Thực trạng công tác quản lý nhập khẩu các loại phế liệu gắn với bảo vệ môi trường ở Việt Nam trong thời gian vừa qua và một số giải pháp (68tr)

LỜI MỞ ĐẦU Việt Nam đang trong bước chuyển mình phát triển đi lên hội nhập với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới. Mục tiêu của chúng ta là đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp, vì thế phải đặc biệt quan tâm tới các ngành có tốc độ và tỷ lệ tăng trưởng cao.Trong đó đáng nói đến là các ngành công nghiệp sản xuất.Ngành công nghiệp là một ngành sản xuất vật chất mang lại hiệu quả kinh tế lớn, ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế, quyết định khả năng

doc72 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1584 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Thực trạng công tác quản lý nhập khẩu các loại phế liệu gắn với bảo vệ môi trường ở Việt Nam trong thời gian vừa qua và một số giải pháp (68tr), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
và tốc độ phát triển của các ngành khác. Sự phát triển với tốc độ cao của công nghiệp đã tác động rất mạnh tới môi trường, làm biến đổi môi trường tự nhiên làm mất khả năng tự phục hồi và duy trì trạng thái cân bằng tự nhiên. Những thập kỷ trước, các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng hầu như chỉ chú trọng tới vấn đề phát triển kinh tế mà chưa quan tâm đúng mức tới bảo vệ môi trường. Bất kỳ ở đâu muốn phát triển lâu dài, bền vững phải xem xét đồng thời cả 3 vấn đề: Kinh tế- Xã hội- Môi trường . Ngày nay bảo vệ môi trường đã trở thành vấn đề vô cùng bức bách và trọng yếu của mọi quốc gia vì nó liên quan tới vấn đề sống còn của nhân loại. Cùng với sự phát triển của khoa học- công nghệ, cùng với phát kiến về thế giới xung quanh và động cơ làm giàu một cách vị kỷ, nhiều quốc gia, nhiều công ty, nhiều tập đoàn xuyên quốc gia đã tàn phá môi trường- cái nôi nuôi dưỡng chính họ và con người đã bước đầu nhận thức ra được nguy cơ này. Việt Nam tuy là nước có tài nguyên khoáng sản đa dạng, phong phú nhưng thực tế chúng ta lại bị hạn chế, yếu kém trong việc cung cấp nguyên liệu cho các ngành sản xuất vật chất, đặc biệt trong các ngành công nghiệp. Sở dĩ như vậy là do chúng ta chưa có đủ điều kiện về máy móc kỹ thuật, về phương tiện hiện đại, điều kiện kinh tế để cho phép thăm dò, khai thác và sử dụng các mỏ khoáng sản. Đứng trước thực trạng này, Nhà nước ta chủ trương cho phép các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất có nhu cầu được phép nhập khẩu các loại phế liệu để làm nguyên liệu sản xuất.Trên thế giới các nguyênliệu luôn được sử dụng lại trong các ngành công nghiệp theo nguyên lý: “ Phế liệu của nhà máy này là nguyên liệu cho nhà máy khác”. Đây là một biện pháp hợp lý để tiết kiệm nguồn nguyên liệu có hạn và tận dụng những sự lãng phí không cần thiết. Tuy nhiên một vấn đề nổi cộm đáng quan tâm là tình hình nhập khẩu phế liệu hiện nay gây ảnh hưởng xấu tới môi trường.Vấn đề quản lý nhập khẩu phế liệu hiện nay còn nhiều bất cập do vậy môi trường luôn chịu những hậu quả xấu, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống con người. Khi xảy ra ô nhiêm môi trường nó không chỉ ảnh hưởng tới một cá nhân mà nó sẽ ảnh hưởng tới cộng đồng và toàn xã hội. CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHẬP KHẨU CÁC LOẠI PHẾ LIỆU Ở VIỆT NAM. I.MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG VỀ PHẾ LIỆU I.1.Khái niệm phế liệu Phế liệu là các sản phẩm bị loại ra sau quá trình sử dụng hoặc sản xuất của một hoạt động hoặc ngành nghề nào đó, chúng được thu gom lại để sử dụng như là nguyên liệu đầu vào của các ngành sản xuất khác, chủ yếu được sử dụng trong ngành công nghiệp.Phế liệu bao gồm: - Nguyên liệu thứ phẩm - Nguyên liệu vụn - Vật liệu tận dụng I.2.Phân loại phế liệu nhập khẩu. I.2.1.Phân loại theo tính chất sử dụng. Các loại phế liệu nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu cho sản xuất bao gồm: - Nguyên liệu thứ phẩm là các nguyên liệu mà khi được sản xuất ra không đủ tiêu chuẩn quy định làm nguyên liệu chính phẩm nhưng vẫn có thể đáp ứng các yêu cầu của sản xuất trong nước. - Nguyên liệu vụn là các nguyên liệu bị loại ra sau quá trình sản xuất nguyên liệu chính phẩm và không đạt tiêu chuẩn nguyên liệu thứ phẩm nêu trên hoặc là các sản phẩm bị loại ra sau quá trình sử dụng như: + Nguyên liệu bị biến dạng, sứt mẻ …nhưng vẫn giữ được tính chất cơ bản của vật liệu. + Các sản phẩm, đồ vật đã qua chế biến, gia công( không đủ tiêu chuẩn chính phẩm, thứ phẩm) hoặc đã qua sử dụngnhưng có thể sử dụng làm nguyên liệu cho sản xuất. - Vật liệu tận dụng là vật liệu đồng nhất về chất được tháo gỡ, bóc tách, thu hồi từ sản phẩm đã qua sử dụng hoặc từ thứ phẩm, phế phẩm. I.2.2.Phân theo cấu thành chất phế liệu. Chia theo cấu thành chất phế liệu là cách thức phân theo các đặc tính hóa học của các phế liệu.Có 2 loại: Phế liệu là chất hữu cơ:Nhựa, thủy tinh giấy, bìa cáctông. Phế liệu là chất vô cơ:Kim loại và các hợp kim của nó. I.2.3.Phân theo đặc tính, chủng loại phế liệu. Căn cứ theo các đặc điểm lý tính ta phân các loại phế liệu nhập khẩu thành 4 loại chính: a,Nhóm kim loại và hợp kim. - Nguyên liệu thứ phẩm - Nguyên liệu vụn - Vật liệu tận dụng, bao gồm: + Thép đường ray, thép tà vẹt, thép tấm, thép lá, thép tròn, thép hình, thép ống, thỏi đúc, dây và lưới thép các loại + Gang, thép, đồng, hợp kim đồng, nhôm, hợp kim nhôm, kẽm, hợp kim kẽm, niken, hợp kim niken thu hồi từ việc cắt phá, tháo dỡ các công trình xây dựng, các phương tiện vận tải, máy móc, thiết bị và các sản phẩm khác. + Lõi dây điện, cáp điện bằng đồng hoặc nhôm, đã loại bỏ vỏ bọc cách điện bằng nhựa, cao su hoặc bằng các loại vật liệu cách điện khác. + Dây điện từ( dây đồng có lớp bọc cách điện bằng sơn men, sợi bông hoặc giấy) Đây đều là những kim loại sử dụng phổ biến trong chế tạo và sản xuất của các ngành công nghiệp: công nghiệp sản xuất gang thép, công nghiệp sản xuất đồ điện, công nghiệp xây dựng cơ bản. b, Nhóm giấy, bìa cáctông các loại: - Nguyên liệu thứ phẩm - Nguyên liệu vụn - Vật liệu tận dụng, bao gồm: Giấy, các- tông thu hồi từ sản phẩm đã qua sử dụng; giấy, các- tông ở dạng thứ phẩm. c, Nhóm thủy tinh: - Nguyên liệu thứ phẩm - Nguyên liệu vụn - Vật liệu tận dụng: các loại thủy thu hồi từ sản phẩm đã qua sử dụng d, Nhóm nhựa: - Nguyên liệu thứ phẩm - Nguyên liệu vụn - Vật liệu tận dụng: các loại bao bì đựng nước khoáng, nước tinh khiết đã qua sử dụng. I.3.