Luận án Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN TÙNG LÂM TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: HỒ CHÍ MINH HỌC HÀ NỘI - 2017 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN TÙNG LÂM TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: HỒ CHÍ MIN

pdf169 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 15/01/2022 | Lượt xem: 23 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Luận án Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
H HỌC Mã số: 62 31 02 04 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. GS. TS. MẠCH QUANG THẮNG 2. TS. LÝ VIỆT QUANG HÀ NỘI - 2017 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định. Tác giả Nguyễn Tùng Lâm MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7 1.1. Các công trình liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp 7 1.2. Các công trình liên quan đến việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay 14 1.3. Những khía cạnh đã được đề cập và những vấn đề mà luận án tiếp tục nghiên cứu 20 Chương 2: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP 24 2.1. Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp 24 2.2. Tính tất yếu và nguyên tắc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong cách mạng Việt Nam 32 2.3. Những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam xuất phát từ việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp 51 Chương 3: GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM (1986 - 2016) 68 3.1. Bối cảnh mới tác động đến việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp ở nước ta trong quá trình đổi mới 68 3.2. Một số kết quả đạt được trong quá trình giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp ở nước ta giai đoạn 1986 - 2016 72 3.3. Những vấn đề đặt ra đối với việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong quá trình đổi mới ở nước ta 102 Chương 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP CƠ BẢN GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 115 4.1. Những quan điểm cơ bản 115 4.2. Một số giải pháp giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh 123 KẾT LUẬN 148 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Nhìn lại tiến trình lịch sử hơn 85 năm qua, dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đất nước ta đã có những bước nhảy vọt vĩ đại chưa từng có trong lịch sử. Trên nền tảng giá trị văn hoá tư tưởng truyền thống của dân tộc, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, tiếp biến, tổng hoà và phát triển biện chứng tinh hoa văn hoá tư tưởng phương Đông và phương Tây, đặc biệt lấy học thuyết cách mạng của Mác - Lênin làm cơ sở thế giới quan và phương pháp luận, xây dựng được một hệ thống quan điểm toàn diện và sáng tạo về lý luận giải phóng và phát triển làm kim chỉ nam cho cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước theo xu thế tiến bộ của thời đại mới. Sau khi lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, Hồ Chí Minh đã nhận thức và giải quyết một cách đúng đắn, sáng tạo mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp. Trên cơ sở đó, Người đã từng bước giải quyết thành công những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, như: Xác định mục tiêu, con đường, lực lượng cách mạng; những vấn đề về đoàn kết dân tộc và quốc tế; những vấn đề lý luận về Đảng, Nhà nước, Mặt trận,... Nội dung cốt lõi trong đường lối cách mạng của Hồ Chí Minh chính là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; giải phóng dân tộc không tách rời với giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Con đường giải phóng dân tộc đó phù hợp với xu thế phát triển của thời đại - thời đại đấu tranh cho sự thắng lợi của hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội - một đường lối thấm đượm tính dân tộc và nhân văn, đáp ứng được yêu cầu và khát vọng của toàn thể dân tộc Việt Nam. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh quan điểm của Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, đó là thắng lợi vĩ đại của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 và hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhờ phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước “truyền thống quý báu” của dân tộc, biến thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng - sức mạnh vô địch đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Thành tựu của 30 năm đổi mới ở nước ta cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam với nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng 2 Hồ Chí Minh đã luôn chú trọng nhận diện và xử lý vấn đề đặt ra từ mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp ở Việt Nam. Mặt thành công cần phải khẳng định. Tuy nhiên, do tác động của nhiều nhân tố bên trong và bên ngoài, chủ quan và khách quan, nên vấn đề dân tộc, vấn đề giai cấp và mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp càng diễn biến phức tạp. Nếu tuyệt đối hoá vấn đề dân tộc hay vấn đề giai cấp cũng đều dẫn tới sự chệch hướng cách mạng, hoặc sẽ gặp khó khăn trong quá trình phát triển. Thực tế cho ta bài học là, có thời kỳ, khi triển khai các nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã có lúc Đảng ta phạm sai lầm nóng vội, chủ quan, duy ý chí, quá nhấn mạnh vấn đề giai cấp nên đã xem nhẹ vấn đề dân tộc trong việc hoạch định và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, dẫn đến lợi ích các giai cấp, tầng lớp không được tính đến đầy đủ và kết hợp hài hoà, sức mạnh dân tộc không được phát huy như một trong những động lực chủ yếu nhất. Nhưng ngay sau đó, Đảng ta đã kịp thời khắc phục có hiệu quả cả về phương diện nhận thức lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn về vấn đề này. Tuy vậy, có một số ý kiến cho rằng: Hồ Chí Minh chỉ là người theo “chủ nghĩa dân tộc”. Quan điểm này đã bỏ tính giai cấp, làm mờ đi lập trường, quan điểm giai cấp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam; hoặc có quan điểm cho rằng mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp luận chứng trong chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ đúng với một số nước khác nào đó, còn ở Việt Nam vốn là nước thuộc địa, nửa phong kiến, vấn đề dân tộc bao giờ cũng chi phối, khi nào Đảng nhấn mạnh vấn đề giai cấp thì đều dẫn đến sai lầm. Từ đó, họ đề xuất ý kiến theo hướng nhấn mạnh một chiều vấn đề dân tộc, tách vấn đề dân tộc khỏi vấn đề giai cấp, hạ thấp ý nghĩa quan trọng, bức thiết của vấn đề giai cấp, không lấy quan điểm giai cấp làm quan điểm cơ sở lập trường để xem xét, giải quyết vấn đề dân tộc. Theo họ, nước ta hiện nay chỉ nên đề ra và giải quyết những vấn đề dân tộc, còn vấn đề giai cấp không nên đặt ra. Mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” được họ đồng tình, nhưng giải thích theo hướng phi giai cấp, nghĩa là không nhất thiết phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực chất của những quan điểm nêu trên chính là sự tước bỏ nội dung cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, muốn tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, bác bỏ đường lối giải quyết vấn đề dân tộc theo lập trường của 3 giai cấp công nhân, tách rời độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, cổ súy cho quan điểm muốn nước ta từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa, từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa, đi ngược với con đường mà Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn, và rõ ràng là không phù hợp với thực tiễn của lịch sử cách mạng Việt Nam. Quan điểm sai trái ấy đã trái ngược hoàn toàn với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội - tư tưởng chỉ đạo chiến lược lớn xuyên suốt cả quá trình cách mạng Việt Nam. Chính vì vậy, giải quyết thành công mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp là cơ sở để cách mạng nước ta đi đúng con đường đã chọn, với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đồng thời là cơ sở để chúng ta có được đường lối phát triển đúng đắn, từng bước tận dụng những thuận lợi, thời cơ, vượt qua những khó khăn, thách thức trong quá trình phát triển. Tình hình thế giới ngày nay có nhiều biến động phức tạp, thế giới đang hình thành nên những liên minh quốc tế và khu vực; tốc độ toàn cầu hóa diễn ra càng nhanh thì xung đột dân tộc, sắc tộc lại càng trở nên quyết liệt, khiến cho loài người phải bỏ ra nhiều công sức, tiền bạc, thậm chí cả máu để giải quyết. Đảng ta khẳng định: “Cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc vẫn diễn biến phức tạp” [50, tr.184]. Tình hình trong nước, nhiều vấn đề cũng được đặt ra ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp trong quá trình đổi mới như: Giữa yêu cầu xây dựng và phát triển nền kinh tế độc lập tự chủ theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa và thực trạng yếu kém của nền kinh tế nước ta; Giữa mở rộng giao lưu quốc tế với vấn đề giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa; Giữa yêu cầu tăng cường củng cố khối đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và những yếu tố phân hóa các lực lượng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và âm mưu các thế lực thù địch tạo ra; Những vấn đề đặt ra đối với Đảng cầm quyền... Như vậy, cả thực tiễn thế giới và trong nước, cho thấy vấn đề dân tộc và giai cấp vẫn đang diễn ra hết sức gay gắt và có xu hướng ngày càng tăng, đòi hỏi phải giải quyết một cách thấu đáo vấn đề trên mới tạo động lực phát triển cho quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay. Mặc dù thực tiễn hiện nay đã có nhiều đổi thay so với trước, song có thể khẳng định rằng việc giải quyết vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp theo tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, đóng vai trò định hướng cho tư duy và hoạt động chính trị, 4 cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam trong việc hoạch định và thực thi đường lối, chính sách bảo vệ và phát triển đất nước. Nhiệm vụ này đang đặt ra rất cấp bách. Chính vì vậy, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề trên có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, có tính thời sự cấp bách. Với những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay” làm luận án tiến sĩ của mình. