Thực trạng cầu lao động nước ta và các biện pháp kích cầu

Tài liệu Thực trạng cầu lao động nước ta và các biện pháp kích cầu: ... Ebook Thực trạng cầu lao động nước ta và các biện pháp kích cầu

doc37 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1624 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Thực trạng cầu lao động nước ta và các biện pháp kích cầu, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài. Cùng với việc phát triển của các loại thị trường khác nhau, việc phát triển của thị trường lao động hiện đang được Đảng và Nhà nước ta coi là một trong những hướng đi không thể thiếu để thực hiện chuyển đổi nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trong điều kiện nước ta hiện nay, việc định ra các giải pháp nhằm thúc đẩy và hoàn thiện hoạt động của thị trường lao động còn đang là điều mới mẻ. Thêm nữa, do tính đặc biệt ( vừa mang đặc điểm kinh tế, vừa mang đặc điểm xã hội ) của loại hàng hoá sức lao động, nên các biện pháp thúc đẩy sự phát triển của loại thị trường này cần phải được xác định sao cho vừa đảm bảo được tính hiệu quả kinh tế ( phân bổ tối ưu nguồn lực lao động ) vừa đảm bảo tính công bằng xã hội ( quyền lợi của người lao động và người sử dụng lao động). Tất cả những điều đó cho thấy rằng đây là một bài toán khó không dễ dàng tìm ngay ra lời giải. Cầu lao động là một trong những yếu tố cấu thành nên thị trường lao động. Cầu lao động có sự ảnh hưởng rất lớn đến cân bằng cung cầu trên thị trường. Để tìm ra các giải pháp thúc đẩy và hoàn thiện thị trường lao động trước hết phải tìm ra các giải pháp về phía cầu lao động nhằm kích cầu lao động. Bằng biện pháp trên, thị trường lao động đã phần nào được ổn định và phát triển trong những năm vừa qua. Các biện pháp kích cầu không chỉ có tác dụng đến thị trường lao động, mặt khác còn tạo cơ hội việc làm, phát triển kinh tế, đảm bảo điều kiện làm việc cho người lao động.... Từ những lý do trên, tôi xin chọn đề tài đề án của môn học là: “Thực trạng cầu lao động nước ta và các biện pháp kích cầu.” Đối tượng nghiên cứu. Đối tượng của đề án chính là người sử dụng lao động, cụ thể ở đây chính là các doanh nghiệp, các công ty, xí nghiệp, nhà máy...đối tượng có nhu cầu thuê mướn lao động. Phạm vi nghiên cứu. Về không gian: cầu lao động của tất cả các doanh nghiệp trên toàn quốc, các doanh nghiệp, các công ty, các xí nghiệp sử dụng lao động. Về thời gian: sử dụng số liệu từ 10 năm quay trở lại đây. Mục đích nghiên cứu. Đề án nêu lên thực trạng cầu lao động của nước ta trong thời gian gần đây, qua đó rút ra những hạn chế chưa thực hiện được và những kết quả đã đạt được. Trên cơ sở đó, đề án cũng đề ra những biện pháp nhằm kích cầu lao động cả về số lượng và chất lượng. 5. Phương pháp nghiên cứu. Phương pháp thu thập tài liệu: tập hợp các tài liệu sẵn có đã thu thập ở các cơ quan thông kê, cơ quan quản lý như: Tổng cục thống kê, Bộ kế hoạch và đầu tư, Bộ thương mại và các công trình nghiên cứu, các tài liệu, tạp chí, các trang web có nội dung liên quan đến đề tài... Phương pháp thống kê mô tả: phương pháp liệt kê, thống kê các số liệu cầu lao động. Phương pháp phân tích: phương pháp dùng để làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến cầu lao động, từ đó tìm ra những nguyên nhân tác động đến. Phân tích các con số, số liệu trong phần thực trạng. Phương pháp so sánh: phương pháp này nhằm so sánh các số liệu giữa các năm, năm trước và năm sau, giữa các vùng, các địa phương, các doanh nghiệp... 