Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác tiền lương tại Công ty Cổ phần Bao bì & In Nông nghiệp

Tài liệu Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác tiền lương tại Công ty Cổ phần Bao bì & In Nông nghiệp: LỜI MỞ ĐẦU Kể từ khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi từ cơ chế cũ, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã mang lại nhiều thay đổi cho nền kinh tế nói riêng và đất nước nói chung. Sự thay đổi này đặt ra trước mắt các doanh nghiệp những thách thức mới cần phải vượt qua để đưa doanh nghiệp của mình thoát khỏi cơ chế cũ, bắt kịp với cơ chế thị trường vững bước đi lên và ngày một phát triển. Trong cơ chế thị t... Ebook Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác tiền lương tại Công ty Cổ phần Bao bì & In Nông nghiệp

doc62 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1556 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác tiền lương tại Công ty Cổ phần Bao bì & In Nông nghiệp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
rường dù là doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân đều phải tự hạch toán kinh doanh, lấy thu nhập bù đắp chi phí bảo đảm phải có lãi. Nhà nước không bao cấp, không bù lỗ. Các doanh nghiệp phải tự tìm kiếm thị trường tiêu thụ, quan tâm đến thị hiếu khách hàng, tìm nguồn cung ứng nhiên liệu, năng suất lao động để nâng cao khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường. Do vậy các doanh nghiệp còn lựa chọn được các hình thức, chế độ trả lương không những trả đúng, trả đủ cho người lao động mà còn làm cho tiền trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy mỗi người hăng say lao động. Việc các doanh nghiệp chọn hình thức trả lương hợp lý có thể tiết kiệm được chi phí về tiền lương mà vẫn kích thích được người lao động bởi khi tiền lương cao sẽ là động lực kích thích người lao động làm việc tốt hơn và giá trị thặng dư do lao động của họ đem lại là vô cùng lớn. Thực tế cho thấy việc xác định đơn giá tiền lương sản phẩm là rất phức tạp liên quan đến nhiều vấn đề kinh tế, kỹ thuật, như hệ thống các định mức lao động, định mức vật tư, đồng thời còn đòi hỏi phải thay đổi do biến động giá cả, máy móc thiết bị..., một mặt, một số công tác như phục vụ nơi làm việc, kiểm tra chất lượng sản phẩm cũng là nội dung không thể thiếu được trong bảo đảm cho công tác trả lương được thực hiện tốt. Trong công tác tiền lương, nhiều doanh nghiệp dựa vào các hình thức, chế độ trả lương của nhà nước để tìm ra những phương pháp trả lương mới, đảm bảo việc phân phối công bằng phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp, đồng thời phát huy tối đa vai trò đòn bẩy kinh tế của tiền lương. Vì vậy không ngừng hoàn thiện các hình thức và chế độ trả lương là một yêu cầu khách quan. Qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Bao bì và In Nong nghiệp sau khi tìm hiểu các vấn đề em nhận thấy công tác tiền lương là cần thiết hơn cả. Tuy công ty đã sử dụng các hình thức và chế độ trả lương hợp lý nhưng vẫn chưa thực chặt chẽ, nhất là các biện pháp hỗ trợ để đảm bảo cho công tác tiền lương được thực hiện tốt. Từ những kiến thức đã học dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn em đã chọn chuyên đề: "Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác tiền lương tại Công ty Cổ phần Bao bì và In Nông nghiệp". Bố cục của chuyên đề tốt nghiệp ngoài phần mở đầu và kết luận bao gồm 3 phần chính: Chương I: Tổng quan về Công ty Cổ phần Bao bì và In Nông nghiệp Chương II: Thực trạng công tác tiền lương tại Công ty Cổ phần Bao bì và In Nông nghiệp Chương III: Các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác tiền lương tại Công ty Cổ phần Bao bì và In Nông nghiệp CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN BAO BÌ VÀ IN NÔNG NGHIỆP 1.1. Quá trình hình thành và phát triển Công ty Cổ phần Bao bì và In Nông nghiệp. Công ty Cổ phần Bao bì và In Nông nghiệp tiền thân là một Xưởng in vẽ bản đồ được thành lập năm 1969 với nhiệm vụ là thiết kế, vẽ bản đồ bằng tay phục vụ cho nhu cầu của Nhà nước. Năm 1970, cơ sở được đổi tên thành Xưởng in vẽ bản đồ và không ảnh 1. Ngoài việc vẽ bản đồ cho nhà nước, Xưởng còn in các giấy tờ quản lý kinh tế và các loại tem nhãn hàng hóa. Năm 1983, xưởng được đổi tên thành Xí nghiệp in Nông nghiệp 1 trực thuộc Bộ nông nghiệp theo Quyết định 150NN-TC/QĐ ngày 12/05/1983 với nhiệm vụ là in các tài liệu, sách cho ngành và các nhà xuất bản khác. Năm 1993, Xí nghiệp in nông nghiệp 1 được đổi tên thành Xí nghiệp in Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, theo Quyết định 120NN-TCCP/QĐ. Cùng với việc đổi tên, Xí nghiệp đã xác định lại định hướng phát triển, tập trung vào in bao bì và tem nhãn hàng hóa. Năm 2002, Xí nghiệp được đổi tên thành Công ty in Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm trực thuộc Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn theo Quyết định 19/2002/BNN-TCCB/QĐ. Ngày 01/07/2004, Công ty chuyển đổi thành Công ty Cổ phần Bao bì và In Nông nghiệp theo Quyết định QĐ686 ngày 22/03/2004 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn với vốn điều lệ là 27 tỷ đồng, trong đó nhà nước nắm giữ 25%. Tên tiếng Việt : CÔNG TY CỔ PHẦN BAO BÌ VÀ IN NÔNG NGHIỆP Tên tiếng Anh: AGRICULTURE PRINTING AND PACKAGING JOINT STOCK COMPANY Trụ sở chính : Số 72, Đường Trường Chinh, Phường Phương Mai, Quận Đống Đa, Thành Phố Hà Nội Điện thoại : 04-6840095 Fax : 04-6840095 Theo Giấy đăng ký kinh doanh số 0103004779, thay đổi lần thứ nhất ngày 22/09/2005, các lĩnh vực hoạt động kinh doanh chính của APP bao gồm: - In bản đồ, sách báo, văn hoá phẩm, tem nhãn bao bì và các tài liệu phục vụ cho sự phát triển ngành nông nghiệp và các ngành công nghiệp khác; - Kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư thiết bị ngành in; - In tem nhãn bao bì, sách, báo, văn phòng phẩm; - Kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư thiết bị ngành in và các dịch vụ liên quan đến ngành in; - Thiết kế tạo mẫu in, dịch vụ quảng cáo thương mại, in sang băng đĩa hình (chỉ kinh doanh in sang băng đĩa hình, được Nhà nước cho phép); - Dịch vụ đo đạc địa hình, khảo sát các công trình xây dựng; - Kinh doanh khách sạn, nhà hàng ăn uống. Kinh doanh du lịch lữ hành nội địa và các dịch vụ phục vụ khách du lịch (không bao gồm kinh doanh phòng hát karaoke, vũ trường, quán bar); - Kinh doanh bất động sản và văn phòng cho thuê.(Doanh nghiệp chỉ kinh doanh khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật). Trải qua hơn 30 năm hoạt động, với ưu thế về đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân có tay nghề cao được đào tạo chính quy ở trong và ngoài nước; hệ thống thiết bị hiện đại, thường xuyên được đổi mới, Công ty luôn đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong và ngoài nước theo những tiêu chuẩn khắt khe nhất về chất lượng sản phẩm và dịch vụ tư vấn bao bì nhãn mác. Công ty là đơn vị có uy tín nhất in trên màng nhôm cuộn ở thị trường phía Bắc với các khách hàng lớn như Traphaco, Dược Hà Tây, Dược Nam Hà, xí nghiệp dược TW1… Công ty còn là nhà cung cấp bao bì cho Công ty Thuốc lá Thăng Long, Công ty Thuốc lá Bắc Sơn, Công ty cổ phần Bóng đèn phích nước Rạng Đông. Chính nhờ những nỗ lực và cố gắng của tập thể Ban lãnh đạo và CBCNV, Công ty đã được vinh dự trao tặng: Huân chương Lao động Hạng 3 năm 1996. Huân chương Lao động Hạng 2 năm 2002 cùng nhiều cờ thi đua bằng khen khác của Chính phủ và Thành phố. 1.2. Hệ thống tổ chức bộ máy. Sơ đồ 1.1: bộ máy tổ chức của công ty. Đại hội đồng cổ đông: Bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Pháp luật và Điều lệ Công ty. Hội đồng Quản trị: Là cơ quan quản lý Công ty do Đại hội đồng Cổ đông bầu ra, có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định mọi vấn đề quan trọng liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng Cổ đông. Hội đồng Quản trị có quyền và nghĩa vụ giám sát Giám đốc điều hành và những người quản lý khác trong Công ty. Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng Quản trị do Pháp luật và Điều lệ Công ty, các Quy chế nội bộ của Công ty và Nghị quyết Đại hội đồng Cổ đông quy định. Ban Kiểm soát: Là cơ quan do Đại hội đồng Cổ đông bầu ra, có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong hoạt động quản lý của Hội đồng Quản trị, hoạt động điều hành kinh doanh của Giám đốc; trong ghi chép sổ kế toán và báo cáo tài chính. Ban kiểm soát hoạt động độc lập với Hội đồng Quản trị và Giám đốc. Ban Giám đốc: Giám đốc là người điều hành, quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của Công ty, chịu trách nhiệm trước Hội đồng Quản trị về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao. Các Phó Giám đốc giúp việc Giám đốc và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về các nội dung công việc được phân công, chủ động giải quyết những công việc đã được Giám đốc ủy quyền theo quy định của Pháp luật và Điều lệ Công ty. Các phòng nghiệp vụ: Phòng Tổ chức Hành chính: có chức năng tham mưu giúp Giám đốc chỉ đạo và tổ chức thực hiện các công tác: tổ chức bộ máy, cán bộ; tuyển dụng, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; lao động tiền lương, thi đua, khen thưởng, kỷ luật; kiểm tra an toàn - bảo hộ lao động, thực hiện chế độ chính sách với người lao động; quản trị hành chính Văn phòng Công ty… Phòng Kế toán Tài chính: có chức năng tham mưu giúp Giám đốc chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác phân tích, hoạch định và kiểm soát tài chính kế toán trên phạm vi toàn Công ty; chấp hành thực hiện đầy đủ theo đúng các chế độ và quy định của nhà nước trong quản lý vốn và tài sản tại doanh nghiệp; tổ chức, quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn và tài sản của Công ty trong sản xuất kinh doanh; kế toán toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty bằng việc thu nhận, xử lý kịp thời, chính xác các nghiệp vụ kinh tế có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh; tổ chức công tác kế toán theo chuẩn mực kế toán VN do bộ Tài chính ban hành; lập các báo cáo quyết toán tài chính quý, năm theo quy định của Nhà nước và của Công ty; tổ chức công tác kiểm kê tài sản, nguồn vốn theo định kỳ; tổ chức và quản lý các nguồn vốn đầu tư, chi phí đầu tư của Công ty; kết hợp với các đơn vị thi công và Phòng Kế hoạch kỹ thuật trong tổ chức thu tiền bán hàng, thu hồi công nợ và lập kế hoạch thanh toán nợ phải trả. Phòng Kinh doanh: có chức năng tham mưu giúp Giám đốc chỉ đạo và tổ chức thực hiện các công tác: xây dựng quy hoạch, kế hoạch dài hạn, trung hạn, hàng năm về đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật; quản lý đầu tư xây dựng cơ bản; quản lý khai thác hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật; quản lý kỹ thuật an toàn; kiểm tra, giám sát chất lượng sản phẩm và nguyên liệu, phôi hợp các phòng sản xuất để xử lý các khiếu nại của khách hàng, duy trì, cải tiến toàn bộ hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000, môi trường và từng giai đoạn phát triển. Phòng kinh doanh là đầu mối đàm phán, ký kết các hợp đồng kinh tế, nhận đặt in và tư vấn in, marketing tìm kiếm nguồn hàng, cung ứng vật tư thiết bị in và xuất nhập khẩu vật tư, quản lý kho hàng và đội xe. Phòng Kỹ thuật Sản xuất: có chức năng tham mưu đề xuất cho Giám đốc và triển khai các giải pháp công nghệ, đổi mới quy trình kỹ thuật; phối hợp với phòng kinh doanh chào hàng các sản phẩm dịch vụ tiềm năng; tiếp nhận các đơn hàng từ phía phòng kinh doanh, thực hiện thiết kế mẫu mã, chế phim bình bản, thiết kế phương án kỹ thuật; theo dõi và kiểm tra chất lượng sản phẩm từ xưởng sản xuất. Xưởng Sản xuất: có chức năng quản lý bố trí sắp xếp nhân lực vật tư, tổ chức sản xuất theo thiết kế mẫu mã đã được thông qua, đảm bảo trả hàng đúng yêu cầu về số lượng, chất lượng và thời gian. Tổ Cơ điện: là bộ phận chuyên trách lắp đặt, sửa chữa, bảo trì hệ thống máy móc điện năng cho toàn Công ty, đảm bảo cho các máy móc thiết bị được bảo quản vận hành tốt, hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục. Tổ Phân cấp sản phẩm: có chức năng phân loại sản phẩm, đảm bảo giao cho khách hàng những sản phẩm đạt yêu cầu chất lượng. Công ty hoạt động trong lĩnh vực in ấn và sản xuất bao bì, khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệp nên việc đặt hàng, giao hàng được thực hiện trực tiếp với Phòng Kinh doanh của Công ty. Công ty không có chi nhánh cũng như cửa hàng, đại lý. 1.3. Kết quả sản xuất kinh doanh BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH NĂM 2005-2006 VÀ QUÝ III 2007 Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2005-2007 Đơn vị: VNĐ STT Chỉ tiêu 31/12/2005 31/12/2006 30/09/ 2007 1 Tổng giá trị tài sản 39.873.886.804 56.619.358.891 75.751.606.451 2 Doanh thu thuần 51.279.248.038 57.108.245.453 53.391353.376 3 Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh 4.807.435.675 7.057.827.975 6.113.858.484 4 Lợi nhuận khác 1.330.128.341 18.824.402 14.318.337 5 Lợi nhuận trước thuế 6.137.564.016 7.076.652.377 6.128.176.821 6 Thuế TNDN 0 758.292.000(1) 465.734.293 7 Lợi nhuận sau thuế 6.137.564.016 6.318.360.377 5.662.442.528 8 Vốn điều lệ 27.000.000.000 27.000.000.000 27.000.000.000 9 Tỷ lệ LNST/vốn điều lệ (% năm) 22,73 23,40 20,97(2) 10 Tỷ lệ lợi nhuận trả cổ tức (%) 43,99 59,82 - 11 Tỷ lệ cổ tức (%) 10 14 - (Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần Bao bì và In nông nghiệp đã được kiểm toán năm 2005-2006 và báo cáo tài chính Quý III năm 2007) (1) Khoản chi phí thuế TNDN là phần thuế đã nộp tính trên lợi nhuận thực hiện 6 tháng cuối năm 2004. Công ty được cổ phần hoá ngày 01/07/2004 và được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 02 năm kể từ năm bắt đầu kinh doanh có lãi sau khi cổ phần hoá và giảm 50% trong 03 năm tiếp theo. Công ty đã lựa chọn để được miễn 100% thuế TNDN năm 2005, 2006 và giảm 50% thuế TNDN năm 2007 , 2008 và 2009. Thuế TNDN 6 tháng cuối năm 2004 chưa được ghi nhận được tính vào chi phí thuế TNDN của năm 2006. (2) Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế/vốn điều lệ được tính cho 9 tháng. Năm 2007, Công ty được giảm 50% đối với phần thuế TNDN còn lại do chuyển đổi hình thức và được miễn 100% thuế TNDN do tài sản đầu tư mới đem lại theo Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư số 120/GP-UB do Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hà nội cấp ngày 31/10/2005. Theo đó, thuế TNDN của Công ty sẽ được tính theo công thức sau (dựa trên Phần E, Mục III, Điểm 3 của Thông tư 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003): Thuế TNDN = Lợi nhuận trước thuế x (1 - Nguyên giá TSCĐ tăng thêm trong dự án đầu tư ) x 14% Tổng nguyên giá TSCĐ cuối năm Ước tính thuế TNDN cho 6 tháng đầu năm là: = 4.588.437.261 x (1- 27.624.703.274 )x 14% 60.160.840.492 = 4.588.437.261 x 54,08% x 14% = 347.399.761 đ Ước tính thuế TNDN cho Quý 3 là: = 1.539.739.560 x (1- 27.409.253.367 ) x 14% 60.768.240.585 = 1.539.739.560 x 54.90% x 14% = 118.334.532 đ Thuế TNDN được kê khai hàng quý trên cơ sở tiến độ thực hiện dự án đầu tư. Do đó, thuế TNDN ước tính cho 9 tháng đầu năm là: = 347.399.761 + 118.334.532 = 465.734.293 đ Năm 2006 là năm thứ hai kể từ khi Công ty chuyển sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần, cơ cấu tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh đã được chuyển đổi theo hướng linh hoạt và hiệu quả hơn. Đây cũng là năm Công ty gặp nhiều khó khăn về thị trường: giá nguyên liệu đầu vào tăng mạnh, thị trường tiêu thụ ngày càng cạnh tranh gay gắt. Tuy nhiên kết quả kinh doanh của Công ty vẫn khả quan và tăng trưởng tốt. Năm 2006, Công ty đạt mức doanh thu 57 tỷ đồng, tăng 11,3% so với năm 2005. Lợi nhuận trước thuế tương ứng đạt 7,076 tỷ đồng, tăng 15,3% so với năm 2005. Sự tăng trưởng của Công ty tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh trong năm 2007, với doanh thu thuần đến hết Quý III là 53,4 tỷ đồng. Tỷ lệ lợi nhuận trước thuế trên doanh thu của Công ty cũng thể hiện xu hướng tăng mặc dù giá nguyên liệu đầu vào gia tăng. Điều này là do Ban lãnh đạo Công ty có các biện pháp tiết kiệm chi phí hiệu quả như tinh giảm bộ phận hành chính, giảm bớt các khâu trung gian, phối hợp nhịp nhàng các khâu sản xuất để nâng cao năng suất lao động. 1.4. Các đặc điểm kinh tế - kỹ thuật chủ yếu của Công ty Cổ phần Bao bì và In Nông nghiệp ảnh hưởng đến công tác tiền lương. 