Thái độ của thanh niên xã Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái với hoạt động văn hoá quần chúng tại địa phương

Phần mở đầu Chương 1: Cơ sở lý luận 1. Lý do chọn đề tài Trong mấy chục năm qua, dưới ánh sáng đường lối văn hoá, văn nghệ đúng đắn của Đảng, sự nghiệp văn hoá, văn nghệ nói chung và văn hoá quần chúng nói riêng đã đạt được những thành tựu đáng tự hào. Hoạt động văn hoá quần chúng đã góp phần xứng đáng vào vào chiến công huy hoàng đánh thắng hai đế quốc xâm lược, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đem đến nhân dân một đời sống văn hoá vui tươi, lành mạnh, góp phần tích cực xây dựng

doc67 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1925 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Thái độ của thanh niên xã Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái với hoạt động văn hoá quần chúng tại địa phương, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hoá mới và con người mới xã hội chủ nghĩa. Ngày nay, trong quá trình phát triển của toàn xã hội, trong giai đoạn hội nhập, mở của của đất nước, thì các vấn đề xây dựng một nền văn hoá quần chúng đậm đà tính dân tộc, tính Đảng sâu sắc, trên nền tảng tinh hoa văn hoá, văn nghệ bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước; đồng thời chọn lọc và vận dụng những cái hay, cái đẹp trong kho tàng văn hoá, văn nghệ tiến bộ thế giới là việc làm rất quan trọng. Bởi chính nên văn hoá đó sẽ chắp cánh cho nhân dân ta không ngừng vươn lên, tập trung sức lực và trí tuệ phục vụ đắc lực các nhiệm vụ chính trị của Đảng. Theo đúng như lời đồng chí Lê Duẩn đã nói: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội không phải chỉ xây dựng một nền kinh tế mới, một xã hội mới mà còn xây dựng những con người mới xã hội chủ nghĩa, đem lại giá trị chân chính cho con người, tạo cho con người phát triển toàn diện, trở thành chủ thể có ý thức trong sự sáng tạo lịch sử. Thay đổi tồn tại xã hội là điều kiện cơ bản để thay đổi ý thức xã hội, và con người mới chỉ hình thành trong quá trình xây dựng xã hội mới, thông qua các hoạt động thực tiễn, các phong trào cách mạng của quần chúng. Nhưng việc cải tạo con người, sự thay đổi ý thức tư tưởng của con người không phải và không thể là một quá trình tự phát. Vả chăng “muốn xây dựng chủ nghĩa, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Vì vậy, đi đôi với cuộc cách mạng kinh tế, tất yếu phải tiến hành cách mạng tư tưởng, tinh thần và văn hoá của toàn xã hội, của đông đảo quần chúng, nhân dân” Như vậy, cuộc cách mạng tư tưởng này mà thông qua các hoạt động văn hoá quần chúng là sự nghiệp không của riêng cá nhân, một tầng lớp hay một giai cấp nào mà đó là sự nghiệp của toàn thể nhân dân. Trong đó, lực lượng thanh niên luôn phải là lực lượng đi đầu bởi đây là tương lai của đất nước, quyết định vận mệnh của sự nghiệp cách mạng to lớn này. Xuất phát từ ý nghĩa đó chúng em quyết định nghiên cứu đề tài “Thái độ của thanh niên xã Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái với hoạt động văn hoá quần chúng tại địa phương” để có những cứ liệu cụ thể, rõ hơn về vấn đề này. Qua đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng của hoạt động văn hoá quần chúng. 2.Mục đích nghiên cứu: - Nghiên cứu thực trạng hoạt động văn hoá quần chúng xã Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. - Nghiên cứu thái độ của thanh niên xã với hoạt động văn hoá quần chúng. - Qua kết quả nghiên cứu chúng tôi đưa ra một số kết luận và kuến nghị nhằm nâng cao hơn chất lượng hoạt động văn hoá quần chúng, cũng như thái độ tích cực tham gia của thanh niên với hoạt động này. 3.Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu tài liệu liên quan làm cơ sở lý luận cho đề tài - Nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát thực trạng hoạt động văn hoá quần chúng của xã Sơn Thịnh Nghiên cứu thái độ của thanh niên xã với hạot động văn hoá quần chúng - Đề xuất kiến nghị, giải pháp thông qua kết quả nghiên cứu của đề tài. 4. Đối tượng nghiên cứu - Thái độ của thanh niên xã Sơn Thịnh với hoạt động văn hoá quần chúng tại địa phương. 5. Khách thể và phạm vi nghiên cứu - Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tìm hiểu 150 khách thể là các bạn thanh niên xã Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. 6.Phương pháp nghiên cứu 6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: - Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến đề tài để tìm hiểu sâu hơn về cơ sở lí luận của đề tài. 6.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: - Phương pháp này được chúng tôi sử dụng và là phương pháp chính thu thập thông tin làm cứ liệu của đề tài. 6.3 Phương pháp phỏng vấn: - Chúng tôi tiến hành phỏng vấn ở một số khách thể nghiên cứu để tìm hiểu sâu hơn thái độ của các bạn thanh niên mà phần bảng hỏi không đưa ra hết được. 6.4 Phương pháp quan sát: - Đây cũng là một phương pháp quan trọng sử dụng để bổ xung thêm những số lượng thực tế, nâng cao thêm tính khách quan của đề tài. 6.5 Phương pháp thống kê toán học: Chúng tôi sử dụng để phân tích sử lí kết quả nghiên cứu điều tra thu được. 7. Giả thiết nghiên cứu - Hoạt động văn hoá quần chúng có ý nghĩa rất lớn góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của thanh niên xã Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.Do đó thái độ của các bạn thanh niên xã với hoạt động này là rất tích cực. Phần Nội Dung Chương I: Cơ sở lý luận 1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề Lịch sử nghiên cứ thái độ Thái độ là một thuận ngữ được sử dụng thường xuyên trong tâm lý học và nhiều nghành khoa học khác. Lịch sử nghiên cứu thái độ cho thấy đây là một vấn đề mà các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm được sự thống nhất hoàn toàn. Trên thế giới đã có rất nhiều các trường phái nghiên cứu thái độ ở những khía cạnh khác nhau với những quan điểm không hoàn toàn giống nhau: 1.1.1. Nghiên cứu thái độ trong tâm lý học phương Tây Nhà tâm lý học P.N.Shikhirep đã chia lịch sử nghiên cứu Thái độ ra làm ba thời kỳ : -Thời kỳ đầu tiên: từ 1918 đến chiến tranh thế giới thứ II ). Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ, W.I.Thomas và F.Znanicki (Mỹ) là những người sử dung khái niệm “Thái độ” như một đặc tính quan trọng của các vấn đề xã hội. Theo hai ông “Thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với giá trị”.Yêu cầu được đặt ra là nghiên cứu thái độ ở các cấp cá nhân và xã hội. Từ phát hiện trên đã mở ra, khơi nguồn cho một loạt các cuộc nghiên cứu về thái độ mà tập trung chủ yếu vào: định nghĩa, cấu trúc, chức năng, mối quan hệ giữa thái độ và hành vi. Thái độ bao hàm các mối quan hệ cơ bản với các vấn đề: dư luận xã hội, tuyên truyền sự mâu thuẫn giữa các nhóm, cạnh tranh kinh tế, niềm tin tôn giáo, thay đổi hành vi… Năm 1934: Lapiere đã tiến hành một thí nghiệm và các ông đã đưa ra kết luận : Thái độ và hành vi trong nhiều trường hợp đôi khi rất khác nhau. -Thời kỳ thứ hai: Từ năm 1940 đến cuối những năm 50. Nét nổi bật trong nghiên cứu thái độ thời kỳ này là sự hoài nghi vai trò của thái độ trong việc chi phối hành vi, kết luận của La Piere đã đặt cơ sở cho chủ nghĩa hoài nghi và khiến sự quan tâm của các nhà tâm lý học đối với vấn đề thái độ xã hội bị giảm sút. -Thời kỳ thứ ba: Từ cuối những năm 50 đến nay. Đây là thời kỳ phục hồi, tái phát triển trở lại, xuất hiện nhiều ý tưởng quan điểm mới nhưng cũng kèm theo tình trạng khủng hoảng, thái độ đã có vị trí xứng đáng trong tâm ký học xã hội. Đặc điểm mới của thời kỳ này là việc xuất hiện các thang đo thái độ như “phương pháp” “Đường ống giả vờ” của Edward Jones và Harold Sigall (1971) cho phép đo thái độ một cách chính xác. Bên cạnh đó các nhà tâm lý học cũng đưa ra các lý thuyết lý giải mối quan hệ giữa thái độ và hành vi. “Bất đồng nhận thức” (thuyết tự bào chữa- 1957) Leon Festinger cho rằng: bất đồng nhận thức diễn ra khi thái độ mâu thuẫn với hành vi. Tuy nhiên, sự căng thẳng giữa các hành vi và thái độ đó được chúng ta làm giảm bớt bằng cách tự bào chữa cho suy nghĩ chứ không phải hành động của mình. Cũng nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ và hành vi Allan Wicher (1969) sau khi nghiên cứu tổng kết ác vấn đề đã đưa ra kết luận: “Thái độ của con người hầu như chẳng dự báo cho hành vi của họ”. Shikhirep cho rằng, đặc điểm của tình trạng nghiên cứu thái độ ngày nay ở phương tây là có nhiều công trình và phương pháp cụ thể nghiên cứu thái độ nhưng lại bế tắc về phương pháp lý luận trong việc lý giải các số liệu thực nghiệm. 