6. Kết cấu nội dụng. Ngoài phần mở bài, kết luận, danh mục tài liệu, danh sách bảng biểu sơ đồ, đề án bao gồm 3 chương: - Chương 1:Cơ sở lý luận về cầu lao động và các giải pháp kích cầu lao động. - Chương 2: Đánh giá cầu lao động Việt nam và các chính sách kích cầu lao động trong những năm qua. - Chương 3: Định hướng và các giải pháp kích cầu lao động ở Việt nam. CHƯƠNG I Cơ sở lý luận về cầu lao động và các giải pháp kích cầu lao động. 1.1. Khái niệm 1.1.1 Kh¸i niÖm cÇu lao ®éng - Cầu lao động: Là lượng lao động mà người thuê có thể thuê ở mỗi mức giá có thể chấp nhận được. Cầu lao động được coi là cầu dẫn xuất hoặc cầu gián tiếp. Bởi lẽ, xuất phát từ nhu cầu về sản phẩm mới có nhu cầu về lao động để sản xuất ra sản phẩm đó. Cầu lao động khác với lượng cầu về lao động. Cầu về lao động mô tả toàn bộ hành vi của người mua có thể mua được hàng hoá sức lao động hoặc ở tất cả các mức giá có thể đặt ra. Ở mỗi mức giá có một lượng cầu xác định. Cầu về sức lao động có liên quan chặt chẽ đến giá cả sức lao động ( tiền lương), khi giá cả tăng hoặc giảm sẽ làm cho cầu lao động giảm và ngược lại ( tức là cầu về sức lao động tỷ lệ nghịch với giá cả sức lao động. - Tổng cầu lao động: là tổng hợp cầu sức lao động của toàn bộ nền kinh tế. ở một thời kỳ nhất định, và bao gômg cả một số lượng và chất lượng, thường được xác định thông qua chỉ tiêu việc làm. - Phân loại cầu lao động: Theo thời gian : cầu ngắn hạn, cầu dài hạn. Cầu ngắn hạn Hàm sản xuất ngắn hạn: TP = f(L, K) Từ hàm sx ngắn hạn ta thấy có thể thay đổi mức độ sử dụng yếu tố sản xuất của nó bằng cách chuyển từ kỹ thuật sản xuất này sang kỹ thuật sản xuất khác. Nếu xem xét về nhu cầu lao động ta thấy khi tăng lao động đến một mức nào đó theo quy luật của năng suất cận biên giảm dần bắt đầu hoạt động ( mức sản xuất biên của lao động là mức sản lượng tăng thêm khi thuê thêm mỗi công nhân). Do đó nhu cầu thuê nhân công của hãng là hãy mở rộng ( hay thu hẹp) mức thuê nhân công nếu như sản phẩm giá trị biên của lao động lớn hơn( hoặc nhỏ hơn) tiền công của người nhân công thuê thêm. Trong điều kiện lao động có thể dễ dàng điều chỉnh được nhu câu cề lao dộng của hãng phải thoả mãn được điều kiện. Tiền công = sản phẩm giá trị biên của lao động. Cầu dài hạn Hàm sản xuất dài hạn: TP = f( L, K) Trong việc sản xuât một khối lượng sản phẩm nào đó bằng kỹ thuật rẻ nhất hiện có, việc tăng giá mỗi đơn vị sức lao động so với vốn của một đơn vị vốn sẽ đưa hãng đến việc chuyển sang dùng kỹ thuật nhiều vốn hơn. Ngược lại, nếu vốn trở nên tương đối đắt hơn thì kỹ thuật tối thiểu hoá chi phí để sản xuất ra một mức sản lượng nào đó phải dùng sức lao động nhiều hơn. Hãng thay đổi yếu tố sản xuất mà đã trở nên tương đối đắt đỏ bằng yếu tố khác. Theo ngành: cầu Công nghiệp, cầu Nông nghiệp, cầu dịch vụ, cầu công- nông nghiệp, cầu công- dịch vụ. Theo khu vực : Cầu thành thị, cầu nông thôn. Theo thành phần kinh tế: Cầu nhà nước, cầu ngoài nhà nước, cầu có vốn nước ngoài. Theo khu vực kinh tế: cầu khu vực ĐBB, ĐNB, ĐB sông Hồng, ĐB sông Cửu Long, Tây nguyên, vùng núi và trung du Bắc Bộ…) - Cầu lao động của ngành: Chúng ta có thể cho rằng toàn bộ một lạo lao động đặc biệt nào đó: cầu lao động của ngành được xác đinh một cách đơn giản là cộng các đường cầu lao động của tất cả các hãng sử dụng lao động đó. Và nếu như các hãng có đường cầu thống nhất thì chúng ta có thể xác định đường cầu lao động của ngành là tỷ số giữa khối lượng lao động được yêu cầu tại mỗi mức giá với số lượng của hãng. 1.1.2 Mét sè kh¸i niÖm liªn quan. - Thị trường lao động: là sự trao đổi hàng hoá sức lao động giữa một bên là người sở hữu sức lao động và một bên là những người cần thuê sức lao động đó. Thị trường lao động là một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế và chịu sự tách động của hệ thống quy luật của nền kinh tế thị trường: như quy luật giá cả, giá trị, cạnh tranh độc quyền... Các quy luật này tác động và chi phối quan hệ cung và cầu của thị trường lao động. Thị trường lao động được phân loại theo chất lượng hàng hoá và theo không gian. Theo chất lượng hàng hoá sức lao động, thị trường lao động được chia ra thành thị trường lao động có chuyên môn kỹ thuật cao ( công nhân kỹ thuật và những người được đào tạo có trình độ từ trung học chuyên nghiệp trở lên) và thị trường lao động phổ thông ( lao động giản đơn không qua đào tạo). Theo không gian thì có thị trường lao động các vùng, thị trường