Phân tích thống kê kết quả kinh doanh của Công ty bảo hiểm Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam giai đoạn 2004- 2008

Lời mở đầu Trong thời đại kinh tế thị trường phát triển cùng với sự hội nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Các ngành công nghiệp và dịch vụ không ngừng phát triển đặc biệt là ngành dịch vụ dần chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của đất nước. Bảo hiểm là một ngành dịch vụ, hứa hẹn một tương lai phát triển rất khả quan. Kể từ năm 1993, thời điểm Việt Nam bắt đầu mở cửa thị trường bảo hiểm cho đến hết năm 2008, ngành bảo hiểm Việt Nam đã có một bước tiến dài. Mười sáu nă

doc57 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1295 | Lượt tải: 2download
Tóm tắt tài liệu Phân tích thống kê kết quả kinh doanh của Công ty bảo hiểm Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam giai đoạn 2004- 2008, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
m qua, ngành bảo hiểm đã có những đóng góp nhất định vào sự phát triển của hệ thống tài chính nói riêng và tăng trưởng kinh tế Việt Nam nói chung. Thị trường bảo hiểm Việt Nam là một kênh quan trọng trên thị trường vốn, thể hiện tất cả các vai trò trên thị trường tài chính. Đó là đảm bảo sự ổn định thông qua việc tập trung và phân tán rủi ro, tăng cường ổn định tài chính trọng hộ gia đình và doanh nghiệp, huy động vốn dài hạn và đầu tư dài hạn, giảm áp lực đối với ngân sách nhà nước thông qua hệ thống bảo hiểm xã hội. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu dự báo ngành bảo hiểm phải đối mặt với nhiều khó khăn trong năm 2009.Song đây cũng là cơ hội để ngành bảo hiểm mở rộng thị trường bởi khi khủng hoảng tài chính xảy ra, lãi suất liên tục giảm, người dân sẽ tìm đến bảo hiểm như một sự bảo toàn chắc chắn. Công ty BIC - công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam là một công ty tuy còn khá mới nhưng đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam. Trong thời gian thực tập ở công ty BIC, được sự quan tâm và giúp đỡ của ban lãnh đạo, em đã tìm hiểu được cách thức hoạt động của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ nói chung và công ty BIC nói riêng. Với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo PGS.TS Trần Thị Kim Thu, em đã phân tích kết quả kinh doanh của công ty qua đề tài: “ Phân tích thống kê kết quả kinh doanh của công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam giai đoạn 2004- 2008.” Nội dung chuyên đề thực tập tốt nghiệp gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề chung về kết quả kinh doanh của công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam Chương 2: Phân tích thống kê kết quả kinh doanh của công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam giai đoạn 2004-2008 Chương 3: Một số đề xuất Qua các công cụ phân tích thống kê, chúng ta có thể nghiên cứu được đặc điểm về biến động kết quả kinh doanh của công ty, vạch rõ xu hướng và tính quy luật của sự phát triển nhằm tìm ra những giải pháp thích hợp để mang lại hiệu quả kinh doanh cao . Tuy nhiên do còn nhiều hạn chế về trình độ hiểu biết và nguồn số liệu thu thập được nên đề tài của em không tránh khỏi những thiếu sót.Em rất mong nhận được sự đóng góp kiến và chỉ bảo của các thầy cô giáo để đề tài của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn cô giáo PGS.TS. Trần Thị Kim Thu và ban lãnh đạo công ty BIC cùng toàn thể cán bộ công nhân viên của công ty đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành chuyên đề này. Chương I Những vấn đề chung về kết quả kinh doanh của công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam Tổng quan về công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển VN Khái quát chung về công ty bảo hiểm 1.1 Khái niệm công ty bảo hiểm “Công ty bảo hiểm là công ty được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan đến kinh doanh bảo hiểm” Công ty bảo hiểm là một loại công ty dịch vụ, hoạt động của nó nhằm mục đích sinh lời. Điểm khác nhau cơ bản giữa công ty bảo hiểm với các công ty khác là ở chỗ: công ty bảo hiểm là công ty chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm; nó có trách nhiệm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hay bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm nếu người mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm cho công ty. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty bảo hiểm Kinh doanh bảo hiểm là hoật động của công ty bảo hiểm vì mục đích lợi nhuận. Vì vậy mọi hoạt động đều mang đặc trưng kinh doanh, lấy lợi nhuận làm mục tiêu phấn đấu. Chiến lược kinh doanh của công ty bảo hiểm (chiến lược tổng quan hay chiến lược bộ phận) đều đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu. Để đạt mục tiêu đó, hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tính đến những đặc điểm sau: - Đối tượng kinh doanh của các công ty bảo hiểm khá đa dạng. Bảo hiểm thương mại có đối tượng bảo hiểm là tài sản, trách nhiệm dân sự và con người. - Hoạt động kinh doanh bảo hiểm có vốn pháp định lớn. Vốn điều lệ của công ty phải đảm bảo như mức vốn pháp định do luật quy định: công ty bảo hiểm nhân thọ 140 tỷ VNĐ, công ty bảo hiểm phi nhân thọ 70 tỷ VNĐ. - Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn phải có dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm. - Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn gắn kết với hoạt động đầu tư. - Các công ty bảo hiểm hoạt động kinh doanh phải tuân thủ quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm, các quy định khác của pháp luật có liên quan và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Đặc điểm hoạt động của công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIC) Quá trình hình thành và phát triển của công ty Quá trình hình thành của công ty Công ty liên doanh bảo hiểm Việt-Úc được thành lập tại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thời gian hoạt động là 30 năm theo Giấy phép đầu tư số 2126/GP ngày 16 tháng 7 năm 1999 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp. Đây là công ty liên doanh giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn Bảo hiểm quốc tế QBE – một công ty được thành lập tại ÚC và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam- một Ngân hàng thương mại quốc doanh được thành lập tại nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thỏa thuận chuyển nhượng vốn được ký kết giữa QBE và BIDV vào ngày 23 tháng 12 năm 2005, theo đó các bên tham gia liên doanh nhất trí về việc QBE chuyển nhượng toàn bộ lợi ích vốn của mình trong liên doanh cho BIDV. QBE sẵn sàng nhượng và BIDV sẵn sàng mua toàn bộ các lợi ích vốn của QBE theo các điều khoản và điều kiện trong thỏa thuận. Vào ngày 27 tháng 12 năm 2005, Bộ Tài chính có Thư chấp thuận số 16943 phê duyệt cho BIDV mua lại các lợi ích vốn của QBE trong liên doanh. Toàn bộ công ty sẽ thuộc quyền sở hữu của BIDV từ ngày 1 tháng 1 năm 2006. Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIC) - tiền thân là Công ty Liên doanh Bảo hiểm Việt - Úc (BIDV-QBE), là Công ty Liên doanh Bảo hiểm giữa Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và Công ty Bảo hiểm Quốc tế QBE thuộc Tập đoàn Bảo hiểm QBE của Australia, được cấp phép thành lập theo Giấy phép đầu tư số 2126/GP ngày 16/07/1999 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Theo Giấy phép điều chỉnh số 11/GPĐC4/KDBH ngày 27/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Công ty Liên doanh Bảo hiểm Việt - Úc đổi tên thành Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam dựa trên cơ sở Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam mua lại toàn bộ phần vốn góp của Công ty Bảo hiểm Quốc tế QBE thuộc Tập đoàn Bảo hiểm QBE trong Công ty Liên doanh Bảo hiểm Việt - Úc. Ngày 10/4/2006, Bộ Tài chính đã cấp Giấy phép thành lập và hoạt động số 11GP/KDBH cho Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Theo đó, Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một đơn vị thành viên thuộc hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, được thành lập theo Quyết định số 292/QĐ-HĐQT ngày 28/12/2005 của Hội đồng Quản trị Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, do Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đầu tư 100% vốn, có con dấu riêng và hạch toán độc lập. Công ty bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chính thức hoạt động với tên gọi mới từ ngày 01 tháng 01 năm 2006. Thời hạn hoạt động của công ty là 89 năm. Quá trình phát triển của công ty Kế thừa kinh nghiệm về hoạt động bảo hiểm hơn 06 năm của liên doanh và kinh nghiệm hoạt động trên thị trường tài chính hơn 50 năm qua của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam, BIC tiếp tục thực hiện chiến lược cung cấp các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ truyền thống và tích cực nghiên cứu, thiết kế để phát triển các sản phẩm trọn gói từ Ngân hàng – Chứng khoán - Bảo hiểm để không ngừng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Qua quá trình phát triển, BIC ngày càng khẳng định vị thế của mình trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. BIC đã nhanh chóng triển khai hơn 70 loại hình bảo hiểm trong các lĩnh vực bảo hiểm xây dựng - lắp đặt, hỏa hoạn, tài sản, bảo hiểm trách nhiệm, hàng hóa, con người, bảo hiểm xe cơ giới, trách nhiệm dân sự tới các đối tượng khách hàng trong nước và nước ngoài. Công ty đã tham gia bảo hiểm cho nhiều công trình/dự án trọng điểm quốc gia, các dự án đầu tư lớn của các Tập đoàn, Tổng công ty trong các lĩnh vực: thuỷ điện, xi măng, đường bộ,…Trong số các nghiệp vụ bảo hiểm có tốc độ tăng trưởng cao của BIC phải kể đến bảo hiểm xây dựng - lắp đặt, bảo hiểm cháy và xe cơ giới. Ngoài những nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống, trong thời gian qua BIC đã triển khai một số nghiệp vụ bảo hiểm mới như: bảo hiểm tài chính, bảo hiểm trách nhiệm giám đốc và nhà điều hành…Một số dự án BIC đã và đang thu xếp bảo hiểm có giá trị lớn như Nhà máy Thủy điện Dăkmi 4, Nhà máy Thủy điện Sesan 4, Nhà máy Xi măng Hạ Long, Nhà máy Thủy điện Đồng Nai 2, Nhà máy xi măng Bình Phước, Tháp 68 tầng Financial Tower của Bitexco… Để ngày càng đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng phục vụ cũng như nâng cao năng lực nhận bảo hiểm cho các dự án đầu tư lớn, BIC đã tăng cường hợp tác với các nhà tái bảo hiểm hàng đầu thế giới như Swiss Re, ACR, QBE, AIG, B.E.S.T RE, Malaysian Re…Các nhà tái và môi giới bảo hiểm quốc tế đã tích cực hậu thuẫn và tin tưởng chọn BIC là nhà bảo hiểm gốc cho các hợp đồng lớn trong các lĩnh vực Bảo hiểm xây dựng lắp đặt, bảo hiểm tàu, bảo hiểm mọi rủi ro tài sản …Nhằm đảm bảo quyền lợi cho khách hàng khi xảy ra tổn thất và tiến hành bồi thường nhanh chóng và thỏa đáng, BIC có quan hệ mật thiết với các Công ty giám định tổn thất chuyên nghiệp như: Cunningham Lindsey, Crawford, Mc Larens... và đã nhận được sự cộng tác hiệu quả của các Công ty này trong việc đánh giá rủi ro, giám định và quyết khiếu nại. BIC luôn coi nhiệm vụ bồi thường là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu trong hoạt động kinh doanh, đảm bảo quyền lợi cho khách hàng cũng chính là đảm bảo uy tín của công ty trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Với tôn chỉ hoạt động lấy sự chính trực là kim chỉ nam xuyên suốt mọi hoạt động, coi trọng sự sáng tạo, tài năng cá nhân và xác định đây là giá trị cốt lõi của sự thành công và trường tồn của công ty, BIC đã xây dựng được đội ngũ nhân viên trẻ, năng động và có trình độ chuyên môn cao và yêu nghề. Hàng năm BIC đã dành kinh phí lớn cho hoạt động đào tạo chuyên môn, đào tạo các kỹ năng để đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực. Chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của công ty Chức năng Công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIC) có chức năng kinh doanh các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ và tái bảo hiểm phi nhân thọ trong và ngoài nước, cụ thể như sau: Các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ: - Bảo hiểm mọi rủi ro tài sản - Bảo hiểm máy móc thiết bị xây dựng - Bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng và lắp đặt - Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển - Bảo hiểm tiền - Bảo hiểm tàu - Bảo hiểm trách nhiệm chung - Bảo hiểm xe cơ giới, mô tô – xe máy - Bảo hiểm du lịch - Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính - Bảo hiểm con người - Các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác. Kinh doanh tái bảo hiểm: Nhận và nhượng tái bảo hiểm tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ với các công ty bảo hiểm khác trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật hiện hành. BIC đã xây dựng được mối quan hệ hợp tác kinh doanh với các công ty bảo hiểm có uy tín trên thế giới như Swiss Re, B.E.S.T Re, Malaysian Re Berhad, Caise Centrale De Reassurance và ở Việt Nam như Tổng công ty tái bảo hiểm quốc gia Vinare. Tái bảo hiểm là một trong những công cụ quản lý rủi ro, đảm bảo khả năng tài chính cho các hợp đồng có giá trị bảo hiểm lớn và tăng doanh thu từ phí nhận tái bảo hiểm và hoa hông từ nhượng tái bảo hiểm. Đầu tư tài chính: - Đầu tư cổ phiếu, trái phiếu; đầu tư trực tiếp; tư vấn đầu tư và các hình thức đầu tư tài chính khác - Hoạt động đầu tư vốn theo quy định hiện hành Công ty bảo hiểm BIDV sẽ thực hiên họat động đầu tư tài chính theo hướng chuyên nghiệp hóa nhằm nâng cao năng lực tài chính của công ty, hỗ trợ hoạt động khai thác. Ngoài ra hoạt động đầu tư tài chính là một kênh chính tạo ra lợi nhuận cho công ty điều hòa nguồn vốn và sử dụng hợp lý tối đa nguồn vốn nhàn rỗi. Với nghiệp vụ đầu tư tài chính chuyên nghiệp, Công ty BIDV sẽ có điều kiện thực hiện chiến lược mở rộng đầu tư vào các doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo hiểm cũng như lĩnh vực có nhiều tiềm năng. Các hoạt động khác: Các dịch vụ có liên quan: giám định, điều tra, tính toán phân bổ tổn thất, đại lý giám định, xét giải quyết bồi thường và thu đòi người thứ ba. Nhiệm vụ của công ty Mở rộng mạng lưới hệ thống, tổ chức kênh phân phối sản phẩm thông suốt qua Ngân hàng và hệ thống chi nhánh, đại lý. Tận dụng tối đa nguồn khách hàng từ BIDV giới thiệu, thiết lập được càng nhiều càng tốt quan hệ hợp tác từ phía nguồn khách hàng của Ngân hàng và các đối tác tiềm năng. Hoàn thiện bộ máy quản trị điều hành công ty để quản lý tốt tất cả các mặt hoạt động. Nâng cao năng lực kiểm tra, kiểm soát tình hình kinh doanh,sử dụng nguồn nhân lực, tài chính, đầu tư... một cách hiệu quả nhất.Xây dựng BIC thành một thương hiệu mạnh trên thị trường. Hoàn thiện hệ thống công nghệ và biến công nghệ thành một công cụ cạnh tranh của BIC trên thị trường. Chuẩn hóa các quy trình tác nghiệp, tạo ra một quy chuẩn riêng trong hoạt động của BIC. Tuyển dụng, đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ có năng lực,trình độ, kinh nghiệm.Có chế độ đãi ngộ tốt cho cán bộ công nhân viên, thu nhập gắn với kết quả kinh doanh. Tạo lập môi trường văn hóa công ty và kinh doanh năng động. Sử dụng hợp lý nguồn nhân lực. Tổ chức và quản lý tốt bộ máy quản trị công ty bảo hiểm từ trụ sở chính đến các chi nhánh, cơ cấu tổ chức ổn định, rõ ràng. Tổ chức và hoàn thiện hệ thống bồi thường toàn quốc. Có các chuyên gia giám định bồi thường chuyên nghiệp hoặc hợp tác với các chuyên gia giám định bồi thường. Tổ chức và hoàn thiện triển khai các sản phẩm bảo hiểm cơ bản, chiến lược. Quản lý danh mục bảo hiểm đảm bảo tỷ trọng rủi ro an toàn.Nghiên cứu và phát triển thêm các sản phẩm bảo hiểm mới để đáp ứng được các yêu cầu đa dạng của khách hàng. Phương pháp thống kê kết quả kinh doanh của công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển VN Hệ thống chỉ tiêu kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm Doanh thu của doanh nghiệp bảo hiểm Khái niệm Doanh thu của doanh nghiệp bảo hiểm là toàn bộ số tiền doanh nghiệp phải thu trong kỳ (thường là 1 năm). Số tiền phải thu trong kỳ ở đây bao gồm số tiền