Một số giải pháp phát triển các Khu công nghiệp tập trung trên địa bàn Hà Nội theo hướng bền vững về kinh tế

Tài liệu Một số giải pháp phát triển các Khu công nghiệp tập trung trên địa bàn Hà Nội theo hướng bền vững về kinh tế: MỤC LỤC Danh mục từ viết tắt KCN : Khu công nghiệp KCNTT : Khu công nghiệp tập trung KCNC : Khu công nghệ cao KCX : Khu chế xuất KKT : Khu kinh tế CCN : Cụm công nghiệp BQL các KCN&CX : Ban quản lý các khu công nghiệp và chế xuất Danh mục bảng biểu Bảng 1: Giá trị sản xuất công nghiệp của Hà Nội tính theo giá thực tế Bảng 2: Tình hình triển khai các khu công nghiệp Bảng 3: Số liệu đầu tư của các doanh nghiệp vào các KCN Bảng 4: Tỷ lệ vốn đầu tư của các KCN Bảng 5: Số dự án được c... Ebook Một số giải pháp phát triển các Khu công nghiệp tập trung trên địa bàn Hà Nội theo hướng bền vững về kinh tế

doc92 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1259 | Lượt tải: 4download
Tóm tắt tài liệu Một số giải pháp phát triển các Khu công nghiệp tập trung trên địa bàn Hà Nội theo hướng bền vững về kinh tế, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ấp và điều chỉnh qua các năm Bảng 6: Giá trị sản xuất của các KCN Bảng 7: Danh mục dự án kêu gọi đầu tư phát triển vào các KCN Hà Nội từ nay đến năm 2010 LỜI MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài: Sự ra đời của các Khu Công nghiệp tập trung là xu thế tất yếu của nền kinh tế hiện đại. Với hiệu quả của mô hình phát triển công nghiệp theo các khu công nghiệp tập trung, đến nay cả nước ta đã có khoảng 150 KCNTT. Việc hình thành các KCNTT chính là một trong các giải pháp quan trọng đẩy nhanh khả năng CNH-HĐH ở nước ta, là địa điểm quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo(FDI) điều kiện lớn để tiếp thu công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại lao động phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp góp phần phát triển kinh tế- xã hội Thủ đô và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Việc phát triển các khu công nghiệp cũng thúc đẩy việc hình thành các khu đô thị mới, phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ tạo việc làm cho người lao động, góp phần đào tạo phát triển nguồn nhân lực, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật kinh tế kỹ thuật, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển, các KCN của Hà Nội đã chứng tỏ được vai trò của KCN thủ đô, đạt được những kết quả quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế. Chỉ với diện tích hơn 921km2, nhưng Hà Nội đã xây dựng được 5KCNTT với tổng diện tích 543,11ha, thu hút được nhiều các dự án có công nghệ cao và quy mô của các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới như: Canon, Toto, Daewoo- Hanel, Panasonic, Sumitomo Bakelite, Yamaha, …Riêng hai dự án của Canon và Orion-hanel đã có tổng vốn đầu tư lên đến gần 500triệu USD. Các KCN của Hà Nội ra đời góp phần hình thành các khu đô thị, tăng cường tiếp thu công nghệ tiên tiến, giải quyết việc làm, đóng góp vào tăng thu ngân sách…góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của Hà Nội nói riêng và của cả nước nói chung. Tuy nhiên, Hà Nội nói riêng và cả nước ta nói chung vần còn những tồn tại trong quá trình phát triển bền vững các KCN. Phát triển các KCN cần phải tính đến sự phát triển bền vững về tất cả các mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Đặc biệt, hoạt động của các KCN thường là 50 năm, một khoảng thời gian dài như vậy nếu không phát triển theo hướng bền vững thì không những không thể có những đóng góp cho địa phương mà thậm chí còn có thể gây nên những trở ngại cho sự phát triển chung của xã hội. Chính vì tầm quan trọng của vấn đề này mà tôi đã rất quan tâm đến vấn đề phát triển bền vững KCN của Hà Nội. Tuy nhiên, do thời gian và khả năng bản thân có hạn, nên tôi chỉ lựa chọn nghiên cứu về mặt kinh tế cho chuyên đề thực tập của mình: “Một số giải pháp phát triển các KCNTT trên địa bàn Hà Nội theo hướng bền vững về kinh tế” Phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề: các KCN trên địa bàn Hà Nội Đối tượng nghiên cứu là: tìm hiểu thực trạng và đưa ra một số giải pháp cho sự phát triển bền vững về mặt kinh tế Phương pháp nghiên cứu: phương pháp được sử dụng để nghiên cứu chuyên đề là phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích số liệu và phương pháp so sánh. Kết cấu của chuyên đề: Chuyên đề gồm 3 chương: Chương 1 :Cơ sở lý luận phát triển các KCNTT theo hướng bền vững về kinh tế. Chương 2: Thực trạng phát triển bền vững về kinh tế của các KCNTT trên địa bàn Hà Nội Chương 3: Một số giải pháp phát triển bền vững về kinh tế của các KCNTT trên địa bàn Hà Nội Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của GS.TS Đàm Văn Nhuệ, và sự giúp đỡ trong quá trình thực tập của Ban quản lý các khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội. Tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, 4/2008 SVTH: Nguyễn Trúc Quỳnh CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẬP TRUNG THEO HƯỚNG BỀN VỮNG VỀ KINH TẾ. Khái quát về Khu công nghiệp tập trung. Khái niệm Sự ra đời của KCN thế giới là bắt đầu từ thế kỷ 18, khi các nước phát tư bản giàu có quan tâm mở rộng thương mại quốc tế, áp dụng các loại thuế quan khắt khe đối với những sản phẩm hàng hóa vào lãnh thổ của mình. Đặc biệt vào nửa cuối thế kỷ XX, các KCN trên thế giới phát triển mạnh mẽ khi các nước chủ nghĩa tư bản đang ở trong thời cạnh tranh tìm kiếm thị trường và tranh giành phân lại thị trường thế giới. Lúc này trình độ phát triển của các nước tư bản đã ở trình độ cao, vốn có hiện tượng thừa và giá nhân công cao, khan hiếm về nguồn tài nguyên nên chi phí sản xuất cao, lợi nhuận ngày càng giảm. Trong khi đó thì ở các nước đang phát triển lại rơi vào tình trạng thiếu vốn để phát triển kinh tế, trình độ khoa học công nghệ thấp, thiếu lao động có tay nghề cao, thất nghiệp gia tăng, nền kinh tế chậm phát triển. Nguồn vốn trong nước và nguồn vốn viện trợ thì có hạn, không đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế. Do đó, có điểm gặp nhau về nhu cầu phát triển kinh tế giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển, tạo nên nhu cầu dịch chuyển vốn và công nghệ giữa các nước này với nhau. Các doanh nghiệp ở các nước phát triển tìm kiếm cơ hội đầu tư ra nước ngoài để giảm chi phí sản xuất, tận dung lợi thế so sánh ở các nước kém phát triển hơn, có thị trường mới, nguồn nguyên liệu mới. Còn với các nước đang phát triển, với nguồn vốn đầu tư này đã có thể đẩy nhanh sự phát triển kinh tế của mình, có được vốn đầu tư, có được công nghệ, tiến hành nhanh hơn quá trình công nghiệp hoá. Thời gian đầu, do thiếu vốn, các cơ sở công nghiệp của các nước đang phát triển phần lớn có quy mô vừa và nhỏ, phân bố phân tán, khả năng xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường kém. Dân số tăng, đất đai ngày càng hạn chế, thêm vào nữa là Chính phủ cần chi tiêu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để đáp ứng nhu cầu xây dựng phát triển cuả các doanh nghiệp đi đầu tư, làm sao có được cơ sở hạ tầng hiện đại để phát triển công nghiệp, hạn chế ô nhiễm môi trường, xử lý tốt chất thải công nghiệp, tập trung quản lý, tiết kiệm đất đai, chi phí. Đảm bảo được các yêu cầu trên, KCN ra đời như một tất yếu khách quan. Có nhiều khái niệm về KCN trên thế giới, tuy nhiên theo Nghị Định của Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm 2008 quy định về KCN, KCX và KKT thì khái niệm về KCN được hiểu như sau: Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ. Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp theo quy định của Chính phủ.. Khu công nghiệp, khu chế xuất được gọi chung là khu công nghiệp, trừ trường hợp quy định cụ thể. Đặc điểm, vai trò của KCNTT Đặc điểm KCN Việc thành lập các KCN có tác động nhiều mặt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước như tổ chức cơ cấu lại kinh tế của vùng lãnh thổ, bố trí dân cư, bảo vệ môi trường, nâng cao mức sống nhân dân, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội cho khu vực. Khu công nghiệp tập trung có những đặc điểm cơ bản sau đây: Là khu vực tập trung nhiều doanh nghiệp, xí nghiệp công nghiệp trong một khu vực có ranh giới rõ ràng, sử dụng chung kết cấu hạ tầng như hệ thống cung cấp điện, nước; chung hệ thống xử lý nước thải, khí thải và các loại chất thải khác; chung giá thành sử dụng cơ sở hạ tầng và các dịch vụ liên quan. Đầu ra của các doanh nghiệp còn có thể gắn bó với nhau như sản phẩm của nhà máy này còn là linh kiện phụ tùng cho sản phẩm của nhà máy kia, hoặc là nguyên liệu cho nhà máy kia…Vì vậy, các xí nghiệp này tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất, hạ giá thành của sản phẩm, cũng chính là tiết kiệm được chi phí cho xã hội. Các doanh nghiệp trong KCN được hưởng quy chế riêng và ưu đãi riêng theo quy định của Chính phủ và cơ quan địa phương sở tại, có chính sách kinh tế đặc thù, ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo môi trường đầu tư thuận lợi hấp dẫn cho phép các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng những phạm vi đất đai nhất định trong khu công nghiệp để thành lập các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ với những ưu đãi về thủ tục xin phép và thuê đất, miễn hoặc giảm thuế. Nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu là thu hút từ nước ngoài hay các tổ chức, cá nhân trong nước. Ở các nước khác, Chính phủ thường bỏ vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Nhưng ở Việt Nam thì nhà nước không có đủ vốn, vì thế việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN được kêu gọi đầu tư từ vốn trong và ngoài nước. Việc hình thành các KCN tạo nên sự liên kết với các cơ sở kinh tế trong nước, có tác dụng lan toả trước hết là khu vực xung quanh KCN. Sản phẩm của các nhà máy, doanh nghiệp trong KCN chủ yếu dành cho xuất khẩu, hướng ra thị trường thế giới. Tuy nhiên để tăng thu ngoại tệ bằng cách giảm tối đa việc nhập khẩu các loại máy móc thiết bị và hàng hoá tiêu dùng, các nhà sản xuất trong KCN cũng rất quan tâm đến việc sản xuất hàng hoá có chất lượng cao nhằm thay thế hàng nhập khẩu. Mọi hoạt động kinh tế trong KCN trực tiếp chịu sự chi phối của cơ chế thị trường và diễn biến của thị trường quốc tế. Do đó, cơ chế quản lý kinh tế trong KCN lấy điều tiết của thị trường làm chính. KCN là mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành phần và nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại: doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài,hợp đồng, hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp vốn 100% vốn trong nước. Hoạt động trong KCN sẽ là các tổ chức pháp nhân và các cá nhân trong và ngoài nước tiến hành theo các điều kiện bình đẳng. Vai trò của KCN Việc hình thành các KCNTT là một yêu cầu tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là đối với các nước đang phát triển thì việc hình thành các KCN sẽ nhanh chóng thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Cụ thể: Việc ra đời các KCN đã thu hút vốn đầu tư trong nước và ngoài nước. Với những ưu điểm tất yếu của KCNTT như cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ và hiện đại, thuận tiện trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm chi phí sản xuất và xử lý chất thải tốt đã là một nhân tố để thu hút các nhà đầu tư. Hơn nữa với quy chế quản lý và hệ thống chính sách ưu đãi, các KCNTT tạo ra được một môi trường đầu tư