1.1.2. Nghiên cứu thái độ trong tâm lý học Liên Xô (cũ). -Nghiên cứu của trừng phái tâm thế. Theo học thuyết của P.N.Uzatge khái niệm “thái độ” được hiểu là “tâm thế”sự biến dạng hoàn chỉnh của chủ thể, là trạng thái sẵn sàng hướng tới một hoạt động nhất định. Là cơ sỏ của tính tích cực có sự lựa chọn của chủ thể “tâm thế” xuất hiện khi có sự hội ngộ của hai yếu tố: nhu cầu và hoàn cảnh thoả mãn nhu cầu. Ông dùng khái niệm “tâm thế” là khái niệm trung tâm nhưng lại lấy cái vô thức giải thích hành vi của con người. Như vậy học thuyết này đống góp một vai trò phương pháp luận khoa học cụ thể cho nhiều lĩnh vực chuyên môn của tâm lý học như: Tâm lý học xã hội, tâmlý học y học, tâm lý học kỹ sư… -Nghiên cứu thái độ trong tâm lý học nhân cách Tác giả thuyết “thái độ nhân cách” V.N.Miaxisev đã coi nhân cách như một hệ thống thái độ. Theo ông, cơ sở sinh lý học của thái độ có ý thức của con người là phản xạ có điều kiện: “…thái độ là điều kiện khái quát bên trong của hệ thống các hành động của con người”. Ông cho rằng nhu cầu, hứng thú, thị hiếu, tình cảm, tính cách… đều là thái độ. Hạn chế ở đây là ông đã coi hàng loạt các thuộc tính tâm lý nhân cách, các quá trình tâm lý là thái độ cũng chưa có cơ sở khoa học. Tuy nhiên ông là một trong những người đặt nền móng cho tâm lý học theo quan điểm tâm lý học Macxít. -Thuyết định vị của V.A.Iadov Nghiên cứu vai trò của tâm thế trong những hành vi xã hội của nhân cách. Thuyết này xem vấn đề thái độ từ một góc độ mới, nó cho phép thiết lập sợi dây liên hệ giữa các cách tiếp cận vấn đề hành vi của nhân cách từ góc độ tâm lý học đại cương, tâm lý học xã hội, xã hội học. Hạn chế: Không làm rõ nội hàm khái niệm “Đinh vị”, cũng như điều chỉnh hành vi bằng những định vị trong tình huống xã hội cụ thể. Tóm lại, nhờ vận dụng cách tiếp cận hoạt động và nhân cách trong nghiên cứu thái độ, gắn thái độ với nhu cầu với điều kiện hoạt động coi thái độ là hệ thống có thứ bậc. Tâm lý học Xô Viết đã đưa ra cách lý giải hợp lý về sự hình thành thái độ, vị trí của thái độ trong cấu trúc nhân cách, chức năng của thái độ trong điều chỉnh hành vi xã hội và hoạt động của cá nhân. 1.1.3. Nghiên cứu thái độ ở Việt Nam Những nghiên cứu thái độ ở Việt Nam chịu ảnh hưởng rất nhiều của hệ thống lý luận của tâm lý học Liên Xô. Những nghiên cứu lý luận về thái độ cưa nhiều chủ yếu là các quan điểm của một số nhà nghiên cứu tâm lý đầu nghành như Nguyễn Khắc Viện, Phạm Minh Hạc… Khi bàn về thái độ, Nguyễn Khắc Viện cho rằng: “Trước một đối tượng nhất định, nhiều người thường có những phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay chống đối như đã có sẵn những cơ cấu tâm lý tạo ra định hướng cho việc ứng phó. Từ nnhững thái độ sẵn có tri giác về đối tượng cũng như tri thức bị chi phối, về vận động thì thái độ gắn liền với thực tế”.Theo quan điểm này thái độ đối với một đối tượng nào đó sẽ chi phối hoạt động của họ với đối tượng ấy. Trong cuốn “Sổ tay tâm lý học xã hội” của William Mc Guice thì “Thái độ và sự thay đổi thái độ vẫn là một trong những đề tài được nghiên cứu nhiều nhất trong tâm lý học xã hội. Sự cố gắng của các nhà tâm lý học trong nghiên cứu thái độ nhằm hiểu rõ, dự đoán, kiểm soát, thay đổi hành vi của con người đã mang nhiều kết quả. Tuy nhiên phải thừa nhận rằng, thái độ là một khái niệm tâm lý khó xác định một cách chính xác. Chính vì vậy mặc dù được nghiên cứu nhiều nhưng còn gây nhiều tranh cãi”. 2. Các khái niệm công cụ của đề tài 2.1.Thái độ 2.1.1.Khái niệm: - Theo đại từ điển Tiếng Việt: + Thái độ là mặt biểu hiện bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hay việc gì thông qua nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động. + Thái độ là ý thức, cách nhìn nhận, đánh giá và hành động theo một hướng nào trước sự việc. - Trong xã hội học có quan điểm cho rằng: “ Thái độ là nền tảng ứng xử xã hội của cá nhân, là một hoạt động tâm lý của cá nhân bao hàm sự lý giải và biến đổi các khuôn mẫu xã hội qua kinh nghiệm của cá nhân”. - Theo phương Tây: +1918 – 1920 những người đầu tiên sử dụng khái niệm thái độ là: W.I.Thomas và F.Zanniecki cho rằng “thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với một giá trị” + Còn Allport cho rằng “thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, có khả năng điều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng động đối với phản ứng của cá nhân hướng đến các khách thể và tình huống mà nó quan hệ”. Như vậy, thái độ được coi như một trạng thái tâm lý, thần kinh cho hoạt động. Định nghĩa này trả lời rõ ràng các câu hỏi cơ bản: Thái độ là gì? Nguồn gốc thái độ ở đâu? Thái độ có vai trò chức năng gì? Tuy nhiên ông chưa đả động gì đến vai trò của môi trường xã hội, của nhu cầu trong qúa trình hình thành thái độ. + Newcome cho rằng “ Thái độ của cá nhân đối với một đối tượng nào đó là thiên hướng hành động, nhận thức, tư duy, cảm nhận của anh ta với khách thể kiên quan”. + Phillmore.H (1965) định nghĩa: “ Thái độ là sự sẵn sàng phản ứng tích cực hay tiêu cực đối với đối tượng hay các ký hiệu (Biểu tượng) trong môi trường…Thái độ là sự định hướng của cá nhân đến các khía cạnh khác nhau của môi trường và là cấu trúc có tính động cơ”. + H.C.Triandis đã coi: “ Thái độ là tư tưởng được hình thành từ những xúc cảm gây tác động đến hành vi nhất định ở một giai cấp nhất định trong những tình huống xã hội. Thái độ của con người bao gồm những điều người ta suy nghĩ và cảm thấy về đối tượng cũng như thái độ xử sự của họ đối với nó..” Các tác giả đều định nghĩa thái độ dựa trên một điểm tựa là chức năng của nó. Thái độ có chức năng định hướng hành vi ứng xử của con người, chức năng thúc đẩy, tăng cường tính sẵn sàng của những phản ứng nơi con người hướng tói đối tượng. - Trong tâm lý học Xô Viết: + Uznatze cho rằng: “thái độ không phải là một nội dung cục bộ của ý thức, không phải cái nội dung tâm lý bị tách rời, bị đối lập lại với các trạng thái tâm khác của ý thức người ở trong mối liên hệ qua lại với nó, mà là mọt trạng thái toàn vẹn, xác định của chủ thể… Đó là sự phản ứng cơ bản đầu tiên đối với tác động của tình huống trong đó chủ thể phải đặt ra và giải quyết nhiệm vụ”. Định nghĩa đã nhìn nhận thái độ như một bộ phận cấu thành có tính toàn vẹn của ý thức cá nhân. Mặt khác, thừa nhận thái độ mạng trong mình tính tự giác, năng động của một hiện tượng tâm lý thuộc cấp độ ý thức- điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người. + Khái niệm thái độ của H.Hipsor và M.Forvec nhấn mạnh chức năng của thái độ đối với hoạt động chung, hoạt động hợp của con người trong xã hội: “ thái độ là sự sẵn sàng bị qui định và có tính chất bắt buộc nào đó, nảy sinh những nhóm nhất định và trong những tình huống cụ thể”. Về mật lượng cũng như về mặt nội dung, sự sẵn sàng này phụ thuộc không những vào chủ thể hữu quan, mà trước hết là một hiện tượng tâm lý xã hội phụ thuộc vào khuynh hướng của cá nhân gắn liền vơí những chuẩn mực của nhóm. Quan điểm này mở ra một con đường mới trong