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục tiêu Làm rõ nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp; cung cấp cơ sở lý luận, phương pháp luận và những giải pháp chủ yếu để giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay. 2.2. Nhiệm vụ - Làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp. - Làm rõ sự cần thiết, yêu cầu, tiêu chí cụ thể của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay. - Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, phân tích việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tiến trình cách mạng Việt Nam, đặc biệt là trong quá trình đổi mới ở Việt Nam, đánh giá những thành công và những vấn đề nảy sinh trong việc giải quyết vấn đề trên. - Đề xuất quan điểm và những giải pháp chủ yếu để giải quyết về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp nảy sinh trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp; vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề trên trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay. 5 3.2. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Tập trung nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp và sự vận dụng của Đảng ta trong quá trình cách mạng Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới. Tuy nhiên, trong luận án tác giả chỉ đề cập đến những khía cạnh sau đây: Thứ nhất, vấn đề dân tộc mà tác giả nghiên cứu thuộc phạm trù dân tộc - quốc gia, không thuộc phạm trù dân tộc - tộc người. Thứ hai, vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh, được đặt trong điều kiện đất nước là thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, phân tích việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp chủ yếu được đề cập dưới góc độ quan hệ lợi ích. - Về thời gian: Toàn bộ quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp; quá trình vận dụng của Đảng ta trong quá trình cách mạng, đặc biệt là thời kỳ đổi mới từ năm 1986 trở đi. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận Đề tài được thực hiện dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc, giai cấp và mối quan hệ dân tộc và giai cấp. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tác giả vận dụng các phương pháp chung, các phương pháp liên ngành và chuyên ngành sau: Lịch sử - logic; phân tích, tổng hợp; thống kê, định lượng, định tính, so sánh, văn bản học, phỏng vấn, tọa đàm... 5. Đóng góp mới về khoa học của luận án - Làm rõ hơn nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp; chỉ rõ sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc hoạch định đường lối, chính sách ở nước ta về việc giải quyết vấn đề này trong các thời kỳ cách mạng. - Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, phân tích quan hệ dân tộc và giai cấp trong tiến trình cách mạng Việt Nam, đặc biệt là trong quá trình đổi mới ở Việt Nam, đánh giá những thành công và những vấn đề nảy sinh trong việc giải quyết vấn đề trên. 6 - Đưa ra cơ sở lý luận, phương pháp luận và đề xuất những giải pháp chủ yếu để giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6.1. Ý nghĩa lý luận - Luận án góp phần làm rõ việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp dưới góc độ chuyên ngành Hồ Chí Minh học và làm cơ sở để đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. - Luận án góp phần làm rõ cơ sở lý luận cho Đảng và Nhà nước ta hoạch định đường lối, chính sách giải quyết vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong giai đoạn mới. Trên cơ sở đó góp phần đi tới thống nhất về nhận thức và hoạt động trong quá trình đổi mới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả đạt được của Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở nghiên cứu khoa học, các trường đào tạo bậc đại học và sau đại học trong nhóm ngành khoa học chính trị, khoa học xã hội và nhân văn. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình đã công bố của tác giả liên quan đến đề tài luận án và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương, 11 tiết. 7 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1. CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ DÂN TỘC VÀ GIAI CẤP Trong những năm gần đây, có rất nhiều công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh, đề cập đến nhiều lĩnh vực, một trong những vấn đề mà các tác giả đề cập dù trực tiếp hoặc gián tiếp đều khẳng định, chính việc nhận thức và giải quyết một cách sáng tạo vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, là cơ sở để Hồ Chí Minh xác lập được đường lối đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong số các công trình có đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa về vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có những công trình sau đây: - Các sách liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp Cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam của Võ Nguyễn Giáp [65], tác giả đã đề cập một cách khá toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam, mặc dù không trình bày một cách trực tiếp, nhưng trên tất cả các lĩnh vực mà cuốn sách đề cập như vấn đề về chiến lược, sách lược, vấn đề xây dựng Đảng, Mặt trận, Nhà nước, quân sự, văn hoá, đạo đức, nhân văn... đều thấm đượm tính dân tộc và chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, thực chất của vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp. Đặc biệt, Cuốn sách, các tác giả khẳng định giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa dân tộc với giai cấp là một nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của Hồ Chí Minh trong khi giải quyết vấn đề xã hội của cách mạng. Đó là cơ sở phương pháp luận của đường lối “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của Đảng ta. Nhờ nguyên tắc đúng đắn sáng tạo đó, Đảng ta đã tạo nên sức mạnh to lớn chưa từng có trong lịch sử của dân tộc ta, đưa cách mạng nước ta đến những thắng lợi vĩ đại. Tuy nhiên, việc đề cập đến vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp Cuốn sách chỉ mới là bước đầu, có tính chất gợi mở, chưa đi sâu phân tích một cách sâu sắc và hệ thống vấn đề trên. Cuốn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh của Lê Hữu Nghĩa [129], tập hợp các bài viết liên quan đến vấn đề triết học trong tư tưởng Hồ Chí Minh, các vấn đề đã được nghiên cứu một cách cơ bản ở cả hai góc độ, tư tưởng triết học và việc vận dụng cơ sở triết học vào hoạt động thực tiễn. Một trong những vấn đề rất quan trọng mà các tác giả đề cập chính là giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp, khẳng định đây 8 cũng là một những sáng tạo rất độc đáo và sáng tạo của Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Các tác giả khẳng định quan điểm kết hợp cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản, gắn độc lập lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là một quan điểm có tính nguyên tắc được thể hiện một cách nhất quán trong tư tưởng và hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về vấn đề trên, mới chỉ là nghiên cứu bước đầu, chưa mang tính hệ thống. Cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Hoàng Trang, Phạm Ngọc Anh [185], phân tích bối cảnh trong nước và thế giới cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX; quá trình Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, các tác giả đã làm rõ sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin của Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, chỉ rõ sự kết hợp mang tính khoa học giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng của Người. Độc lập dân tộc được coi là tiền đề quan trọng, yếu tố cơ bản nhất để nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội và chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có thể bảo đảm nền độc lập bền vững. Các tác giả cũng chỉ rõ trong giai đoạn hiện nay, vấn đề giữ vững độc lập dân tộc là nhiệm vụ chiến lược quan trọng để đưa nước ta vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện được điều đó cần tiếp tục vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn nước ta hiện nay, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường hợp tác quốc tế. Như vậy, Cuốn sách này, các tác giả cũng chưa đề cập trực tiếp đến vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, mặc dù cuốn sách đã phân tích khá sâu sắc mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - nội dung cơ bản của vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Cuốn Góp phần tìm hiểu đặc sắc tư duy triết học Hồ Chí Minh của Hồ Kiếm Việt [197], tư duy triết học Hồ Chí Minh về vấn đề con người với lịch sử, con người xã hội gắn với giai cấp, dân tộc và giải phóng dân tộc được tác giả trình bày rõ nét. Trong tác phẩm này, tác giả thấy được vai trò và sức mạnh của con người, và khẳng định sức mạnh của con người chủ yếu ở sự cố kết con người trong cộng đồng dân tộc, giai cấp và sự nghiệp giải phóng con người gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp giải phóng dân tộc và giai cấp. Đồng thời tác giả cũng khẳng định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, tác phẩm này cũng chỉ tiếp cận vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp dưới góc nhìn về con người và giải phóng con người. 9 Cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội [100]; và cuốn Mối quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh của Nguyễn Bá Linh [101], tác giả phân tích và khẳng định, lý luận về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam để giải quyết những mâu thuẫn cơ bản của xã hội ta, giải quyết mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Để thực hiện và giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tác giả đã phân tích những quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng kinh tế, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng nền văn hóa mới, con người mới, xây dựng và củng cố an ninh, quốc phòng Tác giả kết luận, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là ngọn cờ bách chiến, bách thắng của cách mạng Việt Nam, việc giữ vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là một nhiệm vụ lịch sử quan trọng nhất đối với toàn Đảng, toàn dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Cuốn Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh của Nguyễn Đức Đạt [55], phân tích chuyên về phép biện chứng Hồ Chí Minh dưới góc độ các nguyên tắc, phương pháp luận như quan điểm thực tiễn, quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử cụ thể, quan điểm phát triển. Đây là một cuốn sách có nội dung phong phú với góc nhìn cụ thể về phép biện chứng duy vật được vận dụng vào cách mạng Việt Nam. Một trong những vấn đề mà cuốn sách đề cập là thấy được quan hệ biện chứng giữa cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người; giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - biểu hiện cơ bản của mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp. Cuốn Hồ Chí