kinh doanh, thuận lợi, có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Từ đó giúp cho các nước có KCN có thêm vốn đầu tư, tiếp cận vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến cũng như phong cách quản lý hiện đại. Mặt khác, việc phát triển các KCNTT cũng phù hợp với chiến lược của các công ty xuyên quốc gia trong việc mở rộng phạm vi hoạt động trên cơ sở tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận, tranh thủ thuế quan ưu đãi từ phía nước chủ nhà, khai thác thị trường rộng lớn ở các nước đang phát triển. Chính vì thế ma nguồn vốn đầu tư vào các địa bàn này không ngừng tăng lên. Theo thống kê của Ngân hàng thế giới thì các dự án thực hiện trong KCN hầu hết do các nhà đầu tư nước ngoài hoặc do liên doanh với nước ngoài thực hiện. Do vậy KCNTT đã đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài . Ví dụ, ở Malaysia và Đài Loan trong những năm đầu phát triển , KCN đã thu hút khoảng 60% số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cùng với việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, với thuận lợi về vị trí và ưu đãi về chính sách, cơ chế thì KCNTT còn thu hút được các nhà đầu tư trong nước. Đây là nguồn vốn tiềm tàng rất lớn trong nhân dân chưa được khai thác và sử dụng xứng đáng. KCNTT sẽ tạo môi trường và cơ hội phát huy năng lực về vốn cũng như sản xuất kinh doanh trong cùng một điều kiện ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp trong nước sẽ liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài. Từ đó, tạo cơ hội để các doanh nghiệp trong nước có điều kiện tiếp thu kinh nghiệm quản lý, trình độ điều hành sử dụng các trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại của nước ngoài , bồi dưỡng nhân tài, thử các phương án cải cách để tiến dần đến trình độ thế giới. Tiếp thu kỹ thuật và công nghệ tiên tiến cũng như phương pháp quản lý hiện đại. Việc tiếp thu công nghệ và kỹ năng quản lý hiện đại một cách nhanh chóng và hiệu quả không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là mục tiêu chiến lược. Muốn phát triển kinh tế thì không thể thiếu khoa học công nghệ. Mà ở các nước đang phát triển thì trình độ khoa học công nghệ là chậm phát triển hơn nhiều so với các nước phát triển. Kinh nghiệm phát triển kinh tế của nhiều nước cho thấy việc ứng dụng tiến bộ công nghệ của nước ngoài là một trong những bí quyết phát triển. Sao chép những phương pháp có hiệu quả hơn, đưa chúng vào áp dụng trong nước thường là một giải pháp mang tính truyền thống. Tuy nhiên đối với các nước nghèo thì lại không dễ dàng như vậy. Có thể ở các nước nghèo cũng có nhiều chuyên gia kỹ thuật được trang bị những tri thức công nghệ hiện đại, nhưng chỉ riêng họ thôi thì không đủ để giải quyết được hết vấn đề của nước nghèo. Cần thấy rằng, bản thân công nghệ tiên tiến đã được phát triển là để đáp ứng các điều kiện đặc biệt của các nước phát triển như lương cao, tư bản dồi dào so với lao động và có nhiều kỹ sư lành nghề, trong khi đó thì điều kiện này không có ở các nước nghèo. Chính vì vậy có một giải pháp đó là thu hút các doanh nghiệp nước ngoài, với việc hình thành các KCNTT sẽ là nơi để thu hút sự đầu tư này. Qua đó, người nước ngoài sẽ đưa vào KCN những thiết bị kỹ thuật tiên tiến, quy trình công nghệ hiện đại để sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế có đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Ngoài ra, các KCNTT thường được quy hoạch theo một mô hình tập hợp các doanh nghiệp cùng ngành. Do vậy, các doanh nghiệp dễ dàng hợp tác, liên kết với nhau trong việc nhập khẩu, tiếp nhận những công nghệ tiên tiến, hiện đại trên thế giới, tận dụng được những lợi thế của nước đi sau, rút ngắn được khoảng cách về khoa học kỹ thuật với các nước đi trước. Việc các doanh nghiệp liên kết hợp tác với nhau sẽ tiết kiệm được chi phí trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển ( R&D) và quyền sở hữu trí tuệ. Mặt khác, xuất phát từ các trang thiết bị hịên đại, công nghệ kỹ thuật tiên tiến thì các cán bộ quản lý, các công nhân kỹ thuật và viên chức làm việc tại các KCN sẽ được đào tạo lại, đào tạo bổ sung cho thích hợp và trực tiếp tiếp thu tác phong công nghiệp, kinh nghiệm quản lý, phương pháp kiểm tra chất lượng hiện đại thích ứng với cơ chế thị trường và đạt hiệu quả cao. Những kết quả này không chỉ mang lại cho KCN mà nó còn tác động mạnh đến việc thay đổi công nghệ, trang thiết bị, chất lượng sản phẩm, cơ chế hoạt động, kiến thức và phương pháp quản lý của các doanh nghiệp bên ngoài, làm cho các doanh nghiệp này cũng đổi mới để đạt hiệu quả kinh tế cao. KCN là nơi tạo công ăn việc làm và phát triển kỹ năng lao động. Xây dựng và phát triển các KCN để tạo nhiều hơn việc làm là một trong những mục tiêu của các nước đang phát triển . Đồng thời tạo điều kiện cho lực lượng lao động nước ta tham gia một cách tốt nhất vào sự phân công lại lực lượng lao động xã hội. Các KCN là nơi hấp thu công nghệ, kỹ thuật hiện đại và học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến, vừa là môi trường đào tạo ra những nhà quản lý có trình độ cao, có bản lĩnh và kinh nghiệm; những công nhân có tay nghề cao và ý thức, tác phong công nghiệp do được tiếp cận và làm việc với dây chuyền công nghệ tiên tiến cùng kỷ luật lao động cao buộc các nhà quản lý và người lao động phải rèn luyện và không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn. KCN là nơi hấp thu nhanh nhất chính sách mới. Thường thì khi các chính sách mới ra đời, việc áp dụng chúng cùng một lúc trên diện rộng là không thuận lợi, do vậy các KCN là nơi thí điểm những chính sách kinh tế mới, đặc biệt là những chính sách về kinh tế đối ngoại. KCN góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế Các KCN là đầu tầu tăng trưởng, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, là điều kiện dẫn dắt các ngành công nghiệp phụ trợ, các dịch vụ như tài chính, ngân hàng, dịch vụ thương mại, lao động, tư vấn, lao động… Đồng thời, KCN phát triển sẽ đẩy nhanh tốc độ và kim ngạch xuất khẩu,…Do đó KCN góp phần quan trọng làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế. KCN góp phần phát triển đô thị và nông thôn. Việc hình thành các KCN có vai trò cơ bản trong quá trình hình thành các khu đô thị mới, phân công lại lực lượng lao động trong xã hội, làm thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá-hiện đại hoá. KCN là giải pháp hướng đến phát triển bền vững. Quy hoạch phát triển các KCN góp phần quan trọng và tăng trưởng kinh tế,đó là tiền đề cơ bản để thực hiện công bằng xã hội. Ngoài ra, xây dựng các KCN đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề một cách đồng bộ như: quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng trong và ngoài KCN, sử dụng đất đai có hiệu quả, đào tạo và tuyển dụng lao động, bảo vệ môi trường ,an ninh trật tự, cung cấp các dịch vụ, tổ chức đời sống văn hoá, giáo dục, tác động đô thị hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn…giải quyết tốt các mối quan hệ trên chính là tạo sự phát triển bền vững. KCN là cầu nối hội nhập với thế giới. KCN thường gắn liền với các điều kiện thuận lợi cả về vị trí địa lý và các dịch vụ đi kèm cùng với các chính sách ưu đãi và đơn giản. Đó là điều kiện thuận lợi thu hút các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ là cầu nối tốt nhất cho doanh nghiệp trong nước tiếp cận với thị trường thế giới. Với trình độ quản lý chuyên nghiệp, công nghệ tiên tiến của nước đi trước, các doanh nghiệp nước ngoài trong KCN có tác động lan toả đến trình độ và kỹ năng công nghiệp đối với phần còn lại của nền kinh tế nội địa. Nhìn chung, ảnh hưởng của KCN đối với sự phát triển của nền kinh tế là rõ ràng. Tuy nhiên, ở mỗi nước, mức độ ảnh hưởng là khác nhau. Tóm lại, có thể nói, KCNTT là công cụ khá hữu hiệu để một đất nước khởi động sự phát triển các lĩnh vực công nghiệp hướng về xuất khẩu, thay thế nhập khẩu và sử dụng nhiều lao động trong nước, thu hút vốn đầu tư, công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước đang phát triển. Về lâu dài, các KCN tác động gián tiếp đến toàn bộ nền kinh tế qua khâu chuyển giao công nghệ và qua những mối liên kết KCN với nội địa. Phát triển các KCNTT là một giải pháp thích hợp với giai đoạn đầu của quá trình đẩy nhanh sự phát triển của các nước đang phát triển vì nó phù hợp trình độ quản lý, sử dụng vốn đầu tư trong giai đoạn đầu chuyển sang cơ chế thị trường, là con đường mở cửa để gia nhập vào nền kinh tế thế giới. Phân loại KCNTT Có nhiều cách phân loại KCN, nhưng tôi đồng ý với các cách phân loại KCN như sau: Phân loại KCN theo tính chất ngành nghề: gồm 4 loại + KCN chuyên ngành: được hình thành từ các xí nghiệp công nghiệp cùng một ngành hoặc một số ít ngành công nghiệp khác nhau nhưng cùng sản xuất ra một số loại sản phẩm, chủ yếu hình thành từ các ngành chủ đạo như hoá chất-hoá dầu, điện tử-tin học, vật liệu xây dựng, chế tạo và lắp ráp cơ khí (gang thép Thái Nguyên, hoá chất Việt trì, lọc dầu Dung Quất) + KCN đa ngành: gồm nhiều xí nghiệp thuộc nhiều ngành công nghiệp khác nhau. KCN đa ngành cho phép thoả mãn được yêu cầu về lãnh thổ cho sản xuất công nghiệp, song trong quy hoạch xây dựng cần lưu ý vấn đề môi trường nhằm hạn chế tác động ảnh hưởng xấu giữa các xí nghiệp khác nhau, tiết kiệm đầu tư hạ tầng. + KCN sinh thái: là mô hình mang tính cộng sinh công nghiệp. Các ngành công nghiệp được lựa chọn sao cho các nhà máy có mối liên hệ với nhau, hỗ trợ và tương tác với nhau tạo nên môi trường sạch và bền vững. Với mô hình này thì phế liệu của nhà máy này có thể làm nguyên liệu cho nhà máy kia, hoặc sản phẩm của nhà máy này sẽ là nguyên liệu, vật tư của nhà máy kia. + KCN hỗn hợp: là KCN có đầy đủ các yếu tố của KCN đa ngành, trong đó chia ra các khu chuyên ngành, khu có yêu cầu công nghệ cao, có tổ chức dịch vụ như vui chơi, giải trí, bệnh viện, trường học…đảm bảo đời sống của người lao động trong KCN và dân nhập cư. Phân loại theo quy mô diện tích phân làm các loại KCN nhỏ, trung bình, lớn và rất lớn. Theo tiêu chí này phụ thuộc quan điểm của từng nước về kích cỡ KCN, chủ yếu để nhằm phân biệt xếp hạng KCN. Phân loại theo đặc điểm quản lý thì có các loại: + KCNTT: có thể là đa ngành, chuyên ngành, có quy mô diện tích khác nhau, được hình thành với cac điều kiện khác nhau + KCX: khu chế xuất là khu chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu. + KCNC: là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao bao gồm nghiên cứu, triển khai khoa học, công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan. + CCN: cụm công nghiệp là tên gọi chung cho các cụm công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, thực chất là KCN tập trung nhưng có quy mô nhỏ do UBND cấp tỉnh quyết định thành lập( hoặc phân cấp quyết định thành lập) theo quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn để bố trí các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống trong diện di dời khỏi nội thành, nội thị hoặc các khu dân cư tập trung, và thu hút các dự án đầu tư mới với quy mô vừa và nhỏ. Cơ sở lý luận phát triển các khu công nghiệp tập trung theo hướng bền vững về kinh tế Khái niệm về phát triển bền vững Có rất nhiều khái niệm khác nhau về phát triển bền vững, một trong các định nghĩa hay được các quốc gia sử dụng là khái niệm của Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển bền vững (WCED), được trình bày trong tài liệu “Tương lai chung của chúng ta” năm 1987: “ Phát triển bền vững là một quá trình của sự thay đổi mà trong đó sự khai thác tài nguyên, phương hướng đầu tư, định hướng phát triển kỹ thuật và sự thay đổi về luật pháp đều làm hài hòa và gia tăng khả năng đáp ứng nhu cầu và khát vọng của nhân loại trong cả hiện tại và tương lai”.Hay “ Phát triển bền vững là sự phát triển không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện nay mà không làm tổn hại đến các thế hệ tương lai đáp ứng lại các nhu cầu của họ” Cũng năm 1987, vấn đề về phát triển bền vững được Ngân hàng thế giới (WB) đề cập lần đầu tiên, theo đó thì “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Các khái niệm trên chủ yếu nhấn mạnh khía cạnh sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm môi trường sống cho con người trong quá trình phát triển. Ngày nay, quan điểm về phát triển bền vững được đề cập đầy đủ hơn, ngoài vấn đề môi trường, phát triển bền vững còn xét cả về khía cạnh kinh tế và xã hội. Tại Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesbug- Cộng hòa Nam Phi năm 2002 đã xác định “ Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển , gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường”. Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề phát triển bền vững được thể hiện trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đến năm 2010, đó là “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”, gắn sự phát triển kinh tế với giữ vững ổn định chính trị-xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng. Phát triển bền vững về kinh tế là sự tăng trưởng của kinh tế phải đi đôi với sự tăng trưởng ổn định và lâu dài. Sự phát triển bền vững về kinh tế của một quốc gia phải đạt được những yêu cầu sau: Có tăng trưởng GDP và GDP đầu người cao. Nước càng nghèo thu nhập càng thấp đòi hỏi sự tăng trưởng này càng phải cao. Trong điều kiện hiện nay nước có thu nhập thấp phải có tỷ lệ tăng GDP vào khoảng 5% /năm thì mới có thể xem là phát triển bền vững về kinh tế. Nếu thấp hơn thì không được coi là phát triển bền vững về kinh tế. Có GDP hoặc GDP bình quân đầu người bằng hoặc cao hơn mức trung bình hiện nay cuả các nước đang phát triển. Nếu có tăng trưởng GDP cao nhưng mức GDP bình quân đầu người thấp thì vẫn coi là chưa đạt tới mức phát triển bền vững. Cơ cấu GDP theo hướng tỷ lệ đóng góp của công nghiệp và dịch vụ trong GDP phải cao hơn nông nghiệp nhằm đảm bảo cho tăng trưởng GDP ổn định và lâu dài. Cơ sở lý luận phát triển các khu công nghiệp tập trung theo hướng bền vững về kinh tế. Khi nói đến phát triển bền vững thì phải quan tâm cả ba vấn đề đó là kinh tế, xã hội và môi trường. Tuy nhiên, trong giới hạn của chuyên đề thì chỉ đề cập đến mặt kinh tế . Phát triển bền vững về mặt kinh tế các KCN đó là sự duy trì nhịp tăng trưởng về kinh tế của các doanh nghiệp trong KCN ổn định theo thời gian, tăng trưởng phải dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động, và hiệu quả chứ không phải chỉ dựa trên cơ sở sự gia tăng của các yếu tố đầu vào. Cân đối tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ, đặc biệt chú trọng vào phát triển công nghệ sạch. Việc phân bổ các nguồn lực phải hài hoà giữa các thế hệ. Trong “Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam”về vấn đề phát triển bền vững ở Việt Nam, trong đó nhấn mạnh vai trò phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, kết hợp chặt chẽ, hợp lý ,hài hoà với phát triển xã hội, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền. Từng bước thực hiện nguyên tắc “ mọi mặt: kinh tế, xã hội và môi trường đều có lợi”. Như vậy, phát triển kinh tế luôn là mục tiêu đầu tiên đối với mỗi quốc gia. Tuy nhân loại vẫn phải đối mặt với sự lựa chọn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường khỏi bị ô nhiễm, vì kinh tế càng phát triển thì sẽ càng thải ra môi trường nhiều hơn, các nguồn tài nguyên sẽ ngày càng sớm cạn kiệt, nhưng không thể không phát triển kinh tế, vì nhu cầu của con người là ngày càng cao, phát triển kinh tế là quy luật tiến hoá của xã hội loài người. Vậy vẫn phải phát triển kinh tế , nhưng phải theo hướng bền vững. Các KCN ra đời là các khu tập trung các nhà máy xí nghiệp công nghiệp, do đó KCN có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của vùng. Các KCN phát triển theo hướng bền vững về kinh tế biểu hiện: Các doanh nghiệp trong KCN có năng suất lao động và tốc độ tăng trưởng cao và ổn định Sản phẩm sản xuất ra có chất lượng cao và khả năng cạnh tranh được với các sản phẩm trên thế giới. Các chính sách và tiêu chí chủ yếu phát triển KCNTT theo hướng bền vững về kinh tế tại Việt Nam là: Chính sách quy hoạch phát triển KCN phù hợp với chiến lược phát triển lâu dài: Quy hoạch phát triển các KCN phải đảm bảo phát huy và khai thác lợi thế so sánh của từng khu vực, bảo đảm tính hiệu quả, cân nhắc đầy đủ các yếu tố môi trường và xã hội trong các quyết định quy hoạch Chính sách quy hoạch KCN phải gắn kết chặt chẽ với phát triển đô thị, cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào KCN như hệ thống giao thông, đèn chiếu sáng, đường dây điện, bưu điện… và các dịch vụ phục vụ như xe buýt đưa đón công nhân, nhà trọ cho công nhân, nhà ăn cho công nhân, đồn công an, công đoàn, Hải quan KCN…là các yếu tố vừa tăng sức hấp dẫn KCN, vừa là những giải pháp kinh tế-xã hội cần phải thực hiện để đảm bảo cho sự phát triển ổn định, bền vững của KCN. Phát triển KCN thực chất là kinh doanh bất động sản đất đai công nghiệp nên phaỉ chọn địa điểm tại các vị trí thuận lợi về địa lý-kinh tế. Trong một thời gian dài, chiến lược phát triển của chúng ta dựa trên quan điểm các cực phát triển. Nhưng chiến lược trên có mặt trái và giới hạn của nó vì sự tập trung quá nóng tại một khu vực thành phố đặt ra vấn đề về môi trường, xã hội nghiêm trọng đe dọa tính bền vững của chiến lược. Do vậy song song với việc tập trung phát triển các KCN tại các vùng có lợi thế, chính sách quy hoạch KCN cần chuyển hướng dần sang các vùng kém lợi thế hơn nhưng giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội, môi trường. Chính sách huy động vốn đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật KCN một cách đồng bộ. Để thu hút đầu tư vào KCN, cơ sở hạ tầng kỹ thuật các KCN đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư có ý nghĩa quan trọng và đi trước một bước. Vì vậy chính sách huy động vốn đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật KCN một cách đồng bộ, có chất lượng, đúng tiến độ, tránh tiêu cực thất thóat là những yêu cầu bức thiết đối với KCN. Không có chính sách phát triển cơ sở hạ tầng hợp lý và đồng bộ sẽ gây lãng phí hoặc gây những ách tắc, cản trở quá trình hoạt động của doanh nghiệp và ảnh hưởng xấu đến môi trường. Một KCN có cơ sở hạ tầng yếu kém sẽ không thể sản xuất tốt và ổn định, hơn nữa sẽ dẫn đến việc yếu kém trong quá trình xử lý môi trường. Chắc chắn một KCN có cơ sở hạ tầng yếu kém sẽ không hấp dẫn các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư lớn, vì khả năng phát triển sản xuất là yếu kém, chi phí trong quá trình sản xuất sẽ có nhiều phát sinh, không thể phát triển bền vững . Chính sách khai thác sử dụng hài hòa các nguồn lực Chính sách phát triển KCN phải dựa vào nguồn lực và cả cách thức sử dụng hài hòa nguồn lực, điều này quyết định năng lực cạnh tranh và hiệu quả của doanh nghiệp. Theo quan niệm truyền thống, nguồn lực là các yếu tố tạo nên nền kinh tế và thúc đẩy nó phát triển. Các yếu tố đó là đất đai, tài nguyên thiên nhiên khí hậu, nguồn nước, nguồn vốn con người, nguồn vốn tài chính, khoa học công nghệ, các truyền thống văn hóa… Theo giác độ nâng cao năng lực cạnh tranh, nguồn lực giống nhau nhưng các tác nhân gắn liền với việc sử dụng nguồn lực như năng lực quản lý, thể chế, chính sách từng địa phương khác nhau sẽ trạo nên sự khác biệt giữa các địa phương có cùng nguồn lực. Theo giác độ nguồn gốc và thời điểm phát sinh thì sự phong phú, quy mô các nguồn lực có ý nghĩa quan trọng nhưng chính việc sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực, tạo ra những “giá trị sử dụng mới” sẽ tạo nên lợi thế trong quá trình phát triển . Qua cách phân loại._. như trên thì rõ ràng các nguồn lực truỳên thống là nền tảng để phát triển, nhưng các nguồn lực vô hình như năng lực quản lý, cải cách thể chế, phát huy năng lực sáng tạo ra những “giá trị sử dụng mới” sẽ tạo nên sự khác biệt giữa các địa phương. Do đó chính sách khai thác sử dụng nguồn lực trong phát triển KCN cần đảm bảo các yêu cầu sau: Hợp tác chia sẻ sử dụng nguồn lực vì trong thời kỳ hội nhập, nguồn lực trở thành taì sản chung của toàn nhân loại không phụ thuộc vào vị trí địa lý hay quyền sở hữu. Thế giới là sự chia sẻ và mỗi nước đều có những lợi thế riêng, chính vì vậy một sự phân công hợp tác quốc tế hợp lý sẽ là một sự đảm bảo cho sử dụng nguồn lực bền vững. Do đó, chính sách sử dụng nguồn lực trong nước cần kết hợp tận dụng tốt hơn các nguồn lực bên ngoài, từng bước xác lập một cơ cấu chia sẻ cân bằng hơn và ít phụ thuộc hơn, từ bỏ hoàn toàn cơ cấu khép kín phi hiệu quả Chính sách phát triển các KCN cần có sự liên kết, hợp tác và chia sẻ, nhằm giảm sự cạnh tranh nội bộ trong việc mời gọi đầu tư, đồng thời có chiến lược phát triển các KCN mũi nhọn, tránh dàn hàng ngang cùng tiến. Chính sách phát triển các KCN phải chú ý đến công nghệ, vì lâu dài, công nghiệp sẽ tự điều chỉnh hướng đến các ngành ít bị phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, dựa trên những ứng dụng công nghệ cao và tiết kiệm hơn, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên và gia tăng hàm lượng chất xám cao hơn. Chính sách phát triển KCN phải phát huy mạnh mẽ nguồn lực con người. Đa phần các nước đang phát triển chỉ biết dựa vào khai thác nguồn tài nguyên, do vậy đất nước nghèo. Các nước biết dựa vào tri thức, lấy tri thức làm nòng cốt mới giàu có. Mặt khác, một KCN thiếu nguồn lao động sẽ kém hấp dẫn với các nhà đầu tư. Chính sách thu hút đầu tư vào KCN đảm bảo có cơ cấu cân đối, thân thiện và hội nhập. Cơ cấu cân đối: + Cân đối các KCN: cân đối giữa các KCN tổng hợp với các KCN chuyên ngành, KCNC, CCN nhằm giải quyết nhu cầu đa dạng và lâu dài. + Cân đối cơ cấu ngành: cân đối giữa công nghiệp thượng nguồn và hạ nguồn, giữa công nghiệp cơ bản và công nghiệp phụ trợ. + Cân đối sản phẩm và thị trường: cân đối giữa sản xuất hàng xuất khẩu và hàng thay thế nhập khẩu, vừa tập trung phát triển các ngành công nghiệp cạnh tranh nhưng phải chú ý an ninh nguyên liệu trong nước. + Cân đối các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế : một KCN chỉ thu hút được đầu tư nước ngoài sẽ thiếu tính bền vững, do vậy một KCN bền vững phaỉ có cơ cấu các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế hợp lý giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước. Cơ cấu thân thiện: + Cơ cấu thân thiện trở thành nhu cầu và đòi hỏi của phát triển bền vững , thể hiện ngay trong quá trình lựa chọn công nghệ, sản phẩm phải hướng đến các công nghệ ít phát thải, tiết kiệm nguyên liệu, dễ tái chế và có khả năng sử dụng lại sẽ tạo cơ hội cho việc cải thiện môi trường theo hướng thân thiện. + Cơ cấu thân thiện cũng cần phải tạo ra sự cân bằng giữa đầu ra và đầu vào và cơ hội để tái chế chất thải ngay trong quá trình công nghiệp. Việt Nam và một số nước trong khu vực được đánh giá là những nước có cơ hội phát triển các ngành công nghiệp tái chế chất thải-xu hướng tích cực đang được thế giới khuyến khích. Trong một báo cáo