ thể, nghiên cứu QLNN về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội là nghiên cứu về tập hợp mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau giữa chủ thể, khách thể, những yếu tố tác động và cơ chế hoạt động trong công tác QLNN về văn hóa. Đồng thời, việc sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu này còn nhằm tổng quan các công trình có liên quan đến hoạt động QLVH, QLNN về văn hóa cấp cơ sở nói chung và QLNN về văn hóa cấp cơ sở ở Hà Nội nói riêng. Từ đó có đƣợc “bức tranh” tổng quát, hệ thống theo thời gian, không gian QLNN về văn hóa cấp cơ sở của Hà Nội. Tính hệ thống còn đƣợc thể hiện ở việc kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan đã đƣợc đề cập ở trên nhƣ tài liệu lý luận chuyên ngành, liên ngành; các văn bản chỉ đạo điều hành; báo cáo, số liệu tổng hợp của Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Du lịch, Phòng Văn hóa - Thông tin và các xã, phƣờng tại Hà Nội, tiến hành thống kê, tổng hợp, phân tích tài liệu nhằm phục vụ hoạt động nghiên cứu. 10 - Phương pháp nghiên cứu thực địa: Trong khuôn khổ luận án, phƣơng pháp nghiên cứu thực địa đƣợc áp dụng nhằm xác định hiện trạng công tác QLVH nói chung, QLNN về văn hóa cấp cơ sở ở Hà Nội nói riêng làm căn cứ thực tiễn cho việc đánh giá những yếu tố tác động cũng nhƣ định hƣớng và đề xuất các giải pháp tăng cƣờng năng lực, tính hiệu quả của QLNN về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội trong tình hình hiện nay. Do địa bàn Hà Nội khá rộng, có sự đa dạng về vị trí, địa hình, mật độ dân cƣ, tộc ngƣời, sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội nên việc nghiên cứu thực địa đƣợc chia khu vực nhƣ: các phƣờng trung tâm (thuộc quận Đống Đa, Hoàn Kiếm); các phƣờng ngoại thành (thuộc quận Long Biên, Cầu Giấy); các xã ngoại thành (thuộc huyện Đông Anh, Thƣờng Tín); các xã vùng xa trung tâm, có đồng bào dân tộc sinh sống (thuộc huyện Ba Vì, Sóc Sơn). Việc lựa chọn các khu vực điểm này nhằm đảm bảo một cách nhìn toàn diện về công tác QLNN về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội. - Phương pháp điều tra xã hội học: Đây là phƣơng pháp quan trọng nhằm xác định những vấn đề đặt ra đối với hoạt động QLNN về văn hóa nói chung và QLNN về văn hóa cấp cơ sở Hà Nội nói riêng; khả năng tăng cƣờng hiệu lực, hiệu quả công tác QLNN về văn hóa cấp cơ sở ở Hà Nội thông qua phiếu hỏi, phỏng vấn, đàm thoại các đối tƣợng liên quan đến những hoạt động này, trong đó phƣơng pháp phỏng vấn bằng phiếu điều tra với các câu hỏi soạn sẵn là chính. Các đối tƣợng và nội dung điều tra bao gồm: a) Công chức VHXH xã, phƣờng: Đây là đối tƣợng chính của nghiên cứu, là ngƣời trực tiếp thực hiện mọi hoạt động quản lý và tổ chức các hoạt động văn hóa tại cơ sở nên có thể nói họ hiểu rõ nhất việc tham mƣu, hƣớng dẫn và tổ chức thực hiện cũng nhƣ tổng kết, đánh giá đƣợc hiệu quả QLNN về văn hóa trên địa bàn họ công tác. Chính vì vậy, họ là ngƣời nắm đƣợc những khó khăn, thuận lợi trong công tác QLNN về văn hóa tại cơ sở từ đó có thể đƣa ra những yêu cầu, đề xuất sát thực tiễn. Đây cũng chính là những nội dung cần đƣợc làm rõ thông qua Phiếu điều tra công chức VHXH xã, phƣờng [Phụ lục 4.1, tr.187]. - Số lƣợng điều tra: Tổng số phiếu điều tra thu đƣợc là 215 phiếu. - Cách thức thu thập dữ liệu: Phát phiếu điều tra và hƣớng dẫn cách điền 11 thông tin cho công chức VHXH xã, phƣờng thông qua các lớp bồi dƣỡng kiến thức và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ, các lớp tập huấn cho công chức VHXH xã, phƣờng tại Trƣờng Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong. Gửi phiếu điều tra tới các phƣờng, xã trên địa bàn Hà Nội, sau đó thu hồi hoặc gặp trực tiếp để phỏng vấn. b) Ngƣời dân và cộng đồng tại điểm nghiên cứu: vừa là chủ thể sáng tạo vừa là ngƣời thụ hƣởng văn hóa, ngƣời dân và cộng đồng là những ngƣời hiểu rõ nhất về những tác động của chủ trƣờng, đƣờng lối của Đảng,pháp luật của Nhà nƣớc đối với đời sống văn hóa cơ sở; những sự thay đổi của đời sống văn hóa; những đề xuất của cộng đồng đối với những vấn đề mà họ quan tâm khi tham gia vào hoạt động văn hóa tại địa phƣơng mình. Đây cũng chính là những nội dung cần đƣợc làm rõ thông qua Phiếu điều tra ngƣời dân và cộng đồng [Phụ lục 4.3, tr.204]. - Số lƣợng điều tra: Tổng số 576 ngƣời, trong đó có 301 phiếu thu đƣợc từ các xã và 275 phiếu thu đƣợc từ các phƣờng. - Cách thức thu thập dữ liệu: Trực tiếp đến khu dân cƣ, tổ dân phố, làng, thôn thuộc các điểm nghiên cứu gặp gỡ ngƣời dân, đồng thời thông qua tổ trƣởng tổ dân phố, trƣởng thôn, công chức VHXH để giải thích nội dung và hƣớng dẫn cách trả lời Phiếu điều tra, gửi lại phiếu để họ cung cấp thông tin và sau đó đến thu lại. Các phiếu điều tra sau khi thu thập về sẽ qua xử lý sơ bộ nhằm loại bỏ các phiếu không đạt yêu cầu. Các phiếu đạt yêu cầu sẽ đƣợc sử dụng và xử lý bằng phƣơng pháp thống kê để có đƣợc kết quả phục vụ việc phân tích, lý giải đƣa ra các nhận định. Để đảm bảo đƣợc tính đại diện của cấp cơ sở Hà Nội và độ tin cậy của mẫu, chúng tôi tiến hành chọn mẫu theo các khu vực: nội thành, ngoại thành, ngoại thành có đồng bào các dân tộc ít ngƣời, ngoại thành vùng ven và nội thành trung tâm hành chính của Hà Nội. Mỗi quận, huyện sẽ chọn 2 xã, phƣờng theo tiêu chí trên. - Phương pháp chuyên gia: Ngoài các phƣơng pháp trên thì phƣơng pháp chuyên gia cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình nghiên cứu đề tài. QLNN về văn hóa là hoạt động mang tính tổng hợp, đa chiều, do vậy muốn đảm bảo cho các đánh giá về hiện trạng và định hƣớng nâng cao hiệu lực, hiệu quả của QLNN về văn hóa cấp cơ sở đòi hỏi có sự tham gia của các chuyên gia ở nhiều lĩnh 12 vực chuyên ngành và liên ngành khác nhau nhƣ văn hóa học, khảo cổ học, quản lý văn hóa, quản lý nhà nƣớc.... - Phương pháp thống kê: do tính chất của vấn đề nghiên cứu nên phƣơng pháp thống kê không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu những vấn đề mang tính định lƣợng nhƣ đánh giá hiện trạng hoạt động văn hóa cơ sở trong mối quan hệ chặt chẽ về mặt định tính với QLNN về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội hiện nay. Trong trƣờng hợp cụ thể, phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để xử lý các số liệu liên quan đến hoạt động văn hóa và QLNN về văn hóa cấp cơ sở; các thông tin có đƣợc từ các phiếu điều tra liên quan đến việc đánh giá hiệu quả QLNN; sự quan tâm, mức độ hài lòng của cộng đồng đối với việc tổ chức và quản lý các hoạt động văn hóa tại cơ sở. 5. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 5.1. Câu hỏi nghiên cứu Đối với hoạt động QLNN về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn TP. Hà Nội, cần làm rõ một số câu hỏi sau: - Quá trình QLNN về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội đã và đang vận hành theo xu hƣớng nào? Có những thuận lợi và khó khăn gì? - Những yếu tố nào tác động đến hoạt động QLNN cấp cơ sở trên địa bàn TP. Hà Nội hiện nay? - Làm thế nào để nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn TP. Hà Nội hiện nay? 5.2. Giả thuyết nghiên cứu Để bƣớc đầu trả lời những câu hỏi trên, NCS đƣa ra các giả thuyết nghiên cứu của Luận án: 1) QLNN về văn hóa cấp cơ sở ở Hà Nội mang những đặc điểm chung của QLNN về văn hóa cấp cơ sở và những đặc thù rất riêng của Thủ đô cần đƣợc nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích làm rõ. 2) Quá trình QLNN về văn hóa cấp cơ sở ở Hà Nội có sự tƣơng đồng và khác biệt giữa các địa bàn, vùng, cộng đồng dân cƣ đƣợc thể hiện rõ ở phƣờng và xã, nội thành và ngoại thành, vùng trung tâm và xa trung tâm, cộng đồng cƣ dân đô thị và 13 cộng đồng dân cƣ nông thôn, cộng đồng dân cƣ có ngƣời dân tộc sinh sống. 3) QLNN về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội chịu tác động của nhiều yếu tố nhƣ: đặc điểm tình hình dân cƣ, nếp sống ở cơ sở của quận nội thành và huyện ngoại thành, tác động của năng lực, trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ ngành văn hóa, sự quan tâm chỉ đạo của chính quyền các cấp, đồng thời có những yếu tố “đặc quyền” nhƣ cơ chế, chính sách phát triển Thủ đô của một nƣớc, tác động của yếu tố văn hóa quốc tế, quốc gia đến nếp sống của ngƣời dân và cộng đồng 4) Hiệu lực, hiệu quả QLNN về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội có những đặc điểm riêng mang tính chất dẫn dắt, lan tỏa là một “áp lực” không nhỏ trong công tác QLNN về văn hóa của Thủ đô. 5.3. Kết quả nghiên cứu Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần nâng cao lý luận và tính ứng dụng trong công tác QLNN về văn hóa cấp cơ sở với những điểm mới sau: - Cnng cấp hệ thống lý luận QLNN về văn hóa cấp cơ sở nói chung và cấp cơ sở ở Hà Nội nói riêng. - Cung cấp bản mô tả thực trạng hoạt động văn hóa và công tác QLNN về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội với những đặc điểm riêng biệt. - Là công trình nghiên cứu toàn diện về tổ chức bộ máy, nguồn lực, cơ chế chính sách, nội dung, phƣơng pháp quản lý, những ƣu điểm và hạn chế trong QLNN về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội. Từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội trong tình hình hiện nay. 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6.1. Ý nghĩa khoa học - Góp phần hệ thống hóa lý luận QLNN về văn hóa, QLNN về văn hóa cấp cơ sở; các quan điểm và cơ sở lý thuyết QLNN về văn hóa. - Vận dụng cơ sở lý luận QLNN về văn hóa vào một trƣờng hợp cụ thể: tìm hiểu thực trạng hoạt động văn hóa và QLNN về văn hóa cấp cơ sở tại Hà Nội. - Nghiên cứu đặc điểm QLNN về văn hóa cấp cơ sở, đồng thời đề xuất các 14 giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả QLNN về văn hóa cấp cơ sở trong bối cảnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế ở nƣớc ta hiện nay từ trƣờng hợp cụ thể của Hà Nội. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn - Bƣớc đầu cung cấp thông tin, tƣ liệu về cấp cơ sở (xã, phƣờng) trên địa bàn Hà Nội về: chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm, số lƣợng, phân loại... - Nhận diện đƣợc thực trạng hoạt động văn hóa cơ sở và QLNN về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội. - Các giải pháp đƣợc đề xuất trong nghiên cứu có thể ứng dụng vào thực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả công tác QLNN về văn hóa cấp cơ sở. - Luận án có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về QLNN về văn hóa nói chung, cấp cơ sở nói riêng. 7. Cấu trúc của luận án Ngoài phần Mở đầu (9 trang), Kết luận (4 trang), Tài liệu tham khảo (11 trang) và Phụ lục (116 trang), nội dung Luận án đƣợc kết cấu làm 3 chƣơng: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận (43 trang). Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội (68 trang). Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội hiện nay (35 trang). 15 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Nghiên cứu QLNN về văn hóa cấp cơ sở ở nƣớc ta nói chung và trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng là một vấn đề không mới, đã đƣợc quan tâm nhiều cả về lý luận và thực tiễn. Đặc biệt, trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã đã đề cập đến QLNN về văn hóa ở nhiều góc độ khác nhau trên bình diện quốc gia, địa phƣơng cấp tỉnh, cấp huyện và cấp cơ sở. Để có cơ sở cho nghiên cứu của mình, chúng tôi tìm hiểu một số nhóm công trình có liên quan, nhƣ sau: 1.1.1. Các công trình nghiên cứu về quản lý văn hóa Có thể nói con ngƣời xuất hiện từ lúc nào thì văn hóa xuất hiện từ lúc ấy. Do vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu về văn hóa trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có từ lâu đời. Trong khi đó, vấn đề quản lý văn hóa (QLVH) xuất hiện muộn hơn, đặc biệt là ở Việt Nam. Góp phần quan trọng trong xây dựng hệ thống lý luận về QLVH phải kể đến công trình Mấy vấn đề lí luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta của tác giả Hoàng Vinh [105]. Một số giáo trình: Lược sử Quản lý văn hoá ở Việt Nam của tác giả Hoàng Sơn Cƣờng [26]; Tập bài giảng môn Quản lý Nhà nước về văn hóa của tác giả Phạm Duy Đức [33]; Tập bài giảng bồi dưỡng kiến thức quản lý ngành văn hoá thông tin của Trƣờng Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch [87]; Quản lý văn hóa trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Những bài giảng của tác giả Nguyễn Tri Nguyên [51]... đƣợc biên soạn để giảng dạy và học tập của giảng viên, học viên và sinh viên Trƣờng Đại học Văn hóa Hà Nội (chuyên ngành Quản lý văn hóa), Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Trƣờng Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch. Các giáo trình đã đề cập tới nội dung của quản lý lĩnh vực văn hóa nhƣ quản lý đời sống văn hóa ở cơ sở, môi trƣờng bảo tồn DSVH, giao lƣu quốc tế Tuy nhiên, đây là các giáo trình mang tính đại cƣơng, cơ bản, cung cấp những vấn đề quản lý về các lĩnh vực văn hóa. Vấn đề QLVH trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay cũng 16 đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Tiêu biểu là các bài viết trong cuốn Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của nhiều tác giả do Nguyễn Chí Bền làm chủ biên [7]. Cuốn sách đã phác họa bức tranh toàn cảnh về nền văn hóa Việt Nam theo dòng chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện tại với mọi mặt của đời sống văn hóa, xã hội; đề cập đến hiện trạng và những tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đối với các thành tố của nền văn hóa dân tộc. Bàn sâu hơn và hệ thống những vấn dề liên quan đến QLVH trong bối cảnh hội nhập phải kể đến công trình Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế do Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn chủ biên [34]. Các tác giả đã giới thiệu những quan điểm chung về QLVH trong bối cảnh nƣớc ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, giới thiệu kinh nghiệm QLVH của một số quốc gia trên thế giới. Nội dung chính của cuốn sách tập trung đánh giá thực trạng QLVH ở Việt Nam từ khi bắt đầu tiến trình đổi mới năm 1986, từ đó đề xuất những giải pháp, khuyến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao năng lực và hiệu quả QLVH Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế. Công trình Về lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới của tác giả Nguyễn Duy Bắc [6] đã tuyển chọn các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo chính trị và bài viết của nhiều nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nƣớc (Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mƣời, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh) về xây dựng, phát triển văn học nghệ thuật cùng các bài viết của nhiều nhà nghiên cứu nhƣ Hồ Sĩ Vịnh, Nguyễn Duy Bắc, Phạm Duy Đức, Phan Cự Đệ, Trần Văn Bính, Từ Sơn, Trần Đình Sử lại đƣa đến nhiều góc nhìn, nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh chủ đề lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới. Hai tác giả Đào Thị Hoàn và Nguyễn Phƣơng Chi trong bài viết “Đổi mới quản lý phát triển văn hóa - kết quả và giải pháp nâng cao” [114] cho rằng: Phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần đƣợc xác định là một trong ba trụ cột của sự nghiệp đổi mới phát triển đất nƣớc. Sau gần ba mƣơi năm đổi mới, văn hoá Việt Nam đã có những biến đổi sâu sắc. Đời sống văn hoá Việt đã phát triển lên một tầm cao mới, đa dạng và phong phú, các loại hình văn hoá - nghệ thuật truyền thống ... đƣợc giao nhiệm vụ QLNN về văn hóa giúp UBND cấp xã/phƣờng/thị trấn có thể đƣợc coi là chủ thể QLNN về văn hóa cấp xã/phƣờng/thị trấn. Thứ hai, khách thể QLNN về văn hóa là văn hóa và các cơ quan, tổ chức, cá 30 nhân hoạt động trong lĩnh vực văn hóa hoặc có liên quan đến lĩnh vực văn hóa. Văn hóa với tƣ cách là khách thể quản lý đƣợc hiểu theo nghĩa cụ thể là các hoạt động văn hóa (trong đó có các dịch vụ văn hóa, hoạt động sáng tạo) và các giá trị văn hóa (cụ thể là các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể). Mặt khác, theo sự phân công trong hệ thống cơ quan nhà nƣớc các cấp, không phải toàn bộ hoạt động văn hóa hiểu theo nghĩa rộng đều do ngành văn hóa quản lý (ví nhƣ: văn hóa giáo dục, khoa học công nghệ do cơ quan giáo dục, khoa học công nghệ quản lý). Thứ ba, mục đích QLNN về văn hóa là giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên, trong hoạt động QLNN về văn hóa ở từng cấp, từng địa phƣơng, từng hoạt động thì mục đích QLNN về văn hóa phải đƣợc xác định cụ thể sát với yêu cầu nhiệm vụ và hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ, QLNN chƣơng trình mục tiêu xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở thì mục đích quản lý của cấp trung ƣơng là gì, mục đích của cấp tỉnh, cấp quận/huyện và cấp xã/phƣờng là gì cần đƣợc xác định một cách cụ thể. Có nhƣ vậy hoạt động quản lý mới hiệu quả. Thứ tư, cơ sở pháp lý của QLNN về văn hóa là hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật hay nói cách khác là hệ thống luật và các văn bản có tính pháp quy, quản lý bằng pháp luật chứ không phải bằng ý chí của nhà quản lý. Thứ năm, phƣơng pháp, cách thức quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích chứ không phải là việc làm có tính thời vụ, cũng không phải là sự thụ động của nhà quản lý, càng không phải là hoạt động đơn lẻ, tùy tiện của nhà quản lý. - Cơ sở và cấp cơ sở + Cơ sở: theo quan niệm thông thƣờng, cơ sở đƣợc hiểu là cái căn bản, nền, gốc, căn cứ cho một lĩnh vực hoạt động, tri thức, hoặc địa điểm, địa chỉ, trung tâm diễn ra hoạt động (chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội), địa bàn, đơn vị hành chính, cấp cuối của hệ thống tổ chức “Cơ sở là cái làm nền tảng, trong quan hệ với những cái xây dựng trên đó hoặc dựa trên đó mà tồn tại, phát triển” [92, tr.174]. Khái niệm “cơ sở” còn đƣợc hiểu là một tổ chức, một địa điểm cụ thể gắn với đơn vị hành chính cơ bản hoặc một đơn vị, cơ quan cụ thể của một tổ chức nhất định. 31 + Cấp cơ sở: xét theo cấp độ của hệ thống chính trị nƣớc ta hiện nay, có 4 cấp của quản lý hành chính nhà nƣớc, bao gồm: trung ƣơng, tỉnh/thành phố, quận/huyện và xã/phƣờng/thị trấn. Bốn cấp quản lý này đƣợc tổ chức theo một hệ thống dọc và có sự liên kết, tác động hai chiều một cách chặt chẽ và thống nhất. Nhƣ vậy, cấp cơ sở là cấp cuối cùng trong hệ thống chính trị nhƣng lại là cấp đầu tiên và trực tiếp nhất, là nền tảng xây dựng chế độ dân chủ của toàn bộ hệ thống chính trị nƣớc ta, là tầng sâu nhất mà sự vận hành của thể chế chính trị từ cấp vĩ mô phải tác động đến. Cấp cơ sở là địa chỉ quan trọng nhất vì xét đến cùng là nơi quyết định mà mọi chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc phải tìm đến, đó là dân, lòng dân, ý dân, trí tuệ, sáng tạo của dân. - Quản lý nhà nước về văn hóa cấp cơ sở Quản lý nhà nƣớc về văn hóa cấp cơ sở là sự tác động một cách có tổ chức và định hƣớng của nhà nƣớc bằng hệ thống pháp luật và bộ máy (chủ thể quản lý) tới văn hóa (đối tƣợng quản lý) ở xã, phƣờng/thị trấn nhằm xây đựng đời sống văn hóa ở địa bàn