đã thu và sẽ thu phát sinh từ việc bán và cung cấp sản phẩm dich vụ cho khách hàng trong kỳ Doanh thu là chỉ tiêu tuyệt đối, thời kỳ. Phương pháp tính Doanh thu = Doanh thu + Doanh thu + Doanh thu doanh nghiệp hoạt động kinh từ hoạt động từ các hoạt bảo hiểm doanh bảo hiểm tài chính động khác ● Doanh thu hoạt động kinh doanh bảo hiểm (DTHĐKDBH) Đây là nguồn thu cơ bản và đóng vai trò quyết định đối với hoạt động của DNBH. DTHĐKDBH = Số tiền phải thu phát sinh + Các khoản chi làm trong kỳ từ hoạt động kinh giảm thu phát sinh doanh bảo hiểm gốc trong kỳ Phí bảo hiểm Phí nhận tái từ hoạt động hoàn giảm hoàn giảm giảm phải thu trực bảo hiểm và DNBH đứng phí phí phí phí hoa tiếp từ người hoa hồng ra làm dịch bảo bảo nhận nhận hồng tham gia bảo nhượng tái vụ đại lý cho hiểm hiểm tái tái nhượng hiểm bảo hiểm DNBH khác bảo bảo tái hiểm hiểm bảo hiểm ●Doanh thu từ hoạt động tài chính Doanh thu = Thu từ lãi đầu + Thu lãi + Hoàn nhập + Các khoản thu từ hoạt tư chứng khoán, trên số số dư dự từ hoạt động động tài cho vay có thế tiền ký phòng giảm cho thuê bất chính chấp, góp vốn quỹ giá chứng động sản liên doanh khoán ●Doanh thu từ các hoạt động khác Ngoài hai nguồn thu cơ bản trên, doanh nghiệp bảo hiểm còn có một số nguồn thu từ các hoạt động khác như: Thu từ nhượng bán, thanh lý tài sản cố định, các khoản nợ khó đòi đã xóa nay thu hồi được, thu tiền phạt vi phạm hợp đồng... Các nhân tố ảnh hưởng tới doanh thu Doanh thu của doanh nghiệp bảo hiểm chịu tác động của nhiều nhân tố trong đó có những nhân tố cơ bản sau: Mức phí bảo hiểm: là nguồn thu đầu tiên và đóng vai trò quyết định đối với hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm. Việc định phí của các doanh nghiệp bảo hiểm dựa trên các nhân tố sau: + Xác suất rủi ro + Điều kiện bảo hiểm: thể hiện phạm vi trách nhiệm đối với các rủi được doanh nghiệp bảo hiểm nhận bảo hiểm + Thời hạn bảo hiểm: hợp đồng bảo hiểm luôn được giói hạn về mặt thời gian. Khi thời hạn bảo hiểm dài có nghĩa là khả năng gặp rủi ro lớn hơn nên mức phí cũng tăng lên + Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và hạn mức trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm + Chi phí quản lý doanh nghiệp Số lượng khách hàng tham gia bảo hiểm: đây là một nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng tới doanh thu của doanh nghiệp bảo hiểm. Khi số lượng khách hàng tham gia bảo hiểm lớn làm cho việc định phí của doanh nghiệp đảm bảo được quy luật số đông. Quy định của pháp luật Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm Lợi nhuận của doanh nghiệp bảo hiểm Khái niệm Lợi nhuận của doanh nghiệp bảo hiểm là doanh thu của doanh nghiệp bảo hiểm sau khi đã trừ đi toàn bộ chi phí của DNBH (toàn bộ số tiền doanh nghiệp phải chi, phải trích trong năm). Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh giá trị thặng dư hay mức hiệu quả kinh doanh mà doanh nghiệp đạt được từ các hoạt động kinh doanh. Lợi nhuận là chỉ tiêu tuyệt đối ,thời kỳ Phương pháp tính Lợi nhuận của = Doanh thu của – Chi phí của DNBH DNBH DNBH Chi phí hoạt Chi phí hoạt Chi phí cho động kinh doanh động tài chính hoạt động khác bảo hiểm - Chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm được tính bằng số tiền phải chi, phải trích phát sinh trong kỳ sau khi đã trừ đi các kkhaonr phải thu để giảm chi phát sinh trong kỳ từ các hoạt động kinh doanh bảo hiểm. - Chi phí hoạt động tài chính: + Chi phí kinh doanh bất động sản, cố phiếu, trái phiếu... + Chi phí cho thuê tài sản +Chi thủ tục phí ngân hàng, trả tiền vay + Trích dự phòng giảm giá chứng khoán Các phương pháp phân tích và dự đoán thống kê Bảng thống kê Bảng thống kê là hình thức biểu hiện các tài liệu thống kê một cách hợp lý nhất, có hệ thống rõ ràng nhằm nêu lên các biểu hiện về lượng của các hiện tượng nghiên cứu. Bảng thống kê được sử dụng để tổng hợp dữ liệu. Trong phạm vi đề tài này có thể dùng bảng thống kê để tổng hợp kết quả kinh doanh theo các tiêu thức khác nhau. Các loại bảng được sử dụng gồm có