Minh với chiến lược đoàn kết quốc tế trong cách mạng giải phóng dân tộc của Lê Văn Yên [198], tác giả đã tập trung thể hiện và làm rõ một số vấn đề cơ bản sau: Phân tích và chứng minh quá trình hoạt động của Hồ Chí Minh trong việc xây dựng mối quan hệ đoàn kết quốc tế giữa phong trào giải phóng dân tộc và phong trào cách mạng tiến bộ trên thế giới, việc tổ chức kết hợp đoàn kết quốc tế nhằm mục tiêu độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam; Khái quát những quan điểm cơ bản thuộc chiến lược đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc; đồng thời khẳng định những quan điểm cơ bản đó vẫn là những vấn đề thuộc chiến lược cách mạng của nhân dân Việt Nam và nhân dân tiến bộ trên thế giới trong giai đoạn hiện nay; Phân tích giá trị thực tiễn chiến lược đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam; đồng thời cũng chứng minh ngay từ giai đoạn này, 10 đoàn kết quốc tế - một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh đã là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng và dân tộc ta đi tới những thắng lợi vẻ vang; Phân tích rõ mối quan hệ giữa lãnh tụ Hồ Chí Minh với tập thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng là mật thiết, gắn bó, đồng thời phân tích rõ tầm cao, tầm trí tuệ, tầm chiến lược của lãnh tụ Hồ Chí Minh trong việc kết hợp dân tộc và quốc tế nhằm mục tiêu độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam và đóng góp vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin trên những vấn đề cốt yếu. Như vậy, Cuốn sách này, tác giả cũng chỉ đề cập vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp một cách gián tiếp. Cuốn Hồ Chí Minh học và minh triết Hồ Chí Minh của Bùi Đình Phong [144], tác giả đã cung cấp, chỉ ra một số nội dung về triết lý phát triển xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đặc biệt, tác giả đã phân tích một cách khá sâu sắc vấn đề độc lập dân tộc, coi độc lập dân tộc là tiền đề cho sự phát triển, tuy nhiên độc lập dân tộc phải tiến lên mang lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân, tức là phải phát triển một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Từ đó, tác giả đưa ra và phân tích khá sâu sắc những luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh về triết lý phát triển xã hội Việt Nam. Như vậy, Cuốn sách trên ở một khía cạnh nào đó tác giả cũng đã đề cập một cách gián tiếp đến vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Cuốn Triết lý phát triển Hồ Chí Minh - giá trị lý luận và thực tiễn của Phạm Ngọc Anh [2] là kết quả của một công trình nghiên cứu chuyên biệt về triết lý phát triển Hồ Chí Minh và giá trị lý luận, thực tiễn của nó đối với cách mạng Việt Nam. Các tác giả tập trung nghiên cứu sâu và vạch ra bản chất triết lý phát triển Hồ Chí Minh là triết lý - hành động. Đồng thời cũng chỉ ra các nội dung cơ bản của triết lý phát triển Hồ Chí Minh trên các khía cạnh: Mục tiêu, con đường, động lực phát triển... của xã hội Việt Nam. Một trong những vấn đề cơ bản mà nội dung cuốn sách trình bày là mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế. Tuy nhiên, cuốn sách này các tác giả cũng chỉ trình bày mối quan hệ trên như là một nội dung biểu hiện của mô thức và nội dung phát triển đất nước của triết lý phát triển Hồ Chí Minh. Cuốn Hồ Chí Minh - nhà cách mạng sáng tạo của Mạch Quang Thắng [178], đã đi sâu nghiên cứu và làm rõ vai trò của Hồ Chí Minh trong việc truyền bá, tiếp thu, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, định hướng tư tưởng lý luận cho sự lựa chọn con đường phát triển của dân tộc; Nêu bật những cống hiến lý luận của Hồ Chí Minh vào kho tàng kinh nghiệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, làm căn cứ để 11 khẳng định Hồ Chí Minh thực sự là một nhà cách mạng sáng tạo của Đảng và dân tộc Việt Nam; Một trong những nội dung mà các tác giả trình bày là những vấn đề sáng tạo tư tưởng lý luận của Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, trong đó có nội dung gắn kết vấn đề độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, giai cấp với dân tộc, dân tộc với dân chủ, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Tuy nhiên, cuốn sách cũng chưa đề cập một cách hệ thống vấn đề trên như là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Cuốn Biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Lại Quốc Khánh [89], làm rõ tư tưởng biện chứng của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, về tính đúng đắn của con đường, mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mặc dù không đề cập một cách trực tiếp vấn đề mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng tác giả đã trình bày một cách khá rõ nét nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản - một trong những biểu hiện của vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Cuốn Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Vũ Đình Hòe, Bùi Đình Phong [74], các tác giả đã phân tích những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc, về chủ nghĩa xã hội. Đồng thời các tác giả còn làm rõ giá trị lý luận và thực tiễn của di sản Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong thời đại ngày nay, sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội giai đoạn 1976 - 2008. Như vậy, Cuốn sách tác giả cũng đã phần nào đề cập mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Cuốn Nguyên tắc thống nhất giữa dân tộc, giai cấp và nhân loại trong tư tưởng Hồ Chí Minh của Lương Thùy Liên [99], tác giả đã phân tích nguyên tắc thống nhất về mối quan hệ giữa nhân tố dân tộc, giai cấp và nhân loại trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, tác giả khẳng định trong giai đoạn hiện nay cần giải quyết đúng đắn mối quan hệ đó trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội... Muốn vậy, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cần kiên định nguyên tắc thống nhất giữa dân tộc, giai cấp và nhân loại theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Cuốn Sự tương đồng và khác biệt về quan điểm cách mạng Việt Nam giữa Hồ Chí Minh với Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Đông Dương những năm 1930 - 1941 Nguyễn Khánh Bật [15], tác giả đã trình bày những nét tương đồng và khác biệt giữa quan 12 điểm của Hồ Chí Minh với Quốc tế Cộng sản và Đảng ta trong những năm 1930 - 1941, qua đó thấy được sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, một trong những sáng tạo đó chính là giải quyết thành công mối quan hệ dân tộc và giai cấp. Chính những sáng tạo mà Người đã giải quyết thành công các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh quan điểm đó là hoàn toàn đúng đắn và sáng tạo. Cuốn Bí quyết thành công Hồ Chí Minh Phùng Hữu Phú [145], là tập hợp các nghiên cứu của tác giả về tư tưởng Hồ Chí Minh trong rất nhiều vấn đề then chốt: Nhân dân, khối đại đoàn kết toàn dân, Đảng cầm quyền, giai cấp công nhân, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội... Tác giả đã phân tích những tư tưởng cốt lõi của Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Không chỉ có tấm lòng yêu nước, thương dân, khát khao tìm ra con đường giải phóng dân tộc như các bậc tiền bối đi trước, Hồ Chí Minh còn có một nhãn quan chính trị sắc bén; một nhận thức đúng đắn về con đường cách mạng tất yếu của dân tộc, về sứ mệnh và vai trò của giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Việt Nam, về sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế,... Đây cũng chính là những biểu hiện cụ thể của việc vấn đề dân tộc và vấ...ộc thường được xác định với hai nghĩa cơ bản, dân tộc - tộc người và dân tộc - quốc gia. Ở góc độ dân tộc - tộc người: Dân tộc là khái niệm chỉ cộng đồng người được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và nhất là ý thức tự giác tộc người. Cộng đồng người này có thể cùng chung sống trong một quốc gia, hoặc cũng có thể sinh sống ở nhiều quốc gia khác nhau [82, tr.819]. Dân tộc là hình thức cộng đồng người cao hơn hình thức cộng đồng người trước đó kể cả bộ tộc. So với bộ tộc thì dân tộc là hình thức cộng đồng người thống nhất, ổn định, bền vững hơn. Ở góc độ dân tộc - quốc gia: “Dân tộc là một khối cộng đồng gồm nhiều người, khối ổn định, hình thành trong quá trình lịch sử, sinh ra trên cơ sở một ngôn ngữ chung, một lãnh thổ chung, một đời sống kinh tế chung, một cấu tạo tâm lý chung biểu hiện trong một nền văn hóa chung” [93, tr.219]. Như vậy, dân tộc ở đây được hiểu là dân tộc - quốc gia, được hình thành trong quá trình lịch sử, được đặc trưng bởi sự đồng nhất, ổn định về đời sống kinh tế, về ngôn ngữ, lãnh thổ. Trong luận án, tác giả chỉ tập trung đề cập khái niệm “dân tộc” theo nghĩa dân tộc - quốc gia. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, dân tộc là cộng đồng xã hội - tộc người ổn định, bền vững, là sự kết tinh độc đáo của các cộng đồng ngôn ngữ; lãnh thổ; kinh tế; văn hóa, tâm lý, tính cách; nhà nước và pháp luật. Ở châu Âu, dân tộc được hình thành gắn liền với sự ra đời và phát triển của giai cấp tư sản. Giai cấp tư sản đóng vai trò quyết định đối với việc xóa bỏ tình trạng phân tán về tư liệu sản xuất, về tài chính dân cư, đưa đến sự tập trung về chính trị. Còn đối với các nước phương Đông, trong đó có Việt Nam thì lại có những điểm khác biệt về sự hình thành dân tộc, do đó vấn đề dân tộc và giải quyết những vấn đề dân tộc cũng như vấn đề giai cấp ở phương Đông sẽ khác so 25 với phương Tây. Cụ thể ở Việt Nam, sự hình thành dân tộc vốn diễn ra từ rất sớm do nhu cầu đấu tranh chống giặc ngoại xâm và chinh phục tự nhiên chứ không gắn liền với sự ra đời của giai cấp tư sản. Theo Trần Đức Thảo, ở nước ta, nguồn gốc của dân tộc trùng với nguồn gốc của loài người [173, tr.75]. Khi đề cập vấn đề dân tộc dưới góc độ dân tộc - quốc gia, cần phải phân biệt một số khái niệm: chủ nghĩa dân tộc ích kỷ (hẹp hòi), chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa dân tộc chân chính. Trong rất nhiều trường hợp cụm từ chủ nghĩa dân tộc được hiểu theo nghĩa chủ nghĩa dân tộc nghĩa dân tộc vị kỷ, chủ nghĩa dân tộc sô vanh nước lớn. Đó là hệ tư tưởng, đường lối chính trị và tâm lý tư sản trong vấn đề dân tộc. Hệ tư tưởng này, kìm hãm sự phát triển các dân tộc cũng như sự phát triển tiến bộ của xã hội loài người. Do điều kiện của lịch sử, C.Mác, Ph.