1.4.1. Đặc điểm về lĩnh vực, nhiệm vụ kinh doanh. 1.4.1.1. Khách hàng Các hợp đồng của Công ty được phân thành hai nhóm: Nhóm hợp đồng nguyên tắc Nhóm hợp đồng cụ thể Công ty thường ký hợp đồng nguyên tắc với các khách hàng lớn và thường xuyên như: Công ty thuốc lá Thăng Long, Công ty Thuốc lá Bắc Sơn, Công ty thuốc lá Thanh Hoá, Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Hà, Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Châu, Công ty cổ phần Bóng đèn phích nước Rạng Đông, Công ty cổ phần Dược Traphaco... Hàng tháng, hàng quý, khách hàng gửi đơn đặt hàng tới Công ty để thực hiện theo khối lượng phát sinh của từng tháng. Với các khách hàng theo thời điểm hoặc khối lượng không nhiều, Công ty sẽ ký hợp đồng cụ thể theo từng đợt. Bảng 1.2: Một số khách hàng có hợp đồng lớn trong năm 2006 STT Tên khách hàng 1 Công ty Thuốc lá Thăng Long 2 Công ty cổ phần Bóng đèn phích nước Rạng Đông 3 Công ty cổ phần Dược Traphaco 4 Công ty Thuốc lá Bắc Sơn (Nguồn: Công ty cổ phần Bao bì và In nông nghiệp) Bảng 1.3: Một số khách hàng chính của Công ty STT Tên khách hàng Loại hợp đồng thực hiện 1 Công ty Thuốc lá Thăng Long Hợp đồng thường xuyên 2 Công ty Thuốc lá Thanh Hóa Hợp đồng thường xuyên 3 Công ty Thuốc lá Bắc Sơn Hợp đồng thường xuyên 4 Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Hà Hợp đồng thường xuyên 5 Công ty cổ phần Bóng đèn phích nước Rạng Đông Hợp đồng thường xuyên 6 Công ty cổ phần Dược Traphaco Hợp đồng thường xuyên 7 Công ty Pentax Việt Nam Hợp đồng thường xuyên 8 Công ty liên doanh HAIHA – KOTOBUKI Hợp đồng thường xuyên 9 Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Châu Hợp đồng thường xuyên 10 Công ty cổ phần Dược phẩm Hà Tây Hợp đồng thường xuyên 11 Công ty cổ phần Dược phẩm TƯ Mediplantex Hợp đồng thường xuyên 12 Công ty cổ phần Dược phẩm TƯ3 Hợp đồng thường xuyên 13 Xí nghiệp Dược TƯ1 Hợp đồng thường xuyên 14 Công ty cổ phần Nước khoáng Vital Hợp đồng thường xuyên 15 Công ty cổ phần Dược và Vật tư Thú y Hợp đồng thường xuyên 16 Công ty Dược Nam Hà Hợp đồng thường xuyên 17 Công ty Dược phẩm Trường Thọ Hợp đồng thường xuyên Nguồn: Công ty cổ phần Bao bì và In nông nghiệp 1.4.1.2. Sản phẩm của Công ty và tình hình cạnh tranh trên thị trường. Sản phầm và dịch vụ chủ yếu của Công ty được chia thành hai nhóm sau: Các mặt hàng in ấn In tờ rơi, tờ gấp, tạp chí, tem nhãn, Catalogue, bao bì hộp trên các chất liệu giấy, bìa và giấy phủ nhôm, đề can, đề can nhựa, hộp carton sóng E (bìa làm hộp có một lớp bìa sóng ở giữa). Công ty nhận in cho các mặt hàng chủ yếu như bao thuốc lá, bóng đèn, hộp thuốc tân dược, bánh kẹo, chè rượu… Chế bản Flexo (chế bản cho khổ lớn) cho các đơn vị in khác. Sản xuất màng nhôm ép vỉ cho ngành dược. Thiết kế tạo mẫu cho các sản phẩm in: Tư vấn bao bì nhãn mác cho sản phẩm Cung cấp vật tư thiết bị liên quan đến ngành in bao gồm giấy in các loại, mực in, vật tư ngành in, phế liệu ngành in như bản nhôm đã qua in, giấy lề. Các nhóm sản phẩm và doanh thu trong năm 2006 - Nhãn, bao bì thuốc lá : 24,2 tỷ - Bao bì bóng đèn : 7,9 tỷ - Bao bì giấy sản phẩm dược : 7,5 tỷ - Bao bì hàng nhôm, ép vỉ thuốc : 5,4 tỷ - Bao bì thực phẩm : 3,7 tỷ - Nhãn đồ giải khát : 3,85 tỷ - Nhóm hàng khác : 4,55 tỷ Tổng cộng: : 57,1 tỷ Trong đó hàng xuất khẩu và phục vụ cho xuất khẩu là 14,85 tỷ, chiếm 26,0% tổng doanh thu. 1.4.2. Đặc điểm về quy trình công nghệ. Cùng với thời gian ngành in nói chung và Công ty in nói riêng đã chứng kiến nhiều sự thay đổi của mình. Ngành in đã cho ra những sản phẩm in ấn có chất lượng ngày càng cao mẫu mã cũng ngày một phong phú. Để thích nghi với sự thay đổi liên tục của môi trường, công ty liên tục đầu tư máy móc thiết bị phục vụ cho quá trình sản xuất.Vì thế năng suất lao động của công nhân ngày một tăng cao. Công nghệ in chia làm 3 giai đoạn trước in, in và hoàn thiện. - Giai đoạn trước in bao gồm: Thiết kế lên phim, rửa phim, bình trang, phơi bản và các công việc khác cho tới khi được 1 bản kẽm. - Giai đoạn in là phần việc từ bản kẽm cộng với công nghệ và ra sản phẩm. - Giai đoạn hoàn thiện là công việc dỡ đếm, gấp, xếp, cắt, xén, khâu, đóng thành sách. Công nghệ in có nhiều loại trong đó có 2 dạng phổ biến tại Công ty là Typô và Offset. - Phương thức in Typô: Công nhân sắp chữ chì theo từng trang giấy của bản thảo. Các con chữ với các font chữ, kích thước khác nhau được sắp liền nhau trong một khay. Xát mực lên khay chữ, trải giấy lên trên các chữ sẽ hằn lên trên giấy. - Phương thức in Offset: Bản thảo sau công đoạn sắp chữ sẽ được in ra giấy rồi chuyển thành phim hoặc in lên giấy bản mờ. Sau đó chồng phim lên bản kẽm có phủ một lớp hoá chất bắt ánh sáng, đem đến rọi lên trên. ánh sáng sẽ tác động đến hoá chất ở những chỗ không có con chữ. Sau khi rửa kẽm chỗ có chữ sẽ có thuốc nên cao hơn, cứng hơn những chỗ khác. Sau quá trình rửa thêm nước xút phần diện tích đầu mặt chữ sẽ có tác dụng hút mực, đẩy nước chỗ thấp hơn sẽ hút nước đẩy mực. Sau đó gắn bản kẽm lên máy in và in ra giấy. Như vậy giữa 2 phương thức in thì Typô người công nhân sẽ rất vất vả, quá trình làm việc phải thường xuyên tiếp xúc với con chữ chì rất có hại cho sức khoẻ. Ngoài ra, nếu một bát chữ mà lỡ bị xô, bị đổ các con chữ chì bị lệch đi là phải sắp lại từ đầu. Khi sửa lỗi chính tả thường sửa lỗi chính tả 3 lần vì phải dàn xếp xô đẩy các con chữ cho đến khi ổn định về mặt diện tích. Điều này rất ảnh hưởng đến năng suất lao động, ý thức được điều đó công ty đã chuyển từ Typô sang in hoàn toàn bằng Offset. Nếu như trước đây người công nhân phải mất trọn ngày mới sắp được 2-3 trang truyện khổ 13x19 thì bây giờ với lượng thời gian như vậy có thể hoàn thành gấp 3-4 lần khối lượng công việc. - Bộ phận chế bản công ty được trang bị 3 máy vi tính, 1 máy quét chuyên dụng, 1 máy phơi. Với công nghệ chế bản điện tử 3 công đoạn bao gồm: + Máy quét phẳng với phần mềm chuyên dụng đi kèm cho phần nhập liệu. + Máy tính để xử lý ảnh, ghép chữ, thao tác hình hoạ, tạo các hiệu ứng như mong muốn. + Cuối cùng là cụm máy xuất phim chuyên dụng. Công nghệ sản xuất ngày một hiện đại đã từng bước đưa mức sản lượng trang in tăng lên qua các năm. Bảng 1.4: Mức sản lượng trang in tăng qua các năm. Đơn vị: Triệu trang in Năm Sản lượng trang in hoàn thành qua các năm Mức tăng so với năm trước (%) 2004 740 - 2005 960 28 2006 1900 98 2007 2860 50 Nguồn: Báo cáo tài chình Công ty Cổ phần Bao bì và In Nông nghiệp 1.4.3. Đặc điểm về cơ sở vật chất và trang thiết bị. Trong nhiều năm qua, Công ty Cổ phần Bao bì và In nông nghiệp luôn thuộc nhóm 4 doanh nghiệp ngành in tem nhãn hàng đầu của miền Bắc và dẫn đầu về trình độ công nghệ hiện đại và sức cạnh tranh trên thị trường. Công ty bắt đầu bước sang giai đoạn mới để vươn ra thị trường khu vực và thế giới, đón nhận các hợp đồng gia công cho nước ngoài có giá trị cao về kinh tế. Các ưu thế nổi trội của Công ty được