Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

LỜI NÓI ĐẦU Sau đại hội toàn quốc lần thứ IX,tiếp tục đường lối được đề ra từ đại hội XI của đảng chúng ta bước vào thời kỳ phát triển mới - thời kỳ “đẩy nhanh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước” định hướng phát triển nhằm mục tiêu “ xây dựng nước ta thành một nước có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý,quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, quốc phòng an ninh vững chắc,

doc17 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1536 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ ,văn minh” Không phải ngẫu nhiên,việc nghiên cứu quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất là một trong những nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới CNXH mà chúng ta đang tiến hành hôn nay. Để phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động ,xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất ,xây dựng kiểu xã hội mới –xã hội xã hội chủ nghĩa .Trong thời kỳ quá độ thì nền kinh tế cũng có tính chất quá độ . Đặc điểm cơ bản nhất xuyên suốt và bao trùm trong thời kỳ quá độ là sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần , đây là do quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất qui định . Do vậy vấn đề quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trong những vấn đề nan giải mà chúng ta cần quan tâm giải quyết .Việc thực hiện thắng lợi của CNXH ở nước ta một phần phụ thuộc vào việc có vận dụng tốt quy luật này hay không . I/ ĐẶT VẤN ĐỀ Trải qua các hình thái kinh tế- xã hội từ trước tới nay ,quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất luôn là quy luật cơ bản nhất ,quan trọng nhất trong cả lĩnh vực kinh tế và trong lĩnh vực lịch sử phát triển của xã hội loài người . Chủ nghĩa xã hội duy vật lịch sử đã khẳng định rằng : Lực lượng sản xuất có vai trò quyết định đối với Quan hệ sản xuất và ngược lại , Quan hệ sản suất cũng có tác động trở lại có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất và “Lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp Quan hệ sản xuất lạc hậu mà cả khi Quan hệ sản xuất phàt triển không đồng bộ ,có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”( Đảng Cộng Sản Việt Nam,Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI). Trước đây trong thời kỳ bao cấp , chúng ta đã có lúc phạm phải sai lầm là xây dựng “Quan hệ sản xuất đi trước Lực lượng sản xuất”, chỉ cho phép các hình thức sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể tồn tại , trong khi các hình thức sở hữu khác đang còn có tác dụng mạnh mẽ đối với Lực lượng sản xuất thì lại bị ngăn cấm , không cho phép phát triển.Việc đó đã dẫn đến tình trạng sản xuất bị đình đốn, không phát triển.Sau khi đã nhận thức đựợc sai lầm này, chúng ta đã đổi mới đường lối chiến lược trong lĩnh vực kinh tế , đó là xác lập lại các hình thức sở hữu, cho phép nhiều kiểu Quan hệ sản xuất cùng tồn tại để mở đường cho Lực lượng sản xuất phát triển. Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI , Đảng ta đã xác định rõ con đường đi lên Xã hội chủ nghĩa là : “Tiếp tục thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, phát huy mọi nguồn lực để phát triển Lực lượng sản xuất , đẩy mạnh CNH-HĐH”. Hiện nay,việc chúng ta duy trì và phát triển 5 thành phần kinh tế là đã vận dụng đúng đắn quy luật Quan hệ sản xuất phù hợp với Lực lượng sản xuất. Để phân tích rõ hơn vấn đề này, tôi chọn đề tài : “Quy luật Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triểncủa Lực lượng sản xuất với việc phân tích tính tất yếu của nền kimh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam” làm đề tài cho tiểu luận môn triết Triết học.Bài tiểu luận này được hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của cô: TS. NGHIÊM THỊ CHÂU GIANG Em xin chân thành cảm ơn ! II/GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1.Nội dung Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất. a.Lực lượng sản xuất . Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất. Lực lượng sản xuất là năng lực thực tiễn cải biến giơi tự nhiên của con người nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của mình. Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động và tư liệu sản xuất, trong đó “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là ngươi lao động”. Chính người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình ,trước hết là công cụ lao động ,tác đông vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất . Người lao động là người có tri thức, kinh nghiệm, sức lao động, kỹ năng lao động. Cùng với người lao động là công cụ lao động cũng là một yếu tố cơ bản của Lực lượng sản xuất, đóng vai trò quyết định trong tư liệu sản xuất. Công cụ lao động do con người sang tạo ra, là “sức mạnh tri thức đã được vật thể hóa”, nó nhân sức mạnh của con người trong quá trình lao động sản xuất .Công cụ lao động là yếu tố động nhất của Lực lượng sản xuất . Cùng với quá trình tích lũy kinh nghiệm với những phát minh và sáng chế ký thuật, công cụ lao đọng không ngừng được cải tiến và hoàn thiện. Chính sự cải tiến và hoàn thiện không ngừng của công cụ lao động đã làm biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất .Xét đến cùng đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi Xã hội. Trình độ phát triển của công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế trong lịch sử. Trong sự phát triển của Lực lượng sản xuất ,khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn.Sự phat triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển .Ngày nay ,khoa học đã phát triển đến mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất ,trong đời sống và trở thành “lực lượng sản xuất trực tiếp”.Sức lao động đặc trưng cho lao động hiện đại không chỉ còn là kinh nghiệm và thói quen của họ mà là tri thức khoa học. Có thể nói: khoa học và công nghệ hiện đại là đặc trưng cho Lực lượng sản xuất hiện đại. b. Quan hệ sản xuất Quan hệ sản xuất là Quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất. Quan hệ sản xuất gồm ba mặt quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất,quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất ,quan hệ trong phân phối sản phẩm sản xuất ra. Quan hệ sản xuất do con người tạo ra, nhưng nó hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất không phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của con người.C.Mac đã viết “trong sản xuất, người ta không chỉ Quan hệ với giới tự nhiên . Người ta khônng thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau .Muốn sản xuất được người ta phải có những mối quan hệ nhất định với nhau ,và quan hệ với tự nhiên ,tức là việc sản xuất”. Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất;giữa ba mặt của Quan hệ sản xuất thống nhất với nhau ,tạo thành mộy hệ thống mang tính ổn định tương đối so với sự vận động phát triển không ngừng của Lực lượng sản xuất. Trong ba mặt của Quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu về tư liệu là quan hệ xuất phát ,quan hệ cơ bản, đặc trưng cho quan hệ sản xuất trong xã hội. Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định về quan hệ tổ chức quản lý sản xuất,quan hệ phân phối sản phẩm cũng như các quan hệ khác . Lịch sử phát triển của nhân lọai đã chứng kiến có hai hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất: sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân .Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất trực tiếp tác động đến quá trình sản xuất, điều khiển quá trình sản xuất.Nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của quá trình sản xuất. Khi quan hệ quản lý không phù hợp quan hệ sở hữu làm biến dạng quan hệ sở hữu.Quan hệ về phân phối sẩn phẩm do quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất và quan hệ tổ chức quản người lý chi phối, song nó cũng tác động kích thích trực tiếp đến thái độ của người lao động sản xuất,và do đó có thể thức đẩy hoặc kìm hãm sản xuất phát triển. c.Phương thức sản xuất. Phương thức sản xuất là cách con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người. mỗi xã hội dặc trưng bằng một phương thức sản xuất nhất định.Sự thay thế kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất trong lịch sử quyết định sự phát triển xã hội loài người từ thấp đến cao.Còn theo kết cấu thì phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa Lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định với Quan hệ sản xuất tương ứng . d. Quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX. Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất,chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại với nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật sự phù hợp của Quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất - quy luật cơ bản nhất của sự vận động và phát triển xã hội. Trình độ - tính chất của lực lượng sản xuất : Trình độ Lực lượng sản xuất thể hiện ở trình độ của công cụ lao động, trình độ kinh nghiệm kỹ năng lao động của con người, trình độ tổ chức và pân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học công nghệ và sản xuất. Gắn liền với trình độ của Lực lượng sản xuất là tính chất của lực lượng sản xuất. Trình độ nào thì tính chất ấy không thể tách rời . Khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công, phân công lao động kém thì Lực lượng sản xuất có tính chất cá nhân. Khi sản xuấtđạt tình độ cơ khí, phân công lao động xã hội đã phát triển Lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa. Sự phù hợp giữa Quan hệ sản xuất với trình độ phát triển cuả Lực lượng sản xuất thể hiện ở những điểm sau : -Trong sản xuất khai thác được mọi năng lực sản xuất của xã hội . -Sử dụng có hiệu quả những tư liệu sản xuất. -Áp dụng được mọi thành tựu khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành và phát triển của Quan hệ sản xuất. Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất. Sự phù hợp của Quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó Quan hệ sản xuất là “ hình thức phát triển” của Lực lượng sản xuất. Trong trạng thái đó tất cả các mặt của Quan hệ sản xuất tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất do đó có cơ sở để phát triển hết khả năng của Lực lượng sản xuất. Sự phát triển của Lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định làm cho Quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp, trở thành xiềng xích của Lực lượng sản xuất, kìm hãm Lực lượng sản xuất phát triển. Như vậy yêu cầu khách quan của sự phát triển Lực lượng sản xuất tất yếu dẫn tới thay thế Quan hệ sản xuất cũ bằng Quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển mới của Lực lượng sản xuất để thúc đẩy Lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển. Và phương thức sản xuất mới ra đời. Nhưng rồi quan hệ sản xuất mới dần lại trở nên không còn phù hợp với Lực lượng sản xuất đã phát triển hơn nữa; sự thay thế phương thức sản xuất nước mới lại diễn ra. Lực lượng sản xuất quyết định Quan hệ sản xuất, nhưng Quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của Lực lượng sản xuất . Quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất tác động đến thái dộ của con người trong lao động, đến phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ …và do đó tác động đến sự phát triển của Lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất là động lực thúc đẩy cho Lực lượng sản xuất phát triển. Ngược lại, Quan hệ sản xuất lỗi thời lạc hậu hoặc tiên tiến một cách giả tạo so với trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất. Tuy nhiên việc giải quyết mâu thuẫn giữa Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất không phải đơn giản. Nó phải thông qua nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người ,trong xã hội có giai cấp phải thông qua cách mạng xã hội. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại. Sự thay thế phát triển của lịch sử nhân loại qua các chế độ XH từ thấp đến cao là do sự tác động của hệ thống các quy luật xã hội trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất. 2.Tính tất yếu của quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam. a. Sự hình thành và các thành phần kinh tế ở việt nam trong thời kỳ quá độ. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Lực lượng sản xuất phát triển chưa cao và có nhiều trình độ khác nhau. Do đó trong nền kinh tế tồn tại ba hình thức sỏ hữ tư liệu sản xuất cơ bản: sở hữu toàn dân sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Trên cơ sở ba hình thức sở hữu đó, hình thành 5 thành phần kinh tế cơ bản: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. +) Kinh tế nhà nước: là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu nhà nước về tư liệu sản xuất, chủ yếu gồm các đơn vị kinh tế mà tất cả vốn thuộc về nhà nước hoặc phần lớn của nhà nước chiếm tỷ lệ khống chế. Từ năm 1986 đến nay, các doanh nghiệp nhà nước đã giảm 55% số lượng doanh nghiệp, hiện nay còn 5.700 doanh nghiệp hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp độc lập hoặc dưới hình thức trực thuộc các tổng công ty . +) Kinh tế tập thể: kinh tế tập thể là thành phần kinh tế bao gồm những cơ sở kinh tế do người lao động tự nguyện góp vốn, cùng kinh doanh, tự quản lý theo nguyên tắc tập trung, bình đẳng cùng có lợi. Trong thời gian từ năm 1996 đến nay, nước ta chuyển sang thời kỳ xây dựng hợp tác xã theo mô hình kiểu mới, đánh dấu bằng việc ban hành luật hợp tác xã tháng 3 năm 1996(có hiệu lực tháng 1 năm 1997). +) Kinh tế tư nhân: là thành phần kinh tế dựa trên chế độ tư hữu Tư bản Chủ nghĩa, gồm các đơn vị kinh tế mà vốn do một hoặc một số nhà tư bản trong và ngoài nứơc đầu tư để sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Năm 1991, ở Việt Nam có 122 doanh nghiệp Tư bản, Công ty Cổ phần, Công ty Trách nhiệm hữu hạn. Năm 1993, sau khi ban hành Nghị định 60/HĐBT đã có khoảng 900.000 cá nhân, nhóm kinh doanh được cấp đằng ký thaeo loại hình đơn vị có vốn dưới mức pháp định. Cuối năm 2001 có hơn 30.000 doanh nghiệp tư nhân được thành lập theo luật Doanh Nghiệp. +) Kinh tế tư bản Nhà nước: Là thành phần kinh tế mà chủ thể là các nhà Tư bản và Nhà nước cùng góp vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh. Năm 1998, sau khi Nhà nước ban hành Luật đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã có 3 dự án đầu tư được cấp phép dưới hình thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh giữa Việt Nam với nước ngoài với tổng số vốn đăng ký là 366 triệu USD, chỉ riêng năm 1995 có 404 dự án với 6,6 tỷ USD vốn đăng ký. Đến tháng 12 năm 2000, số dự án được cấp giấy phép lên tới 3.112 dự án với vốn đăng ký ;là 43,16 tủ USD. +) Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Nghị quyết đại hội IX đã căn cứ vào điều kiện thực tiễn của nền kinh tế đã đưa thêm thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhằm mục đích khai thác những tiềm nằng, lợi thế so sánh và các nguồn lực từ phía cá đối tác bên ngoài nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế đất nước. Hoạt động đầu tư nước ngoài diễn biến khá sôi động trong năm 1998. Cuối năm 2000 cả nước có khoảng 3.000 dự án của hơn 700 doang nghiệp thuộc 62 nước và lãnh thổ với tổng vốn đăng ký là 36 tỷ USD, vốn thực hiện 16,89 tỷ USD ( chưa tính đến liên doanh dầu khí Vietsopetrol ), hoạt động đầu tư nước ngoài đã nộp ngân sách 1,52 tỷ USD, tạo 21,6 tỷ hàng hóa xuất nhập khẩu, giải quyết việc làm cho 32 vạn lao động trực tiếp và 1 triệu lao động gián tiếp. b. Tính tất yếu khách quan của nền kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ. Trong bất cứ hình thái kinh tế xã hội nào cũng có phương thức sản xuất giữ vị trí chi phối. Ngoài ra, còn có phương thức sản xuất tàn dư của xã hội trước để lại và phương thức sản xuất mầm mống của xã hội tương lai. Các phương thức sản xuất này ở vào địa vị lệ thuộc, bị chi phối bởi phương thức sản xuất thống trị. Mặt khác, trong thời kỳ quá độ chưa có thành phần kinh tế nào giữ vai trò thống trị, chi phối các thành phần kinh tế khác, mà chúng ta chỉ là những mảng, những bộ phận hợp thành kết cấu kinh tế xã hội trong một hệ thống nhất biện chứng. Tất yếu khách quan là tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ là vì: +) Thứ nhất: Khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền, tiếp quản nền kinh tế chủ yếu dựa trên chế độ tư hữu về Tư liệu sản xuất. Thực tế có hai loại tư hữu gồm có nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, … của các nhà tư bản trong nước và ngoài nước- đó là kinh tế Tư bản chủ nghĩa; tư hữu nhỏ gồm có nông dân, buôn bán nhỏ - đó là sản xuất nhỏ cá thể. Thái độ của chính quyền mới đối với hai loại tư hữu trên là khác nhau. Đối với tư hữu lốn - kinh tế tư bản tư nhân chỉ có phương pháp duy nhất là quốc hữu hóa. Đối với tư hữu nhỏ thì có con đường hợp tác hóa theo con đường nguyên tắc mà V . I . Lênin đã vạch ra là tự nguyện, quản lý dân chủ, cùng có lợi, … đồng thời tuân theo quy luật khách quan. +) Thứ hai: Sự phát triển kinh tế mỗi quốc gia do đặc điểm lịch sử, điều kiện chủ quan, khách quan nên tất yếu có sự phát triển không đồng đều giữa các Lực lượng sản xuất và