Đặc điểm của các loại phế liệu nhập khẩu vào nước ta. Các loại phế liệu Việt Nam nhập khẩu thường từ các nước có nguồn tài nguyên phong phú.Chúng được thu gom từ các nhà máy, khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc tại các công trình xây dựng.Do vậy, phế liệu mang những đặc điểm sau: - Phế liệu là những nguyên liệu không đạt tiêu chuẩn làm nguyên liệu chính phẩm( xét cả về chất lượng, mẫu mã, hình dáng, kích thước, chất liệu…) bị loại ra khỏi quá trình sản xuất. Những nguyên liệu mà lẫn tạp chất, không đúng quy định trong hợp đồng cũng được thu gom lại thành phế liệu. Hoặc những sản phẩm, đồ vật đã qua gia công, chế biến, đã qua sử dụng được loại bỏ. - Thành phần chủ yếu của chúng ta nhập về là kim loại và các hợp kim của nó. Chúng được thu gom từ việc cắt phá, tháo dỡ các công trình nhà xưởng máy móc, thiết bị nên chúng thường ở dạng tấm mảnh, thanh hoặc vụn. Toàn bộ khối lượng chúng ta nhập về đều chưa được phân loại hoặc xử lý đóng gói mà là hỗn hợp nhiều loại với nhau - Các kim loại và hợp kim có chứa các tạp chất, các yếu tố độc hại và nguy hiểm, tức thời hoặc tiềm tàng có thể gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ người sản xuất, vi phạm Luật Bảo vệ môi trường.Theo quy định tạp chất nguy hại là chất không đồng nhất về chất với phế liệu, bám dính vào phế liệu và có tính nguy hại: hóa chất độc hại; chất phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ gây ăn mòn; chất thải y tế; các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc động vật, thực vật, thực phẩm có nguy cơ gây dịch bệnh. - Kim loại là các hợp chất vô cơ nên nó mang đầy đủ các đặc tính hóa học: hoạt tính mạnh như Al, Cu, Zn, Ni, Mg… ( dễ tham gia phản ứng hóa học với oxi, nước,và các khí nitơ, oxitcacbon…và giữa các hợp chất với nhau). Do đó các sản phẩm phụ sau phản ứng là các khí độc ảnh hưởng tới khí quyển và môi trường không khí xung quanh. - Kim loại còn lẫn các tạp chất hoặc có các hóa chất bám vào có các đặc điểm lý tính: độc, bền trong môi trường gây tích tụ sinh học, bền trong chất lắng đọng, không phân hủy sinh học . - Các loại phế liệu không thể sử dụng nguyên dạng của nó khi nhập khẩu mà phải được tái chế tái sử dụng. Nếu không được bảo quản, sử dụng hợp lý mà thải ra ngoài môi trường sẽ gây độc hại tới môi trường đất, nước, không khí và ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người. I.4.Nhập khẩu phế liệu và quảnlý hoạt động nhập khẩu phế liệu. I.4.1.Nhập khẩu phế liệu. Nhập khẩu phế liệu là hoạt động của tổ chức, cá nhân có hành vi mua các phế liệu từ nước ngoài vào Việt Nam qua các hải cảng, cửa khẩu theo đúng các quy định của luật pháp và thông lệ hiện hành trong nước và quốc tế để sử dụng làm nguyên liệu sản xuất. Phế liệu coi như một loại hàng hóa và được mua bán, kí kết hợp đồng giữa chủ thể có nhu cầu sử dụng và đối tác có hàng cần tiêu thụ để thu về ngoại tệ Việc quản lý các phế liệu nhập khẩu từ nước ngoài phải có quyết định của các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan: Bộ Thương mại, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường hoặc trực tiếp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tham gia. I.4.2.Quản lý nhập khẩu phế liệu. Là quá trình bao gồm các hoạt động nhập hàng lưu giữ- vân chuyển, xử lý và hủy bỏ cuối cùng các phế liệu, chất thải để bảo vệ môi trường, sức khỏe con người, mỹ quan và vệ sinh công cộng. Có 3 khâu chính quản lý nhập khẩu phế liệu: Thư nhất, thông thường các phế liệu nhập khẩu vào Việt Nam bằng đường biển nên các hoạt động, thủ tục xuất nhập cảnh được kiểm tra, quản lý tại các cảng. Tại đó, các cơ quan Hải quan là đơn vị trực tiếp chịu trách nhiệm kiểm tra và làm thủ tục nhập khẩu. Đối với mặt hàng phế liệu càng đặc biệt được quản lý chặt chẽ bởi lẽ ngoài lợi ích về kinh tế nó còn tác động lớn tới môi trường. Khi phế liệu cập cảng, các chủ hàng phải khai báo và trình đủ các giấy tờ hợp lệ: giấy chứng nhân nơi xuất xứ hàng hóa, phiếu khai báo thành phần, chủng loại, đặc tính, kết quả phân tích thành phần chất lượng của mẫu vật, chứng chỉ về chất lượng môi trường của các phế liệu nhập( thành phần vật chất, hóa học, tỷ lệ tạp chất…), và các giấy tờ khác có liên quan ( giấy phép hành nghề ). Sau khi xem xét thủ tục hợp lệ, cơ quan hải quan sẽ xác nhận và cho phép nhập khẩu. Thứ hai, quản lý quy trình vận chuyển, chuyên chở và lưu giữ các loại phế liệu. Công việc quản lý được giao cho các cán bộ tại các trạm kiểm tra đường bộ. Họ có thể là các cán bộ chuyên trách hoặc công an giao thông có thẩm quyền. Việc vận chuyển và bàn giao phế liệu phải kèm theo bản tường trình về phế liệu, phải có giấy phép vận chuyển do Bộ Giao thông vận tải kết hợp với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp. Việc lưu giữ phế liệu như thế nào phải đảm bảo không gây tác hại tới môi trường, phương tiện vận chuyển phải được thiết kế chế tạo theo đúng quy định, phù hợp với đặc tính của phế liệu. Quãng đường chuyên chở càng dài thì càng tốn nhiều thời gian và khả năng gây ô nhiễm môi trường càng lớn.Vì thế các phế liệu chuyên chở phải có tên của đơn vị vận chuyển chịu trách nhiệm và thường xuyên kiểm tra chặt chẽ. Thứ ba, một khâu quan trọng và gây ra nhiều tác động đến môi trường, đó là quá trình sử dụng, xử lý và loại bỏ các chất thải sau khi dùng phế liệu làm nguyên liệu cho sản xuất. Các ngành công nghiệp nói chung sau quá trình tái chế, sản xuất luôn tạo ra một lượng chất thải lớn vào môi trường. Hầu hết các cơ sở sản xuất sử dụng quy trình công nghệ lạc hậu nên lượng chất thải chưa được xử lý đã thải vào môi trường gây ô nhiễm ở nhiều nơi. Quản lý mục đích sử dụng phế liệu nhập khẩu theo đúng quy định, chỉ đuợc