lao động các địa phương, thị trường lao động trong nước, trường lao động nông thôn, thị trường lao động thành thị.... - Việc làm theo quy định của Bộ Luật Lao động là những hoạt động có ích không bị pháp luật ngăn cấm và đem lại thu nhập cho người lao động. Người làm việc là người có việc làm mang lại tiền công hoặc thu nhập, họ phải có việc làm hoặc doanh nghiệp trong một thời gian nhất định. Như vậy có thể phân biệt thành 2 loại việc làm, một là việc làm thuê hưởng tiền lương hoặc tiền công, và 2 là việc làm tư nhân có thể là cá nhân hoặc gia đình, có thể là chủ doanh nghiệp. Việc làm có thể phân chia theo thời gian như việc làm đầy đủ hoặc không đầy đủ, việc làm tạm thời và việc làm cố định, việc làm không thường xuyên, việc làm theo thời vụ... - Thất nghiệp: là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền lương thịnh hành. Người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, trong tuần lễ tham khảo( tức tuần lễ tiến hành điều tra thông tin) không có việc làm, đang có nhu cầu tìm việc làm và có đăng kí tìm việc theo quy định. Bên cạnh đó là khái niệm thiếu việc làm, theo định nghĩa của Tổ chức Lao động Quốc tế, thiếu việc làm là hiện tượng tồn tại khi làm việc không đủ tiêu chuẩn đặc trưng hoặc so với việc làm liên tục, có tính đến kỹ năng nghề nghiệp. - Cung lao động: là lượng lao động mà người lao động có thể sẵn sàng cung cấp trên thị trường trong những điều kiện nhất định. Cũng như cầu lao động và lượng cầu. Cung lao động mô tả toàn bộ hoành vi của người đi làm thuê khi thoả thuân các mức giá đặt ra. Cung sức lao động là bộ phận sức lao động được đưa ra trên thị trường nó phụ thuộc vào không chỉ quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực, nó còn phụ thuộc vào số người ( tỷ lệ ) tham gia của lực lượng lao động. Cung trên thị trường lao động phụ thuộc vào tổng số lao động có thể cung cấp. - Mối quan hệ giữa cung và cầu lao động trong thị trường lao động. Sự vận động của cung và cầu lao động sẽ chi phối số lượng người tham gia vào thị trường lao động và mức tiền công. Nếu mức cung lao động phù hợp với mức cầu, với điều kiện mức cầu có khả năng thu hút tất cả những người có khả năng lao động và mong muốn làm việc thì thị trường lâm vào trạng thái không ổn định. Nếu mức cung lao động lớn hơn mức cầu lao động, thì lao động sẽ dư thừa, và ngược lại. Ngoài ra, cung cầu lao động còn bị ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác như giá cả sức lao động. 1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến Cầu lao động. 1.2.1. Nhân tố ảnh hưởng đến số lượng cầu lao động. 1.2.1.1 Nhân tố cầu sản phẩm: Cầu sản phẩm là nhu cầu của khách hàng về một loại sản phẩm nào đó. Cầu sản phẩm do các yếu tố như thị yếu của khách hàng, thu nhập, sự phát triển của công nghệ... làm cho cầu về nhân công lao động tăng lên. Vậy cầu sản phẩm cùng chiều với cầu lao động. Khi cầu về một loại sản phẩm tăng, khách hàng đổ xô ra thị trường tìm mua sản phẩm đó, để đáp ứng cầu về sản phẩm, các nhà sản xuất mở rộng quy mô sản xuất, sản xuất ra nhiều sản phẩm, tung ra thị trường bán cho người tiêu dùng. Vậy, khi tăng quy mô sản xuất, các nhà sản xuất không những tăng về trang thiết bị máy móc, cơ sơ vật chất mà còn tăng về số lượng người làm việc. Ngược lại, khi nhu cầu của một loại sản phẩm giảm sút do không còn phù hợp với thị yếu người lao động, không đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng nữa, sản xuất sẽ phải ngưng lại, hoặc thu hẹp quy mô sản xuất, lợi nhuận của nhà sản xuất giảm. Để cân bằng giữa chi phí và lợi nhuận, các nhà sản xuất phải tìm một mặt hàng sản xuất mới hoặc giảm bớt số nhân công lao động, điều đó làm cầu lao động giảm. 1.2.1.2 Nhân tố năng suất lao động. Năng suất lao động là sức sản xuất của lao động cụ thể có ích. Nó nói lên kết quả hoạt động sản xuất có múc đích của con người trong một đơn vị thời gian nhất định. Tăng năng suất lao động là sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suất