cơ sở theo những mục tiêu, định hƣớng đề ra. Từ quan niệm trên, cho thấy chủ thể QLNN về văn hóa cấp cơ sở là chính quyền và công chức VHXH. Khách thể quản lý là toàn bộ những hoạt động về văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa, các hoạt động sáng tạo và thực hành văn hóa của ngƣời dân... Mục đích quản lý là tạo điều kiện, thúc đẩy văn hóa cơ sở phát triển và từng bƣớc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của ngƣời dân, phát huy khả năng sáng tạo và thụ hƣởng các giá trị văn hóa của ngƣời dân. Môi trƣờng và điều kiện tổ chức quản lý văn hóa phải mang sắc thái riêng của từng địa bàn (nông thôn, đô thị, dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; bối cảnh kinh tế thị trƣờng, CNH, HĐH, hội nhập văn hóa). Biện pháp, cách thức quản lý thông qua Hiến pháp, các văn bản pháp luật, chính sách, cơ chế quản lý và các quy định của địa phƣơng kết hợp với hƣơng ƣớc của các cộng đồng dân cƣ trong xây dựng đời sống văn hóa cơ sở. Có thể hình dung quá trình trên qua sơ đồ sau: 32 Chủ thể quản lý (chính quyền và công chức VHXH) Biện pháp và Môi trƣờng và cách thức QL điều kiện quản Khách thể quản lý (pháp luật, lý (mang sắc (toàn bộ các hoạt động văn hóa) văn bản chỉ thái riêng từng đạo, hƣớng lĩnh vực, từng dẫn, hƣơng địa bàn cụ thể) ƣớc, quy định) Mục đích QL (tạo điều ki ện thúc đẩy, phát triển đời sống văn hóa cơ sở) - Đời sống văn hóa và đời sống văn hóa cơ sở Ở nƣớc ta, quan niệm “đời sống văn hóa” thƣờng đƣợc gắn với quan niệm “đời sống văn hóa cơ sở”. Tuy nhiên giữa hai quan niệm này không đồng nhất, có sự phân tách nhất định. + Trƣớc hết, quan niệm “đời sống văn hóa” đƣợc hiểu là một bộ phận trong đời sống của con ngƣời. Đời sống văn hóa liên quan chặt chẽ và phản ánh biểu hiện tập trung nhất các mặt của quá trình văn hóa, từ hoạt động sáng tạo, hƣởng thụ, đến quan niệm giá trị, tƣ tƣởng, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, tín ngƣỡng, tôn giáo..., là biểu hiện bản chất của văn hóa trong quá trình vận động, biến đổi của nó. Nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận và chỉ ra rằng: Đời sống văn hóa đƣợc hiểu một cách khái quát là hiện thực sinh động các hoạt động của con ngƣời trong môi trƣờng sống để duy trì, đồng thời tái tạo sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự 33 nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất lƣợng sống của chính con ngƣời [82, tr35]. Đời sống văn hóa chính là sự hoạt động của các quá trình sản xuất, phân phối, lƣu giữ và tiêu thụ những tác phẩm văn hóa (sản phẩm văn hóa). Quá trình này biến các giá trị văn hóa tiềm tàng, thành những giá trị văn hóa hiện thực sao cho những giá trị văn hóa đó đi vào đời sống hàng ngày của mọi ngƣời trở thành một bộ phận hợp thành không thể tách rời, một thành tố thiết yếu của đời sống [35, tr.27]. “Đời sống văn hóa nói chung là một tổng hợp những yếu tố vật thể văn hóa nằm trong những cảnh quan văn hóa, những yếu tố hoạt động văn hóa của con ngƣời, những sự tác động lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóa trong cộng đồng ngƣời, trực tiếp làm hình thành lối sống của con ngƣời trong xã hội” [12, tr.28]. Nhìn chung, đời sống văn hóa có thể đƣợc xem xét ở hai bình diện sau: Một là, quan niệm đời sống văn hóa đƣợc hiểu theo nghĩa rộng: đời sống văn hóa về bản chất trƣớc hết là đời sống của con ngƣời, là sự thể hiện sinh động nhất phƣơng thức các hoạt động sinh tồn và giao tiếp ứng xử của con ngƣời với môi trƣờng sống (cả tự nhiên và xã hội) để đáp ứng nhu cầu. Nói cách khác, đời sống văn hóa chính là tất cả những hoạt động của con ngƣời tác động vào đời sống của mình, hƣớng đến các giá trị vật chất và tinh thần, nâng cao chất lƣợng sống của con ngƣời. Hai là, quan niệm đời sống văn hóa đã đƣợc khu biệt, giới hạn: bản chất đời sống văn hóa là bản chất đời sống con ngƣời về mặt tinh thần. Đời sống văn hóa đƣợc giới hạn là tổng thể những hoạt động tinh thần của con ngƣời trong quá trình sáng tạo, lƣu giữ, truyền bá và thƣởng thức những giá trị văn hóa, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển hoàn thiện con ngƣời. Trong khuôn khổ Luận án, NCS tiếp cận quan niệm đời sống văn hóa đã đƣợc khu biệt, giới hạn. + Đời sống văn hoá ở cơ sở là đời sống văn hoá diễn ra ở cộng đồng gia đình, làng, bản, xóm, ấp, doanh nghiệp, cơ quan, bệnh viện Đặc điểm cơ bản của 34 đời sống văn hoá ở cơ sở là các hoạt động văn hoá diễn ra gắn liền với sinh hoạt vật chất và tinh thần của cá nhân và cộng đồng trong các mối liên kết thƣờng xuyên và trực tiếp với không gian địa lý nhất định cùng với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và các thiết chế văn hoá nhất định. Mỗi cộng đồng dân cƣ sống cố định và hình thành một tổ chức hành chính (nhà máy, công trƣờng, lâm trƣờng, đơn vị lực lƣợng vũ trang, cơ quan, trƣờng học, xã, phƣờng, hợp tác xã, ấp...) hay một cộng đồng nhỏ hơn (gia đình, chòm, xóm) đều có thể đƣợc xem là đơn vị văn hoá cơ sở. Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là xây dựng văn hoá ngay từ trong gia đình và trong cộng đồng dân cƣ, cộng đồng nghề nghiệp diễn ra sinh hoạt văn hoá thƣờng nhật của quần chúng nhân dân. - Tổ chức đời sống văn hóa cấp cơ sở Tổ chức đời sống văn hóa cấp cơ sở là tổ chức, triển khai các hoạt động văn hóa ở cộng đồng dân cƣ có sự định hƣớng, hƣớng dẫn thực hành và tham gia của chính quyền cấp cơ sở. Đời sống văn hóa cơ sở có phong phú, đa dạng, chất lƣợng có đƣợc nâng cao đáp ứng nhu cầu thụ hƣởng và sáng tạo của ngƣời dân hay không không thể thiếu vai trò điều tiết, tác động, thúc đẩy của cấp chính quyền cơ sở. 1.2.2. Vai trò, chức năng của hệ thống hành chính Hệ thống hành chính Việt Nam là một thể thống nhất, đƣợc chia thành từng tầng, cấp theo chiều dọc. Theo đó cấp hành chính ở trên (cấp trên) sẽ có quyền quyết định cao hơn, bắt buộc đối với cấp hành chính ở dƣới (hay cấp dƣới). Tuy vai trò, chức năng mỗi cấp có sự khác nhau song chúng có mối quan hệ chặt chẽ, qua lại với nhau tạo thành một hệ thống thống nhất, toàn vẹn. Mỗi cấp hành chính là một khâu không thể thiếu trong chuỗi mắt xích của hệ thống. 35 Sơ đồ 1.1: Phân cấp hành chính Việt Nam [Nguồn: Hiến pháp năm 1992] Từ sơ đồ trên, có thể thấy hệ thống tổ chức hành chính Việt Nam đƣợc tổ chức một cách khoa học, liên kết chặt chẽ theo các thứ bậc cụ thể: - Chính phủ (cấp trung ƣơng) là cơ quan trung tâm, chỉ đạo, điều khiển chung, nắm quyền thống nhất quản lý các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nƣớc; quản lý hệ thống thống nhất của bộ máy hành chính nhà nƣớc từ trung ƣơng đến cơ sở trong khuôn khổ hệ thống chính trị hiện hành. - Chính quyền địa phƣơng đƣợc chia thành 3 cấp: cấp tỉnh/thành phố trực thuộc trung ƣơng; cấp quận/huyện/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ƣơng; cấp xã/phƣờng/thị trấn. Việc phân cấp phải bảo đảm các nguyên tắc quy định theo luật định [59]. Theo đó, về nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy khá thống nhất, trong đó, cấp tỉnh và cấp huyện gần nhƣ tƣơng đồng. Riêng đối với chính quyền cấp cơ sở có những đặc điểm khác với chính quyền các cấp nhƣ sau: + Chính quyền cấp cơ sở trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, ở ngay trong nhân dân. Những vấn đề thuộc phạm vi, thẩm quyển, chức năng của chính quyền cơ sở giải quyết trực tiếp liên quan đến sinh hoạt hàng ngày của nhân dân, có thể nói công 36 việc hàng ngày của chính quyền là công việc của dân và ngƣợc lại công việc của dân cũng chính là công việc của chính quyền. + Chính quyền cấp cơ sở có chức năng, nhiệm vụ tổ chức thực hiện các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và nhà nƣớc, các mục tiêu kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng an ninh; thực hiện quản lý hành chính trên địa bàn theo thẩm quyền đƣợc giao; hƣớng dẫn và giám sát các hoạt động tự quản của nhân dân, tạo thuận lợi cho nhân dân và doanh nghiệp hoạt động theo qui định pháp luật. Ngoài ra, chính quyền cấp trên ủy quyền thực hiện một số nhiệm vụ nhƣ: thu một số loại thuế, phí, quản lý tài nguyên, thực hiện chính sách xã hội bằng ngân sách nhà nƣớc, thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trên địa bàn. + Tổ chức bộ máy chính quyền cấp cơ sở theo qui định của pháp luật, chỉ có hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, các ban chuyên môn đƣợc thành lập hoạt động theo cơ chế kiêm nhiệm. + Chính quyền cấp cơ sở có chức năng, thẩm quyền gắn liền với việc thực hiện phƣơng châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đồng thời là cơ sở bảo đảm cho việc thực hiện phƣơng châm này một cách có hiệu quả. + Chính quyền cấp cơ sở gồm 3 loại hình: phƣờng, xã, thị trấn. Tuy địa vị pháp lý của chính quyền xã, phƣờng, thị trấn nhƣ nhau nhƣng trong thực tế quản lý và điều hành hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa trên từng địa bàn lại có những khác biệt nhất định. Chính quyền phƣờng thuộc quận khác với chính quyền xã, thị trấn, không quản lý toàn diện các hoạt động sản xuất, đời sống dân cƣ trên địa bàn, song có nhiệm vụ rất quan trọng trong quản lý đô thị đƣợc phân cấp nhƣ: quản lý thực hiện quy hoạch, quản lý tài nguyên môi trƣờng (đất đai, vệ sinh môi trƣờng), nhà ở, hộ tịch, trật tự đô thị. Trên thế giới, hiện nay có 3 mô hình chính quyền cấp cơ sở trong hệ thống các cấp chính quyền địa phƣơng nhƣ: chính quyền địa phƣơng dân cử theo phƣơng thức phân quyền (chính quyền đại diện); chính quyền địa phƣơng kết hợp phƣơng thức phân quyền