các ngành, vùng, doanh nghiệp …. Chính sự phát triển không đồng đều đó quy định Quan hệ sản xuất, trước hết là hình thức, quy mô và Quan hệ sở hữu phải phù hợp với nó, nghĩa là tồn tại Quan hệ sản xuất không giống nhau đố là cơ sở hình thành các thành phần kinh tế khác nhau. +) Thứ ba: Để phát triển kinh tế, củng cố Kinh tế - Chính trị - Xã hội, Nhà nước xây dựng những cơ sở kinh tế mới, hình thành thành phần kinh tế Nhà nước . Mặt khác, trong điều kiện quốc tế hóa đời sống kinh tế thông qua hợp tác và đầu tư nước ngoài, Nhà nước cùng các nhà Tư bản, công ty trong và ngoài nước hình thành kinh tế Tư bản Nhà nước. c. Vai trò của cơ cấu kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Tính tích cực của nền kinh tế nhiều thành phần biểu hiện qua các khía cạnh: +) Có khả năng khai thác, huy động và sử dụng có hiệu quả sứ mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế trong nước, tận dụng vốn và công nghệ của nước ngoài. Do đó phát huy được cả nội lực và ngoại lực. +) Giải quyết phần lớn công an việc làm cho nhân dân, phát triển làng nghề truyền thống, tận dụng vốn và nhân công nhàn rỗi có hiệu quả, phát huy thế mạnh vốn có của con người Việt Nam, đẩy mạnh phát triển Lực lượng sản xuất. +) Tạo ra sự đa dạng về quy mô và trình độ kỹ thuật phù hợp với hiển trạng về cơ sở vật chất và trình độ kỹ thuật của nước ta. Tạo sự liên kết, liên doanh với nước ngoài với chiều hướng có lợi hơn. +) Khi các thành phần kinh tế đều phát huy thế mạnh, hoạt động tích cực làm cho năng suất lao động phát triển, từ đó nhanh chóng tăng cừơng kinh tế và nâng cao mức sống nhân dân. Là bước khởi đầu, đặt nền móng cho thời kỳ quá độ với cơ sở vật chất kỹ thuật chắc chắn để đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên CNXH bỏ qua giai đoạn Chủ nghĩa tư bản. Kết quả thực tế công cuộc đổi mới từ 15 năm đã cho thấy mặt tích cực của cơ chế kinh tế nhiều thành phần là rất to lớn. Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu đã trở thành một nước có nền kinh tế tăng trưởng vững chắc với tốc độ tăng trưởng cao. Đầu tư tăng gấp 3 lần, từ 11,6 % của GDP năm 1989 đến 28 % của GDP năm 1996. Sản lượng nông nghiệp tăng 2 lần, Việt Nam trở thành một trong ba nước khuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Trong 5 năm ( 1991 – 1995 ) hàng năm nông nghiệp tăng 4,5 %, công nghiệp tăng 13,5 %, xuất khẩu tăng 20 %, đời sống nhân dân được cải thiện, tỉ lệ nghèo giảm 35 % trong vòng 10 năm từ năm 1986. d. Sự hoàn thiện Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất theo đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Cần phải khẳng định rằng: Phát triển kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa là kết quả của tiến trình lịch sử, tiến trình đó được quy định bởi quy luật Quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của Lực lượng sản xuất. Có nghĩa là: Cùng với từng bước phát triển Lực lượng sản xuất, Quan hệ sản xuất được hoàn thiện tương ứng, trong đó nội dung cốt lõi là hoàn thiện Quan hệ sản xuất theo hướng tập trung hóa hoặc xã hội hóa. Thật vậy, Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất thể hiện hai đặc trưng tác động biện chứng trong quá trình xã hội hóa Quan hệ sở hữu kinh tế. Khi Lực lượng sản xuất còn ở mức thấp, ứng với nó là sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu nhỏ và phân tán. Lực lượng sản xuất từng bước phát triển sẽ tỉ lệ thuận với tiến trình tập trung hóa và xã hội hóa Quan hệ sở hữu mà đỉnh cao của nó là sở hữu toàn dân, sự hình thành các tập đoàn kinh tế, công ty cổ phần, công ty đa quốc gia, các đại nông trại, . . . được coi là biểu hiện của quá trình xã hội hóa Quan hệ sở hữu ở một mức độ nhất định do kết quả tác động biện chứng của Quan hệ sản xuất và Lực lượng sản xuất. Với cách nhìn đó thì chế độ công hữu Xã hội chủ nghĩa được xác lập như một tất yếu khách quan bởi sự phù hợp giữa Quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ cao của Lực lượng sản xuất. Nhìn trên góc độ khác, trong mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng Xã hội chủ nghĩa, có thể thấy rằng kinh tế thị trường biểu thị nổi bật như phương thức vận động của Lực lượng sản xuất, còn định hướng Xã hội chủ nghĩa thể hiện như Quan hệ sản xuất cần đạt tới phương thức vận động của đó Chủ nghĩa Xã