của lao động, nói chung là sự thay đổi trong một cách thức lao động, một sự thay đổi làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá, sao cho lượng lao động ít hơn mà lại có được sức sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn. Có nhiều loại chỉ tiêu để tính tăng năng suất lao động, nhưng dùng chỉ tiêu nào, điều đó phụ thuộc vào việc lựa chọn một thước đo cho phù hợp với đặc điểm của từng doanh nghiệp, Hiện nay người ta sử dụng 3 loại chi tiêu chủ yếu sao đây: NSLĐ tính bằng hiện vật, NSLĐ tính bằng tiền( giá trị ) và NSLĐ tính bằng thời gian. Năng suất lao động tác động đến cầu lao động theo 2 chiều: + Năng suất lao động tăng lên -> doanh nghiệp sẽ phải thuê thêm lao động để mở rộng quy mô sản xuất-> cầu lao động tăng lên-> sản xuất phát triển-> lợi nhuận tăng lên-> doanh nghiệp tối đa hoá lợi nhuận. + Năng suất lao động tăng lên-> nhưng giá cả của sản phẩm không tăng lên-> doanh nghiệp không mở rộng quy mô sản xuất, doanh nghiệp sử dụng các trang thiết bị máy móc hiện đại, hiện đại hoá các trang thiết bị sản xuất-> cầu lao động trong trường hợp này giảm xuống. 1.2.1.3 Nhân tố tình hình phát triển kinh tế. Đó là những khả năng tiềm tàng của đất nước, có thể là nguồn tài nguyên thiên nhiên, những điều kiện thuận lợi. Như ta đã biết hàm sản xuất được viết: Q = f(K,L), trong đó Q là sản lượng, K là vốn, f là biểu thị công nghệ. Nếu công nghệ và giá cả là cố định thì tăng trưởng kinh tế sẽ tăng cầu lao động. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế thường theo sự thay đổi này thường làm cho nhu cầu giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, tăng nhu cầu có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Tình hình kinh tế phát triển kéo theo sự phát triển của các doanh nghiệp sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình cạnh tranh, môi trường thuận lợi để mở rộng sản xuất. Vậy tình hình phát triển kinh tế có sự thay đổi cùng chiều với cầu lao động. Điều đó có nghĩa là: nếu tình hình kinh tế giảm sút kéo theo cầu lao động giảm và ngược lại. 1.2.1.4 Nhân tố tiền lương. Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động ( người mua sức lao động) trả cho người lao động ( người bán sức lao động). Đó là quan hệ kinh tế của tiền lương. Tiền lương danh nghĩa được hiểu là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động. Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, phụ thuộc vào kinh nghiệp và trình độ của người lao động...Tiền lương thực tế được biểu hiện là số lượng các loại hàng hoá tiêu dùng và các loại dịch vụ cần thiết người lao động hưởng lương có thể mua được bằng tiền lương danh nghĩa của họ. Nếu các hình thức tiêu dùng như thế nào đó để có nhu cầu lớn đối với hàng hoá trong nước và các dịch vụ được tạo ra bởi các phương pháp sản xuất cần nhiều lao động, thì sẽ tăng nhu cầu tiêu dùng, kết quả là tăng nhu cầu lao động. Trái lại, nếu như mức tiền lương tăng, ở khía cạnh nào đó, nhu cầu tiêu dùng chỉ hướng tới các sản phẩm và hàng hoá nhập ngoại, được sản xuất bằng các công nghệ nhập ngoại và nhiều vốn, dẫn đến giảm nhu cầu lao động. Các hộ gia đình có mức thu nhập trung bình và cao thường có xu hướng tiêu dùng thiên về các hàng hoá nhập ngoại. Đối với các hộ gia đình có thu nhập thấp, không thể tăng mức tiêu dùng, nên thường tiêu dùng các hàng hoá địa phương, do đó khuyến khich sản xuất phát triển, tăng cầu lao động, mở rộng thêm việc làm. 1.2.1.5 Nhân tố giá cả các nguồn lực khác thay đổi. Khi chi phí các nguồn lực khác thay đổi làm cầu lao động thay đổi theo xu hướng khác nhau. Giả sử khi vốn, lao động bổ sung hoàn toàn: nếu giá của yếu tố đầu vào này thay đổi thì cầu yếu tố đầu vào khác thay đổi ngược lại. Còn đối với trường hợp thay thế hoàn toàn: giá đầu vào thay đổi cầu yếu tố đầu vào khác thay đổi cùng chiều 1.2.1.6 Nhân tố chính sách tạo việc làm. Đây là yếu tố quan trọng đối với đặc điểm của nước ta. Đảng và Nhà nước khuyến khích