và phƣơng thức tản quyền; chính quyền địa phƣơng do trung ƣơng đặt ra, bổ nhiệm nhân sự, không có hội đồng dân cử. Tuy nhiên, xu hƣớng chung 37 của thế giới lựa chọn mô hình chính quyền địa phƣơng theo hình thức phân quyền, nhằm vào sự phát triển hình thức đại diện toàn diện cho cộng đồng địa phƣơng trên mọi vấn đề, nhiều nƣớc theo mô hình này nhƣ Anh, Đức, Trung Quốc, Philippin Chính quyền cơ sở của các quốc gia trên thế giới là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền địa phƣơng, có những tên gọi khác nhau nhƣ xã, công xã, phƣờng hay thị trấn song đều giống nhau cơ bản là cấp cơ sở và không có sự phân chia cấp dƣới nào, tƣơng đƣơng về mặt pháp lý. Tuy nhiên các đơn vị chính quyền cơ sở ở khu vực thành thị có nhiều chức năng, nhiệm vụ hơn khu vực nông thôn. Ở Việt Nam, dƣới xã có làng/thôn/ấp/bản/buôn/sóc...; dƣới phƣờng/thị trấn có khu dân cƣ/khu phố. Khi lƣợng dân cƣ đông, thôn, làng dƣới xã có thể chia ra các xóm, còn khu dân cƣ ở phƣờng/thị trấn chia ra tổ dân cƣ, dƣới tổ dân cƣ chia ra cụm dân phố. Đây là cấp cơ sở không pháp nhân, phục vụ cho quản lý dân cƣ nhƣng không đƣợc xem là cấp hành chính, và những ngƣời tham gia quản lý hoạt động ở cấp này chỉ hƣởng phụ cấp công tác mà không đƣợc coi là công chức. Có thể hệ thống các cấp chính quyền, các cơ quan hành chính nhà nƣớc có thẩm quyền chung và các cơ quan hành chính nhà nƣớc có thẩm quyền chuyên môn theo bảng sau: Các cấp Cơ quan hành chính nhà Cơ quan hành chính nhà nƣớc chính quyền nƣớc có thẩm quyền chung có thẩm quyền chuyên môn Cấp Trung ƣơng Chính phủ Bộ Cấp Tỉnh UBND Tỉnh Sở Cấp Huyện UBND Huyện Phòng Cấp Xã/Phƣờng/Thị trấn UBND Xã/Phƣờng/Thị trấn Ban 1.2.3. Nội dung và yêu cầu cơ bản đối với quản lý nhà nước về văn hóa 1.2.3.1. Nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về văn hóa * Xây dựng thể chế Thể chế văn hóa là hệ thống những luật định, quy chế, quy định pháp quy về sản xuất, kinh doanh và quản lý văn hóa. Để quản lý tốt hoạt động văn hóa, nhà 38 nƣớc cần chú trọng xây dựng thể chế văn hóa. Trong nội dung xây dựng thể chế thì nhà nƣớc cần chú trọng tới xây dựng thể chế cứng và thể chế mềm: - Thể chế cứng, nghĩa là nhà nƣớc quản lý văn hóa bằng pháp luật, trong lĩnh vực này bao gồm các nội dung: Thứ nhất, trên bình diện quốc tế phải đề cập tới những bộ luật, điều luật có tính quốc tế về văn hóa mà Việt Nam tham gia nhƣ Công ƣớc về Quyền tác giả, Luật Bảo hộ sản xuất băng đĩa. Tích cực tham gia vào các điều ƣớc này để tạo thuận lợi cho việc hợp tác quốc tế về văn hóa. Thứ hai, trên bình diện quốc gia, sự quản lý của nhà nƣớc về văn hóa thể hiện trong Hiến pháp - văn bản pháp luật cao nhất của nƣớc ta và rất nhiều luật riêng đối với một số hoạt động văn hóa nhƣ: luật về tổ chức bộ máy QLVH, Luật Di sản văn hóa, Luật Bản quyền tác giả, Luật xuất bản, Luật Báo chí Thứ ba, trong QLNN về văn hóa, cần đặt ra những vùng cấm trong hoạt động văn hóa nhƣ nghiêm cấm các hoạt động về chính trị làm tiết lộ bí mật quốc gia, thất thoát di sản văn hóa quốc gia, xâm phạm bản quyền tác giả, đặc biệt là nghiêm cấm làm băng hoại đạo đức, phá hoại nhân phẩm. - Thể chế mềm, là QLNN về văn hóa bằng quy ƣớc xã hội vì hoạt động văn hóa là loại hoạt động dân sự, gắn với xã hội nên áp dụng thể chế này sẽ có hiệu quả hơn. Ngày nay Đảng và nhà nƣớc ta đã đề ra một số nội dung QLNN về văn hóa, đó là việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở phù hợp với điều kiện của từng địa phƣơng, từ đó chú trọng xây dựng quy ƣớc, hƣơng ƣớc tập trung vào một số lĩnh vực nhƣ: thông tin tuyên truyền, các câu lạc bộ; thƣ viện, sách báo, giải trí, thể thao; văn nghệ quần chúng; xây dựng gia đình văn hóa và nếp sống văn hóa; bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, giáo dục truyền thống. Đồng thời, nhà nƣớc ban hành các văn bản quản lý về xây dựng nếp sống văn hóa, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cƣới, việc tang và lễ hội nhằm tăng cƣờng vai trò của cộng đồng trong việc quản lý và tổ chức các hoạt động văn hóa tại cơ sở. * Ban hành các chính sách về văn hóa: Đây là một trong những nội dung có ý nghĩa to lớn trong điều kiện kinh tế thị trƣờng nhằm điều chỉnh những bất bình đẳng 39 trong văn hóa do thị trƣờng tạo ra, khích lệ, hỗ trợ cho những xu hƣớng văn hóa tiến bộ, vì chính sách văn hóa là thể chế hóa các quan điểm và phƣơng hƣớng phát triển văn hóa nhằm tác động lên các nhóm cộng đồng văn hóa, cộng đồng chính trị và cộng đồng dân cƣ để giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động văn hóa. Hầu hết các chính sách văn hóa của nhà nƣớc đều thể hiện dƣới hình thức các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan QLNN. Khi thực hiện các chính sách văn hóa cần phải có sự tăng cƣờng hợp tác với các cơ quan công quyền ở mọi cấp, đặc biệt là ở địa phƣơng bởi phải đáp ứng đƣợc mối quan tâm của 3 nhóm cộng đồng nhƣ trên đã đề cập. Hiện nay các chính sách văn hóa của Chính phủ Việt Nam đều tập trung vào một số mục tiêu cơ bản nhƣ: mục tiêu về sự phát triển văn hóa ở cơ sở; hoạt động sáng tạo văn hóa, nghiên cứu sƣu tầm, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống; mục tiêu về quản lý, phân cấp quản lý và phát triển đội ngũ cán bộ văn hóa. * Đầu tư nguồn lực tài chính cho văn hóa: Đây là một nội dung cần thiết vì hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có khoản đầu tƣ này để xây dựng một nền văn hóa cho đất nƣớc. Ở nƣớc ta, cơ cấu đầu tƣ cho văn hóa bao gồm phân ngân sách cho giáo dục, khoa học, nghệ thuật và hoạt động văn hóa, phát thanh truyền hình, báo chí, thể dục thể thao Nguồn kinh phí đầu tƣ cho văn hóa hiện nay chủ yếu lấy từ ngân sách nhà nƣớc do Bộ VHTTDL quản lý ở cấp vĩ mô, sở VHTTDL quản lý ở cấp địa phƣơng. Ngoài ra còn có các nguồn đầu tƣ từ các tổ chức và cá nhân khác nhƣng không nhiều. Khi đầu tƣ ngân sách cho văn hóa, Chính phủ cũng áp dụng những nguồn tài chính trong đầu tƣ để đạt đƣợc mục tiêu QLNN về văn hóa. * Tổ chức bộ máy và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực Tổ chức, sắp xếp bộ máy QLVH các cấp và đào tạo, nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực làm công tác văn hóa là một trong những nội dung quan trọng, nhân tố đảm bảo cho chất lƣợng, hiệu quả quản lý. Nhà nƣớc, chính quyền các cấp cần thực hiện tốt công tác tổ chức bộ máy về cơ cấu, chức năng và “chuẩn hóa” cán bộ theo tiêu chuẩn, quy chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ. Đây là một trong những khâu trọng yếu tạo nên hiệu quả QLNN về văn hóa nói chung và cấp cơ sở nói riêng. 40 * Kiểm tra, giám sát các hoạt động văn hóa. Tăng cƣờng kiểm tra, giám sát của nhà nƣớc đối với các hoạt động văn hóa là nhiệm vụ quan trọng của QLNN, đặc biệt là hoạt động của các cơ quan thanh tra, kiểm tra. Văn hóa có vai trò lớn trong việc định hƣớng phát triển của mỗi dân tộc, hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân nên nhà nƣớc không thể buông lỏng việc kiểm tra, giám sát các hoạt động văn hóa. Kiểm tra, giám sát các hoạt động văn hóa cần triển khai theo ba hƣớng: 1) Hoàn thiện và bổ sung các văn bản pháp quy làm cơ sơ pháp lý cho các chủ thể sản xuất, kinh doanh, cung ứng dịch vụ văn hóa tự điều chỉnh hành vi cũng nhƣ điều chỉnh hành vi từ phía các cơ quan QLNN. 2) Kiện toàn đội ngũ cán bộ kiểm tra, giám sát về văn hóa từ Trung ƣơng đến cơ sở. Hiện nay đội ngũ này còn thiếu nhiều về số lƣợng, yếu về trình độ và trang bị kỹ thuật lạc hậu. 3) Tổ chức và sắp xếp lại các cơ quan QLNN về văn hóa cũng nhƣ các đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ văn hóa, đặc biệt đối với các đơn vị giữ vai trò chủ đạo do nhà nƣớc quản lý. 1.2.3.2. Yêu cầu cơ bản đối với quản lý nhà nước về văn hóa Văn hóa là một lĩnh vực hết sức “nhạy cảm” và vô cùng phong phú, đa dạng nên trong quá trình QLNN về văn hóa phải có yêu cầu riêng để đảm bảo việc QLVH có thể thực hiện một cách hiệu quả: - QLNN về văn hóa và công tác tƣ tƣởng phải gắn liền với quyền lực nhà nƣớc và hơn bất cứ lĩnh vực nào thì văn hóa càng cần có sự lãnh đạo và quản lý của nhà nƣớc. Nhà nƣớc tham gia vào QLVH là bảo đảm cho văn hóa ngày một phát triển đúng hƣớng, đáp ứng mong muốn của nhân dân và bảo vệ nền văn hóa dân tộc không bị mai một hoặc bị pha trộn, quyền lợi của các tác giả, những ngƣời sáng tạo văn hóa sẽ không đƣợc tôn trọng, các tác phẩm văn hóa sẽ bị sử dụng tùy tiện, thiếu kiểm soát. - Tăng cƣờng trách nhiệm của nhà nƣớc trong việc trực tiếp quản lý các công trình văn hóa và những cơ sở phục vụ nhu cầu văn hóa của ngƣời dân. Đảm bảo cho văn hóa có cơ sở vật chất vững chắc, đồng thời là trách nhiệm của cả cộng đồng trong sự nghiệp phát triển văn hóa, xã hội hóa các hoạt động văn hóa, văn nghệ, đây 41 là một yêu cầu quan trọng vì nền kinh tế của nƣớc ta chƣa phát triển mạnh, vì vậy nền văn hóa chƣa tự thân hoạt động mà nó vẫn phải dựa vào nguồn tài chính từ nhà nƣớc để hoạt động nhƣ các lĩnh vực truyền hình, điện ảnh Mặt khác, tăng cƣờng trách nhiệm của nhà nƣớc trong quản lý các công trình để bảo vệ các công trình này không rơi vào tình trạng cha chung không ai khóc, nhƣ việc bảo tồn và duy trì các đền, đình chùa, miếu mạo là các di tích lịch sử và nghệ thuật truyền thống, các môn nghệ thuật truyền thống nhƣ múa rối nƣớc hiện nay đang dần mai một, mất đi một nét đẹp văn hóa. - Văn hóa thuộc nhân dân, mọi ngƣời đều có quyền hƣởng thụ và có nghĩa vụ đóng góp, bảo vệ nền văn hóa dân tộc. Trong QLVH, ngoài nhà nƣớc ra cần khuyến khích các hình thức