nhập để làm nguyên liệu sản xuất. Quản lý các chất thải và biện pháp xử lý đúng yêu cầu vệ sinh môi trường của các cơ sở sản xuất. Việc quản lý chất thải có thể dựa vào chỉ số Tlm ( lượng độc tố gây tử vong 50% động vật thí nghiệm sau 96 giờ nhiễm ) chia theo các mức độ sau : - Nhóm độc tố cực mạnh : Gồm các chất có Tlm < 1mg/l - Nhóm độc tố mạnh : Gồm các chất có Tlm 1-10 mg/l - Nhóm độc tố trung bình : Gồm các chất có Tlm 100mg/l - Nhóm độc tố yếu : Gồm các chất có Tlm 1000mg/l Tùy theo mức độ độc hại và nguy hiểm các đơn vị quản lý yêu cầu nhà sản xuất xử lý và đổ thải theo quy cách chung. Mỗi đơn vị xử lý phải có các giấy phép : giấy phép về vị trí, giấy phép hoạt động. Ngoài ra chất thải xử lý phải trình kết quả phân tích tác động môi trường, kế hoạch quản lý môi trường, kế hoạch quan trắc môi trường lên cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. I.4.3.Các nguyên tắc quản lý nhập khẩu phế liệu Các nguyên tắc quản lý nhập khẩu là các quy tắc chỉ đạo những tiêu chuẩn hành vi mà các chủ thể quản lý phải làm thủ trong suốt quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình Các nguyên tắc quản lý nhập khẩu phế liệu phải đạt được các yêu cầu chung quản lý môi trường, phải phản ánh các yêu cầu khách quan của các quy luật tự nhiên, kinh tế và xã hội đang chi phối quá trình quản lý môi trường và thực hiện dựa trên các nguyên tắc sau: -Bảo đảm tích hệ thống -Bảo đảm tích tổng hợp -Bảo đảm tính liên tục và nhất quán -Bảo đảm tập trung dân chủ -Kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ -Kết hợp hài hòa các loại lợi ích -Tiết kiệm và hiệu quả I.4.4.Sự khác nhau giữa nhập khẩu phế liệu và hàng hóa thông thường. Các loại hàng hóa nói chung được nhập khẩu từ nước ngoài vào Việt Nam với hai mục đích chủ yếu: đó là dùng để sản xuất hoặc tiêu dùng. Hầu hết các hàng hóa nhập khẩu sử dụng với mục đích tiêu dùng đều không gây ảnh hưởng hoặc có ảnh hưởng rất ít tới môi trường. Khi quản lý nhập khẩu các hàng hóa tiêu dùng, các chính sách quản lý thường theo các mục tiêu về kinh tế là chủ yếu. Từ mức thuế suất, chính sách ưu đãi, bảo hộ, tỷ giá hối đoái…đều cố gắng nhằm bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng trong nước. Quy trình quản lý các hàng thông thường cũng đơn giản hơn các phế liệu.Chủ yếu là khâu kiểm tra hải quan cần giám sát chặt chẽ. Nếu mọi thủ tục nhập khẩu tại cửa khẩu đều hợp lệ thì chủ hàng có thể tự do sử dụng: tiêu dùng cá nhân, kinh doanh buôn bán hoặc tích trữ. Các phế liệu nhập khẩu vào Việt Nam có sự khác biệt rõ ràng với các hàng hóa khác.Theo quy định, phế liệu nhập khẩu chỉ được phép sử dụng làm nguyên liệu cho sản xuất chứ không được sử dụng với bất kỳ mục đích nào khác. Nhìn chung, phế liệu thường có lẫn nhiều tạp chất gây ô nhiễm môi trường. Do vậy, việc quản lý nhập khẩu phế liệu được tiến hành nghiêm ngặt, xát sao hơn nhằm hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường. Việc quản lý phế liệu nhập khẩu được tiến hành xuyên suốt các khâu: tại các cửa khẩu, trong qua trình lưu giữ, vận chuyển và quản lý cả quy trình sản xuất và cách xử lý chất thải. II NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU VÀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG. II.1 Môi trường và các tiêu chuẩn môi trường. II.1.1 Khái niệm môi truờng Môi trường có rất nhiều cách tiếp cận và mỗi phương pháp lại có một định nghĩa khác nhau. Mas và Langenhim ( 1957 ) cho rằng : “ Môi trường là tổng hợp các yếu tố tồn tại xung quanh sinh vật và ảnh hưởng đến sinh vật” Joe Whiteney(1993) kết luận: “ Môi trường là tất cả những gì ngoài cơ thể, có quan hệ mật thiết và có ảnh hưởng đến sự tồn tại của con người: đất, nước, không khí, ánh sáng mặt trời, rừng, biển, tầng ozon, sự đa dạng của các loài” Chương trình môi trường của UNEP đinh nghĩa: “ Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh vật, kinh tế xã hội tác động lên từng cá thể họăc cả cộng đồng”. Ngày nay thống nhất: “ Môi trường là các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo, lý học, hóa hoc, sinh học cùng tồn tại trong không gian bao quanh con người. Các yếu tố đó có mối quan hệ mật thiết, tương tác lẫn nhau và tác động lên các cá thể sinh vật hoặc con người để cùng tồn tại và phát triển.Tổng hòa của các chiều hướng phát triển của từng nhân tố này quyết định chiều hướng phát triển của cá thể sinh vật, của hệ sinh thái và của xã hội con người” Tùy theo mục đích nghiên cứu và tinh ứng dụng khác nhau để tiếp cận các khái niệm môi trường . II.1.2. Các tiêu chuẩn môi trường(TCMT) Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phép được quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường.Những chuẩn mực giới hạn cho phép được hiểu là mức độ, phạm vi chất gây ô nhiễm mà Nhà nước thấy có thể chấp nhận được vì chưa gây nguy hiểm cho con người, sinh vật hoặc là giới hạn an toàn để bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và môi trường. Tiêu chuẩn môi trường được sử dụng làm căn cứ đánh giá hiện trạng môi trường, xác định chính xác chất lượng môi trường, xem môi trường có bị ô nhiễm hay không, nếu có thì mức độ ô nhiễm như thế nào.Tiêu chuẩn môi trường là căn cứ để thẩm định, báo cáo, đánh giá tác động môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường; dự báo tình hình môi trường; cấp thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường.Tiêu chuẩn môi trường cũng được dùng làm căn cứ để xác định trách nhiệm pháp lý đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường. Tiêu chuẩn môi trường là cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện quyền con người sống trong môi trường trong lành, bởi lẽ nó là căn cứ không thể thiếu để xác định con người có được sống trong sự an toàn về môi trường hay không. Tiêu chuẩn môi trường có các đặc trưng cơ bản ở chỗ nó vừa là quy phạm mang tính kỹ thuật vừa là quy phạm mang tính pháp lý. Tuy vậy, việc xây dựng tiêu chuẩn môi trường phải căn cứ vào sự tác động của biến đổi, ô nhiễm, sự cố môi trường lên sức khỏe và cảm quan của con người. Chúng ta có thể nhận