Ăngghen chỉ đề cập, xem xét, nghiên cứu và giải quyết vấn đề dân tộc trong điều kiện lịch sử các nước tư bản chủ nghĩa ở Châu Âu. Còn vấn đề dân tộc đối với các nước phương Đông, trong đó có Việt Nam, các ông chưa đi sâu vào giải quyết, do điều kiện lịch sử các nước phương Tây, vấn đề dân tộc không nổi nên gay gắt như vấn đề giai cấp, vấn đề mâu thuẫn giai cấp nổi trội cần được giải quyết trước. Vì vậy, các ông quan tâm nhấn mạnh nhiều về vấn đề giai cấp và nêu cao khẩu hiệu vô sản tất cả các nước đoàn kết lại. Trên cơ sở kế thừa quan điểm của Mác và Ăngghen, Lênin đề cập vấn đề dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn đế quốc, Người cho rằng vấn đề dân tộc là vấn đề lớn mang tính quốc tế mà thực chất đó là vấn đề dân tộc thuộc địa: “Vấn đề dân tộc phải là nội dung quan trọng trong chiến lược, sách lược của các Đảng Cộng sản; phải kiên quyết đấu tranh chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc tư sản, của chủ nghĩa sô vanh; phải tăng cường chủ nghĩa quốc tế vô sản. Các Đảng Cộng sản cần phải tăng cường quan tâm đến vấn đề dân tộc thuộc địa” [98, tr.343]. Khi tiếp cận khái niệm “dân tộc” trong tư tưởng Hồ Chí Minh, với nghĩa là dân tộc - quốc gia, thì dân tộc Việt Nam bao gồm toàn thể các dân tộc - tộc người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Đối với Người, vấn đề trọng tâm của quốc gia - dân tộc Việt Nam là lợi ích dân tộc, trong điều kiện đất nước đang bị thực dân, đế quốc xâm lược thì lợi ích dân tộc gắn liền với đấu tranh giành độc lập dân tộc. Vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là vấn đề giải phóng và phát triển dân tộc. Hồ Chí Minh đã đứng dưới góc độ dân tộc bị chủ nghĩa đế quốc áp bức để xem xét vấn đề dân tộc. Hay có thể nói cách khác vấn đề dân tộc mà Hồ Chí Minh xem xét là vấn đề dân tộc của nhân dân Việt Nam, nhân dân các nước thuộc địa 26 đang bị chủ nghĩa đế quốc xâm lược. Người chỉ ra, thực chất của vấn đề dân tộc là độc lập tự do, là vấn đề đấu tranh giải phóng dân tộc nhằm thủ tiêu sự thống trị của nước ngoài, giành độc lập dân tộc, xóa bỏ ách áp bức, bóc lột thực dân, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thành lập một nhà nước dân tộc độc lập. Sau khi giành được độc lập dân tộc phải đưa đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu, phát triển dân tộc ngày càng giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Đây là một trong những nội dung cốt lõi về vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người khẳng định: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu” [160, tr.53]. Một điều đáng lưu ý là Hồ Chí Minh không coi việc giải quyết vấn đề dân tộc, mà chủ yếu là vấn đề giải phóng và phát triển dân tộc, chỉ là con đường, phương tiện để thực hiện mục tiêu cao hơn, xa hơn là giải phóng con người và xã hội loài người. Trái lại, theo Người, giải phóng dân tộc là là mục tiêu, mục đích của cách mạng, đồng thời là con đường để giải phóng xã hội, giải phóng con người. Điều này được thể hiện, Hồ Chí Minh ra đi tìm cứu nước vì một mục đích duy nhất là độc lập tự do cho dân tộc. Khi trở thành Người cộng sản độc lập cho dân tộc, tự do hạnh phúc cho nhân dân vẫn là mục đích duy nhất của Người. Người khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” [122, tr.131]. Người đã khắc phục được sự bế tắc mà các nhà yêu nước đương thời chưa thực hiện được. Đó là tìm ra con đường cách mạng giải phóng triệt để dân tộc Việt Nam, bao gồm nội dung gắn bó chặt chẽ với nhau: giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp và giải phóng con người. 2.1.2. Vấn đề giai cấp Năm 1919, trong tác phẩm Sáng kiến vĩ đại, V.I.Lênin đã đưa ra một định nghĩa toàn diện về giai cấp như sau: Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải của xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định [97, tr.17-18]. 27 Như vậy, theo quan điểm mácxít, sự hình thành giai cấp cũng là sự hình thành lợi ích giai cấp khác nhau. Lợi ích đó do địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp đó tạo nên. Giai cấp và đấu tranh giai cấp là hiện tượng lịch sử, tồn tại khách quan, chứ không phải là kết quả của một cách tiếp cận xã hội, không phải là sản phẩm của ý thức. Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, cuộc đấu tranh lâu dài, quyết liệt của giai cấp công nhân sẽ giải phóng bản thân họ và toàn thể nhân loại khỏi áp bức bóc lột và phân chia giai cấp. Tuy nhiên, theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, các cuộc cách mạng xã hội chỉ để thay thế sự thống trị của giai cấp bóc lột này bằng sự bóc lột của giai cấp khác, theo một phương thức bóc lột khác mà thôi. Chỉ đến thời đại cách mạng vô sản, cuộc cách mạng vô sản do giai cấp vô sản lãnh đạo nhằm xóa bỏ sự thống trị của giai cấp tư sản mới là một cuộc cách mạng xã hội duy nhất triệt để, hướng tới mục tiêu một xã hội không có giai cấp, mọi người đều được hưởng tự do, bình đẳng, hòa bình và hạnh phúc. C. Mác và Ph. Ăngghen khi nói về giai cấp công nhân hai ông dùng nhiều tên gọi khác nhau: Giai cấp vô sản, giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ dựa vào việc bán sức lao động của mình, lao động làm thuê ở thế kỷ XIX, giai cấp vô sản hiện đại, giai cấp công nhân hiện đại, giai cấp công nhân đại công nghiệp như những cụm từ đồng nghĩa để biểu thị một khái niệm giai cấp công nhân - con đẻ của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho phương thức sản xuất hiện đại. Dù giai cấp công nhân có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng theo C.Mác và Ph.Ăngghen, họ vẫn chỉ mang hai thuộc tính cơ bản: Về phương thức lao động và về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Hai thuộc tính này nói lên một trong những đặc trưng cơ bản của giai cấp công nhân dưới chế độ tư bản chủ nghĩa nên C.Mác và Ph.Ăngghen còn gọi giai cấp công nhân là giai cấp vô sản, là giai cấp duy nhất có thể giải quyết đúng đắn mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc chân chính và lợi ích của nhân dân lao động trên toàn thế giới. Vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là vấn đề giải phóng giai cấp (giai cấp công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác...) khỏi tình trạng áp bức bóc lột, đem lại cơm ăn áo mặc, tự do hạnh phúc cho các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam. Trong điều kiện dân tộc bị xâm lược vấn đề giai cấp luôn được Hồ Chí Minh đặt trong mối quan hệ biện chứng với vấn đề dân tộc. Lợi ích của giai cấp thống nhất chặt chẽ với lợi ích dân tộc. Điều đó có nghĩa là chỉ có giải phóng dân tộc 28 mới giải phóng được giai cấp. Hội nghị Trung ương lần thứ tám do Người chủ trì, đã khẳng định: Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được [43, tr.113]. Khi đất nước giành được độc lập rồi thì giải phóng giai cấp chính là phải từng bước xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu, vươn tới xây dựng cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc thật sự cho tất cả mọi người. Đây là vấn đề nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giai cấp. Người khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” [111, tr.64]. Đồng thời, vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng chính là nhìn nhận xem giai cấp nào đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam, đáp ứng được khát vọng độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân. Trong điều kiện quốc gia - dân tộc Việt Nam là một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, vấn đề là giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân thì vấn đề được đặt ra là giai cấp nào có thể đáp ứng được yêu cầu lịch sử đó, hay có thể nói một cách khác là vấn đề giai cấp ở đây chính là giai cấp nào có thể giải quyết được triệt để vấn đề dân tộc thuộc địa, giải quyết được vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Hồ Chí Minh cho rằng, chỉ giải quyết triệt để vấn đề đó khi đứng trên lập trường của giai cấp công nhân. Vì theo Người, chỉ có giai cấp công nhân là người duy nhất có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng đi tới thắng lợi cuối cùng, bằng sự liên minh với giai cấp nông dân và trí thức coi đó là nền tảng của mặt trận đoàn kết toàn dân. Người khẳng định: Đặc tính cách mạng của giai cấp công nhân là: kiên quyết, triệt để, tập thể, có tổ chức, có kỷ luật. Lại vì là giai cấp tiền tiến nhất trong sức sản xuất, gánh trách nhiệm đánh đổ chế độ tư bản và đế quốc, để xây dựng một xã hội mới, giai cấp công nhân có thể thấm nhuần một tư tưởng cách mạng nhất, tức là chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, tinh thần đấu tranh của họ ảnh hưởng và giáo dục các tầng lớp khác. Vì vậy, về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động, giai cấp công nhân đều giữ vai trò lãnh đạo [115, tr.256]. 29 Mặt khác, trên cơ sở kế thừa những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào phân tích cơ cấu giai cấp xã hội Việt Nam, Hồ Chí Minh xem xét vấn đề giai cấp trong xã hội Việt Nam dưới góc độ mối tương quan về lợi ích và tương quan về quyền lực giữa các giai cấp trong xã hội Việt Nam. Theo Người, chỉ có đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân mới đảm bảo sự thống nhất biện chứng về lợi ích giữa giai cấp, tầng lớp trong xã hội với toàn thể dân tộc Việt Nam. Điểm mấu chốt của sự thống nhất đó theo quan điểm của Hồ Chí Minh là phải giữ vững được sự lãnh đạo chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam trong các giai đoạn cách mạng. 2.1.3. Giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp Dân tộc và giai cấp là hai phạm trù lịch sử, có mối quan hệ biện chứng với nhau. Từ thực tiễn lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định luận điểm đúng đắn rằng, vấn đề dân tộc, ở thời đại nào cũng được nhận thức và giải quyết trên lập trường và theo quan điểm của một giai cấp nhất định. Mỗi dân tộc có một giai cấp đứng đầu. Giai cấp nào thống trị về mặt kinh tế thì giai cấp cũng thống trị dân tộc. Và chính điều đó đã tạo nên mối quan hệ biện chứng giữa giai cấp và dân tộc trong suốt quá trình vận động của xã hội có giai cấp. Trong mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, tính chất dân tộc được quy định bởi phương thức sản xuất thống trị trong dân tộc, bởi kết cấu giai cấp được sản sinh từ phương thức sản xuất đó và đặc biệt của giai cấp thống trị dân tộc đó. Chính vì vậy, không có cách giải quyết vấn đề dân tộc chung cho mọi giai cấp. Quan điểm dân tộc và cách giải quyết vấn đề dân tộc bao giờ cũng là một quan điểm của một giai cấp nhất định. Chính vì thế chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, vấn đề dân tộc không tách rời vấn đề giai cấp. Từ việc phân tích, tổng hợp các vấn đề trên, có thể hiểu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp là một hệ thống các luận điểm cơ bản mang tính nguyên tắc để xử lý mối quan hệ đó, nhằm