phát triển mọi thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân. Điều này đòi hỏi một thể chế ổn định. Tất cả các nhà đầu tư, dù lớn hay nhỏ đều đòi hỏi sự ổn định . Tất cả các nhà đầu tư, dù lớn hay nhỏ đều đòi hỏi sự ổn định để có thể hoạch định và xúc tiến các dự án đầu tư. Sự ổn định này đòi hỏi trên hai phương diện. Một là, hệ thống luật lệ điều tiết hoạt động kinh tế tư nhân không được thay đổi thường xuyên, trừ các hành vi tháo gỡ vướng mắc và nâng cao hoạt động của thị trường. Cụ thể là việc thành lập các công ty tư nhân, quyền sở hữu, điều tiết thu nhập từ hoạt động kinh tế tư nhân, hệ thống thuế, các điều khoản thực thi các hợp đồng. Hai là về tổng thể nền kinh tế phải ổn định để đảm bảo không lạm phát ( hoặc dự báo trước), về tiết kiệm, tích luỹ, sự thay thế có hiệu quả nguồn nhân lực giữa các thành phần và khu vực kinh tế( cổ phần hoá). Các chính sách tài chính và tiền tệ không làm tổn hại, làm suy yếu khu vực tư nhân, chẳng hạn do thâm hụt ngân sách nhà nước. Chính phủ chuyển các nguồn đầu tư đáng lẽ cho kinh tế tư nhân để chi tiêu cho Nhà nước. Tương tự, sự thâm hụt cán cân thanh toán sẽ làm mất ổn định kinh tế vĩ mô, làm suy yếu tỷ giá hối đoái. Mất ổn định kinh tế làm giảm tốc độ tăng trưởng, do đó cản trở tự tạo việc làm, cũng như cải thiện tiền công. 1.2.2 Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cầu lao động. 1.2.2.1 Nhân tố chất lượng công việc. Chất lượng công việc có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cầu lao động. Chất lượng công việc càng cao thì yêu cầu chất lượng cầu lao động cũng phải cao. Vậy chất lượng công việc và chất lượng cầu công việc tỷ lệ thuận với nhau. Công việc đòi hỏi trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm, trình độ chuyên môn cao, yêu cầu người lao động phải đáp ứng được yêu cầu đó, người lao động mới chấp nhận tuyển dụng lao động. Chất lượng công việc thể hiện sự quản lý chặt chẽ, tổ chức lao động khoa học, năng suất lao động. 1.2.2.2 Nhân tố quy mô trình độ kĩ thuật, trình độ quản lý, quan hệ kinh doanh quốc tế. Quy mô trình độ kĩ thuật càng cao, yêu cầu công việc càng lớn, trình độ của người lao động càng cao, chất lượng cầu lao động tăng. Trình độ kĩ thuật bao gồm máy móc kỹ thuật hiện đại, trang bị cơ sở vật chất, phương tiện liên lạc, phương tiện vận chuyển...Điều đó đặt ra yêu cầu chất lượng cầu lao động phải tăng. Trình độ quản lý của bộ máy quản lý của doanh nghiệp có tác động cùng chiều với sự phát triển của cầu lao động. Mối quan hệ kinh doanh với các quốc gia trên thế giới đóng một vai trò quan trọng để phát triển kinh tế của một đất nước. Quan hệ quốc tế còn đóng vai trò xuất khẩu lao động. Quan hệ quốc tế càng phát triển yêu cầu chất lượng cầu lao động cao, để đáp ứng được sự phát triển của nền khoa học hiện đại. 1.2.2.3 Nhân tố tình hình phát triển kinh tế, các chính sách của Nhà nước. Tình hình phát triển kinh tế không những ảnh hưởng đến số lượng cầu lao động mà còn ảnh hưởng đến chất lượng cầu lao động. Đất nước càng phát triển, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ra đời, doanh nghiệp mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, bản thân người lao động cũng phải nâng cao tay nghề để đáp ứng nhu cầu của công việc. Sự phát triển của nền kinh tế, sẽ càng tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng nâng cao tay nghề của mình. Các doanh nghiệp có điều kiên thuận lợi về tài chính giúp cho nhân công của mình nâng cao trình độ kỹ thuật, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của doanh nghiệp. Cách chính sách của Nhà nước ban hành như: điều luật về đảm bảo điều kiện lao động, quy định quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động...tất cả những chính sách trên quyết định cùng chiều đến chất lượng cầu lao động. 1.2.2.4 Nhân tố chất lượng cung lao động. Cung lao động ảnh hưởng đến cầu lao động thông qua các yếu tố: chất lượng dân số, tình hình gia tăng dân số, sự gia tăng