tự quản của nhân dân, các đoàn thể quần chúng, hiệp hội nghề nghiệp trong việc bảo vệ và phát triển văn hóa, bảo đảm tính đa dạng của văn hóa và đáp ứng nhu cầu của ngƣời dân. Trên thực tế, ngƣời dân thực hiện các quy ƣớc, hƣơng ƣớc, tham gia xây dựng làng (thôn, ấp, bản), gia đình văn hóa là đang bảo vệ và phát triển văn hóa. - Văn hóa Việt Nam là văn hóa đa dân tộc, với 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc mang bản sắc riêng, chính nét văn hóa dộc đáo riêng của mỗi dân tộc đã góp phần tổng hợp tạo nên một nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Chính vì sự đa dạng này nên ngành Văn hóa nƣớc ta cần phải đặc biệt chú ý đến các biện pháp quản lý riêng biệt cho phù hợp với văn hóa của từng dân tộc, vùng miền sao cho vẫn giữ đƣợc bản sắc văn hóa riêng trong văn hóa chung của cả dân tộc. - Kết hợp hiệu quả kinh tế và hiệu quả chính trị trong hoạt động văn hóa. Đây là yêu cầu của thực tiễn, hiệu quả kinh tế cần kết hợp với văn hóa, vì ngành Văn hóa tuy đƣợc nhà nƣớc cấp ngân sách nhƣng bản thân ngân sách nhà nƣớc chƣa đủ để phát triển nên ngành Văn hóa phải tự thân vận động tạo nên nguồn lực và mang lại lợi nhuận cho nhà nƣớc. Có thể thấy, hiệu quả kinh tế thông qua việc phát triển du lịch kết hợp tham quan các làng nghề, khu di tích, các nghệ thuật cổ nhƣ hát quan họ, múa rối, nhã nhạc cung đình Huế; tổ chức lễ hội để thu hút du khách, quảng bá tiềm năng văn hóa du lịch và giới thiệu hình ảnh đất nƣớc, con ngƣời Việt Nam với bạn bè trong nƣớc và quốc tế. 42 - Văn hóa góp phần quan trọng trong công tác dân vận, thông qua văn hóa quần chúng, ta có thể lồng ghép các chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng và nhà nƣớc để tuyên truyền tới nhân dân nhằm nâng cao hiệu quả chính trị. Để QLNN về văn hóa có hiệu lực, hiệu quả nhất định phải đảm bảo thực hiện đồng bộ các yêu cầu trên. 1.2.4. Quản lý nhà nước về văn hóa cấp cơ sở 1.2.4.1. Vai trò của quản lý nhà nước về văn hóa cấp cơ sở Quản lý nhà nƣớc về văn hóa cấp cơ sở là một bộ phận của QLNN về văn hóa. Tuy nhiên, do những đặc thù của văn hóa cơ sở, QLNN ở cấp này có vai trò riêng. Thứ nhất, định hƣớng, điều chỉnh các hoạt động văn hoá nhằm phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế những mặt trái tiêu cực để bảo vệ, gìn giữ và phát triển phù hợp mục tiêu xây dựng và phát triển văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nƣớc. Thứ hai, tuyên truyền, quán triệt vai trò của văn hóa, làm cho các nhân tố văn hóa gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phƣơng diện của ngƣời dân. Thứ ba, hƣớng dẫn nhân dân tổ chức các hoạt động văn hóa, xây dựng nếp sống, đƣa nội dung thực hiện nếp sống văn minh vào trong hƣơng ƣớc, quy ƣớc làng, bản, xóm, ấp và của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp... Thứ tư, khuyến khích, tạo điều kiện và mở rộng sự tham gia của ngƣời dân, của các thành phần kinh tế đối với việc quản lý và tổ chức hoạt động văn hoá cơ sở, tạo nên sức mạnh tổng hợp cho phát triển bền vững. Nói một cách khác, trong sự tồn tại và phát triển của văn hóa, QLVH đóng vai trò rất quan trọng. Trên phƣơng diện vĩ mô, hoạt động QLVH sẽ góp phần định hƣớng, điều chỉnh sự phát triển của văn hóa quốc gia, giúp hiện thực hóa các chủ trƣơng, đƣờng lối văn hóa, văn nghệ của Đảng cầm quyền, từ đó tác động đến mục tiêu, bản chất của văn hóa dân tộc. Trên phƣơng diện vi mô, hoạt động QLVH trong các lĩnh vực, địa bàn, nhóm dân cƣ cụ thể sẽ giúp kiểm soát, chấn chỉnh kịp thời sự tùy tiện, lệch chuẩn trong khi thực thi các cơ chế, chính sách của nhà nƣớc trên lĩnh vực văn hóa. 43 1.2.4.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước về văn hóa cấp cơ sở Ngoài những đặc điểm cơ bản của QLNN về văn hóa nói chung, QLNN về văn hóa cấp cơ sở còn có những đặc điểm riêng sau: - Là cấp quản lý thấp nhất và ít quyền lực nhất trong hệ thống QLNN về văn hóa ở nƣớc ta, là cầu nối giữa nhà nƣớc, các tổ chức và cá nhân trên địa bàn về lĩnh vực văn hóa, là cấp hành động, tổ chức thực hiện chủ trƣơng, đƣờng lối về văn hóa của Đảng và nhà nƣớc. - Là cấp quản lý gần dân nhất, có tính tự quản, tính độc lập cao. Yếu tố quản lý của cấp cơ sở rất đặc biệt bởi nó bị chi phối mạnh mẽ do các mối quan hệ cộng đồng gắn bó chằng chịt, những thói quen, lệ làng hay nói cách khác bên cạnh việc bị chi phối bởi các thiết chế chính thức còn bị chi phối bởi các thiết chế phi chính thức trong đó có cả những quy định và thiết chế do chính những thành viên trong cộng đồng lập ra vô cùng phong phú, đa dạng. - Cấp quản lý này còn là nơi chứng thực đƣờng lối, chính sách, luật pháp về văn hóa của Đảng và nhà nƣớc đi vào cuộc sống và đƣợc triển khai cụ thể ra sao. Bởi chính sách dù đúng đắn đến đâu thì cũng sẽ chỉ là ý chí chủ quan từ những nghiên cứu, chƣa đủ để khẳng định hiệu quả nếu không đƣợc đƣa vào thực tiễn đời sống ở cơ sở. - Ngƣời làm công tác văn hóa cấp cơ sở phải đảm bảo hai yếu tố là kinh nghiệm và trình độ (đôi khi kinh nghiệm đƣợc sử dụng nhiều hơn), tận tâm, tận lực và có uy tín với nhân dân, đƣợc nhân dân ủng hộ, tin tƣởng mới hoàn thành tốt nhiệm vụ đƣợc giao. 1.2.4.3. Nội dung quản lý nhà nước về văn hóa cấp cơ sở So với nội dung QLNN về văn hóa nói chung, nội dung QLNN về văn hóa cấp cơ sở cũng mang tính đặc thù riêng biệt. Điều này đƣợc lý giải bởi sự phân cấp về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy cấp cơ sở. Theo đó, hoạt động QLNN và tổ chức các hoạt động văn hóa tại cơ sở đều đƣợc thực hiện dƣới sự định hƣớng, điều tiết của nhà nƣớc. Do đó, việc tổ chức các hoạt động văn hóa cũng là nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ quản lý. Đây là đặc thù của thể chế chính trị ở nhà nƣớc ta, khác biệt với hầu hết các nƣớc phát triển là: nhà nƣớc định hƣớng, điều tiết, việc tổ chức các hoạt động đƣợc trao quyền cho các hiệp hội và cộng đồng. Trên 44 thực tế, ở cấp cơ sở xã, phƣờng, QLNN về văn hóa chủ yếu đƣợc thực hiện thông qua tổ chức các hoạt động văn hóa. Nội dung QLNN về văn hóa cấp cơ sở khác với cấp huyện, tỉnh, trung ƣơng là mọi hoạt động đều trực tiếp liên quan đến đối tƣợng quản lý, không có bộ máy “cấp dƣới” để điều hành. Việc triển khai các văn bản pháp quy, các hoạt động theo cơ chế tác động đến “đối tƣợng quản lý” đều do chính quyền cấp cơ sở quy định, điều hành trực tiếp thông qua công chức VHXH chuyên trách. Do vậy hoạt động QLVH cấp cơ sở mang đặc điểm riêng với hai nội dung cơ bản của QLNN về văn hóa cấp cơ sở, bao gồm: - Thứ nhất, thông qua tổ chức các hoạt động văn hóa cơ sở để định hƣớng sự phát triển. Đây là nội dung đặc trƣng của QLNN về văn hóa cấp cơ sở, bởi muốn quản lý tốt cần phải tổ chức tốt các hoạt động văn hóa: thông tin cổ động, bảo tồn phát huy di sản, xây dựng nếp sống văn hóa, văn nghệ quần chúng, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, xây dựng nội dung và tổ chức các hoạt động trong thiết chế văn hóa, thƣ viện, đọc sách, hoạt động du lịch, hoạt động quảng cáo Điều này cho thấy vai trò dẫn dắt của công tác QLNN về văn hóa nhằm hƣớng đến mục tiêu đề ra. Đó chính là việc hiện thực hóa các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc vào đời sống cộng đồng, vì nếu không có hoạt động này thì mọi hoạt động quản lý chỉ nằm trên giấy tờ, không đi vào thực tiễn đời sống văn hóa cơ sở phong phú, đa dạng ở từng địa bàn, vùng miền, khu vực (nội, ngoại thành, đ... phải thành lập Hội đồng kiểm tra, sát hạch đối với các trƣờng hợp đƣợc xem xét tiếp nhận vào công chức cấp xã không qua thi tuyển, bao gồm: a) Trƣờng hợp có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn quy định tại khoản 2 Điều 15 Thông tƣ này hiện đang công tác trong ngành, lĩnh vực cần tuyển thuộc biên chế hƣởng lƣơng trong cơ quan của đảng, nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị thuộc quân đội, công an, cơ yếu và trong danh sách trả lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập, của doanh nghiệp nhà nƣớc; b) Cán bộ cấp xã thôi đảm nhiệm chức vụ mà có đủ các tiêu chuẩn và đáp ứng đƣợc ngay các nhiệm vụ của chức danh công chức cấp xã cần tuyển dụng quy định tại Thông tƣ này. 250 4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phải có văn bản gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để thống nhất ý kiến trƣớc khi quyết định tiếp nhận không qua thi tuyển đối với các trƣờng hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 15 Thông tƣ này (trừ trƣờng hợp quy định tại khoản 5 Điều này). 