diễn biến môi trường của Ngân hàng thế giới cho thấy để xử lý 1 tấn chất thải chi phí tối thiểu là 10USD, đó là cơ hội cho ngành công nghiệp tái chế, nhưng quan trọng hơn, đó là lợi ích về môi trường mà xã hội thu được. Cơ cấu hội nhập: + Một KCN đáp ứng những chuẩn mực quốc tế , là cơ hội để mở rộng giao lưu và cạnh tranh với thế giới, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh đã có nhiều thay đổi, trong đó những chuẩn mực về môi trường trở thành rào cản và thách thức đối với các nước. Một số nhà đầu tư và thương mại đến quan hệ với Việt Nam ngày nay vấn đề họ quan tâm đầu tiên không phải là giá cả, mẫu mã hay chất lượng sản phẩm mà là những đáp ứng về xử lý chất thải, những điều kiện đối với công nhân, nhất là công nhân nữ. + Hội nhập đang mở ra cơ hội cho những ngành công nghiệp mới, lấy mục tiêu là đáp ứng nhu cầu của thế giới chia sẻ nguồn tài nguyên và phân công lao động của thế giới, bằng lao động và trí tuệ của Việt Nam. Chính sách xây dựng KCN có thương hiệu và bản sắc: Nền kinh tế thế giới ngày nay là nền kinh tế mở, do vậy chính sách xây dựng KCN có thương hiệu và bản sắc là vấn đề rất quan trọng bảo đảm lâu dài cho phát triển. Phẩm chất và bản sắc của KCN thể hiện ở những giá trị hữu hình và vô hình, ở uy tín thương hiệu của các nhà đầu tư và khách hàng biết đến. Trong xu thế tài chính hóa các luồng đầu tư (cổ phần hóa, chứng khóan hóa) ,những giá trị vô hình có giá trị hơn rất nhiều so với những giá trị hữu hình thể hiện qua giá trị xác định tại thị trường chứng khoán. Các nhà đầu tư mua và trả cho những giá trị bất ổn hiện tại. Chính điều này tạo điều kiện khuyến khích xu thế phát triển bền vững , sẽ là mục tiêu mà các KCN Việt Nam cần hướng tới Các KCN phải đặc biệt chú trọng phần chuyển giao các bí quyết công nghệ, ngoài quan tâm về công nghệ, cần chú trọng quy trình sản xuất ( quy trình quản lý hệ thống như ISO, kinh doanh, thiết kế, phần mềm..), giá trị gia tăng của tài sản vô hình như các phần mềm hệ thống, các giá trị sáng tạo của doanh nghiệp , những mẫu mã mới, tính năng mới của sản phẩm và tích tụ năng lực của đội ngũ chuyên gia…Những giá trị “phần mềm” như vậy mới thực sự là yếu tố quyết định thị trường và cạnh tranh. Hiện nay các KCN của Việt Nam chưa xác định được thế mạnh và những nét đặc trưng riêng tạo nên bản sắc của một nền công nghiệp. KCN vẫn dàn trải, chưa có thương hiệu. Do vậy chính sách xây dựng vị thế và uy tín về thương hiệu có thể phải mất nhiều thời gian, nhưng vẫn cần thiết phải làm. Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững về kinh tế của các khu công nghiệp tập trung. Điều kiện tự nhiên, địa lý, quy mô đất xây dựng. Vị trí địa lý hết sức quan trọng trong quá trình thu hút sự phát triển của các KCN. Trong các yếu tố quyết định sự thành công của KCN, thì có 2 yếu tố thuộc về yếu tố địa lý và điều kiện tự nhiên là: + Gần các tuyến giao thông đường bộ, hàng không, bến cảng và các điều kiện thuận lợi khác. + Nguồn nước công nghiệp được cung cấp đầy đủ. KCN phải được xây dựng ở vị trí địa lý thuận lợi, đảm bảo cho giao lưu hàng hoá giữa KCN với thị trường quốc tế và các vùng còn lại trong nước. Đây là một trong những điều kiện cần thiết đối với sự thành công và sự phát triển bền vững của các KCN để đảm bảo cho vận chuyển hàng hoá và nguyên liệu ra vào các KCN được nhanh chóng và thuận tiện nhất nhằm giảm chi phí lưu thông và tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá sản xuất ra. Các KCN cần được xây dựng ở gần các khu vực đô thị, gần các trung tâm văn hoá-xã hội, có hệ thống giao thông thuận lợi. Ngoài ra, về khí hậu, thời tiết, nhiệt độ, sông, hồ...cũng cần phải lưu ý để tránh gây khó khăn cho quá trình xây dựng và hoạt động sau này. Quy mô đất xây dựng KCN cũng có vai trò quan trọng trong việc phát triển các KCN, vì quy mô lớn sẽ tạo nên một khu vực công nghiệp rộng lớn, tiềm năng phát triển lớn hơn. Cơ hội liên kết hợp tác giữa các doanh nghiệp trong KCN sẽ cho hiệu quả thúc đẩy phát triển của các doanh nghiệp. Cơ sở hạ tầng kinh tế của vùng Về các điều kinh tế, các KCN phải nằm trong khu vực có chính sách ưu tiên của nhà nước, đặc biệt là trong các khu vực làm đòn bẩy phát triển kinh tế của cả nước. Những khu vực này có thể được Nhà nước hỗ trợ trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phục vụ chung nhưng có lợi cho cả KCN như: nâng cấp sân bay, cải tạo và nâng cấp đường bộ, đường sắt, mở rộng các cảng biển…và được các Bộ, các ngành tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ trong việc xây dựng các công trình cung cấp điện, nước, thông tin liên lạc… Đối với các nhà đầu tư , vấn đề cũng rất được quan tâm là nguồn nguyên liệu có sẵn ở địa phương có đủ cung cấp thường xuyên cho các doanh nghiệp , địa chất khu vực công nghiệp phải đảm bảo khả năng để xây dựng các xí nghiệp, các công trình phục vụ sản xuất công nghiệp . Các trung tâm kinh tế và đô thị. Các trung tâm kinh tế và đô thị vừa có vị trí thuận lợi, vừa có điều kiện nội tại làm cho các KCN có khả năng phát triển hiệu quả cao, vì đó là: + Nơi tập trung lao động kỹ thuật có chất lượng cao + Tập trung các cơ sở nghiên cứu khoa học, đào tạo, dạy nghề giúp các KCN phát triển thuận lợi. + Sẵn có hệ thống tài chính ngân hàng. + Sẵn có những cơ sở công nghiệp hỗ trợ (về linh kịên, phụ tùng, hoặc bán thành phẩm…) cho công nghiệp trong KCN. + Đã sẵn có tiện nghi đầy đủ về giáo dục, giải trí, các khách sạn, nhà nghỉ, cung cấp đầy đủ thực phẩm cho người lao động. Chính vì vậy, các trung tâm đô thị lớn có sức hút mạnh mẽ đối với các nhà đầu tư đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài. Cơ chế chính sách. Môi trường cơ chế chính sách đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công hay thất bại của việc phát triển KCN. Vì nếu cơ chế thông thoáng, không gây qua nhiều trở ngại cho các nhà đầu tư, đồng thời có các chính sách ưu đãi thì sẽ hấp dẫn được các nhà đầu tư do họ sẽ giảm được chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận kinh doanh. Do đó, chính sách đầu tư có mối liên hệ chặt chẽ với việc thu hút đầu tư vào KCN. Các chính sách ưu đãi như: miễn giảm thuế công ty, thuế xuất nhập khẩu, thuế lợi tức; không hạn chế việc chuỷển vốn lợi nhuận của các nhà đầu tư ra nước ngoài; xác định rõ quyền sử dụng đất của các nhà đầu tư ,…sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư. Đồng thời phải có quy chế hoạt động của KCN rõ ràng, cụ thể và ổn định. Có như vậy, các nhà đầu tư mới an tâm đầu tư vào KCN và nước chủ nhà mới có thể quản lý tốt được hoạt động của cac doanh nghiệp trong KCN. Ngòai ra, chính sách kinh tế vĩ mô cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến sự thành công của KCN. Đó là các chính sách về đầu tư, thương mại, lao động, ngoại hối và các chính sách khác. Môi trường chính trị, pháp luật. Nơi có dự kiến xây dựng KCN phải có sự ổn định về chính trị, an ninh và trật tự xã hội để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể tham gia kinh doanh và đầu tư . Kinh nghiệm cho thấy, các nhà đầu tư nước ngoài nhiều khi không coi những ưu đãi về kinh tế là yêú tố quyết định đầu tư hàng đầu, mà chính là sự ổn định về chính trị, xã hội của nước tiếp nhận đầu tư. Không một nhà đầu tư nào lại muốn đầu tư vào một quốc gia có nhiều bất ổn về chính trị, an ninh xã hội phức tạp. Hệ thống pháp luật phaỉ chặt chẽ và có hiệu lực để các nhà đầu tư yên tâm đầu tư, sản xuất, kinh doanh, bảo vệ được lợi ích hợp pháp của mình. Chất lượng cơ sở hạ tầng KCN. Cơ sở hạ tầng là điều kiện quan trọng cho sự phát triển bền vững về kinh tế của các KCN. Vì một cơ sở hạ tầng hiện đại và đồng bộ sẽ là nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế của các doanh nghiệp. Cơ sở hạ tầng KCN bao gồm cơ sở hạ tầng bên trong và bên ngoài KCN. Với hệ thống đường xá rộng và hiện đại sẽ thuận tiện cho các phương tiện vận tải vận chuyển sản phẩm hàng hóa. Hệ thống đèn đường chiếu sáng, nguồn cung cấp điện cho hoạt động sản xuất phải đầy đủ, hệ thống cung cấp nước đầy đủ và hiện đại, bền vững để các doanh nghiệp sản xuất ổn định và năng suất cao. Hệ thống cống thóat nước phải được quy hoạch đồng bộ có tính tóan lâu dài. Các trạm xử lý nước thải, xử lý rác thải phải được xây dựng nhằm giải quýêt các loại chất thaỉ của các doanh nghiệp sản xuất, đảm bảo môi trường không bị ô nhiễm. Tất cả phải được xây dựng từ khi quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng. Do đó, cơ sở hạ tầng của KCN cần phải được quy hoạch và xây dựng hết sức vững chắc ngay từ lúc khởi công xây dựng KCN, vì sau khi xây dựng cơ sở hạ tầng, các doanh nghiệp vào sản xuất thì việc nâng cấp cơ sở hạ tầng là rất khó khăn và tốn kém. Chất lượng các dịch vụ Là chất lượng cung cấp điện, cung cấp nước, xử lý chất thải trong KCN. Kèm theo là các loại dịch vụ về y tế, giải trí, thông tin liên lạc, ngân hàng, nhà ở, nhà ăn…Chất lượng cung cấp điện và nước có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Đặc biệt các doanh nghiệp sử dụng máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến thì nguồn điện phải được cung cấp đầy đủ, điện yếu và không ổn định sẽ ảnh hưởng đến sự sản xuất của máy móc. Khả năng vốn đầu tư Ở các nước đang phát triển thì nguồn vốn đầu tư huy động được trong nước là rất hạn chế. Mà muốn các KCN phát triển bền vững thì phải có đủ được nguồn vốn . Thứ nhất, có vốn để xây dựng các KCN, để xây dựng cơ sở hạ tầng cho KCN, muốn xây dựng được một cơ sở hạ tầng hiện đại và vững chắc thì phải có được nguồn vốn lớn. Do đó, cần huy động được nguồn vốn nước ngoài. Thứ hai, là khả năng vốn đầu tư vào các dự án đầu tư trong KCN. Khả năng vốn đầu tư lớn thể hiện quy mô của dự án, hứa hẹn sự đóng góp của dự án lớn, chi phí cho máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến cũng như chi phí cho nguyên vật liệu và nhân công là cơ sở để doanh nghiệp phát triển bền vững. Là nhân tố quan trọng góp phần phát triển các KCN bền vững về kinh tế. Năng lực của các ngành công nghiệp phụ trợ. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, năng lực của các ngành công nghiệp phụ trợ địa phương là một tiêu chí khá quan trọng trong việc lựa chọn địa điểm đầu tư, nhất là đối với các ngành công nghiệp lắp ráp, các ngành sản xuất mang tính quốc tế cao. Nguồn lao động Nguồn lao động phải không những phải đủ về số lượng mà còn phải có chất lượng tay nghề cao. Nguồn nhân lực có chất lượng là nền tảng cho sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp của KCN. Theo kinh nghiệm của Đài Loan, là nước được coi là nơi tổ chức KCN thành công nhất trên thế giới, thì trong 10 yếu tố quyết định sự thành bại của KCN, các chuyên gia Đài Loan cho rằng yếu tố số một là phải có đội ngũ lao động có tay nghề đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư . Khả năng thị trường trong nước. Đối với các công ty nước ngoài, mục tiêu đầu tư vào các KCN là tận dụng thị trường của nước chủ nhà. Sản phẩm tiêu thụ được ở thị trường trong nước là yếu tố phát triển bền vững của doanh nghiệp. Trước hết là thị trường tiêu thụ hàng hóa. Với dân số đông như nước ta, hàng hóa sản xuất trong nước còn kém cả về số lượng và chất lượng, tạo ra cho các công ty nước ngoài một thị trường rất lớn về sản phẩm hàng hóa. Sức hút đối với các KCN về mặt thị trường thường được tập trung ở những vùng dân cư đông đúc, tập trung nhiều thành phố lớn như vùng đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, Ngòai sức hút về thị trường tiêu thụ hàng hóa, thì sức hút về thị trường lao động rẻ rất hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngòai. Đối với các công ty xuyên quốc gia, sức hút về gía nhân công rẻ tại các nước là một động lực quan trọng thôi thúc phát triển các KCN. Nhờ đầu tư vào các KCN ở các nước có nguồn lao động rẻ . Tổ chức quản lý điều hành các KCN. Nhằm tạo điều kiện và thu hút các nhà đầu tư đầu tư vào các KCN với mục đích phát triển KCN theo hướng bền vững về mặt kinh tế ,ban quản lý KCN cần phải họat động có hiệu quả, thủ tục hành chính gọn nhẹ. Điều đó còn phụ thuộc vào một số yếu tố sau: Sự phân cấp giao quỳên quản lý của cấp trên cho Ban quản lý đến thời gian và thủ tục cấp phép. Sự phối hợp tốt hoạt động giữa ban quản lý KCN với các cơ quan đóng trong địa phương. Sự quan tâm của chính quyền địa phương và nước hỗ trợ về mặt tổ chức hành chính. Khả năng và trình độ quản lý của bộ máy quản lý KCN. Khả năng chủ động đưa ra hoặc đề xuất áp dụng các bịên pháp khuyến khích thu hút đầu tư vào các KCN của từng Ban quản lý. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả khai thác sử dụng KCN. Tỷ lệ diện tích đất công nghiệp trên diện tích đất tự nhiên, tỷ lệ lấp đầy. Tỷ lệ diện tích đất công nghiệp trên diện tích đất tự nhiên (%) Diện tích đất công nghiệp là diện tích đất của KCN đã xây dựng kết cấu hạ tầng để cho nhà đầu tư thuê, thuê lại thực hiện dự án đầu tư sản xuất kinh doanh trong KCN. Diện tích đất tự nhiên là toàn bộ diện tích của phần đất bên trong hàng rào KCN, bao gồm cả diện tích đất công nghiệp và diện tích các kết cấu hạ tầng khác như văn phòng đại diện quản lý KCN, hệ thống đường xá trong KCN, hệ thống đèn chiếu sáng, diện tích vườn cây trong KCN, văn phòng giới thiệu sản phẩm… Tỷ lệ này thể hiện độ “dày” của các doanh nghiệp sản xuất trong KCN. Nếu tỷ lệ này thấp quá thì sẽ lãng phí mặt bằng, việc khai thác kém hiệu quả. Còn nếu tỷ lệ này cao quá thì phần diện tích dành làm đường, làm sân, vườn, bến bãi…sẽ ít, điều đó cũng làm ảnh hưởng đến khả năng vận chuyển và chứa hàng hoá cũng như môi trường thông thoáng trong KCN. Tỷ lệ này nên vào khoảng 60%-70% thì hợp lý. Tỷ lệ diện tích được lấp đầy: Tỷ lệ diện tích được lấp đầy(%) = Chỉ tiêu này đưa ra nhằm xác định tính hiệu quả của việc khai thác sử dụng đất có ích trên tổng diện tích đạt được cấp phép theo dự án của KCN. Đồng thời qua đó có thể so sánh được sự thành công trong việc khai thác sử dụng diện tích đất giữa các KCN với nhau cũng như khả năng thu hút các dự án đầu tư. Một KCN có tỷ lệ diện tích được lấp đầy là 100% là KCN đã khai thác triệt để phần diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê, không còn phần diện tích đất trống. Số dự án đầu tư. Tổng số dự án đầu tư trong mỗi KCN nhằm xác định số dự án được đầu tư vào mỗi khu đó và khả năng thu hút các nhà đầu tư, đồng thời nó còn dùng để so sánh hiệu quả khai thác giữa các KCN với nhau. Tuy nhiên, tổng số dự án đầu tư chưa hoàn toàn đánh giá được quy mô KCN cũng như hiệu quả khai thác KCN nếu như các dự án đầu tư trong KCN là những dự án nhỏ. Tổng số vốn đầu tư. Tổng số vốn đầu tư là chỉ tiêu dùng để xác định tổng số vốn đã được các nhà đầu tư đầu tư cho từng KCN đồng thời qua đó so sánh hiệu quả thu hút vốn đầu tư giữa các KCN với nhau. Tuy nhiên chỉ tiêu này không thể sử dụng để so sánh chính xác hiệu quả khai thác và sử dụng diện tích đất công nghiệp giữa các KCN có diện tích khác nhau. Tỷ lệ vốn đầu tư trên một diện tích đất công nghiệp Chỉ tiêu này dùng để đánh giá, so sánh hiệu quả thu hút vốn đầu tư trên một đơn vị diện tích giữa các KCN với nhau để từ đó đánh giá được tính hấp dẫn thu hút vốn, hiệu quả khai thác sử dụng của các KCN một cách chính xác hơn. Tỷ lệ vốn đầu tư (triệu USD/ha) = Tổng vốn đầu tư (triệu USD) Tổng diện tích đất CN(ha) Tổng số lao động. Chỉ tiêu này được dùng để đánh giá khả năng thu hút lao động và giải quyết việc làm giữa các KCN về số lượng lao động đang làm việc tại các KCN. Qua chỉ tiêu này chúng ta có thể thấy được lợi ích của việc xây dựng các KCN trong việc giải quyết tình trạng thất nghiệp và lao động dôi dư ở các địa phương Chỉ tiêu này chỉ phản ánh được khả năng giải quyết việc làm của các KCN, chứ không đánh giá được “chất lượng” của các dự án đầu tư. Bởi vì một doanh nghiệp sử dụng một số lượng lớn nhân công nhưng vốn đầu tư ít thì chứng tỏ doanh nghiệp đó áp dụng trình độ khoa học công nghệ vào sản xuất là không cao, trình độ hiện đại hoá thấp. Tỷ lệ vốn đầu tư trên một công nhân Tỷ lệ vốn đầu tư trên một công nhân = Tổng vốn đầu tư(TriệuUSD) Tổng số lao động Tỷ lệ này cho thấy lượng vốn mà các nhà đầu tư trang bị cho mỗi công nhân. Tỷ lệ này cao thể hiện trình độ công nghệ áp dụng trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp là cao. Ngược lại, nếu tỷ lệ này thấp thì có thể doanh nghiệp áp dụng trình độ kỹ thuật, máy móc vào sản xuất là thấp, mà chủ yếu phải sử dụng sức con người. Tỷ lệ % đóng góp GDP % đóng góp GDP = Tổng giá trị sản lượng của KCN x 100% GDP Chỉ tiêu này nhằm đánh giá khả năng và năng lực đóng góp của KCN vào việc tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng GDP. Qua chỉ tiêu này chúng ta có thể thấy được ảnh hưởng của KCN đối với việc tăng trưởng GDP và tăng trưởng kinh tế để từ đó có cách nhìn nhận đúng trong việc cần thiết phải đẩy nhanh quá trình xây dựng và khai thác sử dụng các KCN. Hiệu quả sản xuất kinh doanh trên diện tích đất công nghiệp. Có thể đánh giá bằng cách tính dựa trên tổng doanh thu hoặc tổng giá trị sản lượng. Tỷ lệ doanh thu = Tổng doanh thu (triệu USD) Tổng diện tích đất KCN(ha) Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sản xuất giữa các KCN với nhau. Đồng thời phản ánh hiệu quả sử dụng đất KCN trong phát triển kinh tế, tăng sản phẩm xã hội so với sử dụng đất vào mục đích sản xuất nông nghiệp và các mục đích khác. Giá trị sản xuất bình quân của công nhân. Chỉ tiêu naỳ đánh giá năng suất lao động của mỗi KCN, từ đó ta có thể so sánh giá trị sản xuất mà mỗi công nhân sản xuất giữa các doanh nghiệp và giữa các KCN với nhau. Giá trị bq trên công nhân = tổng giá trị sản xuất tổng số công nhân THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VỀ KINH TẾ CỦA CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẬP TRUNG HÀ NỘI. Giới thiệu về Hà Nội Đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội của Hà Nội. Hà Nội - Thủ đô nước CHXHCN Việt Nam, là một thành phố được hình thành và phát triển gần 1000 năm, nằm ở trung tâm Đồng bằng Bắc bộ. Hà Nội là trung tâm đầu não chính trị, hành chính quốc gia, và cũng là trung tâm lớn về kinh tế,tài chính, văn hóa, chính trị, giáo dục, khoa học kỹ thuật của cả nước. Đồng thời là một trung tâm lớn về giao dịch quốc tế. Thủ đô Hà Nội tập trung nhiều cơ quan của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, có nhiều tổ chức Quốc tế, các Đại sứ quán của các nước, nhiều trung tâm nghiên cứu khoa học, các trường Đại học, Cao đẳng, trung tâm đào tạo nghề, là nơi tập trung trí tuệ của một đội ngũ đông đảo các nhà trí thức, các cán bộ khoa học có trình độ cao và giàu kinh nghiệm thuộc nhiều ngành và lĩnh vực khác nhau ở cả Trung ương và địa phương. Đến cuối năm 2007, Hà Nội có 9 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành với tổng diện tích là 927,39km2. Tỷ lệ tăng dân số của Hà Nội trong năm 2007 đạt kỷ lục là 3,5%, dân số thành phố đến thời điểm này là trên 3,4 triệu người, trong đó số người trong độ tuổi lao động là 2,17 triệu người. Mật độ dân số là 3.493 người/km2, cao nhất nước ta, gấp một ngàn lần mật độ chuẩn. Tình hình kinh tế Hà Nội năm 2007: Tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn năm 2007 đạt 4.358 triệu USD, tăng 22% so với năm 2006, vượt chỉ tiêu kế hoạch do UBND thành phố đề ra(4.290 triệu USD, tăng20%). Trong đó, xuất khẩu địa phương đạt 2.432triệu USD,tăng 26,4% so với thực hiện năm 2006(nhiệm vụ UBND TP giao là 2.368 triệu USD, tăng 22%). Các thành phần kinh tế đều đạt tốc độ tăng trưởng khá: Khu vực kinh tế nhà nước: kim ngạch xuất khẩu đạt 2.254 triệu USD, chiếm tỷ trọng 51,7%, tăng 18,3%. Khu vực kinh tế ngoài nhà nước: kim ngạch xuất khẩu đạt 412triệu USD, chiếm tỷ trọng 9,4%, tăng 19%. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: kim ngạch xuất khẩu đạt 1.691 triệu USD, chiếm tỷ trọng 38,8%, tăng 28,2% Tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 14.946triệu USD, trong đó kim ngạch nhập khẩu địa phương đạt 5.116 triệu USD. Năm 2007 là năm đạt kỷ lục về thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký là 21,3 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 8,03 tỷ USD. Trong đó, Hà Nội chiếm 290 dự án, với số vốn đăng ký 1,7 tỷ USD. Cho đến nay, Hà Nội chiếm 11,6% về số dự án và 14,9% tổng vốn đăng ký so với cả nước về thu hút FDI, đứng thứ 2 sau TPHCM. Năm 2007, GDP của Hà Nội ước tăng 12,1%, cao nhất từ 10 năm nay ( tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Hà Nội thời kỳ 1996-2000 là 10,38%). Khu vực đầu tư nước ngoài và kinh tế ngoài nhà nước ở lĩnh vực công nghiệp tăng trưởng cao: trên dưới 30%.  Thu ngân sách khoảng 45.709 tỷ đồng, tương đương 102% dự toán giao đầu năm.  Về chỉ số năng lực cạnh tranh, Hà Nội đứng thứ 27 trên 64 tỉnh thành trong cả nước, tăng 13 bậc so với năm 2006. Năm 2008, thành phố đặt mức phấn đấu tăng trưởng kinh tế từ 12,5-13% Những lợi thế của Hà Nội trong việc thu hút đầu tư vào các KCN: Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật. Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật của cả nước. Là nơi tập trung các cơ quan Chính phủ, các phái đoàn ngoại giao và các tổ chức quốc tế như Tổ chức Liên hợp quốc và Phái đòan Cộng đồng Châu Âu, đều đặt trụ sở taị Hà Nội đã tạo cho các nhà đầu tư một mạng lưới liên lạc tốt nhất để chia sẻ thông tin và trao đổi kinh nghiệm. Hà Nội là nơi tập trung nhiều các doanh nghiệp lớn, công nghệ tiên tiến và hiện đaị, có điều kiện thuận lợi để thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Là nơi có nhiều địa điểm du lịch, văn hóa của đất nước, là nơi tham quan rất hấp dẫn đối với khách tham quan nước ngoài, đó cũng chính là một điều kiện để quảng cáo Hà Nội đối với các nhà đầu tư. Hà Nội có hàng trăm viện nghiên cứu khoa học đầu ngành, Có 188 trường Đại học, Cao đẳng và trường dạy nghề trong Thành phố, bao gồm 23 học viện, 38 Đại học, 31 Cao đẳng, 50 trường dạy nghề và 45 trường trung học với 180.000 sinh viên. Ngoài ra sẵn sàng đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, có tay nghề, làm vịêc chăm chỉ sẽ là cơ hội giúp các doanh nghiệp sản xuất nâng cao hiệu quả. Là thị trường lớn về cung cấp hàng hóa và dịch vụ. Hà Nội là thành phố có dân số đông đứng thứ hai cả nước và cũng là thị trường lớn thứ hai sau TPHCM. Đây là thị trường tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ lớn, có ảnh hưởng tiếp cận thị trường đông dân các tỉnh Miền Bắc có biên giới với Nam Trung Quốc(chỉ cách Quảng Đông, Trung Quốc 800km) và Lào. Hà Nội là địa điểm rất thuận lợi để kinh doanh phân phối. Đồng thời yếu tố này đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tại Hà Nội có cơ hội tiếp cận với thị trường thuận lợi hơn, có nguồn thông tin thị trường đầy đủ và nhanh chóng hơn và vì thế dễ có những phản ứng thích hợp và kịp thời khi xuất hiện những biến động trên thị trường. Nhiều cơ sở nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghiệp. Khoa học và công nghệ ngày nay đã trở thành nhân