Mâu thuẫn biện chứng trong nền Kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Mục lục LờI Mở ĐầU Thế kỷ XX đã kết thúc, loài người đang bước vào một thế kỷ mới, một thiên niên kỷ mới - thiên niên kỷ thứ ba. Nhìn lại thế kỷ XX với những biến đổi dữ dội, có những thử thách lớn lao và cả những thành tựu diệu kỳ. Đồng thời, thế giới cũng chứng kiến sự cạnh tranh không chỉ đơn thuần về hàng hoá, tiền tệ tài chính, kỹ nghệ mà còn đấu tranh quyết liệt để tìm đến một mô hình kinh tế xã hội tối ưu. Được coi là một trong những thành tựu của văn minh nhân loại, kinh tế thị trường

doc18 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1722 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Mâu thuẫn biện chứng trong nền Kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
đang được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới, cả trong những nước thuộc hệ thống tư bản chủ nghĩa và những nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN). Nhưng mỗi quốc gia, mỗi dân tộc tuỳ theo quan điểm và điều kiện riêng của mình lại có cách vận dụng cơ chế này khác nhau. Ngày nay, dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH), Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN - một mô hình kinh tế được Đại hội lần thứ IX của Đảng xác định. Từ khi chuyển đổi nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, chúng ta đã thu được những thành tựu to lớn nhưng đồng thời cũng nảy sinh nhiều khuyết tật và hạn chế. Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu khoa học, nhà kinh tế học tìm hiểu nền kinh tế này để tìm ra những giải pháp nhằm khắc phục những mặt hạn chế của nền kinh tế này, và phát huy những ưu điểm của nó để thúc đẩy nền kinh tế của nước ta phát triển. Lịch sử phát triển của sản xuất cũng đã chứng minh rằng: cơ chế thị trường là cơ sở điều tiết nền kinh tế hàng hoá đạt hiệu quả cao, song nó cũng không phải là hiện thân của sự hoàn hảo. Trong đó luôn tồn tại những mâu thuẫn. Những mâu thuẫn ấy đã làm kìm hãm sự phát triển của công cuộc đổi mới nhưng nó cũng là nguồn gốc của sự phát triển, là động lực cho sự phát triển. Vì vậy, để phát triển kinh tế và xây dựng thành công sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước thì việc tìm ra những mâu thuẫn và phương hướng giải quyết những mâu thuẫn ấy là rất cần thiết. Đó cũng là lý do để em chọn đề tài: “Mâu thuẫn biện chứng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” cho bài tiểu luận của mình. Phần I: Một số lý luận chung về mâu thuẫn biện chứng và nền kinh tế thị trường 1. Lý luận chung về mâu thuẫn biện chứng 1.1 Hiện tượng khách quan của mâu thuẫn V.I. Lênin viết “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những giải thích và một sự phát triển thêm” V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiết bộ, Mátxcơva, 1981, t29, tr.240 . Những người theo quan niệm siêu hình đều phủ nhận sự tồn tại khách quan của mâu thuẫn bên trong các sự vật, hiện tượng và họ chỉ thừa nhận có những sự đối kháng, sự xung đột giữa các sự vật và hiện tượng với nhau nhưng đó không phải là mâu thuẫn. Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới đều tồn tại mâu thuẫn bên trong. Mọi sự vật và hiện tượng đều là một thể thống nhất của các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng đối lập nhau. Những mặt này đối lập với nhau nhưng lại liên hệ ràng buộc nhau tạo thành mâu thuẫn. Mâu thuẫn tồn tại khách quan trong mọi sự vật và hiện tượng của giới tự nhiên, đời sống xã hội và tư duy của con người. Không có một sự vật, hiện tượng nào lại không có mâu thuẫn và không có một giai đoạn nào trong sự phát triển của mỗi sự vật, hiện tượng lại không có mâu thuẫn. Mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại hình thành. 1.2. Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Có thể nói hạt nhân của phép biện chứng là quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Mặt đối lập là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Sự tồn tại các mặt đối lập là khách quan và là phổ biến trong tất cả các sự vật. Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng. Hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng tồn tại trong sự thống nhất với nhau. Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa lẫn nhau, tồn tại không tách rời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của các mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề. Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau. Những nhân tố giống nhau đó gọi là “đồng nhất” của các mặt đối lập. Với ý nghĩa đó “sự đồng nhất của các mặt đối lập” còn bao hàm cả sự “đồng nhất” của các mặt đó. Do có sự “đồng nhất” của các mặt đối lập mà trong sự triển khai của mâu thuẫn đến một lúc nào đó, các mặt đối lập có thể chuyển hoá lẫn nhau. Sự thông nhất của các mặt đối lập còn biểu hiện ở sự tác động ngang nhau của chúng. Các mặt đối lập không chỉ thống nhất, mà còn luôn “đấu trang” với nhau. Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó. 1.3. Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển V.I.Lênin viết “Sự thống nhất của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối” Sđd, tr. 379 – 380. . Trong sự tác động qua lại của các mặt đối lập quy định một cách tất yếu sự thay đổi của các mặt đang tác động và làm cho mâu thuẫn phát triển. Lúc đầu mới xuất hiện, mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn bản, nhưng theo khuynh hướng trái ngược nhau. Sự khác nhau đó ngày càng phát triển và đi đến đối lập. Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hoá lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết. Nhờ đó mà thể thống nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới; sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời thay thế. V.I.Lênin viết: “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập” Sđd, tr. 379. . Tuy nhiên, không có thống nhất của các mặt đối lập thì cũng không có đấu tranh giữa chúng. Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là không thể tách rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng. Sự vận động và phát triển bao giờ cũng là sự thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi. Sự thống nhất và đấu tranh của mặt đối lập quy định tính ổn định và tính thay đổi của sự vật. 2. Kinh tế thị trường 2.1 Khái niệm Cơ chế thị trường là cơ chế tự điều tiết nền kinh tế hàng hoá do sự tác động của các quy luật kinh tế vốn có của nó, cơ chế đó giải quyết ba vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế là: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai. Cơ chế thị trường bao gồm các nhân tố cơ bản là cung, cầu và giá cả thị trường. Kinh tế thị trường là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá. Thuật ngữ kinh tế thị trường ra đời phát triển từ thấp đến cao phản ảnh trình độ phát triển của xã hội hoá sản xuất và đã trải qua hai mức độ cần phân biệt, đó là kinh tế thị trường cổ điển và kinh tế thị trường hiện đại. Cho đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đều vận hành theo mô hình kinh tế thị trường ở trình độ kinh tế thị trường hiện đại. Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, một khái niệm mà sự hình thành và phát triển đã trải qua quá trình nghiên cứu, thử nghiệm, hội thảo khoa học và tổng kết thực tiễn và hiện nay vẫn còn đang tiếp tục nghiên cứu. Khái niệm này về nội hàm thực chất là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN, nhưng được diễn đạt gọn hơn, nói rõ được mô hình kinh tế tăng trưởng tổng quát trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Đặc trưng kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam *Nền kinh tế dựa trên cơ sở, cơ cấu đa dạng về hình thức sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước làm chủ đạo. Do đó nền kinh tế gồm nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Việc xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo là sự khác biệt có tính chất bản chất giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN với kinh tế thị trường ở các nước khác. Tính định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở nước ta đã qui định kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Bởi lẽ, mỗi một chế độ xã hội đều có một cơ sở kinh tế tương ứng với nó, kinh tế nhà nước, nói đúng ra kinh tế dựa trên chế độ công hữu bao gồm kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác, tạo cơ sở cho chế độ xã hội mới - chế độ XHCN. *Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập: phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực vào hoạt động sản xuất kinh doanh, và phân phối thông qua các quĩ phúc lợi xã hội, trong đó phân phối theo kết quả lao động giữ vai trò nòng cốt. *Cơ chế vận hành nền kinh tế được thực hiện thông qua cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Điều đó có nghĩa là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta cũng vận động theo những quy luật kinh tế nội tại của kinh tế thị trường nói chung, thị trường có vai trò quyết định trong việc phân phối các nguồn lực kinh tế. Sự quản lý của Nhà nước nhằm hạn chế, khắc phục những “thất bại của thị trường”, thực hiện các mục tiêu xã hội, nhân đạo mà bản thân thị trường không thể làm được. *Mở cửa, hội nhập nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia là nội dung quan trọng của nền kinh tế thị trường ở nước ta. *Nhà nước quản lý nến kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay là Nhà nước pháp quyền XHCN, là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. *Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời bảo đảm sự công bằng xã hội cũng là một nội dung rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường ở nước ta. Đây là điểm khác biệt giữa mô hình kinh tế thị trường ở nước ta với nhiều nước khác, đặc biệt là các nước tư bản chủ nghĩa. PHầN ii: Thực trạng và giải pháp cho những mâu thuẫn cơ bản trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam I. Thực trạng và giải pháp cho những mâu thuẫn cơ bản trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam Một số tồn tại của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam Sau hơn 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế, với hai kế hoạch 5 năm nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng như: đời sống của phần lớn nhân dân được cải thiện; cơ sở hạ tầng ngày một hiện đại; trình độ dân trí và mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân cũng được nâng lên; chế độ chính trị không ngừng được củng cố và ổn định; các hoạt động xã hội đều được phát triển và tiến bộ (thể dục thể thao, thông tin đại chúng, công tác kế hoạch hoá gia đình, v.v…), v.v… Bên cạnh đó thì trình độ kỹ thuật - công nghệ và kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xã hội còn thấp kém, sức cạnh tranh của hàng hoá, của xí nghiệp và của nền kinh tế chưa cao, khả năng hội nhập quốc tế còn hạn chế. Trình độ phân công lao động xã hội chưa sâu rộng, tay nghề của người lao động còn thấp, nên năng suất lao động chưa cao, cơ sở trao đổi và dung lượng thị trường chưa phát triển nhiều. Đội ngũ các nhà quản lý doanh nghiệp có trình độ thành thạo và tính nhân văn trong kinh doanh, khả năng thích nghi với kinh tế thị trường còn quá ít. Thu nhập của người làm công ăn lương cũng như của nông dân nhất là vùng sâu, vùng xa tuy bước đầu có cải thiện nhưng còn thấp, nên sức mua hàng hoá chưa cao. Trong bản thân nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta vẫn tồn tại rất nhiều những mâu thuẫn. Những mâu thuẫn này tồn tại một cách khách quan trong nền kinh tế, chúng luôn tác động qua lại, quy định lẫn nhau. Giải quyết được các mâu thuẫn một cách hợp lý là động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế và giúp