hội cũng có thể hiểu đó là một nền tảng kinh tế xã hội được dựa trên chế độ đổi mới thực hiện được ý tưởng cao đẹp do lịch sử giao phó là xây dựng một xã hội công bằng, văn minh với ý nghĩa đích thực của nó. Có lẽ do quy luật này mà Đảng ta khẳng định tính nguyên tắc của phát triển Kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. III/ KẾT LUẬN. Rõ ràng Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất là một quy luật kinh tế cơ bản, phổ biến, chi phối mọi phương thức sản xuất, không loại trừ một quốc gia , một dân tộc nào. Điều đó, đòi hỏi chúng ta muốn phát triển kinh tế đất nước thì phải nhận thức đúng để hoạt động phù hợp với quy luật khách quan. Ở nước ta trong cơ chế tập trung ,quan liêu ,bao cấp trước đây, đã có lúc chúng ta tưởng rằng có thể thiết lập được một quan hệ sản xuất cao hơn đi trước mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Song kết quả diễn ra lại trái với mong muốn của chúng ta. Đó là Lực lượng sản xuất không phát triển, tình trạng trì trệ kéo dài, hàng hóa sản xuất ra kém chất lượng, giá thành cao, không thể cạnh tranh với hàng ngoại, lại khan hiếm không đủ thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng, đời sống nhân dân rất khó khăn. Như vậy thực tế phát triển ở nước ta gần 10 năm trở nên lạc hậu, mà cả khi nó được áp đặt một hình thức đi trước quá xa so với Lực lượng sản xuất, một lần nữa quy luật Quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất lại thể hiện rõ tính phổ biến và tính tất yếu mạnh mẽ của nó, bất chấp cả ý muốn chủ quan của con người . Đảng ta đã nhận thức đúng quy luật khách quan nên đã có những đường lối chủ trương đúng đắn kịp thời. Cái mốc đánh dấu sự đổi mới toàn diện và sâu sắc nền kinh tế xã hội là đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng tháng 12/1996.Với nghị quyết Đại hội VI, chúng ta đã dứt khoát đoạn tuyệt với cơ chế hành chính, tập trung , quan liêu bao cấp, chuyển dần kinh tế sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN. Cơ chế kinh tế mới khuyến khích phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, mở rộng quan hệ kinh tế với nước khác, các khu vực trên thế giới, động viên mọi người lam giàu trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Đường lối đổi mới của Đảng ta nhanh chóng đi vào cuộc sống, được nhân dân lao động phấn khởi hưởng ứng và đem lại nguồn sinh khí mới tạo đà cho nền kinh tế phát triển. Sau 8 năm thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt được một số thành tựu đáng kể: Tăng trưởng kinh tế khá lạm phát được đẩy lùi, đời sống nhân dân được cải thiện từng bước. Đạt được thành tích như vậy là do chúng ta đã vận dụng đúng quy luật Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất, do đó đã giải phóng sức sản xuất xã hội, khai thác được các tiềm năng bên trong và bên ngoài làm cho Lực lượng sản xuất ở nước ta có những bước nhảy vọt về chất. Nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta vừa vận động theo kinh tế thị trường vừa vận động theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Khi đó chúng ta phải coi các thành phần kinh tế đều là “ đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật; hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”. Lấy việc nâng cao hiệu quả kinh tế làm mục tiêu hàng đầu trong công cuộc khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế. Chủ động đổi mới, phát triển nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể. Đảm bảo vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Thực hiện công bằng tiến bộ Xã hội ngay trong từng chính sách phát triển kinh tế. Tăng cường hiệu lực quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước nhằm phát huy những mặt tích cực, ngăn ngừa tiêu cực trong cơ chế thị trường. Mở rộng các mối quan hệ quốc tế hội nhập khu vực, nhưng đảm bảo tính độc lập tự chủ của quốc gia. Đó là những điều kiện quan trọng cho sự phát triển của mỗi thành phần kinh tế cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân. TÀI LIỆU THAM KHẢO Giáo trình triết học Mac – Lênin ( NXB Chính trị Quốc gia ) Giáo trình Kinh tế chính trị ( NXB Chính trị Quốc gia ) Tạp chí nghiên cứu kinh tế Tạp chí cộng sản www.chungta.com www.cpv.org.vn ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc35741.doc
Tài liệu liên quan