nghiên cứu thái độ là đi sâu nghiên cứu những hành vi và hoạt động cụ thể. -Trong tâm lý học nhân cách: + Theo GuilFord (1964, nhà tâm lý học Mỹ) quan niệm: “ thái độ là những cử chỉ, phong thái, ý nghĩ liên quan đến những hoàn cảnh xã hội”. + Các nhà tâm lý học Cosacowski và Lompscher (1975): Coi thái độ là thuộc tính tâm lý, bao gồm: Niềm tin, lý tưởng, hứng thú, thái độ xã hội. + Nhà tâm lý học Xô Viết Miaxisev định nghĩa “thái độ là khía cạnh chủ quan bên trong các mối quan hệ đa dạng, có chọn lọc của con người với các khía cạnh khác nhau của hiện thực và với toàn bộ hiện thực nói chung…Thái độ là điều kiện khái quát bên trong của hệ thống các hành động của con người…”. -Trong tâm lỳ học xã hội Mỹ hiện nay: + David.G.Myers coi “Thái độ là phản ứng mang tính đánh giá có thiện chí hay không có thiện chí về một điều gì đó, được thể hiện trong niềm tin, cảm xúc hay hành vi có chủ định”. + MC. Guiner (1985), OSTrom (1969), Zanna và Rempell cho rằng: “Thái độ là bất cứ sự thể hiện nào về mặt tổng kết sự đánh giá của chúng ta về đối tượng của thái độ: về bản thân, về những người khác, về đồ vật hành động, sự kiện hay tư tưởng”. -Tâm lý học VIệt Nam: Theo Nguyễn Khắc Viện : “ Thái độ là những phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn,đồng tình hay chống đối như có sẵn những cơ cấu tâm lý tạo ra định hướng cho việc ứng phó”. Các tác giả biên soạn cuốn Tâm lý học địa cương cho rằng: “Thái độ là một bộ phận cấu thành, đồng thời là một thuộc tính cơ bản của ý thức”. Trần Hiệp cho rằng: “Thái độ về cấu trúc bao hàm cả mặt nhận thức, mát tổ chức và mặt hành vi”. Như vậy, quan điểm của các nhà tâm lý học Việt Nam về “thái độ” là tương đối thống nhất với cách nhìn nhận vấn đề này trên thế giới. Tóm lại, khi tìm kiếm “thái độ” là một trong những khái niệm cơ bản, xuất phát trong việc nghiên cứu đề tài “ Thái độ của thanh niên xã Sơn Thịnh – Văn Chấn – Yên Bái với hoạt động văn hoá quần chúng tại địa phương”, thì chúng tôi tán thành quan điểm của hai nhà tâm lý học người Đức: H. Hipser và M.Forvec, chọn tiêu chuẩn chức năng của thái độ đối với hoạt động làm điểm tựa.Theo hương đó, chúng tôi hiểu nội hàm khái niệm “thái độ” là: Thái độ là một bộ phận cấu thành, một thuộc tính toàn vẹn của ý thức tạo ra trạng thái sẵn sàng hành động với đối tượng theo hướng nhất định, được biểu hiện ra quá trình nhận thức, cảm xúc, hành vi của chủ thể trong những tình huống, điều kiện cụ thể. 2.1.2.Đặc điểm của thái độ Năm 1935 G.V.Allport đưa ra 5 đặc điểm của thái độ dựa trên sự tổng kết 17 định nghĩa khác nhau: Thái độ là trạng thái nhất định của tinh thần và hệ thần kinh. Thái độ thể hiện sự sẵn sàng phản ứng. Thái độ là trạng thái có tổ chức. Thái độ dựa trên kinh nghiệm trước đó. Thái độ có ảnh hưởng tác động và điều khiển hành vi. Ngoài ra, thái độ còn có một số đặc điểm quan trọng tạo nên sự khác nhau của thái độ: + Chỉ số: Còn được gọi là tính phân cực: tích cực hay tiêu cực, ủng hộ hay phản đối. + Mức độ nhiều hay ít + Cường độ mạh hay yếu + Tính ổn định: Thời gian tồn tại của thái độ, mối liên hệ giữa nhận thức, xúc cảm và hành vi. Như vậy, dựa trên khái niệm về thái độ ta có thể thấy “Thái độ của thanh niên với hoạt động văn hoá quần chúng tại địa phương” là một trạng thái tâm lý thể hiện đánh giá, phản ứng của họ đối với hoạt động văn hoá quần chúng tại địa phương thông qua nhận thức, tình cảm, hành động của họ. 2.1.3. Cấu trúc của thái độ Mặc dù có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về thái độ song phần lớn các nhà tâm lý học đồng ý với cấu trúc ba thành phần của thái độ do S.Mith đưa ra năm 1942. Theo ông, thái độ bao gồm : nhận thức – xúc cảm, tình cảm – hành vi. - Nhận thức: “Là quá trình phản ánh và tái tạo lại hiện thực trong tư duy con người. Trong quá trình nhận thức, con người có kiến thức về hiện tượng thực tế”. Đây là quá trình tiếp thu tri thức, nhận biết khám phá vấn đề, từ đó có nhân có hiểu biết về đối tượng, là cơ sở cho sự hình thành thái độ. Như vậy hận thức là một thành phần không thể thiếu trong cấu trúc của thái độ. - Xúc cảm, tình cảm: Là những cảm xúc, tình cảm của cá nhân đối với đố tượng của thái độ được hình thành trong quá trình tiếp cận với đoói tượng dưới ảnh hưởng của môi trường gia đình, xã hội. Tình cảm kích thích chủ thể nhận thức đối tượng để có những đánh giá định hướng hành động và từ đó có những hành động cụ thể. - Hành vi: Là những hành động hay ý định hành động mà chủ thể sẽ ứng xử với đối tượng là hình thức biểu hiện của thái độ. Thái độ và hành vi luôn có sự qui định và ảnh hưởng lẫn nhau. Hành vi là một phần của thái độ, thái độ muốn biểu hiện phải có hành vi. Đó chính là sự thống nhất của chúng nhưng cũng có khi xảy ra mâu thuẫn, có khi có thái độ tiêu cực nhưng hành vi lại tích cực và ngược lại…Cấu trúc ba thành phần là cơ sở cho các thang đo về thái độ. Hình 1:Cấu của thái độ 2.1.4. Chức năng của thái độ Sở dĩ con người có khả năng ứng xử linh hoạt, phù hợp với tác độngđa dạng của môi trường chính là nhờ khuôn mẫu các thái độ mà chúng ta có. Tổng kết các nhà nghiên cứu ta có thể thấy thái độ có những đặc trưng sau: + Chức năng thích nghi: Nhằm để đạt mục đích đề ra, nhiều trường hợp cá nhân thay đổi thái độ do tác động của môi trường. + Chức năng tiết kiệm trí lực: Nhờ những khuôn mẫu, hành viquen thuộc đã hình thành mà cá nhân biết cách ứng xử phải thế nào trong các tình huống khác nhaumột cách đơn giản và tiết kiệm thời gian. + Chức năng thể hiện giá trị: thông qua sự đánh giá một cách có chọn lọc về đối tượng, qua biểu lộ cảm xúc hành động cũng như sẵn sàng hành động cád nhân thể hiện giá trị nhân cách của mình. + Chức năng tự vệ: Khi mỗi cá nân có nhân có sự xung đột nội tâm (giữa suy nghĩ, niềm tin, giữa thái độ và hành vi…) cá nhân thường bào chữa, tự lý giải nhằm tạo ra một thái độ mới tương ứng, giảm bớt và loại bỏ nhữngbất đồng nội tâm. + Chức năng tác động và điều chỉnh hành vi: Là chức năng quan trọng nhất nhằm tìm hiểu sự ảnh hưởng của thái độ đến hành vi cá nhân: “Điều quan trọng là thái độ đảm bảo sự tham gia của cá nhân vào cuộc sống xã hội, qui định phương thức hành động, mối quan hệ của cá nhân với người khác và do đó quyết định tính chất và mức độ tham gia của họ vào sự phát triển của xã hội”. 2.1.5. Cơ chế hình thành thái độ Hai nhà tâm lý học người Đức là H.Hiebsh và M.Worwerg cho rằng: Thái độ được tiếp thu thông qua bốn cơ chế tâm lý xã hộ khác nhau: -“Bắt chước”: Là một loại hình thái độ trong đó con người học các phương thức hành vi hay phản ứng mà không cần sử dụng đặc biệt những kỹ thuật giáo dục theo một phương thức nào cả.Do đó, “bắt chước” là sự hình thành thái độ một cách tự phát. -“Đồng nhất hoá”: Là sự bắt chước có ý thức. -“Giảng dạy”: Là hình thức hình thành thái độ trong đó cá nhân được người khác thông báo, truyền thụ tất cả những gì cần thiết, “giảng dạy” là một cách đặc biệt của truyền đạt thông tin. -“Chỉ dẫn”: Là hình thức hình thành thái độ đòi hỏi chủ thể phải hành động một cách tích cực. Hình 2: Cơ chế hình thành thái độ 2.1.6. Thang đo thái độ Hiện nay thang đo thái độ còn đang có nhiều tranh cãi, chưa có sự thống nhất cụ thể. Thang đo thường được sử dụng là thang đo của H.Benesh gồm bốn chỉ số và chúng tôi dựa trên cơ sở này để xây dựng thang đo chung cho đề tài. + Mức độ: Nhiều hay ít + Cường độ: Cao hay thấp, mạnh hay yếu + ý nghĩa: Thái độ bộc lộ ra bên ngoài có giá trị như thế nào đối với đối tượng hay sự việc mà cá nhân đó thể hiện. + Hướng: Mục tiêu (đối tượng hay sự việc) để cá nhân có thể bộc lộ ra thái độ của mình. 2.1.7. Mối quan hệ giữa thái độ và các hiện tượng tâm lý khác Xem xét bản chất, chức năng và đặc điểm của thái độ không thể không đặt thái độ trong các mối quan hệ với các hiện tượng tâm lý