cho việc vận hành nền kinh tế thị trường một cách có hiệu quả và hạn chế được những nhược điểm vốn có của cơ chế này. Tuy vậy những mâu thuẫn này diễn ra hết sức gay gắt, phức tạp, đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách khoa học để đưa ra những giải pháp giải quyết các mâu thuẫn đó một cách kịp thời, hợp lý. 2. Những mâu thuẫn biện chứng tồn tại trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và giải pháp của nó Việc xác định được chính xác những mâu thuẫn, với các mặt đối lập trong nền kinh tế thị trường là vấn đề hết sức cần thiết. Bởi có xác định được chúng thì chúng ta mới đưa ra được phương hướng giải quyết thích hợp, từ đó mới tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng tích cực. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tồn tại rất nhiều mâu thuẫn, trong phạm vi bài tiểu luận này, em đưa ra một số mâu thuẫn cơ bản và những phương hướng giải quyết của nó. 2.1. Mâu thuẫn giữa con người và mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa Trong xã hội ngày nay tồn tại một bộ phận nhân dân vì chạy theo đồng tiền sẵn sàng huỷ hoại nhân cách đạo đức của mình, họ sẵn sàng làm tất cả miễn là có tiền, kết quả là làm cho một số cán bộ tha hoá biến chất, tham ô, tham nhũng, v.v..., làm cho một bộ phận tầng lớp thanh thiếu niên hư hỏng lao vào con đường ăn chơi sa đoạ với những tệ nạn nghiện hút, cờ bạc, v.v… sống không có lý tưởng, cộng với những phần tử cực đoan chống phá cách mạng âm mưu bạo loạn lật đổ chế độ. Trong khi đó mục tiêu của chúng ta là xây dựng thành công CNXH mà muốn xây dựng thành công CNXH thì trước hết theo chủ tịch Hồ Chí Minh là phải xây dựng con người chủ nghĩa xã hội. Bởi vì con người là hạt nhân của xã hội, là cái đích của mọi sự phát triển. Con người CNXH là con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức. Mục tiêu của CNXH là bắt đầu từ con người, lấy con người làm điểm xuất phát, đồng thời cũng là mục tiêu cuối cùng của xã hội. Để giải quyết mâu thuẫn trên thì trước hết vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước là rất quan trọng, đồng thời cần đẩy mạnh công tác giáo dục về mọi mặt nhằm hình thành nhân cách, đạo đức tốt đẹp ngay từ đầu. Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục và đặc biệt chú trọng đến tầng lớp thanh niên những chủ nhân tương lai của đất nước. 2.2. Mâu thuẫn giữa tiềm năng còn lớn với điều kiện khai thác chưa tương xứng Nước ta có một nguồn lao động dồi dào, có trình độ đào tạo và nhận thức tương đối tốt, có khả năng tiếp thu nhanh nhạy và sáng tạo các thành tựu khoa học trên thế giới, vận dụng linh hoạt vào thực tiễn. Điều đó có nghĩa là nước ta có một tiềm năng hết sức to lớn về nhân công và nguồn lao động. Ngoài ra, nước ta còn có tiềm năng khoáng sản và động thực vật đa dạng, phong phú. Những tài nguyên thiên nhiên này có tác dụng tích cực đến việc phát triển kinh tế. Nước ta còn có vị trí địa lý rất thuận lợi, dễ mở rộng giao lưu với thế giới. Thế nhưng trong thực tế, nước ta vẫn chưa sử dụng hết các tiềm năng này mà còn rất lãng khí trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên. Điều này làm cho nền kinh tế nước ta chưa thực sự phát huy được những khả năng vốn có của mình. Trong điều kiện nền kinh tế hội nhập như hiện nay thì việc phát huy các thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên và con người ở nước ta là một việc làm rất cần thiết. Để giải quyết được mẫu thuẫn trên thì cần phải có những biện pháp đồng bộ, thích hợp, kịp thời. Cụ thể cần đào tạo lại nguồn nhân lực cho phù hợp với yêu cầu hiện tại, phân bổ lại nguồn nhân lực hợp lý để khắc phục tình trạng nơi thì thừa lao động, nơi thì thiếu lao động, đẩy mạnh xuất khẩu lao động, đồng bộ hoá việc khai thác và bảo vệ tài nguyên. 2.3. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt đối lập trong một chỉnh thể là phương thức sản xuất. Giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, ràng buộc nhau và quy định lẫn nhau. Lực lượng sản xuất là nội dung của sự vật, còn quan hệ sản xuất là ý thức của sự vật. Do vậy lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất còn quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất thường xuyên vận động và phát triển nên quan hệ sản xuất cũng phải luôn thay đổi để phù hợp với sự phát triển đó. Có như vậy mới thúc đẩy nền kinh tế phát triển, còn ngược lại thì nó sẽ trở thành yếu tố kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến kìm hãm sự phát triển kinh tế. Đại hội Đảng VI của nước ta đã làm một minh chứng cho điều này đó là việc chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, bởi quan hệ sản xuất năm 1896, có tác dụng tích cực khi nước ta còn chiến tranh, nhưng khi đất nước hoà bình thì nó không còn phù hợp, nó trở nên lạc hậu, trở thành yếu tố kìm hãm sự phát triển của kinh tế nước ta. Công cuộc đổi mới đã thu được rất nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã được giải quyết mà thực sự, nó lại chuyển thành một mâu thuẫn mới với sự thống nhất và đấu tranh mới. Hiện nay, đất nước đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế nước ta trở thành nền kinh tế tri thức. Lúc này đòi hỏi phải phát triển lượng sản xuất theo kịp với trình độ thế giới. Và thực tế, lực lượng lao động của chúng ta có trình độ, có năng lực, khả năng sáng tạo cao, cộng thêm sự cần cù, chịu khó vốn có của người Việt Nam; việc mở cửa nền kinh tế đã tạo điều kiện cho chúng ta đã tiếp thu được nhiều thành tựu của khoa học trên thế giới với những công nghệ và kỹ thuật tiên tiến của họ áp dụng vào Việt Nam. Tuy nhiên, do ảnh hưởng nặng nề của cơ chế cũ, quan hệ sản xuất ở nước ta vẫn chưa theo kịp sự phát triển của lực lượng sản xuất. Điều đó đã kìm hãm sự phát triển kinh tế của đất nước. Điều này được thể hiển cụ thể: trong nền kinh tế của nước ta vẫn tồn tại nhiều thành phần kinh tế với những quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất khác nhau, giữa các thành phần kinh tế lại có sự mâu thuẫn về lợi ích làm cho sự quản lý ở tầm vĩ mô là rất khó, gây ra nhiều sự bất cập trong các chính sách của Nhà nước. Thêm vào đó, quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất vẫn còn nhiều yếu kém, tình trạng này đã gây lên sự đan xen, chồng chéo quyền lực giữa các cơ quan quyền lực của Nhà nước làm cho một số thủ tục pháp lý trở lên phức tạp, cản trở việc kinh doanh của các doanh nghiệp; tình trạng tham ô, cửa quyền của một số cán bộ trong bộ máy Nhà nước ta vẫn còn rất nhức nhối, nó đã làm cho quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất không được lành mạnh; sự phân công lao động xã hội chưa hợp lý; sự chuyên môn hoá và hiệp tác hoá sản xuất chưa cao. Ngoài ra, quan hệ phân phối sản phẩm chưa được tổ chức một cách hợp lý. Tất cả những yếu kém này đã làm kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Dẫn đến làm chậm sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Để giải quyết mâu thuẫn này thì trước hết vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước là rất quan trọng. Tuy nhiên, cần phải có những giải pháp hợp lý, đúng đắn thì mới thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Trước hết cần tăng cường vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước, đẩy mạnh phát triển kinh tế tập thể, hướng các thành phần kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế cá thể theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở kết hợp hài hoà lợi ích giữa các thành phần kinh tế; tinh giảm bộ máy Nhà nước, kiên quyết xử lý những cán bộ có hiện tượng tiêu cực. Sau cùng, đẩy mạnh và nâng cao trình độ của lực lượng lao động, lấy con người làm nòng cốt, không ngừng cải tiến và nâng cao nền khoa học và công nghệ nước nhà. 2.4.Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể Để lợi ích là một trong những động lực phát triển kinh tế, cần phải coi trọng mọi lợi ích: lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội. Lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội đều nằm trong hệ thống lợi ích kinh tế, chúng gắn bó chặt chẽ với nhau, luôn luôn phủ định nhau; trong mối quan hệ này, nếu lợi ích cá nhân bị vi phạm thì xã hội sẽ mất đi một động lực to lớn của sự phát triển xã hội, còn ngược lại, lợi ích tập thể bị vi phạm thì sẽ gây ra những thiệt hại cho xã hội, kìm hãm sự phát triển kinh tế. Chẳng hạn, khi một thiểu số cá nhân được hưởng lợi thì cộng đồng xã hội lại phải gánh chịu những thiệt hại do những cá nhân đó gây ra, đồng nghĩa với việc lợi ích của xã hội bị vi phạm. Điều cần thiết là chúng ta phải phân biệt lợi ích chính đáng của cá nhân với lợi ích ích kỷ của cá nhân. Lợi ích chính đáng của cá nhân là động lực phát triển của xã hội, là cái mà xã hội phải tôn trọng còn lợi ích ích kỷ của cá nhân là nguồn gốc của chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân đã làm cho một số không ít cán bộ trong bộ máy Nhà nước tha hoá biến chất, ăn cắp, tham nhũng. Kinh tế thị trường đã làm cho tâm lý một bộ phận nhân dân chạy theo đồng tiền, họ làm bất cứ điều gì, kể cả những việc vô nhân đạo, miễn là thu được lợi bất chấp hậu quả trước mắt và lâu dài của việc làm đó. Nhưng nếu chúng ta chỉ quan tâm đến lợi ích xã hội mà quên đi lợi ích cá nhân thì lúc đó bản thân cá nhân sẽ không còn đóng góp tích cực cho xã hội, gây ra kìm hãm sự phát triển của xã hội. Trong giai đoạn hiện nay mặc dù Nhà nước ta đã có nhiều chính sách hỗ trợ để phát huy tối đa năng lực sáng tạo của cá nhân nhưng tình trạng này không phải đã hết. Điều này do những sai lầm trong chủ trương, chính sách của Nhà nước làm hạn chế, ngăn cản sự phát triển phong phú của nhu cầu, lợi ích cá nhân, làm suy giảm đáng kể sự tích cực sáng tạo của cá nhân. Có thể nói mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội tồn tại là một yếu tố khách quan. Để giải quyết mâu thuẫn này cần gắn lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, chúng ta không thể kêu gọi cá nhân hãy vì lợi ích tập thể mà cần thực hiện các biện pháp đấu tranh cụ thể; phải chống lại chủ nghĩa cá nhân, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, nhất là cá nhân cực đoan; đối với hàng ngũ cán bộ cần thực hiện các biện pháp như kê khai tài sản, thuyên chuyển cán bộ, thực hiện việc trưng cầu dân ý, v.v… 2.5. Mâu thuẫn giữa lợi ích của người lao động và lợi ích của người thuê lao động Mặc dù mục tiêu của chúng ta là xoá bỏ bóc lột, đảm bảo công bằng xã hội. Nhưng trong thời kỳ quá độ, chúng ta vẫn phải chấp nhận là có thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa trong cơ cấu kinh tế tức là chấp nhận có hình thức sở hữu và kinh doanh, có thuê mướn lao động và có bóc lột sức lao động. Do vậy nó chứa đựng mâu thuẫn giữa lợi ích của người lao động làm thuê và lợi ích của người thuê mướn lao động. Mâu thuẫn giữa lợi ích của người lao động và lợi ích của người thuê mướn lao động nằm trong hệ thống lợi ích kinh tế và nó là mâu thuẫn rất cơ bản và chủ yếu của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, diễn ra hết sức gay gắt và phức tạp. Ngày nay, các hình thức bóc lột công nhân không diễn ra một cách trắng trợn mà có nhiều biến tướng, chẳng hạn như trong các công ty cổ phần, công nhân có thể mua các cổ phần để được chia lợi nhuận của công ty theo tỷ lệ cổ phần mình mua, điều đó có nghĩa là - theo như lời của các nhà tư bản thì công nhân không hề bị bóc lột, họ cũng có vai trò tương đương với các nhà tư bản trong công ty. Nhưng trong thực tế, lượng cổ phần mà công nhân có chỉ rất nhỏ so với nhà tư bản, do vậy bản chất bóc lột lao động làm thuê của các nhà tư bản ở đây vẫn không hề thay đổi mà chỉ biến tướng theo dạng khác. Do vậy, trong giai đoạn hiện nay thì mâu thuẫn giữa lợi ích của người lao động và lợi ích của người thuê mướn lao