bảng giản đơn, bảng phân tổ và bảng kết hợp. Đồ thị Đồ thị thống kê là các hình vẽ hoặc đường nét dùng để miêu tả có tính chất quy ước các tài liệu thống kê. Đồ thị thống kê được sử dụng để trình bày các đặc trưng về số lượng của hiện tượng nghiên cứu và trình bày khái quát các đặc điểm chủ yếu về bản chất và xu hướng vận động của hiện tượng. Đồ thị được sử dụng trong đề tài này là đồ thị dang cột và đường gấp khúc. Dãy số thời gian Mặt lượng của hiện tượng thường xuyên biến động qua thời gian, việc nghiên cứu sự biến động này được thực hiện trên cơ sở phân tích dãy số thời gian. Dãy số thời gian là dãy các số liệu thống kê của hiện tượng nghiên cứu được sắp xếp theo thứ tự thời gian. Số liệu thu thập được trong đề tài như doanh thu, lợi nhuận, nguồn vốn...là dãy số thời kỳ. ● Để phân tích đặc điểm biến động của doanh thu và lợi nhuận của công ty qua thời gian, có thể sử dụng năm chỉ tiêu sau: Mức độ bình quân qua thời gian: dùng để tính doanh thu trung bình hay lưọi nhuận trung bình của công ty qua thời gian. Lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối (bao gồm các chỉ tiêu: lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối liên hoàn, lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối định gốc, lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối bình quân), dùng để phản ánh sự biến động tăng (hoặc giảm) tuyệt đối của doanh thu và lợi nhuận. Tốc độ phát triển (bao gồm các chỉ tiêu: tốc độ phát triển liên hoàn, tốc độ phát triển định gốc, tốc độ phát triển bình quân), dùng để phản ánh tốc độ và xu hướng biến động của doanh thu và lợi nhuận qua thời gian. Tốc độ tăng (hoặc giảm) (gồm các chỉ tiêu: tốc độ tăng (hoặc giảm) liên hoàn, tốc độ tăng (hoặc giảm) định gốc, tốc độ tăng (hoặc giảm) bình quân), dùng để phản ánh doanh thu và lợi nhuận của công ty này kỳ nghiên cứu đã tăng (hoặc giảm) bao nhiêu lần hoặc bao nhiêu phần trăm. Giá trị tuyệt đối 1% của tốc độ tăng (hoặc giảm) liên hoàn. Chỉ tiêu này dùng để phản ánh cứ 1% tăng (hoặc giảm) của tốc độ tăng (hoặc giảm) liên hoàn doanh thu và lợi nhuận theo thời gian thì tương ứng với một lượng tuyệt đối là bao nhiêu triệu đồng. ● Để phân tích xu thế biến động của doanh thu và lợi nhuận theo thời gian thường sử dụng phương pháp hàm xu thế. Các dạng hàm thường được dùng là hàm tuyến tính, hàm parabol, hàm mũ. Sử dụng phương pháp này trong đề tài sẽ phản ánh được tính quy luật của sự biến động kết quả kinh doanh như doanh thu, lợi nhuận, từ đó tiến hành dự đoán về mức độ của chúng trong thời gian tới. ● Để phân tích biến động thời vụ của kết quả kinh doanh của công ty cần: - Tính các chỉ số thời vụ để xác định ảnh hưởng của biến động thời vụ đến kết quả kinh doanh - Phân tích các thành phần của dãy số thời gian (theo kết hợp cộng và kết hợp nhân) để xác định vai trò của các thành phần: xu thế, thời vụ, ngẫu nhiên trong quá trình biến động của kết quả kinh doanh. Phân tích hồi quy và tương quan Phương pháp hồi quy tương quan là phương pháp nghiên cứu mối liên hệ phụ thuộc giữa một chỉ tiêu kinh tế với một hay nhiều chỉ tiêu khác và đánh giá mức độ chặt chẽ, chiều hướng của mối liên hệ đó. Vận dụng phương pháp này trong chuyên đề để lượng hoá vai trò và mức độ ảnh hưởng của vốn và lao động đến sự biến động của kết quả kinh doanh của công ty. Để phân tích mối quan hệ giữa doanh thu với vốn và lao động, dạng hàm thường sử dụng là hàm sản xuất Cobb – Douglas. Chỉ số Chỉ số trong thống kê là một chỉ tiêu tương đối được dùng để biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai mức độ khác nhau của một hiện tượng nghiên cứu. Sử dụng phương pháp chỉ số để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam giai đạon 2004 - 2008 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu: Nhóm các nhân tố về tình hình sử dụng lao động ảnh hưởng đến biến động của doanh thu MH 1: Phân tích biến động của tổng doanh thu do ảnh hưởng của: năng suất lao động bình quân chung và tổng số lao động có bình quân trong năm