của số người bước vào độ tuổi lao động, bước ra khỏi độ tuổi lao động...Chất lượng cung lao động càng cao thì càng đáp ứng nhu cầu lao động chất lượng càng lớn. 1.3. Các giải pháp kích cầu lao động. 1.3.1 Giải pháp về phía số lượng cầu lao động. Tìm kiếm mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế có khả năng sử dụng nhiều nguồn nhân lực phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Có nhiều mô hình, mỗi mô hình điều dựa trên cơ sở lý thuyết kinh tế học và sự phân tích thực tiễn nhất định. Có mô hình khi đem áp dụng đã tỏ ra có những hạn chế nhất định. Ngược lại, có những mô hình đã đưa đến những thành công. Tuy nhiên, về kinh tế, khi nghiên cứu, lựa chọn mô hình tăng trưởng, phát triển có đến nguồn nhân lực cần xem xét các yếu tố về vốn đầu tư và mối quan hệ của vốn đầu tư với việc thu hút nguồn nhân lực. Vì lẽ, không có vốn đầu tư đưa vào sản xuất, các nguồn nhân lực sẽ bị ứ đọng, không có tiền đề vật chất để hoạt động. Vốn đầu tư nhiều, tăng nhanh, chứng tỏ khả năng tái sản xuất mở rộng, khả năng tích luỹ của một nền kinh tế. Nói cách khác, đó là điều kiện có tính chất quyết định dể thu hút các nguồn nhân lực vào tăng trưởng. Kỹ thuật và công nghệ của sản xuất có liên quan dến sử dụng nhiều hay ít nhân lực. Có loại kỹ thuật, công nghệ đòi hỏi vốn cao( hàm lượng vốn lớn), nhưng lại sử dụng ít nhân lực ( hàm lượng lao động thấp). Ngược lại, có kỹ thuật, công nghệ vốn ít nhưng sử dụng nhiều nhân lực. Áp dụng các biện pháp hiện đại, cơ giới hoá quá trình sản xuất, đầu tư các trang thiết bị hiện đại, cơ sỏ vật chất hạ tầng kĩ thuật cao nhằm mục đích nâng cao năng suất lao động, mở rộng quy mô sản xuất, phát triển doanh nghiệp về chiều rộng -> tác động đến cầu lao động về số lượng. Nhà nước có các chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế, ban hành hệ thống hành lang pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ đầu tư. Tiếp tục cải cách khu vực Nhà nước, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các khu vực, các thành phần kinh tế. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và các công ty được hình thành và phát triển -> tăng cầu về lao động. Hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường nhằm hoàn thiện kênh giao dịch giữa cung và cầu lao động, cân bằng cung cầu trên thị trường lao động. Mặt khác nhằm đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, tham gia vào thị trường lao động khu vực và quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Cần sớm nhận thức rõ rằng xuất khẩu lao dộng phải được coi là một chiến lược quốc gia giải quyết việc làm và là một kênh để đào tạo tay nghề cho người lao động. Vì vậy, cần sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật về xuất khẩu lao động, ban hành, sửa đổi và bổ sung những cơ chế chính sách cho phù hợp với sự vận động của thị trường, tăng cường trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương và trung ương trong việc xây dựng, trong việc quản lý và chỉ đạo hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động và chuyên gia. Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn lao động và chuyên gia để phục vụ xuất khẩu đáp ứng nhu cầu của thị trường. 1.3.2 Giải pháp về phía chất lượng lao động. Mở rộng các trung tâm đào tạo dạy nghề, các truờng trung cấp và đại học, phân bố đồng đều trong cả nước. Biện pháp này không chỉ có tác dụng đào tạo nghành nghề cho những người chưa qua đào tạo mà còn có tác dụng đào tạo lại cho những người công nhân, nhân viêc nhằm làm cho họ thích ứng với công việc, nâng cao trình độ tay nghề, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công việc. Về phía các doanh nghiệp, cần có các chính sách phù hợp cho người lao động nhằm tạo điều kiện cho họ được nâng cao tay nghề. Có các biện pháp và các chế độ khen thưởng khuyến khích người lao động, tạo động lưc họ nâng cao tay nghề của mình. Bên cạnh đó có các chính sách hỗ trợ người lao động, giúp đỡ họ trong