tố quyết định cho sự nghiệp phát triển kinh tế. Là một trung tâm khoa học của cả nước, Hà Nội có số lượng cơ sở nghiên cứu, đào tạo nhiều nhất trong cả nước. Đây là một yếu tố quan trọng để Hà Nội có thể nhanh chóng nghiên cứu và ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào trong sản xuất kinh doanh. Cơ sở hạ tầng phát triển và là đầu mối giao thông trong nước và quốc tế Hà Nội có hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ và phát triển. Nhiều KCN, KCX và sân bay quốc tế Nội Bài chỉ cách trung tâm thành phố 40km. Cảng Hải Phòng và Cảng Cái Lân (gần vịnh Hạ Long- khu Di sản văn hóa thế giới) là hai cảng container được đầu tư hoàn chỉnh phục vụ xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa. Với vị trí đầu mối giao thông của cả đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không, các doanh nghiệp tại Hà Nội có thuận lợi rất lớn trong việc cung ứng và tiêu thụ các sản phẩm của mình. Ngày nay, trong môi trường internet, sự giao tiếp hầu như không còn khoảng cách về không gian, tuy vậy vị trí địa lý vẫn còn giữ vai trò quan trọng. Xét riêng về điều kiện vận chuyển, thời gian vận chuyển hàng hóa từ các KCN Hà Nội đến sân bay quốc tế Nội Bài như sau: KCN Nội Bài: 10 phút; KCN Thăng Long: 20 phút và KCN Sài Đồng B là 50 phút (theo trả lời của các doanh nghiệp trong các KCN). Hiện nay, ở khu vực phía Bắc, Nội Bài là sân bay quốc tế duy nhất. Do vậy với các nhà đầu tư thì Hà Nội và các địa phương lân cận là sự chọn thông minh giúp họ giảm thời gian và chi phí vận chuyển bằng hàng không. Điều đáng lưu ý là hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp lớn trong nước đều tham gia hoạt động xuất nhập khẩu bằng đường hàng không: Từ các ngành sản xuất có hàm lượng công nghệ cao như: Điện tử, tin học đến những ngành sản xuất có tính thời vụ như may mặc, giầy dép… Ông Tổng giám đốc KCN Thăng Long còn khẳng định rằng hầu hết các hoạt động vận tải của các doanh nghiệp trong KCN này là bằng đường không, bao gồm cả việc mua nguyên vật liệu và bán hàng hóa. Một điển hình khác là một lãnh đạo của một công ty may (100% vốn Trung Quốc chuyên sản xuất áo vét và các loại quần áo khác cho thị trường Hoa Kỳ và EU) ở Nam Sách, Hải Dương cũng cho biết tất cả các sản phẩm của họ đều được vận chuyển bằng đường hàng không qua sân bay quốc tế Nội Bài. Do vậy, có thể khẳng định khả năng tiếp cận cảng hàng không là một lợi thế quan trọng của Hà Nội. Ngoài ra, với cơ sở hạ tầng về điện và viễn thông chất lượng cao, các doanh nghiệp Hà Nội cũng có lợi thế hơn các địa phương khác trong giao dịch và kinh doanh. Nguồn lao động dồi dào, đặc biệt là lao động có tay nghề cao so với các địa phương khác.. Nguồn lao động Việt Nam dồi dào về số lượng nhưng còn non kém về chất lượng so với trình độ của thế giới. Tuy vậy, Hà Nội lại có ưu thế hơn hẳn so với những điạ phương khác bởi tỷ lệ tương đối cao về lao động có tay nghề. Bên cạnh đó, với số lượng lớn các cơ sở nghiên cưú và đào tạo tại Hà Nội, Hà Nội có khả năng cung cấp nhiều lao động có tay nghề trong thời gian tới. Cuối năm 2007, Thủ đô Hà Nội có 2,17 triệu người trong độ tuổi làm việc, bao gồm 1,94 triệu người làm thuê, khoảng 0,54 triệu người làm việc cho doanh nghiệp Nhà nước, Cổ phần và công ty tư nhân, khoảng 0,34 triệu người làm việc cho các cơ quan Nhà nước và lực lượng quân đội. Giới thiệu về Ban quản lý các Khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội Ban quản lý các khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 758/TTg ngày 20/11/1995 của Thủ tướng chính phủ, là cơ quan trực tiếp quản lý các khu công nghiệp , khu chế xuất và cụm công nghiệp theo cơ chế “Một cửa”. Bộ máy tổ chức của Ban gồm có: Trưởng ban Các phó trưởng ban, bao gồm 1Phó trưởng ban thường trực và 2 Phó trưởng ban. Các phòng chức năng chuyên môn, gồm có: Văn phòng Ban quản lý. Phòng Quản lý đầu tư. Phòng Quản lý quy hoạch môi trường. Phòng Quản lý lao động. Phòng Quản lý doanh nghiệp. Phòng Quản lý xuất nhập khẩu Đại diện BQL tại các khu công nghiệp. Các đơn vị sự nghiệp. Trung tâm Dịch vụ việc làm. Ban quản lý các dự án xây dựng hạ tầng khu công nghiệp Tình hình phát triển công nghiệp của Hà Nội. Năm 2007, giá trị sản xuất công nghiệp của Hà Nội tăng trưởng cao, tăng 21,4% so với năm 2006. Cụ thể, giá trị sản xuất công nghiệp của Hà Nội qua các năm như sau: 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Cả nước 336100,3 395809,2 476350 620067,7 808958,3 991049,4 1167715,4 1367968 Hà Nội 23610,7 26495,2 37054 50751,0 64390,9 77496,5 90670,9 110074,5 Chiếm tỷ lệ 7,02% 6,69% 7,78% 8,18% 7,97% 7,82% 7,76% 8,04% Đơn vị: tỷ đồng Nguồn: Sở công nghiệp Hà Nội Bảng 1: Giá trị sản xuất công nghiệp của Hà Nội tính theo giá thực tế M._.uan xúc tiến đầu tư của nước ngoài. Đồng thời, việc tham gia hiệp hội các KCN và khu chế xuất khu vực và thế giới cũng sẽ góp thêm cơ hội quảng bá cho các KCN của Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung. Nâng cao trình độ công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp Phát triển bền vững đòi hỏi làm ra nhiều hơn, tiêu phí tài nguyên ít hơn, tiêu thụ năng lượng ít hơn và phát sinh chất thải ít hơn. Điều đó đòi hỏi sự hình thành quá trình sản xuất và thiết bị mới, mở rộng vật liệu có khả năng tái chế và phát triển các sản phẩm có khả năng tái sinh. Phát triển bền vững tập trung vào công nghệ sạch để khống chế ô nhiễm đầu nguồn hơn là xử lý cuối đường ống. Cần khuyến khích cũng như có các biện pháp “bắt buộc” các doanh nghiệp trong KCN phải áp dụng và cập nhập các công nghệ tiên tiến, hiện đại. Ví dụ như đánh thuế cao, hoặc áp dụng mức lương công nhân cao, để “ép”các doanh nghiệp không thể tận dụng nguồn lao động rẻ ở trong nước một cách bừa bãi, mà cần phải sử dụng công nghệ hiện đại, máy móc trang thiết bị đổi mới tiên tiên tiến thì mới có được doanh thu cao bù vào chi phí sản xuất. Nếu không đổi mới công nghệ thì sẽ không thể tiếp tục sản xuất. Tăng cường công tác quản lý của BQL các KCN & CX Hà Nội về vấn đề này. Hoặc, có thể đánh giá chất lượng dự án đầu tư bằng cách đánh giá tỷ lệ vốn đầu tư trên đơn vị (ha) đất công nghiệp , tỷ lệ vốn đầu tư trên 1 công nhân, từ đó đưa ra các yêu cầu về tỷ lệ vốn đầu tư trên công nhân không được thấp quá tiêu chuẩn cho phép. Không có đủ nguồn lực sản xuất thì bắt buộc các doanh nghiệp phải đổi mới thiết bị máy móc để nâng cao công suất. Quá trình thẩm định dự án đầu tư cần thẩm định chặt chẽ trình độ công nghệ dây chuyền sản xuất cũng như các thiết bị máy móc sản xuất của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp nhập máy móc đã qua sử dụng cần phải kiểm định chất lượng, máy còn mới và chưa lạc hậu mới được phép đưa vào sản xuất. Hỗ trợ về mặt tài chính, vật chất hoặc nhân lực cho các doanh nghiệp có các dự án đổi mới công nghệ. Hình thức cấp vốn thu hồi, cấp vốn theo đề tài cần được tiếp tục duy trì. Thí điểm lập ngân hàng công nghệ với chức năng chủ yếu là hỗ trợ và thúc đẩy nghiên cứu , ứng dụng khoa học công nghệ. Bồi dưỡng và phát triển đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ, công nhân lành nghề về số lượng, chất lượng và cơ cấu đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài, áp dụng các chính sách tài chính nhằm tạo lợi thế cho các doanh nghiệp và các đơn vị nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới như giảm thuế, cung cấp thông tin, các dịch vụ cần thiết, giúp đỡ chuyên gia và cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý… Đưa tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất và tăng cường năng lực cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trường. Về nguồn nhân lực. Tuy được đánh giá cao hơn các địa phương khác về đội ngũ lao động, tuy nhiên nguồn lao động của Hà Nội vẫn xảy ra tình trạng “thừa thầy thiếu thợ”, trình độ của công nhân đa số là tốt nghiệp phổ thông, với các nghành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao thì chất lượng lao động ở Hà Nội vẫn chưa đáp ứng được . Một đội ngũ lao động lành nghề sẽ là nền tảng cho sự phát triển bền vững của các KCN. UBND Hà Nội cần có các biện pháp hỗ trợ, khuyến khích cho việc hình thành các trường đào tạo nghề nhằm cung cấp lao động có tay nghề cao cho các KCN. Sự mất cân đối giữa cung và cầu nguồn nhân lực đã và đang đặt ra hàng loạt vấn đề về đào toạ, bồi dưỡng và nâng cao tay nghề cho người lao động trước khi tuyển chọn vào các KCN. Trước hết BQL các KCN&CX Hà Nội cần xác định rõ nhu cầu số lượng, cơ cấu và trình độ đội ngũ lao động cần tuyển dụng từng năm và dự báo nhu cầu dài hạn cho các KCN phù hợp với ngành nghề. Căn cứ vào nhu cầu đó,các ngành chức năng và các địa phương sẽ tuyển chọn lao động để đào tạo theo số lượng, kết cấu và trình độ tay nghề tương ứng tại các trung tâm huấn luyện tay nghề. Các trung tâm này có thể được thành lập theo các chuyên ngành tuỳ nhu cầu phát triển các KCN. Kinh phí cho việc xây dựng các trung tâm này được huy động từ các nguồn: nhà nước, các KCN và người lao động, phân bố theo tỷ lệ hợp lý, bảo đảm hài hoà lợi ích các bên. Thực tế cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp trong KCN của Hà Nội đều có công nghệ tiên tiến, hiện đại, vì thế nhu cầu lao động có tay nghề cao là rất cấp thiết. Việc hỗ trợ để hình thành các trung tâm đào tạo nghề tại Hà Nội phù hợp với nhu cầu trên sẽ góp phần làm cho doanh nghiệp giảm đáng kể chi phí đào tạo lao động và qua đó tăng khả năng thu hút đầu tư vào Hà Nội cũng như sự phát triển bền vững về kinh tế của các KCN. Về quy hoạch các KCN. Nâng cao chất lượng qui hoạch KCN. Thứ nhất, nâng cao chất lượng, hiệu quả và bảo đảm tính hệ thống trong quy hoạch KCN. Theo kinh nghiệm của các nước Thái Lan, Trung Quốc trong phát triển KCN, thì quy hoạch các KCN phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đất đai, quy hoạch điểm dân cư, thành phố, khu đô thị. Thứ hai, lĩnh vực hoạt động của KCN cần được mở rộng. Mục đích ban đầu của việc thành lập các KCN là để tận dụng lao động, điều kiện tự nhiên để thu hút các nhà đầu tư trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp để lấp đầy KCN. Tuy nhiên, các KCN giờ đây cần chuyển sang hoạt động theo mô hình mới. KCN không chỉ là nơi dành riêng cho các hoạt động sản xuất công nghiệp mà cả các hoạt động thương mại, dịch vụ logistic, các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động trong KCN như ngân hàng, bưu điện, vận chuyển, viễn thông cũng phải là một phần của KCN. Thứ ba, đưa ra các biện pháp hỗ trợ cho việc chuyển đổi cơ cấu trong nội bộ KCN theo hướng hiệu quả, bền vững và phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ. Theo đó, cơ cấu sản xuất công nghiệp trong các KCN Hà Nội cần: Chuyển từ KCN sản xuất sản phẩm sử dụng nhiều lao động, tài nguyên sang KCN sử dụng nhiều vốn và công nghệ cao Chuyển các ngành sản xuất gây ô nhiễm môi trường sang các ngành công nghiệp sạch. Chuyển từ KCN sản xuất đơn thuần sang KCN kết hợp sản xuất với nghiên cứu khoa học, triển khai kỹ thuật công nghệ cao và các dịch vụ sản xuất. Với điều kiện của một đô thị đông đúc, nguồn lực đất đai hạn hẹp, nguồn vốn và lực lượng lao động qua đào tạo dồi dào, Thành phố cần xây dựng tiêu chí cụ thể thu hút các dự án đầu tư trong KCN theo hướng chỉ thu hút các dự án có hàm lượng vốn cao, trình độ tiên tiến và ít ô nhiễm. Từng bước dịch chuyển dần các ngành công nghiệp không phù hợp ra ngoài thành phố. Thứ tư, bảo đảm tính đồng bộ của các yếu tố cơ sở hạ tầng về kinh tế, xã hội và môi trường. Mục đích chung của hướng này là nhằm bảo đảm cho sự phát triển bền vững không những nội tại KCN mà cả những địa phương có KCN. Để thực hiện được mục tiêu trên, sự phát triển các KCN phải được kết hợp chặt chẽ với các yếu tố cần phát triển khác như hệ thống bảo vệ và chống ô nhiễm môi trường; Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội: đường xá, điện, nước, nhà cửa, mạng lưới thông tin viễn thông, y tế, giáo dục, phát triển KCN đi đôi với quy hoạch đồng bộ mạng lưới thị tứ, khu vực thành thị với các điều kiện sinh hoạt hiện đại. Thứ năm, việc xây dựng qui hoạch phải đi trước một bước so với yêu cầu thực tiễn. Cần thiết phải nghiên cứu kỹ những bài học kinh nghiệm của các quốc gia đi trước trong vấn đề phát triển KCN. Đồng thời cần phải tranh thủ ý kiến và sự tham gia của các chuyên gia nước ngoài trong công tác xây dựng qui hoạch. Quy hoạch là một vấn đề cần được xem xét kỹ lưỡng và khoa học. Tránh tình trạng quy hoạch, rồi điều chỉnh quy hoạch, sửa đổi quy hoạch, quy hoạch thiếu công khai đã gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp cũng như tạo điều kiện cho một số quan chức tham nhũng hoặc lạm dụng thu lợi bất chính, gây mất lòng tin của các doanh nghiệp cũng như nhân dân. Về chính sách tăng cường nội địa hoá. Các doanh nghiệp trong các KCN hiện nay đa phần sử dụng nguyên liệu nhập ngoại mà chưa tận dụng được nguồn nguyên liệu trong nước. Mà nguồn nguyên liệu trong nước vẫn có khả năng đáp ứng về nhu cầu chất lượng và số lượng. Cần có các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nguồn nguyên liệu nội địa như: tăng thuế nhập khẩu nguyên vật liệu, tỷ lệ thành phẩm càng cao thì đánh thuế càng cao, đồng thời có các chính sách giảm thuế khi sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước. Đồng thời nên có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước vào các KCN, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận các doanh nghiệp nước ngoài, vừa học hỏi kinh nghiệm, công nghệ và tăng cường nội địa hoá, phát huy nội lực. Hà Nội là thủ đô, là trung tâm kinh tế lớn, là nơi tập trung rất nhiều các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh thì thu hút các doanh nghiệp trong nước vào các KCN là một việc cần thiết. Theo thông tin thu thập được, thì hiện nay ở các KCN của Hà nội, các dịch vụ hỗ trợ sản xuất như logistics không cần đòi hỏi trình độ khoa học công nghệ cao nhưng vẫn là các dự án của nước ngoài, trong khi đó ta hoàn toàn có thể đầu tư các dự án này. Logistics là một hoạt động thương mại do các thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho bãi, làm thủ tục hải quan và các loại giấy tờ, tư vấn khách hàng, đóng gói, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa để hưởng phí thù lao. Ở KCN Nội Bài có công ty Nippo Kondo (Nhật). Nếu như ở Việt Nam, logistics còn là một ngành mới mẻ thì trên thế giới đã là một dịch vụ hoạt động lâu năm với nhiều tập đoàn hoạt động với quy mô toàn cầu như: Maersk Logistics, Mitsui OSK, APL... Logistics là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của quá trình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại mỗi quốc gia. Đối với những nước phát triển như Nhật và Mỹ chi phí logistics chiếm khoảng 10% GDP. Đối với những nước kém phát triển thì tỷ lệ này có thể hơn 30%. Với doanh số hàng tỷ USD, dịch vụ này rất hấp dẫn các nhà đầu tư và họ đang đầu tư và kinh doanh sôi động tại Việt Nam. Sự phát triển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng. Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ. Tuy nhiên, điều đáng nói là nguồn lợi lớn từ dịch vụ này ngay trên sân nhà hiện không nằm trong tay các doanh nghiệp Việt Nam mà đang chảy về túi các nhà đầu tư nước ngoài. Đây là điều rất đáng tiếc, là chưa có một doanh nghiệp trong nước nào trong các KCN, mà tát cả đều là các dự án đầu tư nước ngoài,vì ngành này chúng ta hoàn toàn có khả năng đầu tư . Trong thời gian tới, Hà Nội cần khuyến khích và thu hút các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào lĩnh vực này. Tăng cường quản lý nhà nước của BQL các KCN&CX Hà Nội Nghị định Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm 2008 quy định về KCN, KCX và KKT đã tăng thêm quyền hạn và trách nhiệm quản lý của Ban Quản lý các KCN & CX Hà Nội trong vai trò quản lý các doanh nghiệp. Để phát triển các KCN bền vững về kinh tế thì vai trò quản lý của BQL là rất quan trọng. Về thẩm định và cấp giấy phép đầu tư :Ngay từ lúc tiếp nhận đơn xin đầu tư thì BQL cần thẩm định về khả năng vốn, công nghệ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào không đạt yêu cầu sẽ không được cấp phép đầu tư. Thực hiện cấp phép đầu tư có chọn lọc. Tiến hành xử lý thủ tục hồ sơ nhanh chóng. Về quản lý doanh nghiệp : Phòng quản lý doanh nghiệp phối hợp với các với các cơ quan hữu quan kiểm tra việc bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh trật tự và an toàn lao động đối với các doanh nghiệp trong KCN và KCX, tháo gỡ các khó khăn cho doanh nghiệp . Tham mưu đề xuất với các cơ quan chức năng nhà nước và lãnh đạo BQL chính sách, chế độ nhằm khuyến khích sản xuất kinh doanh, phát hiện những vấn đề cần sửa đổi,điều chỉnh giấy phép đầu tư . Phối hợp với Trung tâm dịch vụ viêc làm thuộc BQL, đảm bảo cung ứng lao động có chất lượng cho các doanh nghiệp trong KCN, KCX theo lụât pháp và chính sách của nhà nước Việt Nam. Hướng dẫn và theo dõi việc thực hiện những quy định của BQL về quản lý lao động tại các xí nghiệp trong các KCN. Tăng cường kiểm tra tình hình sản xuất trong KCN, về tình hình đời sống người lao động, bảo vệ quyền lợi cho người lao động, tình hình sản xuất của các doanh nghiệp, việc chấp hành quy chế KCN. Tăng cường vai trò của Đại diện ban quản lý tại các khu công nghiệp: Đôn đốc kiểm tra xem xét tình hình sản xuất của các doanh nghiệp để nắm chắc tình hình, phải thường xuyên theo dõi hoạt động của tất cả các KCN, những thắc mắc cần giải quyết hay có vấn đề tồn tại gì trong KCN thì ban đại diện cần nắm rõ để báo cáo, có phương hướng xử lý kịp thời. BQL cần phối hợp với các công ty xây dựng KCN có những chính sách thu hút đầu tư và thống nhất tiêu chí lựa chọn các nhà đầu tư, cũng như phối hợp trong việc quản lý hiệu quả phát triển các KCN. Về công tác đền bù, giải phóng mở rộng các KCN Cần đẩy nhanh việc đền bù, thu hồi đất. Qua khảo sát thực tế, đến nay chỉ mới có KCN Thăng Long là đã hoàn thành cả 3 giai đoạn, Nội Bài cũng đang triển khai giai đoạn 2. Còn các khu khác vẫn chỉ mới dậm chân tại giai đoạn 1, tất cả đều vướng phải vấn đề giải phóng mặt bằng. Đây là một trong những lý do cơ bản khiến cho việc phát triển các KCN rất chậm trễ. Tuy nhiên, có thể thấy việc phát triển các KCN cũng bị giới hạn do diện tích đất cho phát triển công nghiệp của thành phố cũng bị hạn chế, nên việc giải phóng mặt bằng chậm chễ cũng chỉ làm cho tình hình thêm khó khăn. Nhiều KCN từ khi có quyết định thành lập Hội đồng đền bù giải phóng mặt bằng đến khi hoàn thành thủ tục, lấy được đất phải kéo dài nhiều năm, trong thời gian kéo dài đó có nhiều phát sinh nằm ngoài dự kiến làm tốn kém và gây tâm lý ức chế cho nhà đầu tư. KCN Sài Ðồng B giai đoạn II là một thí dụ điển hình: Sau khi lấp đầy KCN giai đoạn I, Công ty điện tử Hà Nội được thành phố cho phép mở rộng giai đoạn II của KCN thêm 9 ha. Từ đó đến nay , việc giải phóng mặt bằng cho giai đoạn II vẫn chưa hề có tiến triển. Hệ quả là hàng loạt nhà đầu tư nước ngoài đăng ký đầu tư vào KCN sau nhiều năm không xác định được thời gian giao đất, đã nản lòng và phải quay ra đầu tư vào các địa phương khác. Hiện nay, trở ngại lớn nhất trong giải phóng mặt bằng là vấn đề bồi thường. Công tác giải phóng mặt bằng gặp khó khăn do nhiều nguyên nhân như việc quy hoạch, hướng dẫn, chỉ dẫn, tuyên truyền vận động chưa tốt, do vậy người dân không hiểu rõ chế độ, chính sách của Nhà nước. Có nhiều nơi, tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh, đẩy giá đất lên cao gấp nhiều lần so với giá đền bù. Điều tất yếu là người dân sẽ không muốn trao trả đất trừ khi họ được đền bù với mức giá cao hơn giá thị trường. Để giải quyết vấn đề này, Hà Nội cần tập trung giải quyết các vấn đề sau: Thứ nhất, công bố công khai và phổ biến sớm qui hoạch đã được phê duyệt bằng nhiều hình thức đến người dân ở khu vực bị thu hồi đất nhằm chuẩn bị tâm lý cho người dân và giảm bớt những hoạt động lợi dụng sự hiểu biết về thông tin qui hoạch để trục lợi thông qua mua bán, sang nhượng, xây dựng trên vùng đất được qui hoạch dẫn đến gây bất ổn về tình hình giá đất, gây khó khăn và tốn kém cho việc thu hồi và giải phóng mặt bằng cho xây dựng KCN. Thứ hai, chuẩn bị kỹ càng kế hoạch thu hồi đất và tái định cư cho người dân mất đất, thông qua chính quyền địa phương các cấp để phổ biến cho dân. Kế hoạch này phải có nhiều phương án để cho người dân có thể lựa chọn phương án phù hợp với điều kiện riêng của họ (giao đất lấy tiền, đổi đất lấy nền nhà, góp đất lấy cổ phần, v.v..). Các phương án cũng cần phải được phổ biến rộng rãi, chính xác và lấy ý kiến đóng góp của người dân một cách cởi mở. Nếu có ý kiến phản hồi, cần phải được nghiên cứu kỹ và chỉnh sửa kế hoạch cho phù hợp. Thứ ba, thành phố phải có phương án ổn định cuộc sống cho người dân sau khi bị thu hồi đất. Tình trạng phổ biến ở một số địa phương là người dân sau khi bị thu hồi đất phải mất rất nhiều thời gian để tổ chức lại cuộc sống trong khi lại ít nhận được sự quan tâm của chính quyền địa phương. Thậm chí nhiều nơi, những người bị thu hồi đất thấy bị thiệt thòi quá nhiều đã quay trở lại gây khó khăn cho hoạt động của các nhà đầu tư. Để ổn định cuộc sống cho người dân mất đất, trước hết chính quyền địa phương cần đi trước một bước trong việc đảm bảo chất lượng nhà ở và cơ sở hạ tầng khu vực tái định cư. Cần tạo điều kiện cho những hộ dân có liên quan tham gia giám sát việc xây dựng nhà tái định cư để đảm bảo rằng những gì họ được hưởng là tương xứng với những lợi ích mà họ đã phải “hy sinh” vì sự phát triển của KCN. Ngoài ra, nông dân đóng góp đất canh tác cho xây dựng KCN có thể thay vì được đền bù bằng tiền mặt họ sẽ được nhận cổ phần của công ty phát triển hạ tầng KCN. Như vậy họ sẽ là cổ đông, tham gia trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của KCN và thay vì được nhận hoa màu từ sản xuất nông nghiệp họ sẽ được nhận tiền lãi từ hoạt động kinh doanh hạ tầng của KCN. Người dân sẽ sẵn sàng bàn giao đất để công ty hạ tầng có thể sớm đi vào hoạt động, mang lại lợi nhuận cho chính họ. Giải pháp này sẽ mang tính hiện thực nhiều hơn vì chắc chắn sẽ nhận được sự đồng tình của phần lớn người dân mất đất. Các chính sách marketing và công tác xúc tiến đầu tư. Đã có xây dựng các trang website cho từng KCN, song nội dung chưa có nhiều, rất sơ sài. Cần phải giới thiệu quảng bá các KCN nhiều hơn, đưa thêm nhiều thông tin hình ảnh về cơ sở hạ tầng, dịch vụ, các mặt hàng sản xuất trong KCN. Xây dựng các chương trình marketing địa phương. Cần phải khẳng định rằng, tuy Hà Nội đã có nhiều cố gắng trong công tác truyền thông nhưng hầu hết các chương trình đều chưa mang lại hiệu quả đáng kể. Họ có rất ít những thông tin về môi trường đầu tư từ chính các hoạt động xúc tiến chủ động của Hà Nội. Thực tế, các nhà đầu tư luôn phải tự mình tìm kiếm thông tin trong một môi trường thông tin không mở. Trong kỷ nguyên của công nghệ thông tin, có rất nhiều phương pháp thu thập thông tin về một