khác. Điều này góp phần tạo ra cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn về thái độ, nhất là sự hình thành của nó: -Thái độ và hứng thú “Hứng thú là một dạng thái độ đặc thù của cá nhân đối với đối tượng nào đó, do ý nghĩa của nó trong đời sống, do sự hấp dẫn về mặt cảm xúc của nó” (9, tr36). Thái độ cảm xúc với hiện thực xung quanh là một dấu hiệu của hứng thú, tuy nhiên điều đó còn phụ thuộc vào mức độ quan trọng của đối tượng do chủ thể xác định. Vai trò của đối tượng trong hứng thú rất đắc biệt, nó cuốn hút ý nghĩ, tình cảm và hoạt động của cá nhân. Vì vậy khi biết cá nhân có hứng thú với đối tượng nào thì ta cũng có thể biết thái độ của họ với đối tượng đó. Nét cơ bản của hứng thú là là làm nảy sinh khát vọng hoạt động, tạo nên say mê tích cực, tự giác trong quá trình hoạt động tăng hiệu quả hoạt động nhận thức và sức làm việc của cá nhân. Qua hứng thú thái độ chủ quan của cá nhân được thể hiện, cá nhân hứng thú thể hiện qua sự tập trung chú ý, sự quan tâm say mê khi dối tượng xuất hiện, đối tượng thu hút toàn bộ sự chú ý của cá nhân. Hứng thú càng mạnh mẽ, ổn định thì thái độ càng được củng cố, con người càng ham muốn tác động thường xuyên vào đối tượng. Chính vì những đặc điểm đó hứng thú đã trở thành một chỉ báo quan trọng để đánh giá thái độ của cá nhân. -Thái độ với xúc cảm, tình cảm “Xúc cảm, tình cảm là những thái độ của cá nhân đối với các hiện tượng xảy ra trong thế giới khách quan hay trong cơ thể mỗi người, tính chất của mỗi thái độ có quan hệ mật thiết đối với việc thoả mãn hay không thoả mãn nhu cầu tinh thần hay vật chất của mỗi người” (9,tr36). Như vậy trong quá trình con người tiếp xúc với những đối tượng thoả mãn nhu cầu thì thái độ – xúc cảm, tình cảm xuất hiện. Trong khi xúc cảm tình cảm chỉ phản ánh những rung cảm, xúc cảm của cá nhân với đối tượng thì thái độ phản ánh nhận thức, mong muốn, phương thức ứng xử của cá nhân với đối tượng. Tuy vậy nhờ có cảm xúc, tình cảm mà chúng ta biết được mức độ, tính chất, đặc điểm thái độ của cá nhân với đối tượng như thế nào. -Thái độ với định hướng giá trị Về mối quan hệ giữa thái độ và định hướng giá trị có nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm đồng nhất thái độ với định hướng giá trị, tuy nhiên thái độ hình thành do quan hệ trực tiếp với nhu cầu và đối tượng thoả mãn, điều chỉnh hành vi con người trong lĩnh vực cụ thể. Còn định hướng giá trị hình thành gián tiếp thông qua các chuẩn mực, qui định, pháp chế trong quá trình xã hội hoá, tiếp thu kinh nghiệm xã hội của con người và được thể hiện trong các mục đích, niềm tin, lý tưởng…Vì vậy sự định hướng giá trị điều chỉnh hoạt động của cá nhân ở mức độ rộng hơn, trong cả hệ thống xã hội nhất định. Định hướng giá trị là thái độ khái quát đối với hàng loạt đối tượng, do vậy thái độ chỉ là một bộ phận nằm trong định hướng giá trị mà thôi. Do thái độ và định hướng giá trị có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại nên chúng ta có thể đánh giá thái độ của thanh niên qua định hướng giá trị của họ. -Thái độ và ý chí ý là mặt năng động của ý thức, biểu hiện ở năng lực thể hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có sự nỗ lực khắc phục khó khăn, ý chí là hình thức tâm lý điều chỉnh hành vi tích cực nhất. Đó là vì ý chí kết hợp cả mặt năng động của tình cảm đạo đức. Như vậy, ý chí và thái độ cùng là thành phần hữu cơ của ý thức cá nhân, biểu hiện thái độ trong hành động, đặc biệt thái độ với các khó khăn trở ngại trong hành động có mục đích. Các phẩm chất ý chí như: tính mục đích, tính quyết đoán, tính độc lập, tính tự chủ…đều được hình thành và thông qua thái độ tương ứng.Vì vậy có thể sử dụng ý chí như môt chỉ báo quan trọng của thái độ cá nhân. -Thái độ và hành vi Thái độ và hành vi cũng nguồn gốc là sự nhận thức đối tượng, những tình cảm, xúc cảm của cá nhân với đối tượng. Tuy nhiên sự biểu hiện của chúng đôi khi là đồng nhất, có lúc hành vi là sự biểu hiện ra bên ngoài thái độ của cá nhân đối với đối tượng,vì vậy thông qua hành vi có thể đoán được thái độ. Nhưng giữa thái độ và hành vi có khi lại mâu thuẫn và điều này được các nhà tâm lý học xã hội giải thích: hành vi ngược lại với thái độ vì cả thái độ và hành vi đều bị chi phối, tác động, ảnh hưởng, bởi nhiều yếu tố khác nhau như hoàn cảnh, bạn bè, gia đình… Mối quan hệ giữa thái độ và hành vi là mối quan hệ hai chiều, không những thái độ qui định hành vi mà chính hành vi cũng qui định rất lớn tới thái độ. Vấn đề đặt ra là qui định ấy diễn ra khi nào? Thái độ qui định hành vi khi các yếu tố ảnh hưởng tới nức tối thiểu. Như đã nói ở trên theo các nhà tâm lý học xã hội , hành vi chịu tác động của rất nhiều yếu tố. Năm 1982 Triandis liệt kê 40 yếu tố có thể tác động làm phức tạp mối quan hệ giữa thái độ và hành vi. Một loạt các nghiên cứu của Icek Ajzen (1977) và Martin và Fishbein (1982) đã khẳng định: “Nếu thái độ xác định cụ thể cho một hành vi nào đó thì những gì chúng ta nói và những gì chúng ta làm là phù hợp nhau”(9,tr38). Sự tương ứng giữa thái độ và hành vi còn phụ thuộc vào việc ý thức rõ ràng thường xuyên về thái độ khi hành động. Tóm lại thái độ “để lại dấu ấn nhất định trong tất cả các quá trình tâm lý, các hiện tâm lý” (9 tr39). Vai trò của hứng thú, xúc cảm, tình cảm, định hướng giá trị, ý chí và hành vi là vô cùng quan trọng, chính vì vậy khi nghiên cứu thái độ cần phải xét đến toàn bộ các hiện tượng tâm lý đó. Đó là những yếu tố thuộc về nhân cách và sự phát triển nhân cách của con người, nhưng nhân cách của mỗi người lại không giống nhau. Cá nhân có thể tiếp nhận các thái độ mâu thuẫn nhau là do sự khác nhau giáo dục, sự tiếp nhận và giao tiếp của cá nhân trong nhóm. Do vậy ngoài các yếu tố thuộc về nhân cách còn có các yếu tố xã hội khác có ảnh hưởng tới sự hinhf thành và phát triển thái độ. Chúng ta sẽ đề cập ra sau đây: 2.1.8. Các yếu tố quyết định tới sự hình thành và phát triển thái độ -Thái độ hình thành trong quá trình thoả mãn nhu cầu: Người ta sẽ hình thành các thái độ tích cực với khách thể có lợi, tiêu cực với khách thể có hại cho họ trên đường đạt tới mục đích nào đó để thoả mãn các nhu cầu nhất định của họ. -Thái độ được hình thành bởi các thông tin Các thông tin thường hình thành nên thái độ phù hợp, hài hoà với các thái độ liên quan đã tồn tại trước đó. Với mọi người, nguồn thông tin chính thức qua các phương tiện thông tin đại chúng có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành thái độ, dư luận cũng như thay đổi hành vi của họ. -Giao tiếp nhóm Đây là một trong những yếu tố quyết định trong quá trình hình thành nên thái độ, bởi mỗi cá nhân đều là thành viên của nhiều nhóm khác nhau. Thái độ của anh ta thường phản ánh niềm tin, giá trị, chuẩn mực của nhóm mà anh ta là thành viên. Chuẩn mực nhóm xác định hành vi, thái độ nào là đúng hay sai. Các nhà tâm lý học xã hội đều cho rằng vai trò của các nhóm nhất là nhóm nhỏ (gia đình, bạn bè..)trong việc hình thành ý thức cá nhân là cực kỳ quan trọng. Nhứng các cá nhân tiếp nhận các thái độ phổ biến trong nhóm một cách có chọn lựa trong quá trình thoả mãn nhu cầu của anh ta. -Nhân cách cá nhân Qua nghiên cứu có thể kết luận cá nhân có xu hướng tiếp nhận thái độ hù hợp với nhân cách của mình. 2.2. Khái niệm “hoạt động” Hoạt động là khái niệm then chốt của toàn bộ nền tâm lý học macxít- tâm lý học hoạt động. Xuất phát từ luận điểm nổi tiếng của C.Mác trong luận cương về Phoiơbăc” các nhà tâm lý học duy vật biện chứng xét con người với bản chất của nó là hoạt động “con người – hoạt động”(7, tr26) Theo định nghĩa “người hoạt động”, có thể hiểu: “hoạt động là phương thức tồn tại của con người bằng các tác động vào đối tượng để tạo ra sản phẩm, nhằm thoả mãn nhu cầu của bản thân và nhóm xã hội”(11, tr75). Như vậy, để tồn tại