thời gian đào tạo cả về mặt vật chất và tinh thần. Nhà nước tổ chức các chương trình đào tạo ngắn hạn và dài hạn, ban hành các chính sách, bộ luật liên quan đến lợi ích của người lao động. CHƯƠNG II Đánh giá thực trạng cầu lao động Việt Nam và các chính sách kích cầu lao động trong những năm qua. Nước ta là một nước nông nghiệp, nghèo, có dân số đông với tốc độ tăng còn cao, nguồn nhân lực dồi dào, năng suất lao động còn thấp, cung lao động luôn lớn hơn cầu lao động. Bởi vậy trong nền kinh tế nước ta luôn tồn tại lực lượng lao động dư thừa dưới nhiều hình thức, tình trạng thiếu việc làm là phổ biến. Năm 2000 tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị là 6,42%, còn ở nông thôn tỷ lệ sử dụng thời gian lao động được sử dụng của lực lượng lao động trong độ tuổi lao động chỉ là 76,58%. Đây là vấn đề cấp bách không chỉ trước mắt mà còn có nguy cơ kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội về lâu dài. Vậy cần phải có các giải pháp như thế nào để tăng cầu lao động ở nước ta. Trước hết, chúng ta xem xét hiện trạng và xu hướng thay đổi việc làm trong những năm gần đây. 2.1 Cầu lao động theo nhóm ngành 2.1.1 Kết quả: Theo nhóm ngành, cầu lao động được chia theo 3 tiêu chí: Nông, lâm, ngư nghiệp; xây dựng, công nghiệp; dịch vụ. Bảng 1: Bảng số người từ 15 tuổi trở lên làm việc thường xuyên theo nhóm ngành Các tiêu chí 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Nông , lâm, ngư nghiệp 23431 22589 23018 22861 22670 22813 23835 Xây dựng, công nghiệp 3698 4170 4049 4435 4744 5428 5942 Dịch vụ 6849 7593 7734 8382 8791 8426 9509 TỔNG SỐ 33978 34352 34801 35679 36205 37677 39286 Theo số liệu bảng trên, chúng ta thấy rằng số người có việc làm thường xuyên tăng lên liên tục trong thời kỳ 1996 – 2002, mỗi năm trung bình tăng khoảng 740nghìn, trong đó tăng nhiều nhất là năm 2002 so với 2001 với số tuyệt đối là 1609 nghìn, và năm tăng ít nhất là 1998 so với 1997. Và các năm sau cũng có xu hướng tăng tương tự. Xu hướng thay đổi như trên phần nào được phản ánh qua những sự thay đổi của cơ cấu việc làm theo cách phân loại như trên. Trước hết, số việc làm trong nông, lâm, ngư nghiệp trong thời kỳ này nói chung không thay đổi nhiều, có xu hướng giảm nhẹ nhưng không đều. Năm có số việc làm tuyệt đối cao nhất la 1996 là 23431nghìn, năm thấp nhất là 1997 với 22589. So sánh năm 2001 với năm 1996, số việc làm trong nông, lâm, ngư nghiệp giảm đi 618nghìn người, nhưng đến năm 2002 lại tăng lên. Xin lưu ý rằng dân số, nguồn lao động ở khu vực nông thôn trong thời kỳ năng không hề giảm đi tuyệt đối. Đối với ngành xây dựng và, công nghiệp có xu hướng thay đổi tích cực, số việc làm tăng đều qua các năm. Trung bình mỗi năm tăng 346 nghìn người, năm tăng nhiều nhất là 2001 so với 2000 là 684 nghìn việc làm, năm 2002 cũng tăng lên 520nghìn việc làm so với năm 2001. Đối với nhóm ngành dịch vụ, xu hướng thay đổi tích cực như trong ngành xây dựng và dịch vụ, số tuyệt đối việc làm tăng liên tục trung bình mỗi năm khoảng 320nghìn người, trừ năm 2001 giảm đi so với năm 2000 là 366nghìn. 2.1.2 Các mặt còn tồn tại: Sự phát triển của các nghành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ chưa cao. Nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Kinh doanh giảm sút trong những ngành du lịch, khách sạn nhà hàng kinh doanh tài sản. Do điều kiện khoa học kỹ thuật của nước ta còn chưa cao, công nghệ máy móc còn hạn chế do chủ yếu là mua của các nước hiện đại và phải chuyển giao công nghệ. Nên sự phát triển của ngành công nghiệp còn nhiều hạn chế. Đến thời điểm hiện tại, nước ta vẫn chủ yếu là phát triển công nghiệp nhẹ, công nghiệp có hàm lượng kỹ thuật thấp nên nguồn lợi nhuận thu được còn quá ít. Do vậy, mô hình sản xuất còn nhỏ hẹp, khả năng mở rộng sản xuất là chưa cao cầu lao động còn thấp. Ngành dịch vụ là ngành khá mới mẻ ở nước ta, cùng với sự phát triển còn hạn chế, ngành dịch vụ không phát triển hết được những tiềm năng sẵn có của nó. Ngành