đi đến sự thống nhất về lợi ích, là cơ sở để huy động mọi nguồn lực của dân tộc, từng bước giải quyết thành công những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Với nội dung có tính tổng hợp và khái quát trên, có thể rút ra một số nội dung cơ bản sau trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp: 30 Một là, giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp xét đến cùng là để đi đến sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp. Trên cơ sở phân tích nội hàm các khái niệm vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, chúng ta có thể nhận thấy rằng, nội dung của mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh, xét đến cùng là quan hệ về mặt lợi ích, Chính vì vậy, quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong xã hội Việt Nam, thực chất là mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp. Mối quan hệ này được biến đổi và chuyển hóa cùng với chế độ chính trị xã hội trong mỗi giai đoạn cách mạng của đất nước, song tất cả đều vì một lợi ích chung là đất nước được độc lập, nhân dân được tự do, ấm no, hạnh phúc. Hồ Chí Minh là người đã nhận thức đúng đắn và giải quyết một cách khéo léo và hiểu quả mối tương quan giữa các loại lợi ích đó. Hồ Chí Minh cho rằng, giữa toàn thể dân tộc Việt Nam và những giai cấp, tầng lớp trong xã hội cùng thống nhất với nhau về mặt lợi ích trước nhiệm vụ chống lại chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc, đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho con người và hòa bình cho nhân loại. Vì vậy, lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp luôn thống nhất với nhau trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, chỉ có trên cơ sở thống nhất về mặt lợi ích mới giải quyết thấu đáo mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp. Người cho rằng để thống nhất lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, phải đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân để giải quyết. Sở dĩ như vậy, vì theo quan điểm của Người giai cấp công nhân có lợi ích thống nhất với dân tộc và các giai cấp và tầng lớp khác trong xã hội. Theo đó, đối với Hồ Chí Minh, cách mạng giải phóng dân tộc phải được đặt trong quỹ đạo của cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Hai là, giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp là cơ sở để huy động mọi nguồn lực của dân tộc cho thắng lợi cho cách mạng Việt Nam. Việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh được biểu hiện ở mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Trong việc kết hợp giữa các nhân tố đó, luôn thấy ở Hồ Chí Minh có sự kết hợp một cách hài hòa, nhuần nhuyễn, chính đó đã là cơ sở để Người thành công khi giải quyết các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. 31 Trong giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, Hồ Chí Minh luôn chú ý tìm ra, khơi dậy và phát huy tối đa những điểm tương đồng giữa dân tộc và giai cấp để làm cơ sở cho sự thống nhất, tạo nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Bên cạnh, nêu cao những điểm tương đồng, Hồ Chí Minh luôn hiểu rõ sự khác biệt về nhu cầu, tâm lý, nhận thức, trình độ, quy mô của mỗi bộ phận tầng lớp người khác nhau trong dân tộc. Chính vì vậy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn khẳng định độc lập dân tộc luôn là mục tiêu hàng đầu, là điểm tương đồng, là mẫu số chung để quy tụ tất cả người dân Việt Nam yêu nước. Còn về mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và nghĩa vụ quốc tế thì Hồ Chí Minh luôn nhất quán trên nguyên tắc, chủ nghĩa yêu nước chân chính thống nhất với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Do đó, mặc dù Hồ Chí Minh ý thức rõ ràng tầm quan trọng hàng đầu của nhiệm vụ dân tộc nhưng Người không bao giờ rơi vào lập trường của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan, bè phái. Ba là, giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp là yêu cầu khách quan. Giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp là đòi hỏi khách quan của thực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn thời đại. Do vậy, giải quyết được mối quan hệ đó, sẽ là cơ sở để giải quyết thành công những vấn đề cơ bản của cách mạng những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam như: việc xác định con đường, mục tiêu, lực lượng cách mạng, những vấn đề về đoàn kết dân tộc và quốc tế, những vấn đề lý luận về Đảng, Nhà nước, Mặt trận... nhằm huy động được mọi nguồn lực cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Có thể nói, từ khi gặp ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và cách mạng tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh luôn nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp một cách thống nhất trên lập trường của giai cấp công nhân. Theo Người, đây là một yêu cầu khách quan, một vấn đề có tính quy luật, một nguyên tắc đóng vai trò chỉ đạo đối với tư duy, tư tưởng và hoạt động thực tiễn. Người chỉ rõ: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn” [122, tr.392]. Vì vậy, Người đã luôn nhận thức và giải quyết các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam trên nền tảng sự thống nhất của mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, trên cơ sở đó, Người đã từng bước đưa cách mạng Việt Nam từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. 32 Nói tóm lại, tư tưởng của Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp là đã xuất phát thực tiễn cách mạng Việt Nam, theo sát sự phát triển của thời đại. Vấn đề độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người cũng xuất phát từ tư tưởng của sự kết hợp giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp. Tư tưởng của Người đã phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản, đồng thời cũng phản ánh mối quan hệ khăng khít, thống nhất giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Đây là là mục đích, lý tưởng thấm đượm tình yêu thương và chủ nghĩa nhân văn cao cả. 2.2. TÍNH TẤT YẾU VÀ NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM 2.2.1. Tính tất yếu của việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp Trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, thực tiễn cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, Hồ Chí Minh cho rằng, trong thời đại mới giải quyết vấn đề dân tộc phải gắn liền với vấn đề giai cấp và ngược lại, hay có thể nói một cách khác giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp là tất yếu khách quan. Người khẳng định: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” [111, tr.64]. “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” [111, tr.175]. Chính vì vậy, con đường cứu nước của Hồ Chí Minh, phải đáp ứng được yêu cầu là giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Hay có thể nói một cách khác, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp là một tất yếu, phù hợp với sự phát triển của dân tộc và thời đại. Theo Người, tính tất yếu của việc giải quyết mối quan hệ đó được xuất phát từ những vấn đề cơ bản sau đây: Thứ nhất, xuất phát từ sự lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản của Hồ Chí Minh. Có thể nói, sự lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản là một tất yếu khách quan, phù hợp với xu hướng phát triển của dân tộc và thời đại, và nó được biểu hiện một cách thống nhất, biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh và chính đây là một trong những nhân tố quy định tính tất yếu việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong cách mạng Việt Nam. 33 Theo Hồ Chí Minh, một “cuộc cách mạng đến nơi”, là một cuộc cách mạng đem lại độc lập cho dân tộc, đồng thời mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Muốn vậy, chỉ có đi theo con đường cách mạng vô sản. Hay cũng có thể nói một cách khác là tính tất yếu của việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh được xuất phát từ sự lụa chon con đường cách mạng vô sản. Và chỉ có con đường cách mạng vô sản mới giải quyết được triệt để vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp. Như chúng ta đều biết, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đòi độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân ở Việt Nam nổ ra liên liên tiếp, nhưng tất cả các cuộc đấu tranh đó đều thất bại. Nguyên nhân cơ bản của sự bế tắc đó là do chưa có một con đường cứu nước đúng đắn. Sứ mệnh lịch sử đặt ra cho dân tộc Việt Nam, cho mỗi người Việt Nam yêu nước lúc bấy giờ là phải tìm ra con đường cứu nước đúng đắn đem lại độc lập tự do cho dân tộc. Hồ Chí Minh sớm nhận thức được yêu cầu của lịch sử, của dân tộc. Người không tán thành cách cứu nước của các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa Thám, Người bị cuốn hút bởi nền văn minh phương Tây, mà Người được tiếp xúc trong những năm học ở nhà trường thực dân. Ngày 5.6.1911, Người đã ra đi tìm đường cứu nước. Đây là một quyết định đúng, biểu hiện ý chí tìm đường cứu nước, cứu dân và sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị lúc bấy giờ của Hồ Chí Minh. Trong thời gian ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đi đến nhiều nơi trên thế giới, ở khắp châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, đặc biệt, Người đã có thời gian sống ở các trung tâm tư bản lớn của thế giới là nước Mỹ, Anh, Pháp và các thuộc địa của họ. Người đã thâm nhập vào phong trào công nhân và tận mắt chứng kiến cuộc đời cực khổ của nhân dân lao động ở những nước thuộc địa cũng như các nước tư bản, tiếp xúc với nhiều hạng người khác nhau, đặc biệt là nhân dân lao động nghèo khổ... Đáng lưu ý nhất, đó là Người đã nghiên cứu, khảo sát các mô hình cách mạng dân chủ tư sản trên thế giới, từ đó rút ra các bài học hữu ích cho cách mạng Việt Nam. Trước hết là cách mạng Mỹ. Cách mạng Mỹ đã nêu cao nhiều tư tưởng tiến bộ, trong đó đặc biệt là tư tưởng về quyền con người, quyền dân chủ. Hồ Chí Minh đánh giá cao song Người thấy rõ đây không phải là một cuộc cách mạng triệt để và Người cũng đã chứng kiến tận mắt tính không triệt để của cuộc cách mạng này. Người thấy rõ cách mạng Mỹ tuyên bố đấu tranh cho quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của con người, nhưng trong hiện thực, chế độ xã hội Mỹ lại nô dịch một cách trắng trợn nhân quyền của người da đen. Cách mạng mạng Mỹ tuyên bố “Hễ Chính phủ nào mà có hại cho dân 34 chúng, thì dân chúng phải đập đổ Chính phủ ấy đi và gây lên Chính phủ khác” [109, tr.291], song trong thực tế “Chính phủ Mỹ lại không muốn cho ai nói đến cách mệnh, ai đụng đến Chính phủ!” [109, tr.291]. Tóm lại “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai” [109, tr.291]. Sở dĩ như vậy “là vì cách mệnh Mỹ... chưa phải cách mệnh đến nơi” [109, tr.292], chưa phải là cuộc “cách mạng triệt để”. Cùng với việc tìm hiểu cách mạng Mỹ, Hồ Chí Minh đã tiến hành nghiên cứu cách mạng Pháp. Từ thành công và thất bại của cách mạng Pháp. Hồ Chí Minh nhận thấy cuộc cách mạng cách mạng tư sản tuy nêu khẩu hiệu ''tự do'', ''bình đẳng'', nhưng không đưa lại tự do, bình đẳng thực sự cho quần chúng lao động. Người viết: “Tư bản nó dùng chữ Tự do, Bình đẳng, Đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến. Khi dân đánh đổ phong kiến rồi, thì nó lại thay phong kiến mà áp bức dân” [109, tr.296]; “tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa” [109, tr.296]. Chính vì cách mạng Mỹ và Pháp là cuộc cách mạng chưa triệt để như vậy, nên mặc dù Hồ Chí Minh đánh giá cao những tư tưởng về dân chủ và nhân quyền của cuộc cách mạng ấy, song đó không phải là một mô hình có thể lựa chọn. Người cho rằng: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi... Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy” [109, tr.296]. “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc” [109, tr.292]. Như vậy, trong tư duy Hồ Chí Minh, một cuộc cách mạng đến nơi, một cuộc cách mạng triệt để không đơn thuần là chỉ giải thoát cho đồng bào khỏi thân phận nô lệ, bị áp bức mà mà còn bao hàm một nội dung rộng lớn hơn: giải phóng cho họ khỏi cái đói, cái rét, cái dốt, tiến lên xây dựng một cuộc đời ấm no, tự do, hạnh phúc, nhân dân thực sự là những người chủ của đất nước, hay nói cách khác con đường đó phải là con đường mang lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Đó là một “ham muốn tột bậc” của Hồ Chí Minh, như Người nói sau này, “là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [111, tr.187], đó cũng là ham muốn nghìn đời của nhân dân ta. Một ham muốn như thế chỉ có thực hiện được triệt để khi giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp 35 và giải phóng con người, tức là giải quyết vấn đề dân tộc phải gắn với vấn đề giai cấp. Theo Người, sau khi giành được độc lập dân tộc rồi, mà nhân dân lao động vẫn chưa được giải phóng, “không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” [109, tr.603]. Chính vì vậy mà Người, đã không lựa chọn con đường đó, mà tìm đến với cách mạng Tháng Mười Nga, đến với con đường cách mạng vô sản như một tất yếu lịch sử. Theo Người, đây chính là con đường đúng đắn mà cách mạng Việt Nam sẽ trải qua. Người viết: Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới [109, tr.304]. Từ việc Hồ Chí Minh khẳng định cuộc cách mạng Nga là cuộc cách mạng đến nơi, cuộc cách mạng triệt để. Người đi đến kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” [111, tr.64]. Kết luận trên đây của Hồ Chí Minh là sự khẳng định một hướng đi mới, nguyên tắc chiến lược mới, mục tiêu và giải pháp hoàn toàn mới, khác về căn bản so với các lãnh tụ của các phong trào yêu nước trước đó ở Việt Nam; đưa cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo của cách mạng vô sản, tức là sự nghiệp cách mạng ấy phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng. Vì vậy, con đường phát triển tất yếu của cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người chỉ rõ: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn” [122, tr.392]. Vì theo Người, chủ nghĩa xã hội là làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do; về bản chất, chủ nghĩa xã hội là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ, một xã hội không có chế độ người bóc lột người, một xã hội bình đẳng, ai làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưở...ai cấp trong xây dựng đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân”, Tạp chí Thanh Niên, (9), tr.10-11; 38. 3. Nguyễn Tùng Lâm (2013), “Sáng tạo của Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp trong quá trình xây dựng khối Đại đoàn kết toàn dân tộc”, Tạp chí Mặt trận, (2), tr.35-38. 4. Nguyễn Tùng Lâm (2014), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta”, Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, (2), tr.13-16. 5. Nguyễn Tùng Lâm (2014), “Giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp - Luận điểm sáng tạo gốc để Hồ Chí Minh giải quyết thành công những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục Lý luận, (3), tr.3-7. 6. Mạch Quang Thắng, Nguyễn Tùng Lâm (2014), “Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh - nhân tố thắng lợi của cách mạng Việt Nam”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (209), tr.20-25. 7. Mạch Quang Thắng, Nguyễn Tùng Lâm (2015), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự phát triển đồng đều, toàn diện các mặt của đời sống xã hội - Nội dung và giá trị khoa học”, Tạp chí Khoa học chính trị, (4), tr.8-12. 8. Nguyễn Tùng Lâm (2015), “Quan điểm của Hồ Chí Minh về những vấn đề có tính nguyên tắc trong giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp ở Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục Lý luận, (228), tr.27-30. 9. Nguyễn Tùng Lâm (2015), “Thực chất của vấn đề dân tộc và giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, (5), tr.13-17. 10. Nguyễn Tùng Lâm (2015), “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Khoa học - Đại học Huế, tập 105, (06), tr.151-121. 152 11. Nguyễn Tùng Lâm (2015), “Từ vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh đến đường lối giải phóng dân tộc của Đảng ta”, Đặc san Hồ Chí Minh học, (3), tr.51-57. 12. Nguyễn Tùng Lâm (2015), “Những quan điểm cơ bản trong giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay” Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, (9), tr.41-44. 13. Nguyễn Tùng Lâm (2015), “Quan điểm của Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa yếu tố dân tộc và quốc tế trong cách mạng Việt Nam”, Tạp chí Lý luận Chính trị điện tử, ngày 08/10. 14. Nguyễn Tùng Lâm (2016), “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hiện nay”, trong Phạm Ngọc Anh, chủ biên, Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng xã hội mới - Giá trị lý luận và thực tiễn, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. 15. Nguyễn Tùng Lâm (2016), “Sự thống nhất về lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Giáo dục Lý luận, (243), tr.23-25. 16. Nguyễn Tùng Lâm (2016), “Quan điểm của Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa yếu tố dân tộc và quốc tế trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam”, Tạp chí Mặt trận, (150), tr.16-21. 17. Nguyễn Tùng Lâm (2016), “Từ quan điểm của Hồ Chí Minh về việc giải quyết mối quan hệ dân tộc - giai cấp trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc đến sự ra đời của Mặt trận Việt Minh”, Đặc san Hồ Chí Minh học, (2), tr.82-87. 153 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 2. Phạm Ngọc Anh (Chủ biên) (2009), Triết lý phát triển Hồ Chí Minh - Giá trị lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 3. Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (Chủ biên) (2011), Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin của Hồ Chí Minh và Đảng ta (thời kỳ trước đổi mới), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 4. Phạm Ngọc Anh (Chủ biên) (2012), Phát huy các nguồn lực của dân làm lợi cho dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 5. Hồ Nguyệt Ánh (1993), Cuộc đấu tranh củng cố độc lập dân tộc của các nước đang phát triển trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 6. Nguyễn Đức Bách, Lê Văn Yên và Nhị Lê (1998), Một số vấn đề về định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 7. Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, Báo cáo về thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 18-1- 2002 của Bộ Chính trị "Về phát triển kinh tế-xã hội và quốc phòng, an ninh Tây Nguyên thời kỳ 2001 - 2010". 8. Ban Tuyên giáo Trung ương (2007), Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 9. Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (2001), Tài liệu nghiên cứu văn kiện Đại hội IX của Đảng (Dùng cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 10. Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương (2002), Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 11. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2006), Chuyên đề nghiên cứu Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 12. Hoàng Chí Bảo (1996), Mối quan hệ giữa xóa đói giảm nghèo với phát triển, Xóa đói giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế, Nxb Lao động, Hà Nội. 154 13. Hoàng Chí Bảo (2002), Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 14. Báo Tài chính điện tử (2014), "Độc lập, tự chủ trong hội nhập kinh tế quốc tế", Hà Nội. 15. Nguyễn Khánh Bật (Chủ biên) (2010), Sự tương đồng và khác biệt về quan điểm cách mạng Việt Nam giữa Hồ Chí Minh với Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Đông Dương những năm 1930 - 1941, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 16. Nguyễn Khánh Bật (Chủ biên) (2010), Sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam trong cách mạng giải phóng dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 17. Nguyễn Đức Bình (2001), Một số vấn đề về công tác lý luận, tư tưởng và văn hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 18. Nguyễn Đức Bình (Chủ biên) (2003), Về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 19. Nguyễn Đức Bình (2003), “Mấy vấn đề phương pháp luận nghiên cứu thế giới đương đại”, trong cuốn Góp phần nhận thức thế giới đương đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 20. Nguyễn Đức Bình (Chủ biên) (2007), Những đặc điểm lớn của thế giới đương đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 21. Nguyễn Đức Bình và các cộng sự (1999), Đổi mới tăng cường hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 22. Nguyễn Đức Bình (2010), Vững bước trên con đường xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 23. Nguyễn Đức Bình (2015), “Chủ thuyết chính trị Việt Nam trong thời đại ngày nay”, Tạp chí Cộng sản, (1), tr.45-69. 24. N. Bindiucốp (2001), “Những tương phản của toàn cầu hóa”, Tạp chí Đối thoại, (3) (Tiếng Nga). 25. Zbigniew Brzezinski (1999), Bàn cờ lớn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 26. Hoàng Đình Cúc (Chủ biên) (2009), Chủ nghĩa xã hội và sự nghiệp chủ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 27. Đặng Dũng Chí, Hoàng Văn Nghĩa (2014), Chủ nghĩa xã hội và quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 155 28. Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức và Hồ Sĩ Quý (Đồng Chủ biên) (1997), Những quan điểm cơ bản của C.Mác - Ph.Ăngghen - VI.Lênin về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 29. Nguyễn Trọng Chuẩn (1998), “Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển”, Tạp chí Triết học, (2), tr.16-19. 30. Phan Hữu Dật, Lâm Bá Nam, (2001), Chính sách dân tộc của các chính quyền nhà nước phong kiến Việt Nam (X-XIX), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 31. Thành Duy và các cộng sự (2000), Danh nhân Hồ Chí Minh, (2 tập), Nxb Lao động, Hà Nội. 32. Dương Quốc Dũng (2011), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp”, tại trang [truy cập ngày 20/8/2016. 33. Dương Quốc Dũng (2013), “Vấn đề dân tộc và giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Khoa học chính trị quân sự, (6), tr.9-13. 34. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội. 35. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội. 36. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội. 37. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Báo cáo tổng kết nghị quyết Trung ương 8B (khóa VI) về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, Hà Nội. 38. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, Hà Nội. 39. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay (lưu hành nội bộ), Hà Nội. 40. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 41. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 42. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 156 43. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7 (1940-1945), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 44. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 45. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 46. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận-thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 47. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 48. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 49. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Đề cương chi tiết Báo cáo tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011-2020, Hà Nội. 50. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 51. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 52. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 53. Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 54. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 55. Nguyễn Đức Đạt (2007), Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 56. Đi-a-cốp-xớc-kin (1960), Quốc tế cộng sản với vấn đề dân tộc và thuộc địa, Nxb Sự thật, Hà Nội. 57. Phạm Văn Đồng (1976), Sức mạnh Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 58. Phạm Văn Đồng (1993), Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu, nước mạnh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 157 59. Phạm Văn Đồng (1993), Hồ Chí Minh, một dân tộc, một con người, một thời đại, một sự nghiệp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 60. Phạm Văn Đồng (1994), Văn hóa và đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 61. Phạm Văn Đức (2008), “Vai trò và cơ sở của đoàn kết xã hội ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học, (1), tr.46-51. 62. Phạm Văn Đức (Chủ biên) (2013), Định hướng chính trị cho sự phát triển của Việt Nam và một số giải pháp thực hiện trong giai đoạn 2011-2020, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 63. Nguyễn Tĩnh Gia (Chủ biên) (1998), Xu hướng biến động của nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 64. Nguyễn Hoàng Giáp (Chủ biên) (2012), Một số vấn đề chính trị quốc tế trong giai đoạn hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 65. Võ Nguyên Giáp (Chủ biên) (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 66. Tôđo Gípcốp (1995), Trước những lời vu khống, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 67. Trần Văn Hải (2001), Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề dân tộc và giai cấp trong cách mạng Việt Nam, Luận án tiến sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 68. Lê Mậu Hãn (2003), Sức mạnh dân tộc của cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 69. Nguyễn Hùng Hậu (Chủ biên), (2011), Triết lý “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 70. Nguyễn Hùng Hậu (Chủ biên) (2010), Đại cương lịch sử triết học Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 71. Trần Hậu (Chủ biên) (1997), Quá trình hình thành và phát triển quan điểm lý luận của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 72. Vũ Hiền, Ngô Mạnh Lân (1995), Vấn đề dân tộc, giai cấp và toàn nhân loại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 73. Vũ Đình Hòe (2001), Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh, Nxb Văn hoá thông tin, Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội. 74. Vũ Đình Hòe, Bùi Đình Phong (2010), Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 158 75. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Khoa Triết học (1994), Triết học Mác - Lênin, Chương trình cao cấp, tập in, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 76. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phân viện Hà Nội, Khoa Dân tộc (1995), Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, Tập bài giảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 77. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Khoa Văn hóa xã hội chủ nghĩa (1996), Văn hóa dân tộc trong quá trình mở cửa ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 78. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Khoa Lịch sử Đảng (1997), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, 2 tập, Chương trình cao cấp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 79. Hội đồng lý luận Trung ương (2013), Kiên định mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 80. Hội đồng lý luận Trung ương (2014), Định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 81. Hội đồng lý luận Trung ương (2014), Định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 82. Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam (2007), Từ điển bách khoa Việt Nam, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội. 83. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (1999), Giáo trình triết học Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 84. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (2003), Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 85. Nguyễn Chí Huyên (1995), "Đôi nét về thực trạng trình độ học vấn của cư dân các dân tộc thiểu số tại Việt Nam", Tạp chí Dân tộc học (4), tr.18-24. 86. Nguyễn Văn Huyên (2010), Đảng Cộng sản cầm quyền - Nội dung và phương thức của Đảng cầm quyền, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 87. M.V.I-ô-rơ-đan (1985), Chủ nghĩa quốc tế chống chủ nghĩa dân tộc, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội. 159 88. Paul Kennedy (1995), Chuẩn bị cho thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 89. Lại Quốc Khánh (2009), Biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 90. Nguyễn Văn Khang (1990), “Phong trào công nhân và quan hệ giữa giai cấp công nhân và dân tộc”, Tạp chí Triết học, (2), tr.15-20. 91. Vũ Khiêu (Chủ biên), (1993), Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh truyền thống dân tộc và nhân loại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 92. Nguyễn Minh Khoa (2016), Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh với việc xây dựng văn hóa chính trị Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 93. Không rõ tên (1976), Từ điển Triết học, Nxb Sự thật, Hà Nội. 94. Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn (1994), Góp phần nghiên cứu tư tưởng độc lập, tự do của Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 95. V.I.Lênin (1980), Toàn tập, tập 23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 96. V.I.Lênin (1980), Toàn tập, tập 30, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 97. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 39, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 98. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 99. Lương Thùy Liên (2010), Nguyên tắc thống nhất giữa dân tộc, giai cấp và nhân loại trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 100. Nguyễn Bá Linh (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 101. Nguyễn Bá Linh (2009), Mối quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 102. Nguyễn Ngọc Long (Chủ nhiệm) (1994), Những đặc trưng cơ bản, quan điểm nguyên tắc xây dựng và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đề tài KX05-04, Hà Nội. 103. Nguyễn Ngọc Long (1996), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối qua hệ giai cấp và dân tộc”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, (4), tr.41-45. 104. Hồ Tố Lương (2007), Quốc tế Cộng sản với cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 105. C.Mác, Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 106. Thomas Meyer, Nicole Breyer (2007), Tương lai của nền dân chủ xã hội, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. 160 107. Hồ Chí Minh (1990), Vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 108. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 109. Hổ.Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 110. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 111. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 112. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 113. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 114. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 115. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 116. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 117. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 118. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 119. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 120. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 121. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 14, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 122. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 123. Furuta Motoo (1997), Hồ Chí Minh - Giải phóng dân tộc và đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 124. Đỗ Mười, Lê Quang Đạo (1996), Đại đoàn kết dân tộc và sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 125. Nguyễn Chí Mỳ, Nguyễn Ngọc Long (1999), "Nét đặc sắc trong việc giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp ở Việt Nam", Tạp chí Cộng sản, (6), tr.20-23. 