và phát triển, con người phải không ngừng hoạt động. Hoạt động là quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội, với người khác và với bản thân. Mác đã chỉ rõ: Hoạt động của con người là sự thống nhất biện chứng giữa 2 quá trình: Đói tượng hoá các năng lực của chủ thể thành sản phẩm vật chất và chủ thể hoá nội dung đối tượng, đem nội dung đối tượng chuyển hoá thành tâm lý con người. Trong quá trình chủ thể hoá đối tượng là quá trình chuyển lực lượng bản chất người ._.vào sản phẩm, vào đối tượng. Quá trình đối tượng hoá chủ thể là quá trình ngược lại: Tách những thuộc tính của sự vật, của thực tế quay trở về với chủ thể, biến nó thành vốn liếng tinh thần của chủ thể,làm phong phú đầu óc chủ thể, làm trí tuệ của chủ thể ngày càng phát triển. Đó còn gọi là quá trình nội tâm hoá, hay quá trình nhập tâm. Hình 3: Sơ đồ chuyển hoá chủ thể và đối tượng Như vậy theo tâm lý học, hoạt động có thể hiểu là quá trình tạo lập và vận hành mối liên hệ hiện thực giữa con người và thế giới đối tượng (tự nhiên, xã hội, người khác, bản thân) trong đó diễn ra sự thống nhất biện chứng giữa hai quá trình trên. Trong đó quá trình chủ thể hoá đối tượng (xuất tâm) làm giàu giá trị văn hoá con người. Có thể nói: Bằng hoạt động của mình, con người không chỉ cải tạo thế giới ngày càng phong phú hơn, mà còn tạo ra chính bản thân mình. 2.3.Văn hoá quần chúng 2.3.1. Khái niệm: -Theo từ điển Tiếng Việt:“Văn hoá quần chúng là các hình thức sinh hoạt văn hoá phục vụ cho quần chúng đông đảo và quần chúng đông đảo có thể tham gia”.(6,tr1101) -Theo Hà Huy Giáp thì “Văn hoá quần chúng ở đây có nghĩa là văn hoá do quần chúng tiến hành trên cơ sở phát huy tính sáng tạo, chủ động, tự nguyện của đông đảo quần chúng, bằng phương thức riêng của nó, được sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng, được sự chỉ đạo, hướng dẫn của Nhà nước, nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống văn hoá ngày càng tăng của nhân dân và là nền móng của nền văn hoá dân tộc xã hội chủ nghĩa.”(12,tr16) 2.3.2. Chức năng của “Văn hoá quần chúng” Muốn xác định đúng đắn mục tiêu và nội dung của công tác văn hoá quần chúng, cần phải nói rõ chức năng của văn hoá. Văn hoá nó chung và văn hoá quần chúng nói riêng có nhiều chức năng nhưng có hai chức năng chủ yêú sau đây: -Giáo dục là chức năng rất cơ bản và bao trùm. Nó bao gồm cả giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức,kiến thức, tình cảm thẩm mỹ…cho quần chúng. Thông qua những hoạt động phong phú, sinh động, văn hoá thực hiện chức năng giáo dục một cách đắc lực nhất. Nó góp phần to lớn đem lại nhận thức cho nhân dân về chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về chủ nghĩa xã hội, về đường lối, quan điểm và các chính sách của Đảng, giáo dục tư tưởng xã hội chủ nghĩa, đạo đức và tình cảm cách mạng, nâng cao kiến thức khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội, giáo dục thẩm mỹ cho đông đảo quần chúng. -Tổ chức và xây dựng đời sống văn hoácủa quần chúng. Tổ chức và xây dựng đời sống văn hoá của quần chúng bao gồm cả việc xây dựng nếp sống mới, tổ chức nghỉ ngơi, vui chơi lành mạnh cho nhân dân, nâng cao đời sống văn hoá của nhân dân nhằm góp phần xây dựng nền văn hoá mới. Chức năng thứ hai thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hộ chủ nghĩa mà bất kỳ chế độ xã hội nào trước đây cũng không thể có được. 2.3.3. Mục tiêu của “Văn hoá quần chúng” Xuất phát từ chức năng từ chức năng chung của văn hoá, mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài của công tác văn hoá quần chúng là tích cực góp phần giáo dục và đào luyện con người mới xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu của văn hoá quần chúng còn là không ngừng nâng cao đời sống văn hoá của nhân dân, tạo nên một đời sống tinh thần lạc quan, phấn khởi, tươi vui, nhằm thay đổi căn bản đời sống tư tưởng, tinh thần và văn hoá của toàn xã hội, của đông đảo quần chúng nhân dân, là tích cực góp phần vào việc xây dựng một nền văn hoá mới. Trên ý nghĩa đó, giáo dục và đào luyện con người mới là nhiệm vụ của cách mạng tư tưởng và văn hoá. Để thực hiện nhiệm vụ ấy, công tác văn hoá quần chúng phải: Góp phần tuyên truyền, phổ biến lý luận chủ nghiã Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyên truyền đướng lối chính sách của Đảng và nhà nước, những quan điểm cơ bản của Đảng về cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, về bảo vệ Tổ quốc… Phổ biến sâu rộng những kiến thức cần thiết về khoa học, kỹ thuật, trước hết là những kiến thức khoa học, kỹ thuật trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, trong đời sống xã hội và gia đình; kịp thời phổ biến những sáng kiến kinh nghiệm tiên tiến của quần chúng để đẩy mạnh sản xuất và củng cố quan hệ sản xuất mới. Phổ biến có chọn lọc những tác phẩm văn học, nghệ thuật trong nước và ngoài nước, cả xưa lẫn nay, nhằm đưa văn học nghệ thuật đến quần chúng. Kiên trì đấu tranh cải tạo những thói quen cũ, xây dựng nếp sống mới. 2.4. Thanh niên 2.4.1. Các quan niệm về lứa tuổi thanh niên Thanh niên tồn tại với tư cách là một phạm trù lứa tuổi có cấp độ phát triển đặc thù riêng, chính vì vậy có rất nhiều quan điểm nghiên cứu vầ nó. Chúng ta có thể điểm qua: Quan điểm sinh vật học: coi yếu tố đầu tiên xác định tuổi thanh niên là sự tiến hoá của cơ thể. Các quá trình sinh vật của sự trưởng thành quyết định mọi cái khác. Quan điểm xã hội học: Các nhà xã hội học chú ý trước hết đến tính xã hội hoá và coi mức độ xã hội hoá của cá thể là tiêu chí quyết định sự phát triển. Quan điểm phâm tâm học: Các nhà phân tâm học quan tâm nhiều đến tính dục, nhân tố chi phối sự phát triển của lứa tuổi này. Quan điểm tâm lý học: Các lý luận tâm lý học lại tập trung vào những qui luật tiến hoá của tâm lý, ý thức là cái cơ bản quyết định sự phát triển. Các quan điểm trên đều xét thuần tuý ở một khía cạnh cụ thể mà chưa xét nó trong mối quan hệ biện chứng, như Mác đã từng nói: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”(Luận cương thứ 6 về Phoiơbach). Chúng tôi đồng ý với quan điểm Macxit cho răng cần phải nghiên cứu và lứa tuổi này một cách phức hợp, để tìm ra mối tác động qua lại giữa chúng và những qui luật bên trong (8,tr65). Trong đó vai trò hoạt động tích cực của chủ thể trong hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của môi trường xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong từ điển tâm lý học, tác giả Nguyễn Khắc Viện đã xác định “Tuổi thanh niên bắt đầu vào lúc dậy thì từ 14-15 tuổi có khi sớm hơn và mốc kết thúc không xác định rõ như bắt đầu vì nhiều yếu tố tâm lý xã hội quyện vào sự trưởng thành sinh lý”(2,tr 375). ở đây ông muốn nhấn mạnh tới yếu tố tích cực xã hội của cá nhân, khi cá nhân có một nhân cách hoàn thiện với đầy đủ những đặc trưng về tâm sinh lý giai đoạn lứa tuổi đó thì chính là điều kiện bước sang một giai đoạn lứa tuổi mới. Chính định nghĩa mà giới hạn thứ nhất là sinh lý và giới hạn cuối cùng là giới hạn xã hội đã chỉ ra tính phức tạp và nhiều mặt của giai đoạn này. Tuy nhiên qua các nhgiên cứu, tâm lý học lứa tuổi cũng đã xác định được tuổi thanh niên là thời kỳ 14-15 tuổi đến 25 tuổi, trong đó chia làm hai thời kỳ(8,tr 67): Từ 14,15 tuổi đến 17, 18 tuổi: giai đoạn đầu tuổi thanh niên (thanh niên học sinh). Từ 17,18 tuổi đến 25 tuổi: giai đoạn 2 Trong đề tài này, do điều kiện, đặc điểm của địa bàn tổ chức nghiên cứu là một xã miên núi khó khăn và đang là thời điểm nông nhàn thanh niên thường đi làm xa nên chúng tôi quyết định chọn khách thể giới hạn ở giai đoạn đầu tuổi thanh niên, độ tuổi 15 đến 19 tuổi. 2.4.2. Một số đặc điểm tâm sinh lý của thanh niên Điều chúng tôi quan tâm hơn cả việc đánh giá thái độ của thanh niên đó là các yếu tố tâm sinh lý lứa tuôie ddã có ảnh hưởng như thế nào đến sự hình thành và phát triển thái độ. Chúng ta sẽ tìm hiểu các nết đặc trưng về tâm sinh lý lứa tuổi này. -Về sinh lý: Là thời kỳ dần hoàn thiện sự chín muồi về thể chất. Đa số thanh niên bước vào thời kỳ này đã sau dậy thì nhưng vẫn phải hoàn thành nốt nhiệm vụ và khắc phục tình trạng mất cân đối do sự chín muồi không đồng chế ước. Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp hoá hoạt động phân tích, tổng hợp… của não. -Về tâm lý: Theo tác giả Nguyễn Khắc Viện cho rằng: tuổi thanh niên thường không ổn định, là tuổi phân vân trăn trở trước ngả đường. Sự hiểu biết khá sâu rộng nhưng kinh nghiệm cuộc đời còn ít, cho nên dễ có những thái độ và hành động cực đoan, dễ nhiệt tình, dễ bi quan chán nản.(9, tr34) Đây là giai đoạn chuẩn bị cho một sự hoàn thiện về mọi mặt mà I.S.Kon gọi là “giai đoạn cuối cùng của xã hội hoá ban đầu”. Chính vì vậy mà đời sống tâm lý rất phong phú, phức tạp và phát triển mạnh ở tất cả các mặt: nhận thức, trí tụe, tình cảm, thế giới quan,tính tích cực xã hội, ý thức và tự ý thức, định hướng giá trị…Đặc trưng nội bật của thanh niên muốn tạo ra cái mới, cái riêng của mình, thể hiện sức mạnh, khả năng bản thân. Họ ít thoả mãn với những gì đã biết và luôn muốn đào sâu suy nghĩ để nắm vấn đề sâu rộng hơn. + Những đặc điểm về nhận thức: Do sự hoàn thiện về cấu tạo và chức năng của hệ thần kinh trung ương và các giác quan, do sự tích luỹ phong phú kinh nghiệm sống và tri thức, do yêu cầu ngày càng cao của hoạt động học tập, lao động, xã hội, nhận thức cảm tính cả thanh niên có những nét mới về chất. Cảm giác tri giác đạt tới mức độ tinh nhạy của người lớn. Đặc điểm nổi bật của sự phát triển tri giác, cảm giác trong giai đoạn đầu tuổi thanh niên là có tính ý thức, có mục đích, có hệ thống biểu hiện rõ rệt trong quá trình học tập cũng như trong mọi hoạt động khác. Do nhạy cảm của óc quan sát, giai đoạn này thanh niên dễ phát hiện những đặc điểm của sự vật, hiện tượng, hay nhanh chong bị thu hút vào những hoạt động mới mẻ, hấp dẫn. Đây là giai đoạn tiếp tục hoàn thiện các năng lực trí tuệ. Theo Piagiê ở tuổi này các em đã đạt được các thao tác trí tuệ bậc cao như người lớn, đó là tư duy hình thức, tư duy logíc. Nhìn chung ở giai đoạn đầu tuổi thanh niên này các em đã có được khả năng tư duy đọc lập, tư duy khái quát. Bên cạnh đó là trí tưởng tượng phong phú, đa dạng dưới nhiều hình thức. + Đặc điểm phát triển nhân cách Khả năng tự ý thức phát triển khá sớm ở con người và được hoàn thiện tưng bước, đến 15-16 tuổi thì phát triển mạnh. Biểu hiện đực trưng là thanh niên nhận thức được các đặc điểm và phẩm chất của mình trong xã hội, trong cộng đồng, ở mức cao hơn là khả năng tự đánh giá về mình theo những chuẩn mực của xã hội trên bình diện thể chất, tâm lý, đạo đức. Hơn bất cứ tuổi nào, thanh niên tự đánh giá về hình ảnh bản thân một cách tỉ mỉ, nghiêm khắc. Thanh niên luôn khao khát muốn biết họ là người như thế nào?Có năng lực gì?Và để đánh giá cũng như khẳng định hay thể hiện mình trước mọi người thì thanh niên luôn nhiệt tình tham gia vào các hoạt động, tự nguyện nhận những nhiệm vụ khó khăn, tiên phong thực hiện những cách làm mới… +Sự hình thành thế giới quan: Thế giới quan là cái nhìn hệ thống, tổng hợp, khái quát về thế giới (tự nhiên và xã hội) của con người. Nó có ý nghĩa chỉ đạo hành động, cách ứng xử của cá nhân trong những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể. Trong giai đoạn này đã có quá trình tích luỹ một hệ thống tri thức, kỹ năng, lối sống, hành vi…trong nhiều năm, nên đã có khả năng đúc kết những suy nghĩ của mình trong việc nhìn nhận thế giới, Họ đã có những cái nhìn chung nhất đối với những qui luật của tự nhiên và xã hội nhưng chưa đạt được đến mức độ sâu sắc, bền vững. Cách nhìn nhận về tự nhiên, xã hội, con người của thanh niên giúp họ có những lý giải đối với các hiện tượng trong cuộc sống cũng như định hướng, thúc đẩy họ tích cực tham gia vào hoạt động. + Đời sống xúc cảm, tình cảm: Đời sống xúc cảm, tình cảm ở đầu tuổi thanh niên rất phong phú, đa dạng.Điều đó được qui định bởi các mối quan hệ giao tiếp của thanh niên đang ngày càng được mở rộng về phạm vi và đặc biệt là phát triển về mặt chất lượng. Trong đó nổi bật là mức độ ngày càng bình đẳng trong giao tiếp với người lớn và bạn bè cùng độ tuổi, điều này được thể hiện mong muốn và tích tham gia vào các hoạt động xã hội, các tổ chức đoàn thể hay sinh hoạt các câu lạc bộ, tổ, đội, nhóm yêu thích. Đó cũng là một trong những yếu tố rất quan trọng tạo nên nhân cách tuổi thanh niên. chương 2: Kết quả nghiên cứu 1. Về quá trình nghiên cứu Theo lý thuyết về thái độ chúng tôi nghiên cứu trên ba mặt: nhận thức, xúc cảm - tình cảm và hành vi. Trong đề tài của chúng tôi, việc nghiên cứu thái độ của thanh niên chúng tôi lựa chọn khách thể là những thanh niên ở giai đoạn đầu (từ 15 đến 19 tuổi). Chúng tôi tiến hành rải 150 phiếu điều tra và kết quả thu về là 119 phiếu hợp lệ; trong đó có 50 khách thể là nam 69 khách thể là nữ. Chúng tôi lấy đây là số liệu đối chứng của thanh niên xã Sơn Thịnh huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái với hoạt động VHQC tại địa phương hiện nay. 2. Thái độ của thanh niên xã Sơn Thịnh với hoạt động VHQC Để đánh giá thực trạng, thái độ của thanh niên xã Sơn Thịnh với các hoạt động VHQC hiện nay, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu trên ba mặt: Nhận thức, tình cảm, hành vi. Đây là ba mặt trong cấu trúc thái độ như đã phân tích ở phần cơ sở lý luận. 2.1. Thái độ của thanh niên xã Sơn Thịnh với các hoạt động VHQC biểu hiện ở mặt nhận thức Nhận thức về bản chất của hoạt động VHQC là một nội dung quan trọng trong thái độ của thanh niên với hoạt động này. Đối với bất kỳ một đối tượng nào đó, con người muốn tỏ thái độ về chúng thì trước hết chúng ta phải có hiểu biết nhận định về đối tượng đó. Những hiểu biết có thể do quá trình nhận thức của chủ thể, tự bản thân mỗi chủ thể tự tìm tòi khám phá để hiểu được bản chất của đối tượng. Vì vậy mà không có quá trình nhận thức này chủ thể sẽ không thể tỏ rõ thái độ đúng đắn với đối tượng. Nhận thức chính là cơ sở cho việc hình thành thái độ, thể hiện thái độ. Vì vậy mà khi nghiên cứu thái độ chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu sự hiểu biết của thanh niên về khái niệm VHQC, về mục đích của hoạt động VHQC và mức độ cần thiết của VHQC trong đời sống thanh niên. 2.1.1. Nhận thức của thanh niên xã Sơn Thịnh về khái niệm VHQC Về cơ bản, bản chất của khái niệm VHQC là cơ sở để chúng tôi xây dựng định nghĩa về VHQC. Theo định nghĩa đó, thì hoạt động VHQC là "Các hình thức sinh hoạt văn hoá cho quần chúng đông đảo và quần chúng đông đảo có thể tham gia". Với cách hiểu như trên về VHQC sẽ giúp thanh niên hiểu được bản chất và đặc trưng của VHQC trong quá trình thanh niên tham gia vào các hoạt động này. Để tìm hiểu nhận thức của thanh niên về bản chất của VHQC chúng tôi đã đưa ra câu hỏi: Theo bạn VHQC là: - Kết quả thu được STT Nội dung Số phiếu Tỷ lệ (%) 1 Hoạt động thể dục thể thao 73 61.30 2 Hoạt động văn nghệ, thơ ca, câu lạc bộ 89 74.78 3 Hoạt động bảo tồn và phát huy các di tích văn hoá, các lễ hội truyền thống của làng xã 83 69.74 4 Hoạt động sinh hoạt chi đoàn thanh niên 79 68.38 5 Hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức kế hoạch hoá gia đình 59 49.57 Bảng 1: Nhận thức của thanh niên xã Sơn Thịnh về nội dung của hoạt động văn hoá quần chúng. Theo như kết quả cho thấy có tới 74,78% thanh niên cho rằng VHQC là hoạt động văn nghệ, thơ ca, câu lạc bộ. Đây là hình thức thường xuyên được tổ chức trong các ngày lễ tết của địa phương do đó thu hút được đông đảo sự chú ý, tham gia của thanh niên cũng như các tầng lớp khác. Bên cạnh đó, toàn xã Sơn Thịnh có 14 đội văn