thể hiện thông qua các mặt sau: - Kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vực in bao bì, việc chế phim được chuẩn hóa cho từng loại sản phẩm. - Chế khuôn bế cho các sản phẩm yêu cầu độ chính xác cao về hình học, từ đơn giản đến phức tạp, đáp ứng cho các dây chuyền đóng gói tự động: thuốc lá, dược phẩm… - Có thể xuất phim từ các file số của tất cả các phần mềm đồ họa hiện có trên thế giới. - Dây chuyền máy móc hiện đại được nhập khẩu từ Đức, Thụy Sỹ…; đội ngũ nhân viên kỹ thuật có tay nghề cao và năng lực sản xuất đạt tới 2 tỷ trang in 13x19 trong 1 năm. - Có thể hoàn thành các đơn đặt hàng lớn, phức tạp trong thời gian ngắn nhất với chất lượng hoàn hảo, trên mọi chất liệu. Là một công ty in chuyên về sản xuất bao bì, Công ty có hệ thống máy móc chuyên dụng, khép kín từ khâu cắt xén, bế hộp, ép nhũ, cán láng, dán hộp…có thể đáp ứng các nhu cầu khắt khe nhất của khách hàng. Bảng 1.5: Một số máy móc thiết bị hiện đại của Công ty Đơn vị: VNĐ STT Máy móc thiết bị Năm sử dụng Nguyên Giá 1 Máy in Flexo Kdo 260 (6 màu UV) 2006 5.645.000.000 2 Máy in Flexo Galus 6 màu UV 2004 15.415.646.682 3 Máy in Heizeberg (1 màu) 2003 1.469.658.450 4 Máy in Heizeberg (1 màu) 2003 2.186.406.260 5 Máy in Manroland UV ( 2 màu) 2003 2.892.128.850 6 Máy in Manroland (2 màu) 2003 2.893.907.400 7 Máy bế TQ MW1050 2002 1.484.742.394 Nguồn: Công ty Cổ phần Bao bì và In Nông nghiệp. Máy in Flexo nhập mới nguyên chiếc từ Đức của hãng Galus và KDO, Nhà cung cấp máy in hàng đầu thế giới. Ưu điểm nổi trội của máy in Flexo như sau: - Dây chuyền khép kín từ khâu đưa giấy cuộn vào hệ thống đến khâu cắt bế thành sản phẩm. - Đầu ra sản phẩm đa năng có thể là dạng nhãn, tờ rơi hoặc dạng cuộn thích hợp cho các dây chuyền đóng gói tự động phía sau. - Công nghệ in 6 màu, in nổi, phủ bong véc ni, in trên nhiều loại vật liệu khác nhau tạo ra các sản phẩm đa dạng phong phú cạnh tranh được với các sản phẩm in ở các nước có công nghệ in tiên tiến trên thế giới. - Công suất 500.000 vỏ hộp/ ca máy (sản phẩm chủ yếu là vỏ hộp thuốc lá, vỏ hộp thuốc dược phẩm, các loại màng nhôm, đề can cuộn) - Tiêu hao nguyên liệu ít. - Đảm bảo yếu tố môi trường theo tiêu chuẩn Châu Âu (do việc sử dụng mực in có nguồn gốc thực vật) Trình độ tự động hóa cao thông qua việc sử dụng ít lao động trong một ca làm việc: 5 công nhân với công suất in 500.000 vỏ hộp/ca máy so với in ấn theo truyền thống với 15-20 công nhân và công suất in đạt tối đa 300.000 vỏ hộp/ca máy. Với dây chuyền đồng bộ trên, Công ty có thể đáp ứng được các nhu cầu về in cho các dây chuyền đóng gói tự động như dầu ăn, thuốc lá, bánh kẹo, bia, rượu, dược phẩm… Tuy nhiên máy móc thiết bị càng hiện đại thì trình độ tay nghề của công nhân cũng cần phải nâng cao để phù hợp với quy trình công nghệ và công tác tiền lương cũng cần thay đổi cho phù hợp với nguyên tắc trả lương theo số lượng và chất lượng lao động. 1.4.4. Đặc điểm về lao động. Tổng số lao động tại thời điểm 30/04/2007 của Công ty là 145 người. Trong đó: - Phân theo loại hình lao động: +Lao động trực tiếp : 113 người chiếm 78% +Lao động gián tiếp : 32 người chiếm 22% -Phân loại theo trình độ lao động +Đại học : 31 người, chiếm 21%. +Cao đẳng : 7 người, chiếm 5%. +Trung cấp, CN kỹ thuật : 107 người, chiếm 74%. * Tóm lại, qua những đặc điểm nêu trên có thể thấy được những thuận lợi và khó khăn của công ty trên bước đường trưởng thành và phát triển. Thuận lợi: Công ty có một đội ngũ lãnh đạo trưởng thành từ cơ sở được đào tạo cơ bản, dày dạn kinh nghiệm qua nhiều lần thử thách, có năng lực và phẩm chất tốt, có trình độ khoa học kỹ thuật và quản lý, đoàn kết xây dựng công ty. Đặc biệt là nói đến đồng chí giám đốc công ty - ông là một nhà lãnh đạo tốt, biết tập hợp và sử dụng năng lực của những người dưới quyền để làm tốt công việc được giao và do đó hoàn thành tốt những nhiệm vụ mà công ty đặt ra, mặt khác công ty không những nâng cao uy tín bằng chất lượng sản phẩm đối với khách hàng. Điều này được thể hiện bằng số lượng khách hàng và một số doanh nghiệp thường xuyên ký hợp đồng kinh tế với công ty. Nắm bắt và phát huy những lợi thế đó là những thuận lợi cơ bản, là thế mạnh công ty vươn lên đứng vững trong cơ chế thị trường. Khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi nêu trên công ty còn gặp phải một số khó khăn sau đây: Về công tác cán bộ công ty có chính sách đổi mới cán bộ lãnh đạo và quản lý. Mặt tích cực là lớp trẻ có trình độ, có kiến thức kinh tế thị trường và thích ứng được với cơ chế này, song hạn chế ở chỗ họ lại không có kinh nghiệm chưa được va chạm nhiều với thực tế nên còn lúng túng trong công việc công ty cần có chính sách về thuyên chuyển và đề bạt đào tạo và đào tạo cán bộ hợp lý nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa lớp cán bộ cũ và lớp người kế cận thứ hai là về mặt lao động. Công ty tiến hành tuyển dụng lao động trẻ vào làm việc song tay nghề của họ còn thấp chưa đáp ứng được vì thế việc điều động lao động còn gặp khó khăn. Đó là những khó khăn về công tác nhân sự về công ty. 1.4.5. Bộ máy quản lý của doanh nghiệp. - Chủ tịch Hội đồng Quản trị: Ông Nguyễn Thành Nam Ngày, tháng, năm sinh : 10/02/1958 Địa chỉ thường trú : P604, D3, Tập thể Bộ Nông nghiệp, Đống Đa, Hà Nội Trình độ chuyên môn : Cử nhân kinh tế, Kỹ sư in bản đồ Chức vụ công tác hiện nay : Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc - Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị: Ông Vũ Hồng Tuyến Ngày, tháng, năm sinh : 03/09/1959 Địa chỉ thường trú : P2, Tập thể Xí nghiệp In Nông nghiệp, Phương Mai, Hà Nội Trình độ chuyên môn : Kỹ sư in bản đồ; Tốt nghiệp các khoá đào tạo sau: (i) quản lý và sử dụng máy in offset (Cộng hoà Liên bang Đức – 1988); (ii) Quản lý và sử dụng máy in Flexo (Malaysia – 2003); (iii) Lớp cán bộ quản lý cao cấp của Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam 2006. Chức vụ công tác hiện nay : Phó Giám đốc, Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị - Uỷ viên Hội đồng Quản trị: Bà Trần Thị Thanh Vân Ngày, tháng, năm sinh : 15/12/1954 Địa chỉ thường trú : Số 72, Đường Trường Chinh, Đống Đa, Hà Nội Trình độ chuyên môn : Cử nhân Kinh tế Chức vụ công tác hiện nay : Kế toán trưởng -. Uỷ viên Hội đồng Quản trị: Bà Lê Diễm Thanh Ngày, tháng, năm sinh : 10/11/1963 Địa chỉ thường trú : P304, I3, Khu Tập thể Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội Trình độ chuyên môn : Kỹ sư Chức vụ công tác hiện nay : Trưởng phòng Kinh doanh - Uỷ viên Hội đồng Quản trị: Ông Đặng Trường Giang Ngày, tháng, năm sinh : 05/07/1970 Địa chỉ thường trú : P106, Nhà C9, Quỳnh Mai, Hà Nội Trình độ chuyên môn : Kỹ sư Thiết bị điện Chức vụ công tác hiện nay : Uỷ viên HĐQT Công ty cổ phần Bao bì & In Nông nghiệp - Trưởng Ban kiểm soát: Ông Dương Như Tùng Ngày, tháng, năm sinh : 16.11.1946 Địa chỉ thường trú : Số 10, Ngõ 192, đường Giải phóng, Phương Liệt, Thanh Xuân, Hà Nội Trình độ chuyên môn : Chuyên viên Chức vụ công tác hiện nay : Trưởng ban Kiểm soát -. Thành viên Ban kiểm soát: +Ông Nguyễn Quang Lộc Ngày, tháng, năm sinh : 12/09/1958 Quê quán : Tổ 6, Phường Lĩnh Nam, Quận Hoàng Mai, Hà Nội Trình độ chuyên môn : Thợ bậc 6 Chức vụ công tác hiện nay : Thành viên Ban kiểm soát +Bà Phạm Thị Phúc Ngày, tháng, năm sinh : 16/04/1962 Địa chỉ thường trú : Số 15, Tổ 12, Phường Phương Liệt, Thanh Xuân, Hà Nội Trình độ chuyên môn : Cử nhân Kinh tế Chức vụ công tác hiện nay : Thành viên Ban Kiểm soát Số cổ phần nắm giữ của các thành viên Ban lãnh đạo tại thời điểm 31/05/2007: Bảng 1.6: Danh sách các thành viên Ban lãnh đạo nắm giữ cổ phiếu Công ty STT Ban lãnh đạo Số cổ phần nắm giữ Tỷ lệ sở hữu (%) 1 Nguyễn Thành Nam(*) 140.600 5,21 2 Vũ Hồng Tuyến 72.600 2,69 3 Trần Thị Thanh Vân 73.000 2,70 4 Lê