126. Nguyễn Thị Nga (Chủ biên) (2007), Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới - Vấn đề và giải pháp, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. 127. Nguyễn Thị Ngân (2000), Xây dựng ý thức và tình cảm dân tộc chân chính cho con người Việt Nam trước những thử thách hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 128. Lê Hữu Nghĩa (1994), “Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giai cấp và đấu tranh giai cấp”, Tạp chí Cộng sản, (11), tr.31-36. 129. Lê Hữu Nghĩa (1997), “Phép biện chứng của công cuộc đổi mới ở nước ta”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, (4), tr.5-7. 161 130. Lê Hữu Nghĩa (1998), Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản với vấn đề dân tộc, Tạp chí Lịch sử Đảng, (2), tr.21-26. 131. Lê Hữu Nghĩa (Chủ biên) (2000), Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, Nxb Lao Động, Hà Nội. 132. Dương Xuân Ngọc (1996), “Dân chủ hóa xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Thông tin lý luận, (2), tr.17-21. 133. Lê Ngọc (1993), “Những cống hiến lý luận của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào học thuyết mác xít về giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp”, Tạp chí Thông tin lý luận, (11), tr.13-18. 134. Trần Nhâm (2011), Chủ nghĩa Mác - Lênin - Học thuyết về sự phát triển và sáng tạo không ngừng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 135. Trần Nhâm (2011), Hồ Chí Minh - nhà tư tưởng thiên tài, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 136. Trần Quang Nhiếp (1990), Tìm hiểu những yếu tố tác động đến sự phát triển quan hệ dân tộc ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 137. Trịnh Nhu, Vũ Dương Ninh (1996), Về con đường giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 138. V.Páplốp, A.Lukianốp, V.Criuscốp (1994), Goócbachốp - Bạo loạn sự kiện tháng Tám nhìn từ bên trong, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 139. Phạm Thị Phai (2014), Hồ Chí Minh vận dụng phép biện chứng duy vật vào giải quyết quan hệ dân tộc, giai cấp trong cách mạng Việt Nam, Luận văn cao học Hồ Chí Minh học, Học viên Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội. 140. Nguyễn Quốc Phẩm, Trịnh Quốc Tuấn (1999), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 141. Hoàng Phê (Chủ biên) (1996), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng. 142. Bùi Đình Phong (2004), Giải phóng dân tộc và đổi mới dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 143. Bùi Đình Phong (2007), Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới, Nxb Lao động, Hà Nội. 144. Bùi Đình Phong (2008), Hồ Chí Minh học và minh triết Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 162 145. Phùng Hữu Phú (2010), Bí quyết thành công Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 146. Nguyễn Trọng Phúc (2011), Hồ Chí Minh - Từ hoạt động thực tiễn đến tư duy lý luận, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội. 147. Vũ Văn Phúc và các cộng sự (2006), Về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 148. Phạm Ngọc Quang (1994), “Quan hệ giai cấp - dân tộc - nhân loại trong thời đại ngày nay”, Tạp chí Triết học, (4), tr.34-39. 149. Nguyễn Duy Quý (Chủ biên) (1998), Những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 150. Nguyễn Duy Quý (2008), Đổi mới tư duy và công cuộc đổi mới ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 151. Đinh Ngọc Quyên (2003), Lý luận mác xít về quan hệ giai cấp và dân tộc với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 152. Tô Huy Rứa và các cộng sự (2006), Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ 1986 đến nay, Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 153. Nguyễn Văn Sáu (2013), Chủ trương của Đảng về xây dựng, phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ hội nhập quốc tế thời kỳ đổi mới, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội. 154. Lê Duy Sơn (2001), Sự phát triển mối quan hệ giữa giai cấp công nhân Việt Nam và dân tộc Việt Nam trong quá trình đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 155. Lê Doãn Tá (Chủ biên) (1995), Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 156. Lê Hữu Tầng (1991), Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, vấn đề nguồn gốc và động lực, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 157. Tạp chí Xưa & Nay (2010), Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày này năm xưa, tập I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 158. Tạp chí Xưa & Nay (2010), Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày này năm xưa, tập II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 163 159. Lê Văn Tích (Chủ biên) (2009), Nguyễn Ái Quốc với Quốc tế Cộng sản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 160. Trần Dân Tiên (1995), Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 161. Trần Hữu Tiến (1980), “Lênin và vấn đề quan hệ dân tộc và giai cấp” trong cuốn Lênin và thời đại chúng ta, Nxb Sự thật, Hà Nội. 162. Trần Hữu Tiến (1996), “Sự thống nhất giữa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc trong sự nghiệp đổi mới”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, (3), tr.23-25. 163. Trần Hữu Tiến (2003), “Toàn cầu hoá và đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc” trong cuốn Góp phần nhận thức thế giới đương đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 164. Trần Hữu Tiến, Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Xuân Sơn (2002), Quan hệ giai cấp - dân tộc - quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 165. Trần Hữu Tiến (2008), Một số vấn đề độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 166. Trần Hữu Tiến (2012), Dân tộc trong lịch sử và trong thời đại ngày nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 167. Chu Đức Tính (2000), Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc giải quyết vấn đề dân tộc - dân chủ trong cách mạng Việt Nam (từ 1930 - 1954), Luận án tiến sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 168. Nguyễn Khánh Toàn (1960), Vấn đề dân tộc trong cách mạng vô sản (tập I), Nxb Sự thật, Hà Nội. 169. Trịnh Quốc Tuấn (1998), “Giai cấp công nhân và dân tộc”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (2), tr.21-23. 170. Song Thành (2004), Hồ Chí Minh - nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. 171. Song Thành (2006), Hồ Chí Minh tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 172. Trần Thành (2010), “Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc giải quyết quan hệ giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp - nguồn gốc thắng lợi của cách mạng Việt Nam”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (5), tr.15-20. 173. Trần Đức Thảo (2000), Vấn đề con người và chủ nghĩa - lý luận không có con ngươi, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh. 164 174. Trần Phúc Thăng (1995), “Lý luận mác xít về mối quan hệ giai cấp, dân tộc và thời đại”, Tạp chí Cộng sản, (15), tr.39-45. 175. Trần Phúc Thăng (1999), “Tìm hiểu quan điểm giai cấp của Hồ Chí Minh”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, (7), tr.15-19. 176. Lê Sỹ Thắng (1993), “Về dân tộc và giai cấp, thống nhất và đấu tranh trong con người và tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Triết học, (2), tr.35-40. 177. Mạch Quang Thắng (2008), “Một số quan điểm của Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế”, Tạp chí Lý luận Chính trị, (1), tr.9-14. 178. Mạch Quang Thắng (Chủ biên) (2009), Hồ Chí Minh - Nhà cách mạng sáng tạo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 179. Mạch Quang Thắng (Chủ biên) (2010), Hồ Chí Minh - Con người của sự sống, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 180. Mạch Quang Thắng (Chủ biên) (2010), Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 181. Nguyễn Thị Thanh (1999), “Kết hợp tăng trường kinh tế với xây dựng quan hệ xã hội lành mạnh, hướng tới mục tiêu tiến bộ và công bằng”, Tạp chí Cộng sản, (6), tr.23-27. 182. Nguyễn Thị Thanh (2000), Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển các quan hệ xã hội lành mạnh ở nước ta, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 183. Đàm Văn Thọ, Vũ Hùng (1997), Mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 184. Nguyễn Đình Thuận (2002), Sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc (1911 - 1945), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 185. Hoàng Trang, Phạm Ngọc Anh (2000), Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 186. Phạm Ngọc Trâm (2011), Quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam (1986- 2011), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 187. Nguyễn Phú Trọng (Chủ biên) (2008), Đổi mới và phát triển ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 165 188. Nguyễn Phú Trọng (Chủ biên) (2011), Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 189. Nguyễn Phú Trọng (2012), “Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội - Nhìn từ thực tiễn Việt Nam” (Bài nói chuyện của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại trường Đảng cao cấp Nico Lopez - Cu ba), tại trang: www.sggp.org.vn, truy cập ngày 25/10/2016. 190. Trần Xuân Trường (1995), “Giải quyết quan hệ dân tộc và giai cấp theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Cộng sản, (5), tr.31-35. 191. Trần Xuân Trường (1996), Định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận cấp bách, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 192. Đặng Nghiêm Vạn (1993), Quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 193. Michel Vadée (1996), Marx - nhà tư tưởng của cái có thể, (2 tập), Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Hà Nội. 194. Viện Mác - Lênin (1991), Về Cương lĩnh đổi mới và phát triển, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội. 195. Hoàng Vinh (Chủ biên) (1996), Một số vấn đề lý luận văn hóa thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 196. Nguyễn Khắc Viện (2008), Việt Nam tổng kết một chiến thắng hay để hiểu Việt Nam, Nxb Tri thức, Hà Nội. 197. Hồ Kiếm Việt (2004), Góp phần tìm hiểu đặc sắc tư duy triết học Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 198. Lê Văn Yên (2010), Hồ Chí Minh với chiến lược đoàn kết quốc tế trong cách mạng giải phóng dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_tu_tuong_ho_chi_minh_ve_giai_quyet_moi_quan_he_giua.pdf
  • pdfTom tat _T. Viet_ _nop QD.pdf
  • pdfTom tat _T.Anh_ _ Nguyen Tung Lam.pdf
  • pdfTrang thong tin Viet-Anh.pdf
Tài liệu liên quan