Trong đó: : năng suất lao động bình quân chung : tổng số lao động có bình quân trong năm Nhóm các nhân tố về tình hình sử dụng vốn ảnh hưởng tới biến động của doanh thu MH 2: Phân tích biến động của tổng doanh thu do ảnh hưởng của hiệu năng (hay năng suất) tổng vốn và tổng vốn có bình quân trong năm Trong đó: : năng suất của tổng vốn : tổng vốn có bình quân trong năm MH 3: Phân tích biến động của tổng doanh thu do ảnh hưởng của hiệu năng (hay năng suất) vốn cố định, tỷ trọng vốn cố định trong tổng vốn và tổng vốn có bình quân trong năm Trong đó: : năng suất vốn cố định : tỷ trọng vốn cố định trong tổng vốn Nhóm các nhân tố về tình hình sử dụng tài sản cố định ảnh hưởng tới biến động của doanh thu MH 4: Phân tích biến động của tổng doanh thu do ảnh hưởng của hiệu suất sử dụng tài sản cố định và giá trị tài sản cố định có bình quân trong năm. Trong đó: : hiệu suất sử dụng tài sản cố định : giá trị tài sản cố định có bình quân trong năm Nhóm các nhân tố về sử dụng TSCĐ và lao động ảnh hưởng tới biến động của doanh thu MH 5 Phân tích biến động của tổng doanh thu do ảnh hưởng của hiệu suất sử dụng tài sản cố định, mức trang bị TSCĐ cho nhân viên của công ty và số lao động bình quân có trong năm Trong đó: : mức trang bị TSCĐ cho nhân viên của công ty Nhóm các nhân tố về thu nhập và lao động ảnh hưởng tới biến động của doanh thu MH 6 Phân tích biến động của doanh thu do ảnh hưởng của hiệu năng sử dụng quỹ phân phối lần đầu của lao động, thu nhập bình quân 1 lao động và tổng số lao động có bình quân trong năm. Trong đó: : hiệu năng sử dụng quỹ phân phối lần đầu của lao động : thu nhập bình quân 1 lao động Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận: Nhóm các nhân tố về tình hình sử dụng vốn ảnh hưởng tới biến động của lợi nhuận MH 7 Phân tích biến động của lợi nhuận do ảnh hưởng của tỷ suất lợi nhuận (hay doanh lợi) tổng vốn và tổng vốn có bình quân trong năm Trong đó: : tỷ suất lợi nhuận tổng vốn Nhóm các nhân tố về tình hình sử dụng tài sản cố định ảnh hưởng tới biến động của lợi nhuận MH 8 Phân tích biến động của lợi nhuận do ảnh hưởng của tỷ suất lợi nhuận (hay doanh lợi) TSCĐ và giá trị TSCĐ. Trong đó: : tỷ suất lợi nhuận (hay doanh lợi) TSCĐ Nhóm các nhân tố về sử dụng TSCĐ và lao động ảnh hưởng tới biến động của lợi nhuận MH 9 Phân tích biến động của lợi nhuận do ảnh hưởng của tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, hiệu suất sử dụng tài sản cố định, mức trang bị TSCĐ cho nhân viên của công ty và số lao động bình quân có trong năm MH 10 Phân tích sự biến động của lợi nhuận do ảnh hưởng của tỷ suất lợi nhuận tính trên thu nhập lần đầu của lao động, thu nhập bình quân 1 lao động và tổng số lao động có bình quân trong năm. Trong đó: : tỷ suất lợi nhuận tính trên thu nhập lần đầu của lao động 2.6 Phương pháp san bằng mũ Trong các mô hình dự đoán như ngoại suy hàm xu thế, dự đoán dựa vào lượng tăng (giảm) tuyệt đối bình quân, dựa vào tốc độ phát triển bình quân thì các mức độ của dãy số thời gian được xem như nhau, tức là có cùng quyền số trong quá trình tính toán. Để phản ánh sự biến động của doanh thu một cách linh hoạt đòi hỏi phải có một mô hình phù hợp, tức là trong mô hình các mức độ của dãy số thời gian phải được xem xét với quyền số khác nhau, sử dụng phương pháp san bằng mũ. Trong phương pháp này, các mức độ càng mới (càng cuối dãy số) càng cần phải chú ý đến quyền số. Mô hình mũ đơn giản có dạng: 2.7 Mô hình tổng hợp tự hồi quy - trung bình trượt ARIMA (p, d, q) Mô hình sẽ biểu hiện được các biến động tự hồi quy và trung bình trượt đồng thời khử được xu thế tuyến tính của hiện tượng theo thời gian. Sử dụng mô hình này để dự đoán kết quả kinh doanh của công ty những năm tiếp theo. Chương II Phân tích thống kê kết quả kinh doanh của công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam giai đoạn 2004-2008 và dự đoán đến năm 2011 Để có thể phân tích được một cách toàn diện nhất kết quả kinh doanh của công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam thì cần phải có đầy đủ thông tin, số liệu về mọi hoạt động. Tuy nhiên do số liệu thu thập được còn hạn chế nên trong chuyên đề này chỉ tập trung phân tích một số chỉ tiêu như doanh thu, lợi nhuận của công ty và các nhân tố ảnh hưởng đến chúng. Hiện nay công ty có lưu trữ số liệu về doanh thu, lợi nhuận và qua các năm. Các chỉ tiêu này được tổng hợp theo giá thực tế. Nhưng trong phạm vi đề tài này chỉ nghiên cứu biến động của doanh thu và lợi nhuận từ năm 2004 đến năm. Vì vậy định hướng phân tích như sau: ● Phân tích doanh thu của công ty giai đoạn 2004 – 2008 và dự đoán cho đến năm 2011: - Phân tích tình hình biến động và xu thế biến động của doanh thu: sử dụng phương pháp dãy số thời gian và phương pháp hàm xu thế - Phân tích biến động của doanh thu do ảnh hưởng của các nhân tố: sử dụng phương pháp chỉ số và phương pháp hồi quy tương quan - Dự đoán doanh thu của công ty những năm tiếp theo: dựa vào hàm hồi quy, hàm xu thế, phương pháp san bằng mũ I. Phân tích tình hình biến động doanh thu và lợi nhuận của công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIC) giai đoạn 2004-2008 1. Phân tích tình hình biến động doanh thu của công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIC) giai đoạn 2004-2008 Doanh thu là một trong những chỉ tiêu quan trọng thường được dùng để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và nó còn phản ánh quy mô của một doanh nghiệp là lớn hay nhỏ. Có số liệu về doanh thu của công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam giai đoạn 2004- 2008 như sau: Bảng 1: Doanh thu công ty BIC giai đoạn 2004 – 2008 ĐVT: triệu đồng Năm 2004 2005 2006 2007 2008 Doanh thu 26937 40526 58860 162368 285690 Nguồn số liệu: Báo cáo tài chính công ty BIC Từ số liệu của bảng 1, xây dựng được đồ thị doanh thu của công ty giai đoạn 2004 – 2008 Đồ thị 1: Doanh thu của công ty giai đoạn 2004 – 2008 ► Từ số liệu của bảng 1, sử dụng phương pháp dãy số thời gian để phân tích đặc điểm biến động của doanh thu giai đoạn 2004 – 2008. Bảng 2: Bảng phân tích biến động doanh thu giai đoạn 2004 – 2008 Năm Tổng doanh thu (triệu đồng)() Lượng tăng (giảm) tuyệt đối (triệu đồng) Tốc độ phát triển (%) Tốc độ tăng giảm (%) Giá trị tuyệt đối 1% tốc độ tăng (giảm) (triệu đồng) () Liên hoàn () Định gốc () Liên hoàn () Định gốc () Liên hoàn () Định gốc () 2004 26937 - - - - - - - 2005 40526 13589 13589 150.45 150.47 50.45 50.45 269.37 2006 58860 18334 31923 145.24 218.51 45.24 118.51 405.26 2007 162368 103508 135431 275.85 602.77 175.85 502.77 588.6 2008 285690 123322 258753 175.95 1060.59 75.95 960.59 1623.68 Bình quân 114876.2 64688.25 180.46 80.46 - Qua bảng phân tích biến động doanh thu của công ty giai đoạn 2004 – 2008 có thể thấy doanh thu của công ty có xu hướng tăng qua các năm. Hàng năm, doanh thu tăng bình quân 64688.25 triệu đồng với tốc độ tăng bình quân là 80.46%. Nhìn chung tốc độ tăng trưởng của doanh thu trong giai đoạn này khá cao. Năm 2005, doanh thu tăng 50,45% tương ứng với tăng một lượng tuyệt đối là 13589 triệu đồng so với năm 2004. Đạt được kết quả như vậy là do công ty đã sử dụng khá hiệu quả các nguồn lực sẵn có như nguồn nhân lực, nguồn vốn. Năm 2006, doanh thu của công ty tiếp tục tăng lên, tốc độ tăng so với năm 2005 là 45.24%. Những biến đổi to lớn về hình thức tổ chức công ty đã ảnh hưởng tới cơ cấu hệ thống tổ chức, thay đổi cơ bản nguồn nhân lực. Vì thế năm 2006 dù đã tăng đáng kể nguồn vốn nhưng vẫn chưa đạt được doanh thu tương ứng. Năm 2007 là một năm có mức biến động doanh thu lớn, doanh thu tăng nhanh chóng đạt 162368 triệu đồng, tăng 175,85% so với năm 2006. Năm 2007, công ty đã tăng đáng kể các nguồn lực. Lực lượng lao động của công ty năm này tăng gấp gần 3.5 lần, nguồn vốn tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2006. Mặc dù doanh thu tăng rất nhanh nhưng quy mô của công ty mới chỉ tăng ở chiều rộng chứ chưa tăng về chiều sâu do công ty sử dụng nguồn._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTH2654.doc