nghệ sinh hoạt trên 17 thôn (theo báo cáo của cán bộ văn hoá xã) hoạt động thường xuyên nhằm duy trì, phát huy các làn điệu dân ca, các điệu múa đặc trưng của các dân tộc… mà lực lượng lòng cốt tham gia là thanh niên, phụ nữ. Hoạt động thể dục thể thao cũng khá phát triển vì toàn xã có tới 17 đội bóng ở 17 thôn, bản và hoạt động thể thao luôn được diễn ra không chỉ trong dịp lễ tết mà các đội bóng còn thường xuyên giao lưu, thi đấu giao hữu giữa các thôn. Ngoài ra, có thôn còn thành lập đội bóng đá nữ, bóng chuyền như vậy có thể thấy hoạt động thể dục thể thao cũng đã phát triển mạnh mẽ cho dù cơ sở vật chất còn rất thiếu thốn. Xã Sơn Thịnh là một xã vùng núi kinh tế còn khó khăn không có sân bóng nhưng qua quan sát chúng tôi thấy chỉ cần một bãi đất trống tương đối bằng phẳng là họ có thể tổ chức được hoạt động thể thao của mình. Như vậy cho thấy văn nghệ, thể thao đã thu hút được đông đảo được thanh niên tham gia và hơn thế nó đã trở thành nhu cầu của họ để có thể làm phong phú hơn đời sống tinh thần cũng như tăng cường về sức khoẻ. Do đó mà ta có thể thấy nhận thức của thanh niên ở hai phương án này là rất cao. Sơn Thịnh là một xã vùng cao hội tụ 7 dân tộc anh em cùng chung sống nên có rất ít người là dân bản địa, đây cũng là yếu tố lý giải trên địa bàn xã Sơn Thịnh gần như không có các công trình di tích (như:Đền thờ, Chùa, Miếu được xếp hạng di tích). Mà ở đây việc bảo tồn, phát huy chính là ở văn hoá các dân tộc anh em như những phong tục của người Mông, điệu múa của người Tày, hay lễ hội mùa xuân của người Thái…. Với những đặc trưng này cùng với điều kiện sống đan xen đoàn kết giữa các dân tộc trong xã nên hoạt động này được sự quan tâm không chỉ của một tầng lớp hay một dân tộc nào mà nó đã thu hút sự quan tâm của tất cả nhân dân trong xã. Đặc biệt thanh niên là những thế hệ trẻ tuổi của các dân tộc, họ có những nhu cầu giao lưu tìm hiểu những điều mới điều hay do đó thanh niên luôn coi đây là một hoạt động cần thiết trong đời sống văn hoá của mình thể hiện ở 69,74% thanh niên lựa chọn phương án này. Đặc biệt có tới 69,74% thanh niên xã Sơn Thịnh lại nhận thức rằng hoạt động chi đoàn thanh niên cũng là hoạt động VHQC kết quả này cùng với báo cáo của cán bộ văn hoá xã cho thấy phong trào đoàn thanh niên tại xã là khá phát triển, các chi đoàn thanh niên đã tổ chức được nhiều hoạt động thu hút đông đảo đoàn viên, thanh niên, tham gia vào lý do này làm cho thanh niên nhận thức rằng đó là hoạt động VHQC mà không nhận thức được rằng đây chỉ là tổ chức của thanh niên cho riêng thanh niên chứ không cho các tầng lớp khác tham gia cùng. Về bản chất của khái niệm VHQC thì không phải là khó để thanh niên có thể nhận thức đúng. Tuy nhiên thanh niên rất dễ hiểu nhầm hoặc đồng nhất khái niệm quần chúng với khái niệm đông đảo. Họ coi tất cả những hoạt động có đông người tham gia dù thành phần chỉ là một tầng lớp vẫn cho là hoạt động VHQC và đây là những nhận thức chưa đúng đắn cần phải thay đổi. Việc thanh niên có những nhận thức chưa đầy đủ, chưa thống nhất về khái niệm VHQC như vậy cũng là do đến nay các tài liệu về VHQC là ít. Các tài liệu chính thống in thành sách hầu như không có, thường chỉ là các văn kiện, thông chi về hoạt động gửi cho các cán bộ lãnh đạo và như vậy nó không đến được với đông đảo quần chúng nhân dân đặc biệt là thanh niên. Vì lẽ đó, cơ hội để thanh niên nhận thức đầy đủ về hoạt động này còn nhiều hạn chế. Đây cũng chính là lý do có tới 68,38% thanh niên cho rằng sinh hoạt chi đoàn thanh niên, và 49,57% cho rằng tuyên truyền kiến thức kế hoạch hoá gia đình là hoạt động VHQC Những khái niệm vừa nêu ra trong bảng hỏi thực chất là những cách hiểu thông thường nhất về VHQC mà chúng tôi đã đưa đến để tìm hiểu nhận thức của thanh niên xã Sơn Thịnh và kết quả cho thấy là phần lớn thanh niên đã nhận thức được VHQC là "Những hoạt động văn hoá phục vụ cho quần chúng đông đảo và quần chúng đông đảo có thể tham gia". 2.1.2. Nhận thức của thanh niên xã Sơn Thịnh về mức độ cần thiết của hoạt động VHQC với thanh niên địa phương. Với nhận thức khá đầy đủ và đúng đắn về khái niệm VHQC của thanh niên xã như trên thì chúng tôi đi đến tìm hiểu tầm quan trọng của hoạt động này trong đời sống của thanh niên địa phương và thu được kết quả như sau Mức độ cần thiết của hoạt động VHQC Có tới 89 trên tổng số 119 thanh niên được hỏi cho rằng VHQC là rất cần thiết, 29/119 cho rằng lầ cần thiết đối với thanh niên chiếm tới 99,25%. Như vậy có thể thấy vai trò và ý nghĩa của hoạt động VHQC là rất lớn trong đời sống của thanh niên. Thực tế cho thấy sau những giờ học tập tại trường, rồi lao động giúp gia đình, thanh niên lại được ca hát vui chơi, được múa những điệu múa của dân tộc mình như múa Thái, múa Tằng bu của người Tày… và không chỉ được theo dõi những môn thể thao trên ti vi mà họ còn được trực tiếp thể hiện tài năng của mình, áp dụng những điều mình đã học hỏi, đã thấy ở các cầu thủ chuyên nghiệp ngay trên các trận bóng ở thôn mình và còn được thi đấu giao hữu với các thôn bản khác. Ngoài ra, họ còn được tham gia vào các lễ hội nhằm lưu giữ các nét văn hoá truyền thống cũng như được tham gia vào các trò chơi dân gian thú vị như: đẩy gậy, ném còn, đu ngựa… đây là dịp mà các thôn bản các dân tộc được thi đua, thể hiện những tinh hoa độc đáo của dân tộc mình được giao lưu học hỏi những điệu múa đẹp, những phong tục hay của các dân tộc khác nhằm tăng tình đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc anh em trong toàn xã. Chính vì vậy, dù có nhiều khó khăn về kinh tế, trở ngại về điều kiện tự nhiên nhưng hoạt động VHQC vẫn được thanh niên cho rằng cần thiết với đời sống của họ. 2.1.3. Nhận thức của thanh niên về mục đích hoạt động VHQC Để tìm hiểu nhận thức của thanh niên xã về mục đích hoạt động VHQC chúng tôi đã đưa ra các mục đích mang tính xã hội và các mục đích mang tính cá nhân. Và kết quả thu được: Bảng 3: Nhận thức của thanh niên xã Sơn Thịnh về mục đích của hoạt động văn hoá quần chúng STT Mục đích Số phiếu Tỷ lệ (%) 1 Phát huy tinh thần tập thể, sự đoàn kết cộng đồng làng xã 99 88.19 2 Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của địa phương. 93 78.15 3 Làm phong phú đời sống tinh thần của bản thân 78 65.54 4 Tạo điều kiện giao lưu mở rộng các mối quan hệ với mọi người 86 72.27 5 Giúp học hỏi, tích luỹ kinh nghiệm ứng xử xã hội và hợp tác làm việc. 72 60.50 6 Trao đổi học hỏi kinh nghiệm sản xuất nhằm nâng cao nhận thức và tay nghề để tăng năng suất lao động 68 57.14 7 Tuyên truyền xây dựng nếp sống văn hoá lành mạnh 85 71.43 8 Tăng cường mối quan hệ giữa cán bộ và đời sống nhân dân. 65 54.62 Qua bảng số liệu thu được chúng tôi thấy rằng các mục đích mang tính xã hội đều được thanh niên nhận thức rất cao. Có tới 99/119 thanh niên cho rằng VHQC sẽ phát huy tinh thần tập thể, sự đoàn kết cộng đồng toàn xã chiếm tới 88,19%; hay hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống cũng như xây dựng một nếp sống mới lành mạnh cho thôn bản thì cũng có trên 70% thanh niên đồng ý. Như vậy cũng có thể hoạt động VHQC của xã Sơn Thịnh đã có những ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống của nhân dân nói chung và tầng lớp thanh niên nói riêng Thông qua những hoạt động phong phú, sinh động, VHQC tại xã Sơn Thịnh đã thực hiện được chức năng giáo dục một cách đắc lực nhất. Nó góp phần to lớn đem lại nhận thức cho nhân dân đặc biệt là thế hệ trẻ - thanh niên về đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước như xây dựng nếp sống văn hoá lành mạnh. Qua hoạt động VHQC cho thanh niên thấy được những tính ưu việt của Xã hội Chủ nghĩa, nhân dân lao động không chỉ làm chủ về chính trị, làm chủ về kinh tế mà còn làm chủ về văn hoá. Đó là sự phát huy tính sáng tạo, chủ động, tự nguyện của