Diễm Thanh 26.500 0,98 5 Đặng Trường Giang 100.000 3,70 6 Dương Như Tùng 36.800 1,36 7 Nguyễn Quang Lộc 93.900 3,48 8 Phạm Thị Phúc 35.000 1,30 TỔNG 578.400 21,42 (Nguồn : Công ty cổ phần Bao bì và In nông nghiệp chốt tại ngày 31/05/2007) CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TIỀN LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BAO BÌ VÀ IN NÔNG NGHIỆP 2.1. Thực trạng công tác quản lý lao động 2.1.1. Vấn đề quản lý nguồn nhân lực 2.1.1.1. Tuyển chọn và bố trí sử dụng lao động a. Tuyển chọn lao động - Mục đích của việc tuyển chọn lao động: Công ty tiến hành t._.uyển chọn lao động nhằm tìm được những lao động đã tốt nghiệp các trường lớp nghiệp vụ đã được đào tạo cơ bản về công việc chuyên môn có phẩm chất, kỹ năng phù hợp với đặc điểm của ngành. + Tuyển chọn lao động khi công ty mở rộng sản xuất cần thêm lao động hay số lao động hiện có không đủ để hoàn thành khối lượng công việc hoặc có lao động chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc, nghỉ việc giữa chừng cần công nhân thay thế. - Phương pháp tuyển chọn lao động: Công ty sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với thử việc: + Phương pháp lịch sử: Xem xét hồ sơ lý lịch. Trong hồ sơ lý lịch có ghi đầy đủ các nội dung cần thiết theo mẫu quy định của Nhà nước. Cán bộ phòng tổ chức lao động có nhiệm vụ xem xét hồ sơ lý lịch của người lao động xem xét đối chiếu xem có phù hợp với yêu cầu tuyển chọn hay không. Sau khi xem xét thấy phù hợp sẽ tiến hành thoả thuận ký kết hợp đồng thử việc với người lao động. + Thử việc: . Đối với công việc có chức danh, nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật bậc đại học và trên đại học thời gian thử việc không quá 60 ngày. . Đối với công việc có chức danh, nghề cần trình độ trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ thời gian thử việc không quá 30 ngày. Nếu sau thời gian thử việc nhận thấy người lao động phù hợp với công việc giám đốc công ty sẽ ký hợp đồng lao động với người lao động. Như vậy, việc tuyển chọn lao động tại công ty khá phù hợp với đặc điểm của ngành, từ đó tạo thuận lợi cho công ty trong việc tìm được những thợ giỏi những nhân viên quản lý có trình độ chuyên môn. b. Bố trí lao động - Công ty bố trí lao động theo khả năng và giới tính phù hợp với trình độ chuyên môn được đào tạo. VD: Phòng tổ chức cán bộ có 3 cán bộ thì cả 3 đều có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên chuyên ngành quản lý lao động. - Xưởng in có 14 lao động thì đều là lao động nam vì vậy đây là bước công việc phức tạp, nặng nhọc không thích hợp với nữ. 2.1.1.2. Phân công, phân bổ lao động Hiện nay công ty tồn tại cả 3 hình thức: - Phân công lao động theo chức năng. - Phân công lao động theo chuyên môn nghề nghiệp đào tạo. - Phân công theo mức phức tạp. + Hình thức phân công lao động theo chức năng được thể hiện qua sơ đồ 2.1 sau. Sơ đồ 2.1: Phân công lao động theo chức năng. Hoạt động lao động toàn công ty (CBCNV toàn công ty) Nhóm chức năng quản lý sản xuất (CBNV - QL sản xuất) Nhóm chức năng sản xuất (sản xuất) Hành chính. - Lái xe - Y tế - Bảo vệ Giám đốc - Giám đốc - P. giám đốc - Kế toán trưởng, trưởng phòng chức năng. - Quản đốc Quản lý kinh tế thông tin - CBCNV phòng kế hoạch, kế toán, tổ chức Quản lý kỹ thuật. - Quản đốc phó quản đốc là nhân viên kỹ thuật Sản xuất chính - Công nhân chính ở các tổ sản xuất Phân công lao động theo chuyên môn nghề nghiệp được đào tạo được thể hiện cụ thể ở bảng 2.1 sau: Bảng 2.1. Phân công lao động theo chuyên môn nghề nghiệp được đào tạo Mức độ phù hợp chuyên môn Bộ phận phòng ban phù hợp Không phù hợp Phòng tổ chức hành chính 100% - Phòng kế toán - tài vụ 83% 17% Phòng kế hoạch - kỹ thuật - vật tư 66,66% 33,33% Qua bảng 2.1 trên ta thấy, nhìn chung mức độ phân công lao động theo chuyên môn nghề nghiệp ở công ty khá phù hợp điển hình là phòng tổ chức hành chính với 100% cán bộ có trình độ chuyên môn phù hợp. Bên cạnh đó, phòng kế hoạch kỹ thuật vật tư vẫn còn có 33,33% cán bộ có trình độ chuyên môn không phù hợp. Điều này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động quản lý của công ty đòi hỏi công ty phải có biện pháp bố trí sắp xếp lại lao động giữa các phòng ban từng bước khắc phục bất hợp lý. + Phân công lao động theo mức độ phức tạp: Được thể hiện cụ thể ở bảng 2.2 sau: Bảng 2.2: Bảng phân công lao động theo mức độ phức tạp của cụng việc Bậc công nhân Bậc công việc Bậc 1 Bậc 2 Bậc 3 Bậc 4 Bậc 5 Bậc 6 Bậc 7 Bậc 1 Bậc 2 Bậc 3 1 1 2 Bậc 4 3 3 2 Bậc 5 1 5 1 3 9 Bậc 6 2 6 1 3 1 Bậc 7 5 3 Qua bảng 2.2 trên ta thấy rõ sự phân công lao động theo mức độ phức tạp của công việc tại công ty còn nhiều bất cập. Có tới 39 người chiếm 75% tổng số 52 lao động trực tiếp sản xuất có trình độ cấp bậc công nhân không phù hợp với cấp bậc công việc. Có người có CBCN bậc 1 đã được phân công làm tới công việc bậc 5 và 7,7% lao động có CBCN bậc 7 lại làm công việc bậc 3, bậc 4. Điều này đòi hỏi công ty cần có kế hoạch phân công lao động sát với tình hình thực tiễn hơn. Có như vậy hoạt động sản xuất của công ty mới phát huy hết hiệu quả. 2.1.1.3. Quản lý chất lượng lao động: Bảng 2.3: Chất lượng lao động tại các phân xưởng sản xuất. Xưởng sản xuất Tổng số người Nữ Bậc thợ 1 2 3 4 5 6 7 - Xưởng chế bản 8 8 3 3 2 - Xưởng in 14 1 2 6 1 3 1 - Xưởng sách 26 21 5 1 3 9 5 3 - Xưởng cơ điện 4 1 1 2 Tổng số 52 29 1 7 10 4 13 10 7 Bảng 2.4: Chất lượng lao động tại công ty TT Theo chuyên môn đào tạo và trình độ đào tạo Tổng số Giới tính Thâm niên nghề Tuổi å số % å số % å số % å số % å số % å số % 1 Trên đại học Tiến sĩ kinh tế 1 1 1 1 2 Đại học - cao đẳng 10 Kỹ sư xây dựng 1 1 1 1 Kỹ sư điện 2 2 2 2 Kỹ sư cơ khí 2 2 2 2 Cử nhân kinh tế 3 1 2 1 2 1 2 Cử nhân tài chính kế toán 2 2 2 2 3 Trung cấp 11 - Tài chính kế toán 2 2 2 2 - Lao động - xã hội 4 2 2 4 1 3 - Cơ điện 1 1 1 1 - Y 1 1 1 1 - Kỹ thuật 3 3 1 2 3 4 Công nhân nhân viên 58 - Bảo vệ 2 2 2 2 - Lái xe 2 2 2 2 - Nhân viên đánh máy 2 2 1 1 1 1 - Công nhân sản xuất tại các phân xưởng 52 23 29 14 38 23 29 Nhận xét: Qua bảng 2. 3 và 2.4 trên cho thấy chất lượng lao động tại công ty khá cao. Trong tổng số 80 lao động làm việc tại công ty thì có 22 người có trình độ đào tạo từ trung cấp trở lên chiếm 27,5% tổng số lao động, hơn nữa số này đều thuộc nhóm quản lý sản xuất và chiếm tới 78,5% số lao động của nhóm này. Cho thấy, công ty có một đội ngũ cán bộ quản lý vững vàng có đầy đủ năng lực chuyên môn có thể giúp công ty từng bước đi lên. Bên cạnh đó còn có đội ngũ công nhân sản xuất có trình độ kỹ thuật, tập trung trong phần lớn là thợ bậc 5, 6, 7 với số lượng 30 người chiếm 57,69% số công nhân bậc 1, 2, 3 chỉ chiếm 34,6% ứng với 18 người. Với chất lượng công nhân như trên sẽ góp phần trực tiếp trong công việc tăng năng suất chất lượng trong sản xuất kinh doanh cho công ty. Ngoài ra chất lượng lao động của công ty còn biểu hiện ở tiêu thức tuổi đời và thâm niên nghề, 52,5% lao động tại công ty có thâm niên nghề lớn hơn 5 năm, 63,75% lao động có tuổi đời trên 30 tuổi. Điều này cho thấy lao động tại công ty không những có trình độ chuyên môn kỹ thuật mà còn có kinh nghiệm trong sản xuất. Có thể nói công ty luôn quan tâm đến vấn đề chất lượng lao động và đến đầu năm 2001 công ty đã có một lực lượng lao động tương đối đồng đều về số lượng cũng như chất lượng. 