5. Cán bộ, công chức không thuộc diện đƣợc cơ quan có thẩm quyền quyết định luân chuyển, điều động, biệt phái, tiếp nhận về cấp xã theo quy định tại khoản 4 Điều 61 Luật Cán bộ, công chức và Điều 27 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP và viên chức đang làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập, nếu có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn để xem xét tiếp nhận vào công chức cấp xã không qua thi tuyển theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Thông tƣ này và nếu còn chỉ tiêu biên chế công chức cấp xã cần tuyển dụng thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định tiếp nhận vào công chức cấp xã không qua thi tuyển và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Sau đó có văn bản báo cáo (kèm theo bản sao hồ sơ của ngƣời đƣợc tiếp nhận) gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để phục vụ công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra theo thẩm quyền. Điều 17. Hồ sơ đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thống nhất ý kiến đối với các trƣờng hợp tiếp nhận không qua thi tuyển Hồ sơ đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thống nhất ý kiến đối với các trƣờng hợp tiếp nhận không qua thi tuyển quy định tại khoản 4 Điều 16 Thông tƣ này, bao gồm: 1. Công văn đề nghị do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký, trong đó nêu rõ số lƣợng và chức danh công chức cấp xã cần tuyển dụng tƣơng ứng với từng trƣờng hợp đề nghị tiếp nhận không qua thi tuyển trong phạm vi chỉ tiêu biên chế công chức cấp xã đƣợc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao; nơi dự kiến bố trí công chức cấp xã sau khi đƣợc tuyển dụng; dự kiến xếp lƣơng đối với trƣờng hợp đã có thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo hƣớng dẫn tại Điều 19 Thông tƣ này. 2. Biên bản, kết quả họp Hội đồng kiểm tra, sát hạch đối với trƣờng hợp phải qua kiểm tra, sát hạch. Đối với trƣờng hợp không phải kiểm tra, sát hạch quy định tại khoản 3 Điều 16 Thông tƣ này phải có văn bản đề nghị tiếp nhận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có nhu cầu tiếp nhận đối với công chức cấp xã không qua thi tuyển. 3. Hồ sơ của ngƣời đƣợc đề nghị tiếp nhận vào công chức cấp xã không qua thi tuyển, bao gồm: a) Bản sơ yếu lý lịch tự thuật có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày, tính đến ngày nộp hồ sơ dự tuyển đối với trƣờng hợp tiếp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Thông tƣ này; bản sơ yếu lý lịch theo mẫu số 2c 251 ban hành kèm theo Quyết định số 02/2008/QĐ-BNV ngày 06 tháng 10 năm 2008 của Bộ trƣởng Bộ Nội vụ về việc ban hành mẫu biểu quản lý hồ sơ cán bộ, công chức có xác nhận của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi ngƣời đó công tác trong thời hạn 30 ngày, tính đến ngày nộp hồ sơ dự tuyển đối với trƣờng hợp tiếp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Thông tƣ này; b) Bản sao giấy khai sinh; c) Bản sao các văn bằng, chứng chỉ theo yêu cầu của chức danh công chức cấp xã dự tuyển, đƣợc cơ quan có thẩm quyền chứng thực; d) Bản sao kết quả học tập theo yêu cầu của chức danh công chức cấp xã dự tuyển đối với trƣờng hợp tiếp nhận quy định tại khoản 1 Điều 15 Thông tƣ này, đƣợc cơ quan có thẩm quyền chứng thực; đ) Giấy chứng nhận sức khỏe do tổ chức y tế có thẩm quyền cấp trong thời hạn 30 ngày, tính đến ngày nộp hồ sơ dự tuyển; e) Phiếu lý lịch tƣ pháp do Sở Tƣ pháp nơi thƣờng trú cấp trong thời hạn 30 ngày, tính đến ngày nộp hồ sơ dự tuyển. Đối với trƣờng hợp không phải kiểm tra, sát hạch khi tiếp nhận vào công chức cấp xã không qua thi tuyển quy định tại khoản 3 Điều 16 Thông tƣ này thì không yêu cầu phải có phiếu lý lịch tƣ pháp; g) Bản tự nhận xét, đánh giá của ngƣời đƣợc đề nghị tiếp nhận về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, quá trình công tác và các hình thức khen thƣởng đã đạt đƣợc, có nhận xét và xác nhận của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi ngƣời đó công tác đối với trƣờng hợp tiếp nhận quy định tại khoản 2 Điều 15 Thông tƣ này. 4. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc đủ hồ sơ đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải có văn bản trả lời; nếu không trả lời thì đƣợc xem là đồng ý. Trƣờng hợp hồ sơ chƣa đủ theo quy định thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc đề nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải có văn bản yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có nhu cầu tuyển dụng công chức cấp xã bổ sung, hoàn thiện đủ hồ sơ theo quy định. 5. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm về các điều kiện, tiêu chuẩn, phẩm chất, trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và hồ sơ của ngƣời đƣợc đề nghị tiếp nhận vào công chức cấp xã không qua thi tuyển. Giám đốc Sở Nội vụ có trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thẩm định về điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình, hồ sơ thực hiện việc tiếp nhận công chức cấp xã không qua thi tuyển. Điều 18. Trƣờng hợp đƣợc miễn thực hiện chế độ tập sự 252 1. Ngƣời đƣợc tuyển dụng vào chức danh công chức cấp xã Văn phòng - thống kê, Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trƣờng (đối với phƣờng, thị trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trƣờng (đối với xã), Tài chính - kế toán, Tƣ pháp - hộ tịch, Văn hoá - xã hội, đƣợc miễn thực hiện chế độ tập sự khi có đủ các điều kiện sau: a) Đã có thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc bằng hoặc lớn hơn thời gian tập sự quy định tại khoản 2 Điều 22 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP tƣơng ứng với chức danh công chức cấp xã đƣợc tuyển dụng; b) Trong thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định tại điểm a khoản này, ngƣời đƣợc tuyển dụng công chức cấp xã đã làm những công việc phù hợp với nhiệm vụ của chức danh công chức cấp xã đƣợc tuyển dụng. 2. Ngƣời đƣợc tuyển dụng công chức cấp xã nếu không có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này thì phải thực hiện chế độ tập sự; thời gian ngƣời đƣợc tuyển dụng đã làm những công việc quy định tại điểm b khoản 1 Điều này (nếu có) đƣợc tính vào thời gian tập sự. Điều 19. Xếp lƣơng đối với trƣờng hợp đã có thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc khi đƣợc tuyển dụng vào công chức cấp xã 1. Các trƣờng hợp quy định tại khoản 2 Điều 21 Nghị định số 112/2011/NĐ- CP đƣợc xếp lƣơng theo ngạch công chức hành chính quy định tại Điều 3 Thông tƣ liên tịch số 03/2010/TT-BNV-BTC-BLĐTB&XH ngày 27 tháng 5 năm 2010 cùa Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội hƣớng dẫn thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về chức danh, số lƣợng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phƣờng, thị trấn và những ngƣời hoạt động không chuyên trách ở cấp xã (sau đây gọi chung là Thông tƣ liên tịch số 03/2010/TTLT). Việc xếp lƣơng đối với từng trƣờng hợp đƣợc thực hiện nhƣ sau: a) Căn cứ vào thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (trừ thời gian tập sự, thử việc theo quy định) tƣơng ứng với trình độ đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ của từng trƣờng hợp để thực hiện xếp vào bậc lƣơng trong ngạch công chức hành chính quy định tại Điều 3 Thông tƣ liên tịch số 03/2010/TTLT theo nguyên tắc sau: Cứ sau mỗi khoảng thời gian 03 năm (đủ 36 tháng) nếu có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo trình độ đào tạo đại học trở lên thì đƣợc xếp lên 01 bậc lƣơng trong ngạch chuyên viên (mã số 01.003), nếu có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo trình độ đào tạo cao đẳng thì đƣợc xếp lên 01 bậc lƣơng trong ngạch chuyên viên cao đẳng (mã số 01a.003); cứ sau mỗi khoảng thời gian 02 năm (đủ 24 tháng) 253 nếu có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo trình độ đào tạo dƣới cao đẳng thì đƣợc xếp lên 01 bậc lƣơng trong ngạch có trình độ đào tạo tƣơng ứng. Sau khi quy đổi thời gian để xếp vào bậc lƣơng trong ngạch công chức hành chính đối với công chức cấp xã theo nguyên tắc nêu trên, nếu có số tháng chƣa đủ 36 tháng đối với ngạch chuyên viên và ngạch chuyên viên cao đẳng hoặc chƣa đủ 24 tháng đối với ngạch yêu cầu trình độ đào tạo dƣới cao đẳng thì số tháng này đƣợc tính vào thời gian để xét nâng bậc lƣơng lần sau trong ngạch công chức hành chính đƣợc xếp. Trƣờng hợp đƣợc tính xếp vào bậc lƣơng cuối cùng trong ngạch công chức hành chính mà vẫn còn thừa thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thì thời gian công tác còn thừa này đƣợc tính hƣởng phụ cấp thâm niên vƣợt khung nhƣ sau: Sau 03 năm (đủ 36 tháng) đối với ngạch chuyên viên và ngạch chuyên viên cao đẳng và sau 02 năm (đủ 24 tháng) đối với ngạch yêu cầu trình độ đào tạo dƣới cao đẳng đƣợc tính hƣởng 5%, cứ mỗi năm tiếp theo (đủ 12 tháng) đƣợc tính hƣởng thêm 1%. b) Khi thực hiện xếp lƣơng và tính hƣởng phụ cấp thâm niên vƣợt khung theo nguyên tắc tại điểm a khoản này, nếu trong thời gian công tác của ngƣời đƣợc xếp lƣơng có năm không hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao hoặc bị kỷ luật (khiển trách hoặc cảnh cáo) thì cứ mỗi năm không hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao hoặc cứ mỗi lần bị kỷ luật bị trừ 6 tháng; nếu bị kỷ luật giáng chức, cách chức tìi cứ mỗi lần bị kỷ luật bị trừ 12 tháng; nếu có năm vừa không hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao, vừa bị kỷ luật thì thời gian bị trừ của năm đó chỉ tính theo thời gian bị trừ của hình thức bị kỷ luật. c) Sau khi xếp lƣơng theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có hệ số lƣơng (kể cả phụ cấp thâm niên vƣợt khung nếu có) đƣợc xếp theo ngạch công chức hành chính thấp hơn so với hệ số lƣơng đã hƣởng tại thời điểm đƣợc tuyển dụng vào công chức cấp xã thì đƣợc hƣởng hệ số chênh lệch bảo lƣu cho bằng hệ số lƣơng đã hƣởng. Hệ số chênh lệch bảo lƣu này giảm tƣơng ứng khi công chức cấp xã đƣợc nâng bậc lƣơng, đƣợc hƣởng phụ cấp thâm niên vƣợt khung trong ngạch công chức hành chính đƣợc xếp hoặc khi đƣợc xếp lƣơng vào ngạch công chức hành chính cao hơn. 3. Căn cứ vào quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phải đề xuất việc xếp lƣơng cụ thể đối với từng trƣờng hợp đã có thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc khi đƣợc tuyển dụng vào công chức cấp xã và có văn bản (kèm theo bản sao sổ bảo hiểm xã hội đƣợc cơ quan có thẩm quyền xác nhận của từng trƣờng hợp) đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thống nhất ý kiến trƣớc khi quyết định. Thời hạn Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trả lời thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 17 Thông tƣ này. Chƣơng III 254 HIỆU LỰC VÀ TRÁCH NHIỆM THI HÀNH Điều 20. Hiệu lực thi hành 1. Thông tƣ này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2012. 