du lịch là ngành có tiềm năng phát triển lớn nhất, nước ta được thiên nhiên ưu đãi những điều kiện thuận lợi nhưng do đây là một ngành khá mới mẻ, môi trường phát triển con thiếu thốn nhiều dẫn đến cầu lao động trong ngành này còn thấp, chưa đúng với thực chất phát triển của nó. 2.1.3 Nguyên nhân: -Ngoài những nguyên nhân như quy mô và cơ cấu dân số, nguồn lao động còn phải kể đến các nguyên nhân quan trọng như tốc độ tăng trưởng kinh tế, sự khủng khoảng kinh tế ở Châu Á năm 1997, sự thay đổi cơ cấu kinh tế, sự tác động tích cực của các chính sách kinh tế của Nhà nước, Như việc thực thi Luật Doanh nghiệp, về phát triển kinh tế trang trại... - Sự phát triển của ngành Nông nghiệp do nước ta là 1 nước nông nghiệp, các điều kiện thuận lợi để phát triển. - Công nghiệp, xây dựng và dịch vụ còn kém phát triển do đây là những ngành còn mới với nước ta, nền khoa học kĩ thuật còn kém. 2.2 Cầu lao động theo thành phần kinh tế. 2.2.1 Kết quả Được chia thành 3 tiêu chí: Nhà nước, ngoài Nhà nước, có vốn đầu tư nước ngoài. Đối cơ cấu việc làm theo thành phần kinh tế, chúng ta thấy xu hướng tăng nhanh trong cả 3 nhóm. Trung bình mỗi năm trong thời kỳ khu vực Nhà nước tăng thêm 160 nghìn, ngoài Nhà nước tăng 511 nghìn và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 57nghìn việc làm. Nếu so sánh về tốc độ tăng việc làm trung bình năm thì thứ tự thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh nhất ( 43%), sau đó đến Nhà nước ( 5,35%) và ngoài Nhà nước ( 1,64% ). Giai đoạn 2000 đến 2005, tổng số lao động đang làm việc trong toàn bộ nền kinh tế đã tăng thêm 5.1 triệu người, thì số lao động làm việc trong khu vực nhà nước chỉ tăng thêm 599nghìn người chiếm 11.7% số lao động tăng thêm. Bảng 2: Bảng số người 15 tuổi trở lên có việc làm thường xuyên thời kỳ 1996 -2002 Các tiêu chí 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Nhà nước 2973 3094 3533 3606 3644 3769 4011 Ngoài nhà nước 31005 31128 31083 31884 32343 33554 34836 Có vốn đầu tư nước ngoài 0 130 184 190 218 354 439 TỔNG SỐ 33978 34352 34801 35679 36205 37677 39286 Trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005, tổng số lao động đang làm việc trong toàn bộ nền kinh tế đã tăng thêm 5,1 triệu người, thì số lao động làm việc trong khu vực nhà nước chỉ tăng thêm có 599người chiếm 11,7% số lao động tăng thêm. Các số liệu trên cho thấy, số DNNN giảm, nhưng số lao động trong các DNNN lại tăng lên, mặc dù tăng với tốc độ thấp. Điều đó chứng tỏ quy mô của doanh nghiệp lớn hơn trước ( trong đó các DNNN địa phương giảm, còn DNNN trung ương tăng, tuy không đáng kể). Các số liệu trên cũng cho ta thấy, vai trò của DNNN trong việc tạo ra việc làm cho người lao động không lớn. 2.2.2 Các mặt còn tồn tại Khu vực ngoài quốc doanh, đặc biệt là kinh tế hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong khu vực phi kết cấu thành thị, là nơi có nhiều khả năng tạo việc làm vì những ưu thế về quy mô và chi phí thấp để tạo ra một chỗ làm việc, tính năng động và lợi ích trực tiếp của lao động và trình độ quản lý. Tuy nhiên, tiềm năng thu hút thêm lao động của khu vực này cũng đang phải đối đầu với những khó khăn trong điều kiện hội nhập và mở cửa, sản phẩm kém cạnh tranh do chất lượng không cao, ngoài ra môi trường kinh doanh chưa ổn định, còn nhiều rủi ro, thiếu thông tin, thiếu sự hỗ trợ, hạn chế về vốn. Đối với khu vực nhà nước, tạo việc làm cũng gặp rất nhiều thách thức không nhỏ. Nhiệm vụ và yêu cầu cải cách bộ máy quản lý và thủ tục hành chính đồi hỏi phải tinh giảm bộ máy biên chế, sắp xếp lại bộ máy biên chế hiện có, hạn chế nhận lao động mới.Các doanh nghiệp ngoài nhà nước chưa được phát triển toàn diện do gặp phải nhiều trở ngại về hành lang pháp lý. Các doanh nghiệp nhà nước còn phụ thuộc quá nhiều vào nhà nước, chưa chủ động, độc lập phát triển. Sự phát triển của các doanh nghiệp có vốn đầu t._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc36038.doc
Tài liệu liên quan