2.1.1.4. Tổ chức hợp tác lao động Để quá trình sản xuất diễn ra nhịp nhàng, hoàn thành kế hoạch đã đề ra thì hợp tác lao động có ý nghĩa quan trọng. Công ty tổ chức hợp tác lao động về không gian và thời gian giữa các bộ phận phòng ban và xưởng sản xuất là rất linh hoạt. - Hợp tác lao động về mặt không gian: + Phòng kế hoạch - sản xuất ký hợp đồng kinh tế với khách hàng, phân bố thời gian hợp lý cho một chu kỳ hoàn thành sản phẩm, theo yêu cầu. Sau khi nhận Maket phim, bài và các yêu cầu kỹ thuật, phòng kế hoạch nhanh chóng triển khai đến từng xưởng. + Xưởng chế bản: Khi đã nhận công việc, các bộ phận là người chịu trách nhiệm chính trước quản đốc về chất lượng và số lượng công việc được giao. Quản đốc điều tiết kiểm tra chặt chẽ chất lượng sản phẩm trong từng bộ phận (vi tính, bình bản, phơi bản). + Xưởng in: Quản đốc, phó quản đốc hoặc công nhân phụ trách từng máy theo ca, trực tiếp đến nhận bản phơi. Quản đốc, phó quản đốc phụ trách máy theo ca là người trực tiếp ký vào một sản phẩm làm ra. + Xưởng sách (hoàn thiện): Sau khi in xong, tài liệu in được nhanh chóng chuyển sang khu vực KCS và hoàn thiện sản phẩm. Chủ động linh hoạt kiểm tra chất lượng thành phẩm theo yêu cầu, phản ánh kịp thời tình trạng tài liệu nhằm đảm bảo có biện pháp nhanh chóng sửa chữa, khắc phục. Maket được lưu chuyển đầy đủ theo thứ tự từ khu vực chế bản sang khu vực hoàn thiện rồi được trả về phòng kế hoạch lưu trữ. Trong quá trình triển khai sản xuất nhất thiết phải có lệnh bằng văn bản. Lệnh sản xuất được bàn giao bằng sổ sách theo dõi hàng ngày có ký tên của những người giao nhận. - Tổ chức hợp tác lao động về thời gian: + Xưởng in là bộ phận thường xuyên làm việc 2 ca/ngày, các bộ phận khác chỉ làm việc 1 ca/ngày khi có nhiều việc công ty huy động tổ phơi của xưởng chế bản làm việc 2 ca/ngày. + Mỗi ca có thời gian làm việc là 8 giờ, được nghỉ 30 phút, sau 1 tuần thì đổi ca, tổ làm ca sáng chuyển sang ca chiều và ngược lại. + Sự hợp tác về thời gian giữa các ca là chặt chẽ, ca trước căn cứ vào tờ lịch sản xuất chủ động làm sản phẩm nếu sản phẩm dở dang thì ca sau nhận làm tiếp để hoàn thành kế hoạch sản xuất trong ngày. 2.1.1.5. Cải thiện điều kiện lao động - Trong những năm gần đây, công ty đã không ngừng đổi mới trang thiết bị, công nghệ sản xuất. Bao gồm 16 máy các loại với thời gian sử dụng chưa nhiều (giá trị còn lại khoảng 78%). Việc chú trọng mua sắm đổi mới trang thiết bị là một trong những bước đi đúng hướng có tầm chiến lược trong kinh doanh của công ty góp phần tăng năng suất và doanh thu của đơn vị. - Các phòng ban, xưởng sản xuất được bố trí sắp xếp hợp lý thông thoáng tiện lợi cho việc giao và thực hiện nhiệm vụ. - Hình thức phục vụ nơi làm việc ở công ty là hình thức phục vụ phân tán. Hàng tuần bộ phận phục vụ được nghỉ 1 giờ để dọn vệ sinh, sắp đặt hàng hoá, nguyên vật liệu và phòng ngừa thường xuyên nguồn cháy nổ có thể xảy ra. - Các xưởng sản xuất làm việc trong điều kiện thuận lợi, đầy đủ ánh sáng, có máy hút bụi, quạt thông gió. Riêng bộ phận vi tính, phơi bản và bộ phận in do làm việc máy móc nên công ty trang bị thêm máy điều hoà. - Người lao động trước khi vào làm việc tại công ty đều phải học tập các nội quy, quy trình, quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh nơi làm việc, phòng chống cháy nổ. Người lao động được giới thiệu những khả năng có thể xảy ra tai nạn và cách xử lý. Đồng thời người lao động còn được trang bị phương tiện phòng hộ cá nhân như quần áo, găng tay bảo hộ. 2.1.1.6. Đào tạo, đào tạo lại phát triển nguồn nhân lực Đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn nguồn nhân lực là rất cần thiết, vì sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghệ mới ngày càng phát triển, đạt trình độ cao và được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất, là nhân tố có ý nghĩa quyết định để tăng năng suất lao động, nhưng nếu thiếu sự tác động tích cực và có hiệu quả của công nhân kỹ thuật và cán bộ chuyên môn, những thành tựu tiến bộ khoa học - kỹ thuật sẽ khó áp dụng nhanh vào sản xuất. ý thức được tầm quan trọng của việc đào tạo, đào tạo lại nâng cao phát triển nguồn nhân lực từ năm 2004 đến nay, công ty đã tiến hành công tác này một cách tích cực và có hiệu quả. Từ năm 2004 đến nay công ty đã tiến hành: + Đào tạo mới: 12 người (chiếm 15%) + Đào tạo lại: 49 người (chiếm 61,2%) + Chưa được đào tạo: 19 người (chiếm 23,7%) Như vậy là tỷ lệ lao động được đào tạo, đào tạo lại chiếm tỷ lệ khá cao (chiếm 76,2%) chứng tỏ công ty đã rất quan tâm đến công tác này. - Các hình thức đào tạo, đào tạo lại phát triển nguồn nhân lực. + Đối với lao động quản lý: Công ty áp dụng hình thức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn theo nhiều cấp bậc Trung học chuyên nghiệp, Đại học và sau Đại học và theo các hình thức đào tạo: tập trung, tại chức, hoặc mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ, các lớp chuyên đề thích hợp. + Đối với người lao động (công nhân sản xuất) Công ty áp dụng hình thức kèm cặp trong sản xuất. Đây là hình thức đào tạo tại nơi làm việc, chủ yếu là thực hành ngay trong quá trình sản xuất do doanh nghiệp tổ chức. Hình thức này có ưu điểm là thời gian đào tạo ngắn, công nhân vừa học vừa tiếp tục sản xuất được, tuy nhiên áp dụng hình thức này sẽ làm công nhân không nắm được lý thuyết một cách cơ bản, hệ thống và người dậy thường không phải là giáo viên chuyên trách, công ty chỉ nên áp dụng hình thức này với những công việc không đòi hỏi trình độ lành nghề cao. - Vấn đề thi nâng bậc ở công ty Công ty tổ chức thi nâng bậc cho công nhân đối với những người có hệ số lương thấp hơn 1,78 tương đương thợ bậc 4 có dư thời gian là 2 năm. 3 năm một lần đối với người có hệ số lương lớn hơn 1,78. 2.1.1.7. Tạo động lực trong lao động Tạo động lực trong lao động là một trong những biện pháp quan trọng mà mỗi một đơn vị kinh doanh đều cần phải áp dụng để kích thích người lao động hăng hái sản xuất từ đó góp phần tăng năng suất lao động cho đơn vị. Cũng như nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh khác, muốn phát triển sản xuất công ty cũng có những hình thức tạo động lực trong lao động. Trước hết, công ty luôn tạo mọi phương pháp để tìm kiếm và thu hút khách hàng sao cho công ty luôn ký kết được những hợp đồng kinh tế luôn tạo đủ việc làm cho lao động. Đây chính là yếu tố quan trọng trong việc tạo động lực lao động. Ngoài ra còn có: - Hình thức tạo động lực bằng vật chất: Ngoài tiền lương phần cứng hàng tháng công nhân sản xuất còn được nhận tiền thưởng là phần mềm. Hàng năm sau khi làm nghĩa vụ với Nhà nước, phần còn lại là lợi nhuận của công ty. Lợi nhuận được trích lập vào các quỹ sau: a. Quỹ phát triển sản xuất 35%. b. Quỹ dự phòng 5%. c. Quỹ khen thưởng 20%. d. Quỹ phúc lợi 40%. Giám đốc quản lý sử dụng quỹ a, b, c. Công đoàn quản lý, sử dụng quỹ d theo kế hoạch của công ty. Tiền lương và tiền thưởng của người lao động được trả thông qua các quỹ này. Chế độ thưởng được phân làm 5 mức A1, A2, A3, B, C gắn liền với tỷ lệ đạt định mức và số tiền lương sản phẩm trong tháng. Dựa vào nhận xét của hội đồng thi đua và hội đồng kỷ luật để trả lương, trả thưởng cho cán bộ công nhân viên. - Hình thức tạo động lực bằng tinh thần: Những người có thành tích tốt trong công tác ngoài mức tiền thưởng còn được công ty cấp giấy khen, bằng khen. Ngày sinh nhật của tất cả cán bộ công nhân viên công ty đều quan tâm, có quà thưởng cho con em công nhân viên học khá, học giỏi. Hàng năm, căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh giám đốc sẽ chi phí cho người lao động đi thăm quan, nghỉ mát. Khi có người bị ốm đau, hiếu hỷ đều tổ chức thăm hỏi. Trong những ngày lễ tết công ty thường thăm hỏi gửi quà biếu đến những người đã về hưu. Công ty vận động tập thể cán bộ công nhân viên góp tiền ủng hộ lập sổ tiết kiệm cho các gia đình thương binh liệt sỹ, những gia đình có hoàn cảnh khó khăn đã và đang làm việc tại công ty. 2.1.2. Vấn đề quản lý quỹ tiền lương 2.1.2.1. Định mức lao động Phương pháp xây dựng định mức lao động mà công ty áp dụng là phương pháp: Định mức lao động theo thống kê kinh nghiệm, phương pháp xác định đơn giá tiền lương tính trên đơn vị sản phẩm. Cơ sở để