địa điểm đầu tư nào đó và cũng có hàng trăm ngàn nguồn có thể cung cấp thông tin cho nhà đầu tư. Một cuộc điều tra các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã chỉ ra có 4 nhóm nguồn tin được họ truy cập: Nhóm thứ nhất bao gồm những thông tin không phổ biến mà bạn hàng, các nhà đầu tư khác, kinh nghiệm của chính nhà đầu tư cũng như từ các đại sứ quán cung cấp. Dựa trên kinh nghiệm thực tế, những nguồn này được coi là những nguồn tin đáng tin cậy nhất đối với các nhà đầu tư khi họ tìm kiếm thông tin về môi trường Hà Nội. Nhóm thứ hai mà nhà đầu tư tìm kiếm thông tin là Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Đây là nguồn tin chính thức mà nhà đầu tư cho rằng có khả năng cung cấp những thông tin chính xác nhất về chính sách thu hút đầu tư. Tuy nhiên, thông tin từ nguồn này thường không đầy đủ hoặc rất chủ quan, chỉ thể hiện tư tưởng tích cực nhưng trên thực tế thì nhà đầu tư còn nhiều việc phải làm. Nhóm thứ ba cung cấp thông tin bao gồm Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, các chiến lược thu hút FDI của Hà Nội và Việt Nam. Có 70% các nhà đầu tư trong nghiên cứu này cho rằng, họ sử dụng nguồn tin này nhưng chất lượng thông tin chưa thực sự cao, chỉ hơn mức trung bình mà thôi. Nhóm thứ tư cung cấp thông tin cho nhà đầu tư là Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam ( VCCI), trang chủ của các cơ quan Hà Nội, người Việt Nam và các đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài. Các nhà đầu tư cũng thường truy cập vào những nguồn tin trên nhưng họ đánh giá thấp chất lượng thông tin từ các nguồn này bởi tính lạc hậu và không chính xác của chúng. Các nhà đầu tư rất tin tưởng vào thông tin mà đối tác của họ cung cấp. Bên cạnh đó, đại sứ quán của họ tại Việt Nam cũng được họ tham khảo ý kiến đánh giá về môi trường đầu tư. Do đó, việc cung cấp thông tin cho đại sứ quán các nước tại Việt Nam là điều mà Hà Nội nên làm để có thể tiếp cận các nhà đầu tư. Thực tế, sau khi nhận được những thông tin tích cực, các nhà đầu tư thường tới tận nơi để kiểm tra tình hình bằng đánh giá của chính họ. Sở kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, một đầu mối cung cấp thông tin về Hà Nội cũng không được nhiều nhà đầu tư nhắc tới như một “nguồn cung cấp thông tin” mà với họ, đây chỉ là nơi “cấp giấy phép và quản lý các dự án đầu tư” mà thôi. Thực tế, Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cũng không thể quản lý việc các dự án được cấp phép đã đi vào sản xuất kinh doanh hay chưa và mức độ thành công của các dự án này ra sao. Một số kiến nghị hỗ trợ các KCN phát triển bền vững về mặt kinh tế Sự phát triển các KCN bền vững về mặt kinh tế phải nằm trong mối liên hệ phát triển bền vững về mặt xã hội và môi trường: Xã hội Cần phải hoàn thiện các chính sách an dân khi thu hồi đất: Thứ nhất, công bố công khai và phổ biến sớm qui hoạch đã được phê duyệt bằng nhiều hình thức đến người dân ở khu vực bị thu hồi đất nhằm chuẩn bị tâm lý cho người dân và giảm bớt những hoạt động lợi dụng sự hiểu biết về thông tin qui hoạch để trục lợi thông qua mua bán, sang nhượng, xây dựng kiên cố trên vùng đất được qui hoạch dẫn đến gây bất ổn về tình hình giá đất, gây khó khăn và tốn kém cho việc thu hồi và giải phóng mặt bằng cho xây dựng KCN. Thực hiện minh bạch chính sách bồi thường, thống nhất giá cả bồi thường trong một KCN không đổi theo thời gian, tránh tình trạng người dân kéo dài dây dưa nhằm đòi nâng cao giá bồi thường khi giá đất thị trường ngày càng tăng cao. Hoàn thiện chính sách bồi thường theo hướng nhất quán giữa việc bồi thường bằng đất và bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất, đảm bảo cho người dân tái tạo được tư liệu sản xuất mới để ổn định cuộc sống lâu dài. Đưa việc bồi thường chuyển đổi nghề nghiệp là khoản chính thống chứ không phải là hỗ trợ. Nâng cao mức sống của người lao động về cả vật chất và tinh thần: Bình đẳng trong thu nhập,trong việc tiếp cận các dịch vụ. Tạo điều kiện cho người lao động được tiếp cận với các dịch vụ cơ bản như giáo dục, y tế, giải trí như sách báo, đài, tivi, internet, khu vui chơi giải trí. Đảm bảo cho người lao động có chỗ ăn, ở đầy đủ. về nhà ở, điện, nước đầy đủ, giá cả hợp lý. Đảm bảo an ninh trật tự để người lao động yên tâm sống và làm việc. Tạo điều kiện cho người lao động được trau dồi kiến thức và kỹ năng của mình thông qua các chương trình đào tạo, qua sách báo và qua các phương tiện thông tin đại chúng. Khuyến khích các công ty xây dựng hạ tầng xây dựng các khu nhà ở cho công nhân, các công trình văn hoá. Vận động người lao động tích cực tham gia công tác phòng chống tệ nạn xã hội, tội phạm, bảo vệ tài sản doanh nghiệp , bảo vệ an toàn sản xuất và an ninh trật tự KCN. Tăng cường xây dựng các tổ chức công đoàn trong KCN. Xem xét hoàn thiện pháp luật lao động như thoả ước lao động tập thể, tiền thưởng… Môi trường Chúng ta biết rằng phát triển sẽ làm biến đổi môi trường, vấn đề là phải làm sao cho môi trường tuy biến đổi nhưng vẫn thực hiện đầy đủ được ba chức năng cơ bản của nó là: tạo cho con người một không gian sống với phạm vi và chất lượng tiện nghi cần thiết, cung cấp cho con người những tài nguyên cần thiết để sản xuất , sinh sống, nơi xử lý và chôn vùi các phế thải làm ô nhiễm môi trường, đó chính là phát triển bền vững. Cần kết hợp hài hoà các hoạt động nhằm duy trì nguyên trạng các trạng thái địa lý và tự nhiên có ảnh hưởng đến đời sống con người. Cụ thể như: Việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên tái tạo trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về số lượng và chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất như xăng, dầu. Môi trường tự nhiên và môi trường xã hội không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại. Sử dụng tiết kiệm nguồn điện và nguồn nước. Các nguồn phế thải từ các doanh nghiệp và sinh hoạt của con người phải được xử lý, tái chế kịp thời, đặc biệt là nguồn nước thải và khí thải. Nguồn nước thải cần được tái chế, còn khí thải cần được khống chế không được vượt quá sự cho phép, và phải có hệ thống xử lý trước khi thải ra môi trường. để đảm bảo không khí không bị ô nhiễm. Cần khẩn trương xây dựng hệ thống xử lý nước thải trong tất cả các KCN. Trong các KCN của Hà Nội hiện nay thì chỉ mới có KCN Thăng Long là có khu xử lý nước thải, hệ thống môi trường của KCN đạt tiêu chuẩn ISO 14001 về bảo vệ môi trường . Còn các KCN khác vẫn chưa có hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường đạt tiêu chuẩn. Yêu cầu đặt ra bắt buộc là tất cả các KCN phải có các điều kiện đầy đủ về hạ tầng xử lý nước thải và chất thải trước khi được cấp giấy phép đầu tư. Các doanh nghiệp trong KCN phải có hệ thống xử lý nước thải sơ bộ ngay tại nhà máy trước khi thải ra đường nước thải chung. Doanh nghiệp nào gây ô nhiễm thì doanh nghiệp đó phải đền bù, mà mức xử phạt các doanh nghiệp gây ô nhiễm phải thật nghiêm khắc. Nếu doanh nghiệp nào gây ô nhiễm trong thời gian dài có thể rút giấy phép đầu tư, chấm dứt hoạt động sản xuất của doanh nghiệp đó. Hà Nội phải kết hợp với các địa phương, các KCN và các doanh nghiệp đang hoạt động trong các KCN tìm ra giải pháp thiết thực để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở các KCN. Cần kết hợp giữa việc rà soát các chế tài xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường với việc hỗ trợ các đơn vị tổ chức có liên quan để chấm dứt tình trạng ô nhiễm hiện tại, đặc biệt là tình trạng ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm khí thải. Các công ty phát triển hạ tầng KCN cũng cần nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường. Hà Nội có thể khuyến khích việc xây dựng các nhà máy xử lý chất thải bằng việc không thu tiền thuế, phí sử dụng đất đối với diện tích dùng cho mục đích này, kể cả khu xử lý tập trung và các khu xử lý cục bộ trong các doanh nghiệp. Đồng thời thành phố cũng nên có cơ chế hỗ trợ (lãi suất thấp, thưởng) và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường. Cần quy hoạch thành lập các KCN chuyên ngành, vì việc tập trung các doanh nghiệp có cùng ngành nghề trong một KCN sẽ tạo điều kiện cho việc lựa chọn công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường phù hợp, giúp nâng cao hiệu quả trong công tác phòng ngừa, và xử lý hiệu quả tình trạng ô nhiễm tại các khu vực trong và xung quanh KCN. Ngược lại, nếu như trong cùng một KCN mà có nhiều doanh nghiệp thuộc ngành nghề khác nhau thì công nghệ xử lý môi trường cũng đòi hỏi đa dạng, tốn kém và khó quản lý Tăng cường trồng cây xanh trong các KCN. Vận động các doanh nghiệp và người lao động có ý thức bảo vệ môi trường trong KCN. Về vấn đề giao thông của KCN Nam Thăng Long. Thành phố cần đẩy nhanh việc triển khai xây dựng con đường lớn nối KCN Nam Thăng Long ra đường quốc lộ để vấn đề đi lại trong KCN thuận lợi hơn. Tạo điều kiện thuận lợi để KCN thu hút các nhà đầu tư. UBND Thành phố cần quan tâm hơn nữa đến đời sống của cán bộ BQL: Lương cán bộ thấp, cơ sở hạ tầng BQL chật hẹp, các phòng ban có diện tích nhỏ, mỗi phòng có diện tích chỉ từ 15-20m2, cơ sở vật chất chưa tương xứng với vai trò vị thế của Ban. Nhanh chóng thực hiện việc di dời BQL về địa điểm mới. KẾT LUẬN Phát triển KCN theo hướng bền vững là yêu cầu cấp thiết của bất kỳ KCN nào. Tuy còn một số tồn tại nhưng các KCN của Hà Nội đã chứng tỏ được vai trò của các KCN của thủ đô khi thu hút được các dự án lớn, sản xuất các sản phẩm có công nghệ cao, đóng góp quan trọng vào sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế, sự hình thành các khu đô thị, giải quyết được rất nhiều việc làm và góp phần tăng thu ngân sách. Trong thời gian tới, khi mà cả 5 KCN đã đi vào hoạt động, Sở kế hoạch đầu tư Hà Nội, Ban quản lý các KCN&CX Hà Nội cùng với chính quyền các cấp quản lý hiệu quả hơn các dự án đầu tư và sự hoạt động của các KCN, có những phương hướng nhằm phát triển các KCN phát triển bền vững về tất cả các mặt. Chuyên đề đã đánh giá cơ bản được sự phát triển bền vững về mặt kinh tế , một số tồn tại và đưa ra được một số giải pháp nhằm phát triển bền vững các KCN trên địa bàn Hà Nội. Do khả năng bản thân và thời gian có hạn nên chuyên đề chắc chắn còn nhiều thiếu sót, kính mong thầy, quý cơ quan nơi tôi thực tập cùng các bạn sẽ có những đóng góp ý kiến giúp tôi hoàn thiện hơn chuyên đề của mình. Tôi xin chân thành cảm ơn! DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Giáo trình Kinh tế phát triển GS.TS.Vũ Thị Ngọc Phùng , NXB Lao động Xã hội, 2005 PGS.TS Nguyễn Đức Khiển, Con người và vấn đề phát triển bền vững ở Việt Nam, NXB Lao Động-Xã Hội. Sở Thương mại Hà Nội, Báo cáo hoạt động thương mại Hà Nội năm 2007 và nhiệm vụ năm 2008 BQL KCN và chế xuất Hà Nội (11/ 2005), Kỷ yếu Hội thảo khoa học 10 năm xây dựng các KCN&CX Hà Nội (1995 – 2005) Vũ Thành Hưởng: Diễn đàn Phát triển Việt Nam và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, “Môi trường và chính sách kinh doanh của Hà Nội” BQL KCN &CX Hà Nội: Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2007 và phương hướng nhiệm vụ năm 2008. Nghị định Chính phủ số 29/2008/NĐ - CP ngày 14 tháng 03 năm 2008 quy định về KCN, KCX và KKT. UBND Thành phố Hà Nội: Danh mục dự án đầu tư vào Hà Nội giai đoạn 2006-2010. BQL KCN và chế xuất Hà Nội, VD HIPZA2007 “Hà Nội-Địa chỉ vàng cho các nhà đầu tư” Trang Web sở kế hoạch đầu tư Hà Nội. Địa chỉ: ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc12323.doc
Tài liệu liên quan