đông đảo quần chúng nhằm tăng cường tình đoàn kết, tinh thần tập thể trong cộng đồng làng xã cũng như bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc anh em cùng chung sống trên địa phương Sơn Thịnh này. Bên cạnh việc nhận thức được những mục đích mang tính xã hội thì thanh niên xã cũng đánh giá được hoạt động VHQC còn có những mục đích cá nhân như trước tiên là đem lại một đời sống tinh thần ngày một phong phú cho bản thân thanh niên nhằm phát triển một con người toàn diện. Vì vậy, mà thanh niên xã đã có cái nhìn và sự đánh giá khá tốt về hoạt động này nên có tới 72,27% thanh niên cho rằng VHQC luôn tạo điều kiện giao lưu mở rộng các mối quan hệ với mọi người và giúp họ học hỏi và tích luỹ kinh nghiệm ứng xử xã hội cũng như cách thức hợp tác làm việc (60,50%). Mặt khác, thanh niên cũng cho rằng các hoạt động VHQC còn quay trở lại phục vụ các hoạt động nhằm phát triển đời sống vật chất, thúc đẩy nền kinh tế của địa phương đi lên thông qua các buổi trao đổi, học hỏi kinh nghiệm sản xuất nhằm nâng cao nhận thức và tay nghề để năng suất lao động ngày một cao hơn (57,14%). Và để tăng cường các mối quan hệ giữa cán bộ và đời sống nhân dân thì chỉ có 54,62%. Như vậy, thanh niên chưa đánh giá cao vai trò của đội ngũ cán bộ hay nói cách khác các hoạt động VHQC chưa làm cho thanh niên thấy được tính tổ chức, sự hướng dẫn chỉ đạo, quan tâm, sâu sắc của lãnh đạo địa phương. Đây cũng là một điểm đáng lưu ý trong công tác tổ chức hoạt động VHQC tại địa phương. Với nhận thức khá đúng đắn về VHQC cũng như mục đích mà VHQC đem lại thì đã thúc đẩy thanh niên tham gia tích cực vào các hoạt động VHQC. Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này chúng tôi đặt ra câu hỏi: Vì sao bạn tham gia VHQC và đã thu được kết quả sau: Bảng 4: Lý do khiến thanh niên xã Sơn Thịnh tham gia hoạt động văn hoá quần chúng STT Lý do Số phiếu Tỷ lệ (%) 1 Được tổ chức phân công công việc 20 16.81 2 Phù hợp với năng khiếu và sở thích của bản thân 75 63.03 3 Được vận động tham gia 30 25.21 4 Sợ bị cô lập với tập thể 14 11.76 5 Để giữ gìn và bảo tồn các giá trị văn hoá của làng xã 96 80.67 6 Tăng cường sức khoẻ cộng đồng 63 52.94 7 Nâng cao dân trí 63 52.94 Nhận thức được sâu sắc mục đích xã hội lớn lao mà hoạt động VHQC đem lại cũng đã làm nảy sinh những động cơ xã hội thúc đẩy thanh niên tham gia hoạt động như là: Bảo tồn và giữ gìn các giá trị văn hoá của làng xã thì có 96/19 thanh niên lựa chọn lý do này chiếm 80,67% Các hoạt động phong phú với những nội dung đa dạng trong hoạt động VHQC đã thực sự thu hút thanh niên tham gia bởi nó phù hợp với năng khiếu, sở thích của bản thân thanh niên cũng như nâng cao được trình độ dân trí và tăng cường sức khoẻ cho các bạn. Vì vậy, lý do này cũng được các bạn lựa chọn khá nhiều. Với những buổi tập văn nghệ thanh niên được hát múa những bài hát, điệu múa truyền thống của dân tộc mình. Những thời gian hào hứng sôi nổi bên trái bóng thanh niên được thoải mái thể hiện bản thân, được giao lưu kết bạn đáp ứng được nhu cầu phù hợp với đặc điểm phát triển tâm sinh lý của thanh niên trong giai đoạn đầu lứa tuổi. Các hoạt động đã trở thành nhu cầu bức thiết của thanh niên chứ không còn phải chờ đợi cán bộ vận động kêu gọi tham gia hay phải được tổ chức phân công thì mới hoạt động do đó thanh niên lựa chọn lý do này là rất ít. Tóm lại, khi đánh giá thái độ của thanh niên với hoạt động VHQC biểu hiện ở mặt nhận thức của thanh niên về khái niệm VHQC, mục đích, mức độ cần thiết của hoạt động VHQC chúng tôi nhận thấy: Đa số thanh niên nhận thức được đúng đắn về khái niệm hoạt động VHQC, về mục đích và mức độ cần thiết của VHQC ở cả mặt xã hội hay khía cạnh của từng cá nhân. Bên cạnh đó, các bạn thanh niên còn có nhận thức, quan niệm chưa đầy đủ như: quan niệm quần chúng là lực lượng đông đảo chỉ về số lượng mà không chú ý tới phương diện đầy đủ về các tầng lớp giai cấp trong xã hội. Nhưng nhìn chung thanh niên có thái độ tích cực và cố gắng trong việc nhận thức hoạt động VHQC. 2.2. Thái độ của thanh niên với các hoạt động VHQC thể hiện ở mặt xúc cảm - tình cảm Trong mối quan hệ với thế giới khách quan, con người không chỉ nhận thức thế giới mà còn tỏ thái độ của mình với thế giới đó nữa. Những hiện tượng tâm lý hiển thị thái độ chủ quan của cá nhân đối với người khác, đối với sự vật hay hiện tượng khách quan trong quá trình thoả mãn những nhu cầu vật chất hay tinh thần được gọi là xúc cảm - tình cảm. Đời sống tình cảm của con người rất phong phú và phức tạp, được thể hiện ra ở nhiều hình thức, mức độ khác nhau, có ảnh hưởng trực tiếp đến các quá trình và các hoạt động tâm lý của con người. Trong quá trình tiếp xúc, tìm hiểu về hoạt động VHQC tình cảm của mỗi thanh niên với hoạt động này có vai trò đặc biệt quan trọng. Chỉ khi có tình cảm tốt đẹp, tích cực và sâu sắc thì mỗi cá nhân mới có sự say mê, tìm tòi, khám phá để thấy được ý nghĩa, vai trò sâu xa của các hoạt động VHQC. Và khi đó cá nhân mới mong muốn tham gia và có thể muốn lây truyền tình cảm tốt đẹp của mình với hoạt động VHQC sang cho người khác. Dựa trên cơ sở này chúng tôi đi tìm hiểu thanh niên xã Sơn Thịnh thích hay không thích tham gia các hoạt động VHQC: Bảng 5: Xúc cảm của thanh niên xã Sơn Thịnh đối với hoạt động văn hoá quần chúng tại địa phương STT Hoạt động Thích Không thích Số phiếu Tỷ lệ Số phiếu Tỷ lệ 1 Tuyên truyền nếp sống lành mạnh 95 79.83 24 20.17 2 Sinh hoạt câu lạc bộ (thơ, đọc sách báo..) 50 42.02 69 57.98 3 Tham gia thể dục thể thao 86 72.27 33 27.73 4 Sinh hoạt văn nghệ 82 68.91 37 31.09 5 Dự các buổi tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước 57 47.90 62 52.10 6 Tuyên truyền, trao đổi kinh nghiệm sản xuất 56 47.06 63 52.94 Kết quả của bảng số liệu cho thấy: Với hoạt động tuyên truyền nếp sống lành mạnh thì hầu như thanh niên đều thích tham gia (79,83%). Cho thấy với đặc điểm địa bàn là một xã vùng cao còn nhiều khó khăn, lại tập trung 7 dân tộc anh em cùng chung sống do đó có khá nhiều phong tục tập quán lạc hậu của các dân tộc vẫn còn tồn tại như các tục mê tín dị đoan, các tục cưới xin ma chay rườm rà cổ hủ. Thanh niên lại là tầng lớp được tiếp thu các tri thức khoa học tiên tiến do vậy các bạn luôn mong muốn, thay đổi, xây dựng nếp sống mới, đấu tranh cải tạo những thói quen, tập tục cũ như: xây dựng ý thức và thói quen tôn trọng pháp luật, nếp sống có kỷ luật, trật tự có văn hóa; xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người, giữa các dân tộc anh em với nhau; và xây dựng một nếp sống vệ sinh có thói quen rèn luyện thân thể, ăn ở và làm việc trong các môi trường được giữ gìn trong sạch. Thông qua các buổi tuyên truyền nếp sống lành mạnh thanh niên sẽ từng bước xây dựng gia đình mình, thôn bản mình thành gia đình văn hoá, thôn bản văn hoá. Điều này được thể hiện qua kết quả tổng kết công tác văn hoá xã có gần 2000 hộ đã đạt gia đình văn hoá trong toàn xã và có 8 thôn bản đạt danh hiệu làng văn hoá. Như chúng ta đã biết: thơ văn, sách báo là công cụ sắc bén để giáo dục tư tưởng, nâng cao kiến thức và còn là một phương tiện giải trí lành mạnh, bổ ích cho đông đảo quần chúng mà con người sống trong xã hội không thoát được nhu cầu giao lưu tình cảm, giao lưu văn hoá. Tất yếu khi tiếp xúc với các tác phẩm văn hoá nghệ thuật thì ít nhiều chúng ta đã có giao lưu với tác giả nhưng dù sao sự giao lưu đó cũng chỉ là gián tiếp mà trong hoạt động câu lạc bộ sự giao lưu giữa người với người mới là trực tiếp. Điều này rất quan trọng vì chẳng những nó đáp ứng những nhu cầu giao lưu của con người mà còn kích thích tính chủ động, tính tích cực, tính sáng tạo của con người trong hoạt động văn hoá, văn nghệ. Do đó sinh hoạt câu lạc._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docG0017.doc
Tài liệu liên quan