nghiên cứu xây dựng định mức lao động: - Lấy từ số liệu hiện thực của người lao động đã kê khai và đã được tính trả lương trong các năm. - Tham khảo ở các bản định mức và đơn giá cũ đã xây dựng trước đây. - Ngoài ra còn tham khảo một số bản quy định của các xí nghiệp công ty in khác. Trình tự xây dựng mức lao động. Bước 1: Thống kê năng suất lao động của những lao động làm bước công việc cần định mức. Bước 2: Tính năng suất lao động trung bình và năng suất lao động trung bình tiên tiến. Bước 3: Kết hợp năng suất lao động trung bình và trung bình tiên tiến với kinh nghiệm của bản thân cán bộ định mức và quản đốc để quyết định mức lao động. Đưa mức lao động vào sản xuất. - Mức lao động được giám đốc công ty quyết định ban hành về việc giao định mức lao động và đơn giá trả lương, trả thưởng. - Các chỉ tiêu định mức lao động áp dụng vào sản xuất mới lấy ở mức độ trung bình. - Định mức lao động được gửi cho các phòng, các xưởng sản xuất nghiên cứu thảo luận sau đó tổng hợp lại gửi cho phòng tổ chức hành chính tập hợp, Sửa đổi hoặc giải thích. - Mức lao động được áp dụng làm thử trong một tuần nếu các bộ phận không có ý kiến gì thì coi như đã chấp nhận. Công ty sửa đổi mức lao động. - Khi công ty có thay đổi về điều kiện tổ chức kỹ thuật. - Phương pháp thao tác thay đổi hoặc kinh nghiệm sản xuất tiên tiến đã được người lao động áp dụng rộng rãi. - Phát hiện có chỉ số hoàn thành mức cá biệt (Icb) không bình thường. + Nếu đa số công nhân có Icb > 1,5 đây là mức đã lạc hậu. + Nếu một số ít người có mức Icb < 0,7 thì không phải định mức lại, chỉ nhắc nhở họ thực hiện đúng mức. + Nếu số đông công nhân có mức Icb < 0,7 phải khảo sát tìm ra nguyên nhân không hoàn thành mức 2.1.2.2. Chấm công để trả lương Bộ phận lao động gián tiếp: Trưởng phòng quản lý bảng chấm công cuối tháng nộp cho phòng kế toán tài vụ, phòng kế toán tài vụ, phòng kế toán tài vụ căn cứ vào số ngày đi làm để tính toán lương cho từng người lao động. - Bộ phận lao động trực tiếp (sản xuất): Quản đốc và tổ chức quản lý bản chấm công có trách nhiệm ghi đầy đủ, chính xác theo ký hiệu quy định, cuối tháng tổng hợp lại lấy xác nhận rồi nộp cho phòng kế toán, thống kê, tài vụ. Căn cứ vào phiếu kết quả sản xuất theo từng ngày và bảng chấm công bộ phận tài vụ trả lương cho công nhân. 2.1.2.3. Tổ chức trả lương và quản lý quỹ lương - Nguồn để trả lương: Công ty là đơn vị hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh tế độc lập cho nên nguồn để trả lương lấy từ kết quả sản xuất kinh doanh hạch toán kinh tế độc lập, Nhà nước không chi trả tiền lương cấp bậc, hàng năm Nhà nước chỉ cấp bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước một khoản tiền. Công ty xây dựng quỹ lương kế hoạch theo tiêu chuẩn định biên: QKHtháng = TsốCN x XBQcấpbậctháng x 1,5 TsốCN - Tổng số công nhân toàn công ty QKHtháng - Quỹ lương kế hoạch tháng. XQBcấpbậc - là tiền lương bình quân cấp bậc tháng. 1,5 - là hệ số điều chỉnh tăng thêm tiền lương không quá 1,5 lần do Nhà nước quy định. - Hình thức và chế độ trả lương áp dụng: + Đối với lao động quản lý và phục vụ áp dụng hình thức trả lương theo thời gian có thưởng. Hàng tháng trích tỷ lệ 3-4% từ doanh thu làm căn cứ tính ra lương. + Đối với lao động trực tiếp sản xuất: áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm, chế độ trả lương theo sản phẩm cá nhân và theo sản phẩm tập thể. Các tổ chức sản xuất tập thể chia lương theo phương pháp hệ số điều chỉnh. - Các phụ cấp lương đang áp dụng. + Phụ cấp độc hại: hệ số 0,2 so với tiền lương tối thiểu, áp dụng đối với 3 bộ phận vi tính, phơi bản, xưởng in và máy dao. + Phụ cấp làm đêm bằng 30% so với đơn giá ngày. + Phụ cấp làm thêm có 4 mức 50%, 100%, 150%, 200% áp dụng cho lao động hưởng lương thời gian. - Các chế độ thưởng đang áp dụng. Công ty chỉ áp dụng thưởng cho bộ phận sản xuất, căn cứ vào hoàn thành công việc tỷ lệ đạt định mức. Mức độ thưởng được chia làm 5 loại: Loại A1: Tiền lương sản phẩm x 2 Loại A2: Tiền lương sản phẩm x 1,8 Loại A3: Tiền lương sản phẩm x 1,6 Loại B: Tiền lương sản phẩm x 1,4 Loại C: Tiền lương sản phẩm x 1,2 - Lịch thanh toán lương hàng tháng đối với người lao động. + Tạm ứng lương tháng vào ngày 23 hàng tháng. + Thanh toán lương tháng ngày 08 tháng sau. Người lao động có quyền khiếu nại về việc tính lương theo quy định của công ty và các chế độ khác của người lao động. Giám đốc có trách nhiệm trả lời trong 3 ngày sau khi nhận được khiếu nại của người lao động. 2.1.3. Vấn đề thực hiện pháp luật lao động 2.1.3.1. Vấn đề thực hiện hợp đồng lao động, các loại giao kết hợp đồng lao động đang áp dụng tại công ty Công ty hiện đang áp dụng các loại giao kết hợp đồng lao động sau: + Hợp đồng lao động không thời gian: áp dụng với lao động thường xuyên làm việc trên 5 năm tại công ty. + Hợp đồng lao động 5 năm: Người lao động đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng, công nhân kỹ thuật từ bậc 5 trở lên sau thời gian thử việc được ký hợp đồng 5 năm. + Hợp đồng lao động 3 năm: Người lao động đã tốt nghiệp trung cấp, công nhân kỹ thuật bậc 3 đến bậc 4 sau thời gian thử việc được ký hợp đồng lao động 3 năm. + Hợp đồng lao động 1 năm: áp dụng cho lao động không thuộc 3 dạng nói trên. - Hình thức: Người lao động phải ký hợp đồng lao động bằng văn bản với giám đốc. - Thủ tục ký hợp đồng lao động: Người lao động và người sử dụng lao động bàn bạc đưa ra đề nghị sau đó hai bên thoả thuận những vấn đề nêu ra khi hai bên đã chấp nhận thì lần lượt ký vào bản hợp đồng đã ghi rõ nội dung thoả thuận. Hợp đồng lao động được lập thành 2 bản, mỗi bên giữ một bản. Sau thời gian thử việc (60 ngày đối với lao động có trình độ Đại học, Cao đẳng và 30 ngày đối với lao động có trình độ trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên phục vụ) giám đốc sẽ xem xét nếu không có ý kiến thì hợp đồng lao động có hiệu lực. Giám đốc có trách nhiệm tạo đủ điều kiện làm việc cho người lao động để họ có thu nhập ổn định. Trong trường hợp bất khả kháng mà giám đốc không lo được việc làm cho người lao động thì giám đốc phải giải trình báo cáo cụ thể cho người lao động rõ. 2.1.3.2. Vấn đề thực hiện thoả ước lao động tập thể Để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động trong quan hệ lao động, công ty đã thực hiện đầy đủ các quy trình của bộ luật lao động. Vấn đề thực hiện thoả ước lao động tập thể được xem xét hàng năm. Trình tự và thủ tục ký thoả ước lao động tập thể. Giám đốc công ty đại diện người sử dụng lao động. Chủ tịch công đoàn công ty đại diện tập thể người lao động. Cùng nhau thoả thuận và ký thoả ước tập thể. Trình tự thưởng lương: + Hai bên được ra yêu cầu và nội dung cần thương lượng. + Hai bên tiến hành thương lượng. + Hai bên cùng tổ chức lấy ý kiến về dự thảo thoả ước. + Hai bên trên cơ sở lấy ý kiến cùng hoàn thiện lần cuối dự thảo thảo ước, khi có trên 50% số người của tập thể lao động trong công ty tán thành thoả ước được ký kết. Thời gian thoả ước lao động có hiệu lực là 12 tháng kể từ ngày Sở LĐTBXH Hà Nội có quyết định thừa nhận. 2.1.3.3. Những vấn đề có liên quan đến việc thực hiện pháp luật lao động Công ty là đơn vị thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, trả lương theo số lượng và chất lượng lao động dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh. Công ty không có đơn vị hành chính sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Khi có nhiều hợp đồng kinh tế đòi hỏi phải hoàn thành trong thời gian ngắn công ty có huy động làm đêm và làm thêm giờ. Công nhân làm đêm hay làm thêm đều được tính thêm các khoản phụ cấp và lương tháng. Ngày công bình quân của một công nhân viên chức là 304 ngày/người/năm, giờ công thực hiện bình quân bộ phận làm ca là 8h/ngày. Để tăng cường cơ chế quản lý và điều hành của công ty nhằm ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh, giám đốc công ty ban hành bản nội quy lao động áp dụng trong công ty. Nội dung của bản nội quy lao động được trình bày ở phần phụ lục báo cáo thực tập tốt nghiệp này. Theo quyết định ngày 15/4/2003 số 08/NT-QĐ quy định của giám đốc về việc xử lý vi phạm kỷ luật lao động. Có các hình thức phạt từ hành chính đến sa thải, mỗi lỗi đều có hình thức xử phạt riêng. Việc vi phạm kỷ luật lao động tại công ty là rất ít vì công ty đã quán triệt vấn đề này đến từng người lao động. Công ty chưa xẩy ra tranh chấp lao động và đình công. Tuy sử dụng 50% tỷ lệ lao động nữ nhưng với việc chấp hành tốt những quy định của pháp luật trong việc sử dụng lao động nữ hơn nửa số lao động nữ đều được bố trí trong những công việc nhẹ nên công ty không gặp khó khăn trong việc sử dụng và điều động lao động. Tóm lại: Công ty luôn thực hiện tốt pháp luật lao động. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho sự phát triển của công ty về trước mắt cũng như lâu dài. - Công ty cần đẩy mạnh công tác Marketing tiếp cận thị trường để có nhiều việc làm hơn. Bằng cách giao nhiệm vụ riêng cho người ở phòng kế hoạch sản xuất quản lý nhiệm vụ kinh doanh khai thác các nhu cầu in ấn. - Công ty cần nghiên cứu tiếp cận những máy móc thiết bị hiện đại mà các xí nghiệp in khác sử dụng. - Bộ LĐTB và XH cùng các đơn vị trực thuộc cần tạo điều kiện, tạo công ăn việc làm cho công ty thông qua việc đưa các sản phẩm cần in đến công ty. 2.2. Xây dựng quỹ lương và nguồn trả lương thực tế cho lao động - Xây dựng quỹ lương: Công ty là một doanh nghiệp cổ phần nên tự hạch toán kinh tế độc lập có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Công ty không có sản phẩm in ấn sản xuất thường xuyên, công ty phải chủ động tự tìm kiếm khách hàng, do đó từ việc không có nhiệm vụ sản xuất kinh doanh nên công ty không thể xây dựng quỹ lương để lấy quỹ lương làm cơ sở trả lương cho công nhân. Công ty xây dựng quỹ lương kỳ kế hoạch theo tiêu dùng định biên để lấy mức tính hiệu quả sản xuất. - Nguồn chi trả lương thực tế cho lao động: Giám đốc và chủ tịch công đoàn hàng năm tiến hành ký kết thoả ước lao động tập thể, kèm theo đó giám đốc ban hành quy chế phân phối thu nhập và có văn bản hướng dẫn tính lương và thu nhập cho cán bộ công nhân viên. Các văn bản này đều được thông qua đại hội công nhân viên, phòng tổ chức hành chính căn cứ vào đó để tính lương, thưởng cho cán bộ công nhân viên trong công ty. + Nguồn để trả lương cho bộ phận quản lý, phục vụ và xưởng cơ điện được trích từ doanh thu trong tháng với tỷ lệ 3-4% làm căn cứ tính ra lương ngày. + Nguồn để trả lương cho bộ phận sản xuất cũng lấy từ doanh thu trong tháng trả theo đơn giá và sản lượng thực tế làm ra. + Lương cấp bậc công nhân được giữ nguyên để làm căn cứ tính lượng những ngày làm công thời gian, công phép, lễ tết, hội họp, học tập và căn cứ tính hưởng BHXH. Ngoài ra còn căn cứ để trích nộp tiền BHXH và bảo hiểm y tế cho người lao động. + Bộ phận quản lý và phục vụ được tính theo cấp bậc công việc và hiệu quả của từng người. Hệ số thu nhập là thước đo hiệu quả cho từng cá nhân người lao động hệ số thu nhập này do hội đồng phân phối tiền lương và thu nhập của công ty quyết định trên cơ sở định biên lao động và nhiệm vụ được giao. + Trong đơn vị người phụ trách là người có thu nhập cao nhất. + Trong cùng cấp bậc công việc ai làm việc có hiệu quả hơn thì có hệ số cao hơn. Tiền lương công ty hiện nay được chia theo hai khối. + Khối quản lý và phục vụ gồm các phòng ban nghiệp vụ và xưởng cơ điện hưởng lương thời gian trích tỷ lệ phần trăm từ doanh thu. + Khối sản xuất trực tiếp gồm ba xưởng: xưởng chế bản, xưởng in, xưởng hoàn thiện hưởng lương sản phẩm trả theo đơn giá sản phẩm thực tế. 2.3. Các hình thức và chế độ lương ở Cụng ty Cổ phần Bao bỡ và In Nụng nghiệp. 2.3.1. Đối với cán bộ quản lý, công nhân phục vụ và xưởng cơ điện Công ty áp dụng hình thức trả lương theo thời gian, chế độ trả lương theo thời gian có thưởng. Khi tính lương căn cứ vào cấp bậc công việc của từng chức danh quản lý chuyên môn của từng người và có từng hệ số hưởng lương được thể hiện rừ qua bảng 2.5 sau: Bảng 2.5. Hệ sỗ lương của cán bộ quản lý nhõn viờn xưởng cơ điện. Chức vụ Hệ số + Giám đốc hưởng 3 + Phó giám đốc hưởng 2,5 + Kế toán trưởng hệ số 2,5 + Quản đốc xưởng in, xưởng sách 2,2 + Các trưởng phòng và quản đốc 2. + Các phó phòng và phó quản đốc 1,8 + Nhân viên phục vụ 1. Trường hợp lương thấp hơn cấp bậc hoặc chức vụ thì được trả đủ theo lương cấp bậc hoặc chức vụ. - Tất cả những người làm công tác quản lý và phục vụ không được tính thêm giờ trong các ngày làm việc bình thường. Khi người cán bộ thay đổi công việc khác thì công việc làm được hưởng cấp bậc công việc đó kể cả cán bộ chức danh, không có chế độ bảo lưu tiền lương cấp bậc công việc khi chuyển làm công việc khác. + Phương pháp tính lương cho cá nhân người lao động được áp dụng công thức: TL = x hệ số hưởng lương x ngày công thực tế + TLCĐ Trong đó: Y là số tiền trích từ tổng doanh thu tháng. X là tổng các hệ số trả lương TLCĐ là tiền lương ngày lễ, tết, phép, hội họp, học tập, BHXH Ví dụ: Tổng doanh tháng 8/2006 là: 757.572.000 đồng/tháng Ngày công thực tế 26 ngày Hệ số hưởng lương 2,07 Trích 4% từ doanh thu Tổng các hệ số lương là 48,7 TL = x 2,07 x 26 = 1288027 đ/tháng Như vậy là đối với cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ, xưởng cơ điện tổng thu nhập của họ đã được căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh. Đã có phần tiền thưởng trong lương điều đó đã kích thích cán bộ công nhân viên tích cực hơn trong công tác. 2.3.2. Đối với công nhân trực tiếp sản xuất Công ty áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm, chế độ trả lương sản phẩm trực tiếp cho cá nhân và chế độ trả lương theo sản phẩm tập thể. * Tiền lương thanh toán cho công nhân sản xuất căn cứ vào số lượng và chất lượng sản phẩm làm ra. Tiền lương tháng được áp dụng theo công thức sau: TLCNSX = (DGi x SLi) + TLtg + TLCĐ Trong đó: DGi: đơn giá tiền lương của SPi SLi: số lượng sản phẩm (i) làm ra trong tháng TLtg: tiền lương thời gian cho những ngày công việc không có định mức TLCĐ: tiền lương chế độ cho những ngày nghỉ lễ, tết, phép hội họp, học tập. * Đối với công việc ở xưởng in đòi hỏi cần nhiều công nhân mới hoàn thành sản phẩm, những công việc đòi hỏi tập thể này tiền lương được tính như sau: TLtt = ĐGi x SLi TLtt: tổng tiền lương của tập thể tổ, nhóm. ĐGi: đơn giá tiền lương sản phẩm i SLi: số lượng sản phẩm loại i Sau khi kết thúc tháng phòng tài vụ tính lương và chia lương cụ thể cho từng người (theo phương pháp hệ số). Đối với tiền lương thời gian (như là chờ việc) mức lương được lấy làm cơ sở để tính như sau: - Người lao động có tay nghề bậc 5 trở lên sẽ lấy mức lương của bậc 5 (theo nhóm công việc mà người đó đang làm) - Người lao động có tay nghề dưới bậc 5 sẽ tính trên cơ sở lương cấp bậc của mình. Đối với tiền lương chế độ (ngày lễ, tết, phép, hội họp, học tập, hưởng BHXH) thì tính đúng theo cấp bậc công nhân. * Tiền lương làm cơ sở tính đơn giá là bậc 5/7 thang lương A10 (tổ phơi hệ số 2,33; tổ sách hệ số 2,07; tổ vi tính + bình bản + in và máy dao hệ số 2,18) nhân với tiền lương tối thiểu 540.000 và cộng thêm phụ cấp 0,2 tiền độc hại cho những bộ phận có độc hại. 2.3.2.1. Tiền lương công nhân xưởng chế bản Công ty áp dụng chế độ trả lương sản phẩm trực tiếp cho cá nhân. Đơn giá tiền lương của công nhân được tính căn cứ vào thời gian tiêu hao để hoàn thành công việc. Cách tính lương sản phẩm cho từng người được căn cứ vào số lượng sản phẩm làm trong kỳ. Tiền lương tháng bao gồm: ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc11144.doc
Tài liệu liên quan