2. Bãi bỏ các quy định áp dụng đối với công chức cấp xã tại các văn bản sau: a) Thông tƣ số 03/2004/TT-BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộ Nội vụ hƣớng dẫn thực hiện Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phƣờng, thị trấn; b) Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộ trƣởng Bộ Nội vụ về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phƣờng, thị trấn. Điều 21. Trách nhiệm thi hành 1. Các Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trƣởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tƣ này. 2. Trong quá trình thực hiện Thông tƣ này, nếu có vƣớng mắc, đề nghị tổ chức và cá nhân gửi ý kiến về Bộ Nội vụ để nghiên cứu, giải quyết./. KT. BỘ TRƢỞNG Nơi nhận: THỨ TRƢỞNG - Ban Bí thư Trung ương Đảng; - Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; (Đã ký) - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; - VP BCĐTW về phòng, chống tham nhũng; Nguyễn Duy Thăng - HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; - Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng; - Văn phòng Chủ tịch nước; - Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; - Văn phòng Quốc hội; - Tòa án nhân dân tối cao; - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; - Kiểm toán Nhà nước; - UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; - Cơ quan Trung ương của các đoàn thể; - Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia; - Cục Kiểm tra văn bản QPPL (Bộ Tư pháp); - Sở Nội vụ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; - Công báo, Website Chính phủ; - Bộ Nội vụ: Bộ trưởng, các Thứ trưởng, các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ; - Lưu: Văn thư, CQĐP (10b). 255 Phụ lục số 7 MỘT SỐ BÁO CÁO CỦA CÁC XÃ, PHƢỜNG UỶ BAN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM XÃ BA TRẠI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Số: 19 /BC-UBND Ba Trại, ngày 18 tháng 11 năm 2016 BÁO CÁO Về công tác quản lý các hoạt động tín ngƣỡng, tôn giáo năm 2016 phƣơng hƣớng công tác năm 2017 Thực hiện Công văn số 1887/UBND-NV, ngày 14/11/2016 của UBND huyện Ba Vì về việc báo cáo công tác quản lý Nhà nƣớc hoạt động tín ngƣỡng, tôn giáo năm 2016 và phƣơng hƣớng công tác năm 2017. UBND xã Ba Trại báo cáo công tác quản lý Nhà nƣớc về hoạt động tín ngƣỡng, tôn giáo năm 2016 và phƣơng hƣớng công tác năm 2017, cụ thể nhƣ sau: I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO NĂM 2016 1. Đặc điểm tình hình Ba Trại là một xã miền núi nằm ở phía Tây huyện Ba Vì. Nơi có di tích Lƣu niệm Đền Thờ Bác Hồ, với tổng diện tích đất tự nhiên là 2.017,28 ha. Có 3600 hộ với 14.078 nhân khẩu. Các hộ sống rải rác trên 53 xóm nhỏ và đƣợc chia thành 10 thôn. Có hai Dân tộc Kinh và Mƣờng cùng chung sống, đời sống của nhân dân chủ yếu sống bằng nông nghiệp. Trong những năm qua, dƣới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận các đoàn thể từ xã đến thôn, nhân dân Ba Trại luôn đoàn kết có tâm, có đức trong hoạt động tín ngƣỡng, tôn giáo, chấp hành tốt các quy định, quy chế của địa phƣơng, đảm bảo đúng quy định của Pháp luật - Cơ sở tín ngƣỡng: Hiện nay trên địa bàn xã Ba trại có 7cơ sở tín ngƣỡng: Nhà Thờ họ Bạch (Thôn 7), Nhà Thờ họ Đinh (Thôn 8), Nhà Thờ họ Hoàng (Thôn 1), Nhà Thờ họ Bùi (Thôn 9), Nhà Thờ họ Vũ (Thôn 4 ), Đền Thờ Bác Hồ (Thôn 9) và Đình Văn Lai đang đƣợc phục dựng lại trong năm 2013 256 Có 1 cơ sở đƣợc công nhận di tích cấp Thành Phố năm 2008 là Đền Thờ Bác Hồ (Thôn 9). Hiện trên Đền thờ Bác có ngƣời thủ từ phụ trách đèn nhang đƣợc Ban quản lý di tích của xã phân công. Còn lại các cơ sở tín ngƣỡng Nhà thờ họ Bạch, họ Đinh, họ Vũ, họ Hoàng, họ Bùi đều đƣợc xây, sửa từ 1999 đến 2010) do các Dòng họ tự xây dựng và quản lý trên đất thổ cƣ cua gia đình. Cơ sở tôn giáo: Phật Giáo Chùa Văn lai đƣợc khởi công xây dựng vào năm đầu năm 2016 với diện tích ngoại tự là hơn 11.500 m2, diện tích nội tự là 900 m2, đến nay đã có 03 hạng mục trong trông trình đƣợc hoàn thành và đƣa và sử dụng đó là Nhà Tổ, Nhà khách, nhà ở của Tăng ni phật tử trong chùa. Nhà chùa cũng đã hoàn thành công tác đăng ký tạm chú cho 15 tăng ni phật tử trong Chùa. Đặc biệt vào cuối tháng 11 vừa qua Nhà chùa cùng với Ban trị sự phật giáo huyện Ba Vì đã phối hợp với UBND xã Ba Trại tổ chức thành công Đại Hội phật giáo huyện Ba Vì lần thứ VIII. Toàn bộ diện tích xây dựng và khuân viên Chùa Văn Lai đƣợc bà con nhân dân Thôn 8 hiến đổi đất để xây dựng, Ngôi chùa đƣợc xây dựng sẽ đáp ứng đƣợc nhu cầu về tín ngƣỡng tâm linh của bà con nhân dân trong, ngoài địa phƣơng và phật tử gần xa khắp nơi. Cơ sở Công giáo là Nhà Nguyện Giáo họ Tân Trại thuộc Giáo xứ Yên Khoái nằm trên địa phận khu Tân Trại Thôn 2, do đông đảo bà con giáo dân chuyển từ xã Tân Đức tới định cƣ muốn có nơi để sinh hoạt Tôn Giáo nên bà con đã đóng góp kinh phí tự xây dựng Nhà nguyện trên diện tích đất ở của hộ gia đình tƣ nhân trong khu dân cƣ. Tính đến hết tháng 12 năm 2016 Ba Trại có 30 hộ và 125 khẩu theo đạo thiên chúa. Các hộ và khẩu theo đạo thiên chúa giáo đều chấp hành tốt chủ trƣơng chính sách của Đảng và Nhà nƣớc và các quy định của địa phƣơng. Không có hộ và khẩu nào theo các đạo chính thống và không chính thống khác. 2. Kết quả công tác Quản lý Nhà nƣớc về tín ngƣỡng, tôn giáo Trong năm 2016 địa phƣơng đã có 03 văn bản liên quan đến công tác quản lý về lĩnh vực tín ngƣỡng, tông giáo gồm: - Nghị quyết số 10 - NQ/ĐU của Đảng ủy về thực hiện tốt pháp lệnh tín ngƣỡng tôn giáo trên địa bàn. - Quyết định số 06 của UBND xã về việc thành lập BTC Lễ Hội Đình Văn Lai năm 2016. - Kế hoạch số 01 của BTC Lễ Hội về việc tổ chức lễ hội Đình Văn Lai năm 2016 257 Việc thực hiện các chính sách tôn giáo trên địa bàn theo các văn bản pháp luật Nhà nƣớc luôn đƣợc thực hiện tốt nhƣ : Mọi công dân trên địa bàn xã không phân biệt tôn giáo, tín ngƣỡng đều có quyền và nghĩa vụ học tập ; không truyền bá tôn giáo trong nhà trƣờng và cơ sở giáo dục ... 3. Đánh giá chung - Ƣu điểm: Nhìn chung dƣới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp Uỷ Đảng và chính quyền địa phƣơng, sự phối hợp chặt chẽ với MTTQ và sự vào cuộc của các đoàn thể chính trị, năm 2016 các hoạt động tín ngƣỡng, tôn giáo trên địa bàn xã cơ bản giữ ổn định. Nhìn chung các cơ sở tín ngƣỡng, cơ sở tôn giáo chấp hành tốt các chủ trƣơng, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc và các quy định của địa phƣơng, góp phần tích cực vào việc tham gia phát triển kinh tế- xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện Pháp lệnh Tín ngƣỡng, Tôn giáo ngày càng có hiệu quả. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức về tôn giáo và công tác tôn giáo đối với cán bộ, đảng viên, nhân dân và đồng đào có đạo. Đồng thời tích cực vận động đồng bào có đạo thực hiện tốt các phong trào thi đua yêu nƣớc, sống tốt đời đẹp đạo, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhƣ: Phong trào xây dựng nông thôn mới; toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cƣ; xây dựng gia đình văn hoá và khu dân cƣ văn hóa; - Tồn tại: Bên cạnh những kết quả đạt đƣợc trên, công tác tôn giáo nói chung và công tác QLNN về tôn giáo nói riêng trên địa bàn xã còn mốt số tồn tại nhƣ: Công tác tuyên truyền chủ trƣơng, chính sách của Đảng và nhà nƣớc về tôn giáo tín ngƣỡng còn có những hạn chế nhất định. Cách hiểu, cách nhìn nhận của một bộ phận nhân dân về các vấn đề tôn giáo tín ngƣỡng còn nhiều hạn chế. Công tác hƣớng dẫn, chỉ đạo tiến hành sửa chữa, tu bổ và phục dựng lại một số công trình tín ngƣỡng, tôn giáo còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoàn thiện các thủ tục, hồ sơ trình các cấp. 4. Kiến nghị, đề xuất: - Đề nghị các cấp có thẩm quyền quan tâm chỉ đạo và đầu tƣ kinh phí để hoàn thành giai đoạn II đối với công trình Đề Thờ Lƣu niệm cây đa Bác Hồ và Công trình Đình Văn Lai. 258 II. Phƣơng hƣớng công tác tôn giáo, tín ngƣỡng năm 2017 - Tiếp tục tuyên truyền, quán triệt nội dung Nghị định 92/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 quy định chi tiết và biện pháp thi hành pháp lệnh Tín ngƣỡng, Tôn giáo. Pháp lệnh Tín ngƣỡng, tôn giáo; - Tăng cƣờng chức năng quản lý Nhà nƣớc đối với công tác tôn giáo, tín ngƣỡng trên địa bàn, tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo hoạt động theo đúng với quy định của pháp luật. Tuyên truyền nhân dân nhìn nhận tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của đồng bào có đạo, đƣợc phép sinh hoạt bình thƣờng trong khuôn khổ của pháp luật. Đồng thời xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tự do tín ngƣỡng, tôn giáo để giảng đạo, truyền đạo trái phép nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân. - MTTQ và các đoàn thể chính trị làm tốt công tác tuyên truyền vận động cán bộ, hội viên thực hiện tốt Pháp lệnh Tín ngƣỡng, Tôn giáo. Phối hợp với chính quyền địa phƣơng tham gia giám sát việc thực hiện công tác tôn giáo, tín ngƣỡng trên địa bàn. Phát hiện và xử lý kịp thời khi có biểu hiện sai trái đối với hoạt động tín ngƣỡng, tôn giáo. Trên đây là báo cáo hoạt động tín ngƣỡng, tôn giáo năm 2016 và phƣơng hƣớng nhiệm vụ công tác năm 2017 của UBND xã Ba Trại./. Nơi nhận: TM. UBND XÃ - UBND huyện Ba Vì (b/c) PHÓ CHỦ TỊCH - Phòng Nội vụ, VHTT huyện Ba Vì (b/c) (đã ký) - Đảng ủy, HĐND xã (b/c) Bạch Hồng Nam - Lưu VPUBND 259 UỶ BAN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM XÃ BA TRẠI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Số: 19 /BC-UBND Ba Trại, ngày tháng 05 năm 2017 BÁO CÁO Về công tác quản lý văn hóa, các hoạt động văn hóa xã hội, xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa trên địa bàn xã Ba Trại năm 2017 I. Khái quát đặc điểm tình hình của địa phƣơng: 1. Thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý văn hóa, các hoạt động văn hóa xã hội, xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa trên địa bàn xã Ba Trại: - Thuận lợi: Trong những năm vừa qua đƣợc sự quan tâm chỉ đạo của Lãnh đạo các cấp và đƣợc sự đoàn kết thống nhất của cán bộ và nhân dân xã Ba Trại công tác xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cƣ gắn với công tác xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn xã Ba Trại luôn đƣợc đẩy mạnh và phát triển tốt, từng cán bộ đảng viên và ngƣời dân đều nắm bắt và nhận thức rõ nội dung vấn đề thực hiện. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội đời sống nhân dân ngày một đổi mới nhƣ cầu đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ngày một nâng cao, các hoạt động VHVN-TDTT, xây dựng GĐVH, LVH luôn chú trọng làm cho các tầng lớp nhân dân phấn khởi yên tâm lao động sản xuất phát triển kinh tế góp phần xây dựng quê hƣơng giàu mạnh. - Khó khăn: + Khách quan; Do tác động mặt trái của đời sống kinh tế thị trƣờng, đời sống của nhân dân địa phƣơng gặp khó khăn trong do chăn nuôi thua lỗ. Xu hƣớng hội nhập, Xã hội phát triển kèm theo phát sinh những tệ nạn xã hội nhƣ ma túy, cờ bạc.. + Chủ quan; Nhân lực làm công tác quản lý văn hóa còn mỏng trong khi yêu cầu nhiệm vụ công việc ngày càng cao. Chƣa có cán bộ chuyên môn về công tác TDTT nên phải trực tiếp phụ trách nhiều mảng của địa phƣơng, cụ thể là mảng phong trào VHVN, TDTT. Kinh phí dành cho hoạt động phong trào VHVN-TDTT còn eo hẹp II. Kết quả thực hiện công tác quản lý văn hóa, các hoạt động văn hóa xã hội, xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa trên địa bàn xã Ba Trại: 260 1. Công tác tuyên truyền về Nghị quyết 02-NQ/HU. Thƣờng xuyên tuyên truyền trên hệ thống đài truyền thanh của xã, của thôn, tổ chức thực hiện in ấn tài liệu mở hội nghị quán triệt triển khai sâu rộng tới các chi bộ, các thôn, các ban, ngành, đoàn thể quán triệt sâu sắc tới toàn thể cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân trong việc thực hiện Nghị quyết số 02. Nghị quyết 02-NQ/HU và Quyết định số 20/QĐ-UBND kèm theo quy định của UBND xã Ba Trại đã đƣợc cán bộ và các tầng lớp nhân dân trong xã hƣởng ứng và thực hiện rất tích cực, có hiệu quả. 2. Kết quả thực hiện các quy định của huyện ủy và chỉ thị số 11 - CT/TU của Thành ủy về việc thực hiện nếp sống văn minh. a, Kết quả trong việc cƣới: Việc cƣới đƣợc tiến hành đúng pháp luật các đôi trai gái đến trụ sở xã đăng ký kết hôn theo luật định. UBND xã trao giấy kết hôn cho các cặp vợ chồng mới. Việc chuẩn bị liên hoan tuỳ theo phong tục, tập quán của các thôn xóm, dân tộc, dòng họ để mời thành phần khách đến dự liên hoan đƣợc trang trọng và tình nghĩa. Đa số các đám cƣới không có hiện tƣợng mời thuốc lá mỗi đám cƣới tiết kiệm khoản chi thuốc lá từ 1 đến 2 triệu đồng. Việc mở nhạc đài loa ở đám cƣới đúng quy định không quá 23h đêm. Về trang phục cô dâu, chú dể ăn mặc lịch sự, văn minh. Các đám cƣới đón, đƣa dâu bảo đảm an toàn trật tự giao thông. b, Kết quả trong việc tang: Mỗi khi các khu dân cƣ có ngƣời từ trần việc báo tang đƣợc thực hiện nhanh chóng. Các dòng họ, các đoàn thể, bà con lối xóm tập trung đến gia đình tang chủ giúp gia đình các công việc cần thiết một cách tình nguyện, chu đáo thể hiện tình cảm thành kính với ngƣời đã khuất và truyền thống đạo lý của dân tộc Việt Nam khi vui buồn có nhau. Ngƣời từ trần là cán bộ Đảng viên có huy hiệu Đảng từ 40 năm trở lên và cán bộ thuộc diện Đảng uỷ xã quản lý, UBND xã thành lập ban lễ tang phối hợp với chi ủy, chi bộ và các đoàn thể lo tổ chức tang lễ đúng qui chế việc tang. Những đối tƣợng khác do lãnh đạo các thôn thành lập ban tổ chức lễ tang, tổ chức thăm viếng và an táng đúng quy định. 261 - Việc khâm niệm bảo đảm vệ sinh môi trƣờng - Việc phát tang đúng phong tục tập quán của địa phƣơng - Việc kèn trống đúng quy định không quá sớm và quá khuya - Không mời thuốc lá trong đám tang tiết kiệm đƣợc từ 500 nghìn đến 1 triệu đồng/1 đám tang. - Không làm cỗ mời khách tràn lan, chủ yếu là con cháu trong nhà phải trở tang, phải phục vụ mới ở lại ăn cơm. - Giờ hạ huyệt giữa gia đình và ban tang lễ thống nhất giờ chôn cất chu đáo sau đó gia đình tang chủ làm giỗ 3 ngày luôn bảo đảm tiết kiệm thời gian và tiền của. - Các thôn đã qui hoạch đất nghĩa trang nhân dân bảo đảm vệ sinh môi trƣờng và diện tích lâu dài cho những năm tiếp theo. - Đã có 10/10 Thôn mua sắm đƣợc xe tang phục vụ việc hiếu đƣợc tiện lợi, trang trọng tiết kiệm sức ngƣời, hợp vệ sinh. - Việc cải táng xây cất mộ đƣợc thực hiện đúng phong tục, tập quán của địa phƣơng, đa số mộ không xây quá kích thƣớc theo qui chế đã qui định. - Có 100% số đám tang chấp hành nếp sống văn minh theo nghị quyết 02. c, Việc mừng thọ: Các cụ thọ tuổi chẵn 70 - 80 - 90 - 100 tuổi đƣợc tập thể dòng họ, gia đình con cháu tổ chức mừng thọ. Đây là dịp tôn vinh thể hiện lòng kính trọng ngƣời già đã có công sinh thành nuôi dƣỡng ra các thế hệ con cháu. Có tính giáo dục đạo đức xã hội và từng gia đình rất cao. - Về tập thể cấp uỷ, chính quyền, MTTQ phối hợp tổ chức mừng thọ ở các cụm dân cƣ: Trao bức mừng thọ cho các cụ tuổi chẵn 90 - 100 đƣợc lãnh đạo các cấp tới tặng quà chúc thọ. - Các dòng họ và gia đình tổ chức liên hoan mừng thọ mời họ hàng nội ngoại thân thích. Thông gia bà con hàng xóm đến mừng thọ bảo đảm gọn nhẹ trang trọng tiết kiệm. 3. Đối với công tác quản lý văn hóa, các hoạt động văn hóa xã hội. *. Về công tác quản lý văn hóa: - Thống kê các cơ sở KD DV văn hóa nhƣ: Nhà hàng, quán baz Ka raoke, dịch vụ internet... 262 Trong đó: + Số cơ sở đã đăng ký kinh doanh: 12 + Số cơ sở chƣa đăng ký kinh doanh: 05 + Hình thức quản lý: Qua sự khiểm tra giám sát bằng sổ theo dõi khách hàng và hệ thống dữ liệu phần mền máy tính. Trong năm 2016 đã lập biên bản và đình chỉ hoạt động của 04 cở sở kinh doanh Karaoke. *. Các hoạt động văn hóa xã hội: - Công tác triển khai tổ chức các chƣơng trình văn hóa, văn nghệ, TDTT chào mừng các ngày kỷ niệm, ngày lễ lớn của đất nƣớc, tổ chức lễ hội vui xuân. a. Tổ chức Giải thể thao Lễ hội Đình Văn lai: gồm Bóng chuyền Da, Bóng chuyên Hơi, Bắn Nỏ, và các trò chơi Bắt vịt và Ném còn. Tổ chức đêm văn nghệ chào đón xuân Đinh Dậu và chào mừng lễ khai hội Đình Văn Lai 2017. - Tham dự giải thể thao Lễ Hội Tản Viên Sơn Thánh Kết quả: - Giải nhì môn Bóng chuyền. b. - Tham dự giải Đại Hội TDTT huyên Ba Vì : Môn: Bóng bàn đạt: - 1 giải nhì đôi nam dƣới 45 - 1 giải ba đơn nam trên 45 Môn Bóng chuyền đạt: Giải Nhất Môn Karatedo đạt: 01 giải nhất nội dung Kumite Vô địch hạng 55 kg và 02 giải 3 ở nội dung Kumite từ 8 đến 15 tuổi. c. Tổ chức Lễ Khai mạc Đại hội TDTT xã Ba Trại lần thứ 3 năm 2017 và ngày 08/4/2017. Tổ chức thi đấu môn Bóng chuyền hơi Nam và nữ độ tuổi trên 55 trong khuân khổ giải thi đấu của Đại Hội TDTT xã Ba Trại. d. Tham dự giải Hội thao DTMN Thành phố Hà Nội 2017 đạt giải nhì môn bóng chuyền. 2. Công tác triển khai xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa trên địa bàn xã Ba Trại năm 2016 - 2017. - Đăng ký GDVH: 3328 hộ/3671 hộ = 90,6% - Đạt GĐVH: hộ/ hộ Đăng ký = % 263 - Rà soát tiêu chuẩn đối với 05 làng đăng ký kiểm tra chấm điểm xét công nhận LVH năm 2017: Thôn 1, Thôn 5, Thôn 6, Thôn 8, Thôn 9. Kết quả: 03 Thôn đạt tiêu chuẩn trình cấp trên Kiểm tra xét công nhận LVH. 02 Thôn không đủ tiêu chuẩn xét công nhận LVH là Thôn 6 vì lí do để sảy ra án hình sự và Thôn 9 để phát sinh tụ điểm cờ bạc. - Đăng ký xây dựng CQVH: Trạm Y tế, Cơ quan UBND xã. - Hoàn thiện Bản chỉnh sửa Quy ƣớc LVH đối với các Thôn đã in Quy ƣớc LVH trƣớc 2010 trình BCĐ huyện phê duyệt. III. Phƣơng hƣớng nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017: 1. Tiếp tục kiểm tra các địa điểm kinh doanh dịch vụ văn hóa trên địa bàn. 2. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền các ngày lễ lớn của Đất nƣớc đặc biệt là công tác xây dựng LVH và về đích NTM 2017. 3. Lập kế hoạch thăm hỏi động viên bà con giáo dân trong dịp lễ Noel 2017. 4. Tổ chức Thi đấu môn Cầu Lông và bóng đá Nam trong giải thi đấu Đại Hội TDTT xã Ba Trại lần thứ 3. Tham dự các phong trào VHVN-TDTT của cấp trên phát động tổ chức. 5. Hoàn thiện hồ sơ đạt GĐHV năm 2017. 6. Đăng ký kiểm tra chấm điểm xét công nhân LVH: Thôn 1, Thôn 5, Thôn 8. 7. Đăng ký xây dựng CQVH: Trạm Y tế, Cơ quan UBND xã. Nơi nhận: TM. ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ - Đảng ủy, HĐND xã (b/c); PHÓ CHỦ TỊCH - Lưu VPUBND. Bạch Hồng Nam 264 265 266 267 268 269 270 271 272 273 274 275 276 277 278 279 280 281 282 283 284 285 286 287 288 289 290 291 292 293 294 295

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_quan_ly_nha_nuoc_ve_van_hoa_cap_co_so_nghien_cuu_tru.pdf
  • pdfthong tin tom tat ket luan moi tieng Anh.pdf
  • pdfthong tin tom tat ket luan moi tieng Viet.pdf
  • pdftom tat luan an.pdf
  • pdftrich yeu luan an tieng Anh.pdf
  • pdftrich yeu luan an tieng Viet.pdf
Tài liệu liên quan