động tồn tại khách quan cùng với sư tồn tại của thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa. Không có cơ sở để khẳng định rằng, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, hình thức kinh doanh có thuê mướn lao động ngày càng giảm đi. Và cũng là sai lầm nếu cho rằng, chỉ có thành phần kinh tế nhà nước và thành phần kinh tế hợp tác xã là phát triển theo định hướng XHCN và sẽ thay thế dần các thành phần kinh tế còn lại, theo tôi tất cả các thành phần kinh tế đều phát triển theo một định hướng duy nhất: định hướng XHCN. Để giải quyết được mối quan hệ có trên thì chúng ta phải kết hợp hài hoà giữa các lợi ích: lợi ích của người lao động, lợi ích của người thuê mướn lao động và lợi ích của Nhà nước. Nếu bất kỳ lợi ích nào bị vi phạm thì cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế. Nhà nước, bằng hệ thống pháp luật và những chính sách kinh tế- xã hội của mình vừa khuyến khích lợi ích chính đáng và tính sáng tạo của các nhà kinh doanh vừa hạn chế sự bóc lột người lao động và những tiêu cực trong hoạt động kinh doanh của họ. Thông qua công cụ thuế, và các khoản đóng góp khác, Nhà nước điều tiết lại thu nhập, phân bổ lại của cải xã hội, mở rộng, phát triển các chương trình xã hội. Thông qua hệ thống pháp luật Nhà nước buộc các cơ sở kinh doanh có những chính sách đãi ngộ thoả đáng đối với người lao động. 2.6. Mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế Các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta đều hoạt động trong cùng một hệ thống phân công lao động xã hội., không một thành phần kinh tế nào nằm ngoài hệ thống đó. Tuy nhiên, do lợi ích về kinh tế về cơ bản và lâu dài giữa các thành phần kinh tế là không giống nhau nên tất yếu phải nảy sinh những mâu thuẫn. Trong tình hình hiện nay, các chính sách của Nhà nước và hệ thống pháp luật còn thiếu và chưa đồng bộ, còn nhiều bất cập, cộng thêm những kinh nghiệm quản lý vi mô còn thiếu, vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế quốc doanh còn non kém, thành phần kinh tế tập thể chưa lớn mạnh cho nên những mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế còn biểu hiện mạnh mẽ, gay gắt. Mâu thuẫn giữa một bên là kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản Nhà nước với một bên là tính tự phát tư sản, tiểu tư sản của kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể. Biểu hiện ở việc kinh doanh của một số doanh nghiệp không lành mạnh, một số tiêu cực nẩy sinh như trốn thuế, khai man thuế, tình trạng sản xuất kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng còn nhiều; cạnh tranh không lành mạnh sẽ ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến nền sản xuất hàng hoá. Các loại mâu thuẫn nói trên diễn biến hết sức phức tạp, tồn tại và tác động lẫn nhau trong suốt thời kỳ quá độ. Do vậy để phát triển kinh tế một cách lành mạnh, theo định hướng XHCN thì cần phải có những biện pháp đồng bộ kịp thời, cần kết hợp hài hoà các lợi ích kinh tế của các thành phần kinh tế, đảm bảo sự công bằng bình đẳng giữa các thành phần kinh tế về quyền lợi cũng như nghĩa vụ tăng cường vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế quốc doanh. Đối với các doanh nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ nhiều có thể cho giải thể hoặc cho cổ phần hoá (kể cả những doanh nghiệp quốc doanh không đóng vai trò chủ chốt). Có chính sách ưu đãi thoả đáng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hướng hoạt động của các thành phần kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế cá thể theo định hướng chủ nghĩa xã hội, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 2.7. Mâu thuẫn giữa tính tự phát và tính tự giác trong sự phát triển kinh tế xã hội Hiện tại nền sản xuất của nước ta vẫn là một nền sản xuất nhỏ, trình độ kỹ thuật vẫn còn lạc hậu, do đó không thể tránh khỏi tính tự phát tư bản chủ nghĩa, và đặc biệt trong cơ cấu các thành phần kinh tế vẫn còn các thành phần kinh tế tư bản tư nhân, tư bản nhà nước do đó tính tự phát tư bản chủ nghĩa càng cao. Nếu để nền kinh tế phát triển một cách tự phát thì không thể thực hiện được các mục tiêu của CNXH. Ngược lại, cũng cần có sự nhận thức đúng đắn các xu thế, các quy luật khách quan của xã hội. Do vậy việc nhận thức đúng đắn sẽ có tác dụng to lớn, nhưng nếu sự nhận thức có sai lầm, nhất là trên bình diện quốc gia thì hậu quả thật khôn lường. Như vậy việc giải quyết mâu thuẫn giữa tính tự phát và sự tự giác là một nhiệm vụ cấp bách nhưng cũng đòi hỏi sự thận trọng rất lớn bởi lẽ sự mâu thuẫn này diễn ra rất phức tạp trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Không thể ngay một lúc mà ta có thể xoá bỏ hoàn toàn mọi hoạt động tự phát của con người và biến mọi hoạt động của con người thành hoạt động tự giác ngay được. Để khắc phục những hậu quả do mâu thuẫn này gây ra, cần từng bước nâng cao nhận thức của người dân về CNXH, về đường lối cách mạng mà Đảng và Nhà nước ta đang xây dựng, đồng thời cũng cần phải nâng cao năng lực nhận thức cũng như năng lực tổ chức, quản lý, phối hợp hoạt động trên bình diện xã hội.. 2.8.Mâu thuẫn giữa bình đẳng, công bằng xã hội với tình trạng bất bình đẳng, bất công trong xã hội Một trong những khuyết điểm của nền kinh tế thị trường là sự bất bình đẳng, bất công bằng xã hội, mặc dù mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là đảm bảo công bằng xã hội. Trong cơ chế cũ thì việc quan niệm không đúng về vấn đề bình đẳng xã hội đã gây ra sự yếu kém, trì trệ trong nền kinh tế. Xây dựng chủ nghĩa xã hội là đảm bảo xã hội công bằng, văn minh, nhưng nền kinh tế thị trường lại sản sinh ra những hiện tượng tiêu cực như: sự phân hoá giàu nghèo ngày càng sâu sắc, nạn thất nghiệp, tình trang bất công tiêu cực ngày càng gia tăng. Nhưng nếu chúng ta thực hiện đảm bảo công bằng xã hội thì những mặt tiêu cực đó cũng sẽ bị hạn chế và ít có biểu hiện rõ nét hơn. Bên cạnh việc đấu tranh cho bình đẳng xã hội, chúng ta vẫn phải chấp nhận có sự bất bình đẳng do yêu cầu khắt khe của quy luật thị trường. Theo xu hướng chung, thì sự bất bình đẳng cũng sẽ dần bị sự bình đẳng, công bằng xã hội phủ định, dần dần thay thế, nhưng trước mắt chúng ta chỉ phấn đấu thực hiện bình đẳng về cơ hội, còn về mặt hưởng thụ thì chỉ thực hiện bình đẳng ở một số nhu cầu cơ bản nhất rồi dần phát triển lên. 2.9. Mâu thuẫn giữa trình độ và năng lực thấp kém với yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của thị trường Nhìn chung, nước ta vẫn là một nước nghèo, nền kinh tế nước ta còn chậm phát triển, trình độ sản xuất vẫn còn thấp kém, nhỏ bé, sản phẩm làm ra chưa đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm nước ngoài. Trong khi đó nước ta lại là một nước có dân số đông và nhu cầu về vật chất và tinh thần của ngưòi dân ngày càng cao dẫn đến cung không thể đáp ứng đầy đủ cầu. Hơn nữa khả năng chiếm lĩnh thị trường của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế, chúng ta chưa có những sản phẩm chủ lực để xâm nhập vào các thị trường thế giới, chưa có nhiều kinh nghiệm làm ăn với các bạn hàng nước ngoài. Điều đó dẫn đến mẫu thuẫn trên là tất yếu khách quan, để giải quyết mâu thuẫn này thì, trước hết Nhà nước phải có những chính sách ưu đãi và hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc tìm đầu ra, đặc biệt là việc thâm nhập vào thị trường nước ngoài. Đối với bản thân các doanh nghiệp không nên trông chờ ỉ lại, mà phải linh hoạt trong việc ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới của thế giới vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và đặc biệt ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý, tìm hiểu thị trường, giới thiệu sản phẩm, v.v… Kết luận Mọi sự vật hiện tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hư._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docT0543.doc
Tài liệu liên quan