thấy, hẹ thống TCMT của mỗi nước là có sự khác nhau tùy thuộc và những điều kiện cụ thể của nước đó.Các loại tiêu chuẩn gồm : TCMT bao gồm tiêu chuẩn chất lượng môi trường(TCCLMT) là các chỉ tiêu môi trương được xây dựng để phục vụ cho yêu cầu quản lý chất lượng môi trường xung quanh, tại mỗi vị trí địa lý xác định nơi diễn ra các hoạt động kinh tế - xã hội. Tiêu chuẩn thải(TCT) là những giới hạn tối ưu về nồng độ và tổng lượng thải ứng với thời gian bắt buộc và ứng với từng chất, từng nguyên tố được phép thải vào nơi tiếp nhận cụ thể của môi trường xung quanh. Sử dụng hệ thống tiêu chuẩn môi trường Việt Nam trong công tác quản lý phế liệu nhập khẩu la cơ sở để thực thi Luật môi trường, là cơ sở pháp lý để công tác thanh tra môi trường tiến hành có kết quả để đánh giá mức độ gây ô nhiễm của nguồn. Đó cũng là tiêu chuẩn kỹ thuật để quản lý phế liệu nhập khẩu và kiểm soát ô nhiễm do nhập khẩu phế liệu gây ra để bảo vệ môi truờng. Hệ thống TCMT Việt Nam bao gồm 306 chỉ tiêu chất lượng và quản lý nhập khẩu cần chú ý tới tiêu chuẩn về chất lượng không khí và chất lượng nước. Chất lượng không khí TCVN 5937-1995 : Tiêu chuẩn chất lượng không khí xung quanh TCVN 5938-1995 : Nồng độ tối đa cho phép của một số chất độc hại trong không khí xung quanh TCVN 5939-1995 : Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ TCVN 5940-1995 : Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất hữu cơ Chất lượng nước TCVN 5942-1995 : Tiêu chuẩn chất lượng nước nậưt TCVN 5943-1995 : Tiêu chuẩn chất lượng nước biển ven bờ TCVN 5944-1995 : Tiêu chuẩn chất lượng nước ngầm Hiện nay Việt Nam đã ban hành chứng chỉ tiêu chuẩn chất lượng ISO 14000 II.2. Các dạng ô nhiễm môi truờng do nhập khẩu phế liệu II.2.1. Ô nhiễm môi trường là gì ? Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi truờng, vi phạm tiêu chuẩn môi trường. Suy thoái môi truờng là sự làm thay đổi chất lượng và số lượng của thành phần gây ảnh hưởng xấu cho đời sống con người và thiên nhiên. Về mặt kinh tế mà xét, ô nhiễm môi trường phụ thuộc vào tác động của các chất thải . Mà các chất thải đó tạo ra nhiều là do các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Khi kinh tế càng phát triển, các hoạt động sản xuất kinh doanh càng mở rộng,cùng tăng tỉ lệ thuận với các chất thải và ô nhiễm môi trường. Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, mục đích của sản xuất và kinh doanh là sự tối đa hóa lợi nhuận. Do vậy vấn đề môi trường không được chú trọng đúng mức cần thiết. Bởi vì khi kiểm soát được môi trường đồng nghĩa với sự tăng thêm về chi phí của các nhà sản xuất. II.2.2 Các dạng ô nhiễm môi trường do nhập khẩu phế liệu gây ra Có nhiều cách phân chia ô nhiễm môi trường theo các dạng khác nhau nhưng chúng ta tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của nhập khẩu phế liệu tới môi trường sinh thái. Tác động lớn nhất của hoạt động nhập khẩu phế liệu tới môi trường sinh thái nằm trong giai đoạn sử dụng phế liệu và xử lý chất thải a, Ô nhiễm không khí Trong quá trình nấu nóng chảy nguyên liệu đầu vào các nhà máy của nước ta vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu và chưa có hệ thống xử lý khí thải riêng nên đã thải ra môi trường nhiều khí thải độc hại: CO, SO2, NOx, H2S…thậm chí có cả khí CN - Không khí bị ô nhiễm làm ảnh hưởng tới bầu khí quyển gây ra những bất lợi về thiên tai: hạn hán, mưa axit, mưa đá và làm phá hủy tầng ozon, làm giảm tác dụng chắn các tia cực tím. b, Ô nhiễm nguồn nước. Lượng nước thải của mỗi nhà máy trong một ngày rất lớn. Thông thường các loại nước thải đều trực tiếp thải ra môi trường mà không qua bất kỳ một hệ thống sử lý nước thải hoặc có đường ống riêng. Phế liệu khi nhập vào Việt Nam đã có chưa sẵn tạp chất và các chất hóa học bám dính. Khi tái chế các chất này sẽ được và rửa loại bỏ cùng với nước thải. Trong đó có chứa nhiều kim loại nặng: Pb, Mg, Zn, Cu…có tính chất bền và gây tích tụ sinh học; các hợp chất hưu cơ chứa phenol hoặc formaldehyde; các hyđroxit kim loại.. Các chất thải này sẽ chảy vào các sông suối và theo cả ra đại dương, là nơi sinh sống của nhiều sinh vật nước ngọt và nước mặn. Mặt khác nó sẽ thấm vào các mạch nước ngầm, gây ô nhiễm nước sinh hoạt và ô nhiễm cả đất. c, Ô nhiễm tiếng ồn Khu vực cảng nhập khẩu luôn chịu ảnh hưởng của tiếng ồn quá nồng độ cho phép. Thuyền chở phế liệu có dung lượng rất lớn, lại là những thuyền đã sử dụng lâu năm nên hệ thống giảm thanh kém, gây ra tiếng ồn lớn. Phế liệu nhập khẩu để tái chế được sử dụng trong các ngành công nghiệp lại là công nghiệp nặng nên không thể tránh khỏi sự hoạt động của các máy động lực, máy quay hoặc các máy đúc..Khu vực xung quanh nhà máy phát ra tiếng ồn lớn. d, ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Khi sống trong môi trường bị ô nhiễm con người sẽ phải gánh chịu những tác động xấu. Không khí ô nhiễm, khi con người hít thở sẽ gây ra các bệnh về hô hấp, bệnh ung thư và các bệnh về thần kinh. Người dân chủ yếu vẫn sử dụng nước sinh hoạt trực tiếp từ nước ngầm mà không hề qua hệ thống xử lý nước. Khi nước bị nhiễm các hóa chất người ăn sẽ bị ngấm vào cơ thể và nguy cơ bị các bệnh về đường ruột, bị sỏi thận là rất lớn. Đó là những tác động có thể dự đoán trước được đối với sức khỏe và cuộc sống con người khi phế liệu nhập khẩu gây ảnh hưởng xấu tới môi trường III. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHẬP KHẨU CÁC LOẠI PHẾ LIỆU III. 1. Quản lý nhập khẩu phế liệu nhằm thực hiện tốt mục tiêu quản lý và bảo vệ môi trường Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường ngoài Quản lý môi trường là một dạng của quản lý. Đó là sự tác động liên tục, có tổ chức và mục đích của chủ thể quản lý lên cá nhân hay cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và khách thể quản lý môi trường đã đề ra, phù hợp với luật pháp và thông lệ hiện hành. Mục tiêu chung, lâu dài và nhất quán của quản lý môi trường là nhằm góp phần tạo lập sự phát triển bền vững. Trong quá trình đẩy mạnh CNH-HĐH có bốn vấn đề cần đặc biệt quan tâm. Đó là : phát triển kinh tế, xã hội nhân văn, khoa học kỹ thuật và môi trường sinh thái. Bốn vấn đề này có mối quan hệ biện chứng với nhau và được ví như bốn trụ cột của một ngôi nhà. Bốn trụ cột có vững thì ngôi nhà mới yên. Một trong bốn trụ cột bị lung lay thì ngôi nhà sẽ bị đe dọa. Môi trường tự nhiên có ba chức năng cơ bản: Tạo cho con người những điều kiện không gian sống với phạm vi và chất lượng đầy đủ, cung cấp cho con người các nguồn vật chất, năng lượng và tài nguyên cần thiết để thỏa mãn nhu cầu sống ngày càng cao. Tiếp nhận, chứa và phân hủy những chất thải phát sinh từ các hoạt động phát triển kinh tế xã hội của con người. Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, bảo đảm cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường . Phế liệu nhập khẩu không giống như hàng hóa thông thường khác. Khi nhập khẩu phế liệu để dúng làm nguyên liệu sản xuất, chúng tạo ra một lượng chất thải lớn vào môi trường và là nguyên nhân gây ra các hiện tượng ô nhiễm. Vì thế công tác quản lý phải được đặc biệt quan tâm. Hiện nay nhập khẩu rất quan trọng đối với nhu cầu sản xuất trong nước chiếm 70% nguyên liệu cho sản xuất gang thép Mục đích quan trọng của công tác quản lý nhập khẩu phế liệu là hạn chế tối đa những ảnh hưởng xấu tới môi trường, bảo vệ môi trường trong sạch. Tác dụng to lớn của quản lý nhập khẩu phế liệu là thực hiện tốt các quy trình nhằm đạt được các tiêu chuẩn chất lượng môi trường đặc biệt là môi trường không khí, môi trường nước và bảo vệ sức khỏe tốt cho mọi người Đối với môi trường không khí: hoạt động nhập khẩu phế liệu luôn gây ra ô nhiễm tiếng ồn, các khí thải nhiên liệu, bụi và khối vào không khí. Nếu không có sự quản lý cùng với sự kém hiểu biết và nhận thức của các cá nhân thì môi trường không khí sẽ ngày càng bị hủy hoại. Tại các cơ sở sản xuất các nhà quản lý luôn đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế sự gia tăng nồng độ các khí CO,CO2, H2S, NH4, SO2,, NO, NH …và hơi oxit kim loại do các tạp chất như các loại sơn, dầu bám dính vào phế liệu. Mục đích của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh luôn tìm mọi cách để tối đa hóa lợi nhuận, giảm thiểu chi phí do đó nếu không có các quy định, chế tài của nhà nước về bảo vệ môi trường thì các hành vi xâm hại và hủy hoại môi trường sẽ ngày càng nghiêm trọng( Từ cách thức đơn giản là tuyên truyền, giáo dục cho đến xử phạt vi phạm và nặng nề hơn nữa là tước bỏ giấy phép kinh doanh, buộc nhà máy đóng cửa) tạo cho các chủ thể tham gia nhập khẩu xử dụng phế liệu có ý thức và trách nhiệm thực hiện tốt các quy định pháp luật. Đối với môi trường nước: đặc biệt quan tâm tới nước thải vệ sinh của các sơ sở sản xuất. Nhiều địa điểm sản xuất không có hệ thống xử lý và thoát nước riêng gây nên hiện tượng ngập, úng, khi thải ra một lượng nước thải lớn hoặc khi mưa. Các cơ quan chủ quản yêu cầu các nhà máy chỉ được nhập khẩu phế liệu về làm nguyên liệu sản xuất khi đã xây dựng được đầy đủ hệ thống lọc, tiêu thoát nước. Nhờ có việc thường xuyên kiểm tra, giám sát thì các chất thải độc hại mới hạn chế thải lẫn trong nước ra môi trường. Đối với các ngành công nghiệp sản xuất hoặc chế tạo gang thép, hàn, đúc các kim loại thường lẫn các hóa chất trong chất thải. Các chất cặn chứa clorobezen, clorophenol, oxít chì sulfat chì, hyđroxit kim loại, chất thải có chứa các monome không hoạt tính như vinylorit monome, styren monome luôn vượt quá nồng độ cho phép. Ô nhiễm nước có tính lan tỏa rộng. Từ hiện tượng ô nhiễm nước thải do một nhà máy gây ra sẽ làm ô nhiễm các đường ống dẫn đổ ra các sông và thậm chí làm ô nhiễm cả vùng biển. Ô nhiễm nước có tính chất đặc biệt nguy hiểm. Nó liên quan tới nhiều vấn đề : nuôi trồng thủy sản, nước sinh hoạt và có thể còn thẩm thấu vào các vùng đất nong nghiệp.. Khi nước có lẫn hóa chất như chì, hyđroxit kim loại…làm cho các sinh vật dưới nước : tôm, cua, cá và các thức ăn sinh vật sẽ bị chết hoặc chậm phát triển. Xét về mặt kinh tế, thiệt hại về chi phí, giá thành và lợi nhuận người nuôi trồng, đánh bắt phải gánh chịu làm ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế ngành nông lâm thủy sản nói riêng và đến toàn nền kinh tế nói chung. Hiện tượng tôm, cá bị chết hàng loạt xảy ra ở nhiều nơi gây tổn thất nặng nề. Bên cạnh đó thì nước thải có chứa hóa chất độc hại thấm vào các mạch nước ngầm làm ngộ độc, ung thư và các bệnh nguy hiểm khác cho dân cư. Hiện nay ở Việt Nam chỉ có nhà máy xử lý nước sinh hoạt ở các thành phố lớn còn tại các vùng nông thồn thì nước sinh hoạt chủ yếu lấy từ các mạch nước ngầm. Cho nên các bênh dịch tả, uốn ván, ung thư.. rất nhiều người mắc phải trong các dịp hè. Đất nông nghiệp: là tư liệu sản xuất chủ yếu của các hộ nông dân. Thu nhập của cả gia đình chỉ trông ngóng vào mùa thu hoạch. Tuy nhiên, năng suất các cây trồng phụ thuộc vào chất dinh dưỡng và độ màu mỡ của đất. Các nhà máy, khu công nghiệp thường xử dụng ở vùng nông thôn, gần cánh đồng doa đó chất thải của nhà máy dễ làm nhiễm phèn, nhiễm chua và lẫn các kim loại nặng gây mất mùa thường xuyên. Như vậy, hậu quả của chất thải ô nhiễm không phải những doanh nghiệp sản xuất trực tiếp gánh chịu mà nó tạo ra hiệu ứng ngoại lai tiêu cực cho các cư dân xung quanh. Quản lý nhập khẩu phế liệu trong đó công tác kiểm tra, giám sát việc sử dụng phế liệu như thế nào và xử lý các chất thải công nghiệp có tầm quan trọng to lớn về cả mặt kinh tế và đời sống xã hội. Hạn chế khẳ năng gây ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường là góp phần xây dựng một xã hội phát triển theo hướng bền vững tức xã hội mà chú trọng, quan tâm đúng mức tới cả ba vấn đề : kinh tế - xã hội - môi trường. Nếu quản lý môi trường tốt nó sẽ có tác dụng thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển và ngược lại. Do tình hình khan hiếm nguyên liệu và nhu cầu sử dụng tăng lên không ngừng thì việc nhập khẩu phế liệu là hết sức cần thiết. Vậy thì, quản lý chúng sao cho đảm bảo về mặt môi trường là vấn đề cấp thiết, có tính thời sự hiện nay. III.2. Quản lý nhập khẩu phế liệu mang lại lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội III.2.1 Lợi ích kinh tế Một trong nhiều điểm yếu nhất ở hiện tại và tương lai các ngành công nghiệp nói chung là thiếu nguồn cung cấp nguyên liệu sản xuất tại chỗ. Đặc biệt là ngành công nghiệp thép với mức tăng trưởng bình quân 25% năm thì nhu cầu sử dụng nguyên liệu rất lớn. Mặc dụ ngành địa chất, khoáng sản đã phát hiện được hơn 200 điểm quặng sắt trong đó có 91 mỏ và điểm quặng có trữ lượng đáng kể với trữ lượng khoảng 1,2 tỷ tấn nhưng khả năng khai thác than hạn chế. Trong khi đó các phế liệu mà chúng ta nhập về giá thành rẻ, tiện cho việc sản xuất. Các phế liệu nhập khẩu từ nước ngoài về Việt Nam dều qua đường thủy nên chi phí vận chuyển không cao như sử dụng các phương tiện khác. Khối lượng phế liệu nhập khẩu về mỗi lần là rất nhiều nên đã tiết kịêm được khá nhiều cước phí. Khi tính chi phí hoặc giá thành sản phẩm ( ví dụ tính giá phối thép ) thì sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường so với các doanh nghiệp không phải sử dụng nguyên liệu từ phế liệu nhập khẩu hoặc các công ty nước ngoài và từ đó làm tăng lợi nhuận cho công ty. Đó là mục đích mà tất cả các cơ sở sản xuất đều mong đợi. Các phế liệu khi nhập khẩu vào Việt Nam thường có chứa lẫn một số hóa chất khi sử dụng làm nguyên liệu nếu không được xử lý các chất gây ô nhiễm và độc hại thì sẽ gây ra thiệt hại lớn về môi trường._. .Các cơ sở sản xuất khi cải tiến về quy trình công nghệ sẽ có ý nghĩa quyết định đến khối lượng và thành phần chất thải công nghiệp tạo ra. Đầu tư vào quy trình công nghệ đòi hỏi phải có vốn lớn nhưng khi đi vào hoạt động thì sẽ không bị thất thoát, hao tốn nguyên vật liệu, chất thải tạo ra ít sẽ giảm được chi phí xử lý. Do vậy, phế liệu sử dụng cho các nhà máy được đầu tư với quy trình thiết bị công nghệ hiện đại là rất lợi về kinh tế. Phế liệu là kim loại và hợp kim được sử dụng cho các công ty cơ khí, các nhà máy sản xuất gang thép, chế tạo thiết bị điện. Kinh tế phát triển song song với ngành công nghiệp xây dựng, nhu cầu về sắt thép và các thiết bị điện tăng nhanh. Nguyên liệu trong nước không đủ đáp ứng cho hoạt động sản xuất. Nếu không nhập khẩu phế liệu từ nước ngoài sẽ dẫn đến một loạt hậu quả: công nghiệp sản xuất một số ngành bị ngừng hoạt động, nhà máy đóng cửa, các công trình xây dựng bị bỏ dở do không đủ vật liệu…từ đó dẫn đến sự trì trệ, lạc hậu trong phát triển ngành công nghiệp nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung. Khi nhập khẩu phế liệu không chỉ có bản thân các doanh nghiệp được lợi về kinh tế mà ngân sách nhà nước cũng được bổ sung. Phế liệu nhập khẩu thường xuyên thì thuế suất thu được nhiều làm tăng kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế. Nhờ vậy đã làm tăng thêm nguồn thu cho ngân quỹ quốc gia, góp phần cải thiện cán cân thanh toán và tăng thêm chi tiêu cho Chính phủ III.2.2.Lợi ích xã hội. Phế liệu nhập khẩu vào Việt Nam muốn là phế liệu có chất lượng tốt thì chúng ta phải có chuyên gia đi thăm dò, khảo sát tận nguồn gốc hàng hóa.Sự trao đổi, thỏa thuận giữa đại diện của bên nhập khẩu với các đối tác tốt sẽ góp phần tăng cường, mở rộng quan hệ ngoại thương đối với các nước xuất khẩu. Khi hai bên đã có nền móng của mối quan hệ kinh doanh hợp tác thì mọi vấn đề về sau hoặc các vấn đề có liên quan sẽ dễ dàng giải quyết hơn. Chúng ta thường nhập khẩu phế liệu từ các nước có nguồn nguyên liệu, khoáng sản dồi dào, phong phú. Họ có sự tương đông với Việt Nam về đặc điểm giàu tài nguyên. Nếu được tìm hiểu kỹ, chúng ta sẽ học hỏi được nhiều kinh nghiệm quý báu trong vấn đề khai thác và sử dụng tài nguyên. Bên cạnh đó thì vấn đề kinh tế và chính trị luôn có sự gắn kết với nhau chặt chẽ. Hai bên có môi quan hệ tốt đẹp về kinh tế cũng sẽ dễ thân thiện, đoàn kết với nhau hơn về chính trị. Đó là điểm quan trọng để chúng ta cần tăng cường mở rộng quan hệ kinh tế. Xét trong phạm vi quốc gia, nhập khẩu phế liệu như một mắt xích quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành nghề. Hàng hóa được nhập về qua đường biển làm cho ngành vận tải đường biển phát triển, các phương tiện chuyên chở đường bộ, đường sông cũng tấp nập hơn.Từ đó, tổng giá trị sản xuất của ngành Giao thông vận tải tăng lên. Khi có đủ nguyên liệu cho sản xuất các nhà máy cơ khí, công ty chế tạo máy, sản xuất gang thép, công ty nhựa và đúc thủy tinh có thể hoạt động hết công suất. Nhờ vậy, thúc đẩy hàng hóa phát triển manh mẽ. Ngoài ra, công nghiệp phát triển đã tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho nhiều người lao động.Thất nghiệp là một vấn nan giải khiến nhiều nhà hoạch định chính sách đau đầu, vắt óc tìm biện pháp giải quyết. Cung cấp việc làm cho người dân luôn là một trong những vấn đề được Nhà nước ưu tiên, khuyến khích đầu tư. Tựu chung lại, xét theo tình hình thực tế nước ta hiện nay thì nhập khẩu phế liệu là một phương hướng giải quyết tốt. Tuy nhiên, công tác quản lý phải được đặc biệt quan tâm bởi lẽ nó liên quan tới cả lợi ích kinh tế và lợi ích cho toàn xã hội. Cơ chế quản lý phù hợp là động lực lớn để thúc đẩy xã hội phát triển. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHẬP KHẨU CÁC LOẠI PHẾ LIỆU GẮN VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN VỪA QUA I.CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐÃ BAN HÀNH ĐỂ QUẢN LÝ NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU NHẰM BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG. Nhờ những đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đạt được, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những vấn đề về môi trường. Khi nền văn minh nhân loại phát triển, các đô thị mọc lên, được mở rộng một cách nhanh chóng kéo theo sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp quốc gia. Các chất thải công nghiệp từ các nhà máy, phân xưởng sản xuất sẽ gây ra sự ô nhiễm nặng nề đối với môi trường và ngày càng trở lên vấn đề cấp bách mang tính chất xã hội và chính trị của cộng đồng. Việc quản lý hoạt động nhập khẩu phế liệu phục vụ sản xuất trong nước là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các nhà quản lý môi trường. Bài toán đặt ra cho các nhà quản lý công tác này phải đạt được 2 mục tiêu: Đáp ứng được nhu cầu về nguyên liệu phục vụ cho sản xuất trong nước. Ngăn cản các hoạt động đưa chất thải vào Việt Nam. Hiện nay đã có nhiều văn bản, quy định pháp luật có liên quan đến công tác nhập khẩu phế liệu. I.1.Văn bản của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội Luật bảo vệ môi trường ban hành ngày 27 tháng 12 năm 1993 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 10 tháng 1 năm 1994. Khoản 2 Điều 2: "Chất thải là chất được loại ra trong sinh hoạt trong quá trình sản xuất hoặc các hoạt động khác. Chất thải có thể ở dạng rắn, khí, lỏng hoặc các dạng khác. Điều 6: Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân. Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường, có quyền và trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Điều 16: Tổ chức, cá nhân trong sản xuất, kinh doanh và các hoạt động khác phải thực hiện các biện pháp vệ sinh môi trường, phải có thiết bị kỹ thuật để xử lý chất thải, bảo đảm tiêu chuẩn môi trường phòng, chống suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường. Chính phủ quy định danh mục tiêu chuẩn môi trường, phân cấp ban hành và kiểm tra việc thực hiện các tiêu chuẩn đó. Điều 19: Việc nhập khẩu, xuất khẩu công nghệ, máy móc thiết bị, các chế phẩm sinh học hoặc hoá học, các chất độc hại, chất phóng xạ, các loài động vật, thực vật, nguồn gen, vi sinh vật có liên quan tới bảo vệ môi trường phải được phép của cơ quan quản lý ngành hữu quan và cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường. Chính phủ quy định danh mục đối với từng lĩnh vực, từng loại nói tại điều này; Điều 26: Việc đặt các địa điểm tập trung, bĩa chứa, nới xử lý, vận chuyển rác của chất gây ô nhiễm môi trường phải tuân theo quy định của cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường và chính quyền địa phương. Đối với nước thải, rác thải có chất chứa độc hại, nguồn gây dịch bệnh, chất dễ cháy, dễ nổ, các chất thải không phân huỷ được phải có biện pháp xử lý trước khi thải. Cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường quy định danh mục các loại nước thải, rác thải nói ở khoản này và giám sát quá trình xử lý nước thải trước khi thải. Khoản 6 Điều 29: "Nghiêm cấm việc nhập khẩu, xuất khẩu chất thải" Điều 37: Quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường. Khoản 1: Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường. Khoản 5: Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và cơ sở sản xuất kinh doanh. Khoản 8: Đào tạo cán bộ khoa học và quản lý môi trường, giáo dục tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về bảo vệ môi trường. I.2. Văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ I.2.1. Nghị định số 175 - CP ngày 18-10-1994 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường. Điều 8: Các tổ chức sản xuất, kinh doanh có trách nhiệm nghiêm chính thực hiện các quy định của pháp luật về: 1.Đánh giá tác động môi trường, bảo đảm thực hiện đúng các tiêu chuẩn môi trường, phòng chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường. 2.Đóng góp tài chính bảo vệ môi trường, bồi thường thiệt hại do có hành vi gây tổn hại môi trường theo quy định của pháp luật. 3.Cung cấp đầy đủ tài liệu và tạo điều kiện cho các đoàn kiểm tra, đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên khi thi hành công vụ, chấp hành quy định của đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên. 4.Tuyên truyền, giáo dục để nâng cao ý thức của cán bộ, công nhân trong việc bảo vệ môi trường, định kỳ báo cáo với cơ quan quản lý Nhà nước về việc bảo vệ môi trường ở địa phương, về hiện trạng môi trường tại nơi hoạt động của mình. Điều 22: Các tổ chức, cá nhân có các hoạt động liên quan đến môi trường phải tuân theo các tiêu chuẩn môi trường Danh mục các loại tiêu chuẩn môi trường Việt Nam bao gồm: - Tiêu chuẩn môi trường đối với bảo vệ môi trường nước. - Tiêu chuẩn môi trường đối với bảo vệ môi trường không khí. - Tiêu chuẩn môi trường trong lĩnh vực tiếng ồn. - Tiêu chuẩn môi trường đối với bảo vệ biển - Tiêu chuẩn môi trường liên quan đến việc vận chuyển, tàng trữ, sử dụng các chất độc hại, phóng xạ. -Tiêu chuẩn môi trường trong lĩnh vực xuất khẩu, nhập khẩu. Điều 28: Nghiêm cấm việc xuất khẩu, nhập khẩu chất thải có chứa độc tố hay các vi trùng gây bệnh, có thể gây ô nhiễm môi trường. Bộ khoa học công nghệ và môi trường hướng dẫn các ngành, các địa phương lập danh mục các nguyên liệu thứ phẩm, các phế liệu bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh môi trường được phép nhập từ nước ngoài vào làm nguyên liệu sản xuất để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. I.2.2. Nghị định số 26 - CP, ngày 26-4-1996 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường. Điều 1: Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính về việc bảo vệ môi trường Khoản 1: Mọi hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường (dưới đây gọi là vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính. Điều 11: Vi phạm về nhập khẩu, xuất khẩu chất thải Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định về nhập khẩu, xuất khẩu chất thải. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng trường hợp tái phạm. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng trường hợp có nhiều tình tiết tăng nặng. Hình thức xử phạt bổ xung và biện pháp khác đối với các hành vi vi phạm tại Điều này. Buộc tiêu huỷ hoặc tái xuất chất thải, bồi thường thiệt hại và chấm dứt vi phạm. I.2.3. Chỉ thị số 199 - TTg ngày 03-4-1997 của Thủ tướng Chính phủ về những biện pháp cấp bách trong công tác quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp. Các bộ, ngành, địa phương có chức năng quản lý liên quan đối với chất thải cần kiểm điểm trách nhiệm của mình trong việc chỉ đạo về quản lý và đề ra các chương trình, các biện pháp thiết thực đối với công tác quản lý chất thải, giữ gìn môi trường trong sạch. Cần chú ý tới công tác quản lý việc xử lý, tiêu huỷ chất thải. - Tiến hành việc quy hoạch xây dựng các bãi chôn chất thải theo các tiêu chuẩn vệ sinh môi trường và đáp ứng được yêu cầu chôn lấp chất thải của địa phương. - áp dụng các công nghệ phù hợp để xử lý hoặc tiêu huỷ chất thải phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, trước hết là chất thải công nghiệp độc hại không gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. - Tiến hành các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường do các bãi chôn lấp chất thải cũ gây ra. I.2.4. Quyết định số 46/2001/QĐ - TTg ngày 04 tháng 4 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá thời ký 2001-2005 Điều 9: Về quản lý phế liệu, phế thải Giao Bộ trưởng Bộ khoa học công nghệ và môi trường căn cứ phế liệu hiện hành quy định và công bố danh mục phế liệu, phế thải cấm nhập khẩu. điều kiện và tiêu chuẩn các loại phế liệu, phế thải sử dụng làm nguên liệu cho sản xuất trong nước được phép nhập khẩu để làm cơ sở cho doanh nghiệp làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu. I.2.5. Quyết định số 134/2001/QĐ - TTg ngày 10 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phế thải ngành Thép tới năm 2010. Điều 1: Khoản d: Về phế thải nguồn nguyên liệu Trong kế hoạch 5 năm từ 2001-2005 tập trung nghiên cứu để có kết luận chắc chắn và khoa học vệ trữ lượng thương mại, khả năng khai thác và sử dụng các nguồn quặng sắt trong nước, trọng tâm là 2 mỏ quặng sắt Quý Xa và Thạch Khê. Khai thác tối đa các mỏ quặng sắt nhỏ khác để sản xuất gang, tận thu nguồn thép phế liệu trong nước, đồng thời tìm nguồn nhập khẩu thép phế liệu ổn định để sản xuất phôi thép bằng lò điện đạt hiệu quả. I.2.6. Nghị định 91/2002/NĐ - CP ngày 11 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ qui định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ tài nguyên và môi trường. Theo nghị định nà thì chức năng quản lý môi trường đối với hoạt động nhập khẩu phế liệu thuộc về Bộ Tài nguyên và Môi trường . I.3. Văn bản liên tịch Thông tư liên bộ số 2880/KCM - TM ngày 19 tháng 12 năm 1996 của Bộ khoa học công nghệ và môi trường - Bộ thương mại quy định tạm thời đối với việc nhập khẩu các phế liệu. Chương I: Những quy định chung Chỉ nhập khẩu một số phế liệu thiết yếu phục vụ trực tiếp cho các yêu cầu bức xúc của sản xuất: không nhập phế liệu để mua đi bán lại hoặc sử dụng cho các mục tiêu khác. Nghiêm cấm mọi hình thức nhập khẩu chất thải vào Việt Nam núp dưới danh nghĩa "nhập phế liệu". Tạp chất là những chất không cùng tính năng của phế liệu mà có lẫn trong phế liệu. Tỉ lệ tạp chất không quá 3%. Tạp chất không được chứa các chất cấm nhập. Trong trường hợp tạp chất lẫn trong phế liệu thì các chất thuộc diện khi nhập khẩu phải xin phép về môi trường, khi nhập phải làm các thủ tục xin phép về môi trường. Mẫu đơn xin phép nhập khẩu phế liệu (Theo mẫu sau…) I.4. Các văn bản của Bộ KHCNMT I.4.1. Quyết định số 10/2001/QĐ - BKHCNMT ngày 11 tháng 5 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường về việc ban hành tạm thời danh mục các loại phế liệu đã được xử lý thành nguyên liệu được phép nhập khẩu. I.4.2. Quyết định số 65/2001/QĐ - BKHCNMT ngày 11 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường về việc ban hành danh mục các loại phế liệu đã được xử lý đảm bảo yêu cầu về môi trường được phép nhập khẩu để làm nguyên liệu. Điều 2: Tổ chức, cá nhân chỉ được nhập khẩu các loại phế liệu đã được xử lý đảm bảo yêu cầu về môi trường thuộc danh mục ban hành kèm theo Quyết định này, đồng thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật để đảm bảo: Phế liệu nhập khẩu không chứa hoá chất độc, chất phóng xạ, chất dễ cháy, dễ nổ, hợp chất hữu cơ có nguồn gốc động, thực vật có nguy co gây dịch bệnh, chất thải y tế và các loại hàng hoá không được phép nhập khẩu theo quy định của Nhà nước. phế liệu nhập khẩu đã được loại bỏ tạp chất, tuy nhiên có thể còn bám dính một lượng không đáng kể mà khó có thể loại bỏ được trong quá trình xử lý, phân loại nhưng khôg gây ô nhiễm môi trường. Phế liệu nhập khẩu chỉ được sử dụng để làm nguyên liệu cho sản xuất Điều 3: Cơ sở sản xuất sử dụng phế liệu nhập khẩu để làm nguyên liệu sản xuất phải chịu trách nhiệm không để phế liệu gây ra ô nhiễm môi trường, phải xử lý các loại chất thải đạt tiêu chuẩn quy định. Điều 4: Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường địa phương chịu trách nhiệm : Phối hợp giám sát viẹc nhập khẩu phế liệu khi có yêu cầu của cơ quan Hải quan. Phối hợp với các cơ quan có liên quan kiểm tra, giám sát để các phế liệu nhập khẩu được sử dụng đúng mục đích và phù hợp với các quy định của pháp luật. Danh mục các loại phế liệu đã đươc xử lý đảm bảo yêu cầu về môi trường được phép nhập khẩu để làm nguyên liệu sản xuất. Các dạng đầu mẩu, đầu tấm, mảnh vụn bằng kim loại hoặc hợp kim còn lại sau khi gia cong, chưa qua sử dụng. Thép đường ray, thép tà vẹt, thép tấm, thép tròn, thép hình, thép ống, dây và lưới thép các loại đã qua sử dụng. Gang, thép thu hồi từ việc cắt phá, tháo dỡ các công trình xây đựng dã qua sử dụng như: cầu, tháp, nhà, xưởng. Gang, thép thu hồi từ việc cắt phá, tháo dỡ các phương tiện vận tải, máy móc và các đồ vật bằng gang, thép khác đã qua sử dụng. Đồng, hợp kim đồng ở dạng tấm, mảnh, thành, ống hoặc các dạng khác thu hồi từ việc cắt phá, tháo dỡ các máy móc, thiết bị, đồ vật đã qua sử dụng. Nhôm, hợp kim nhôm ở dạng tấm, mảnh, thanh, ống hoặc các dạng khác thu hồi từ việc cắt phá, tháo dỡ các máy móc thiết bị, đồ vật đã qua sử dụng. Kẽm, hợp kim kẽm ở dạng tấm, mảnh, thanh, ống hoặc các dạng khác thu hồi từ việc cắt phá, tháo dỡ các máy móc, thiết bị, đồ vật đã qua sử dụng. Niken, hợp kim niken ở dạng tấm, mảnh, thanh, ống hoặc các dạng khác thu hồi từ việc cắt phá, tháo dỡ các máy móc, thiết bị, đồ vật đã qua sử dụng. Dây điện, cáp điện bằng đồng hoặc nhôm đã qua sử dụng, đã loại bỏ vỏ bọc cách điện bằng nhựa, cao su hoặc bằng các loại vật liệu cách điện khác. Dây điện từ đã qua sử dụng (dây đồng có lớp bọc cách điện bằng sơn men, sợi bông hoặc giấy). Phế liệu giấy, phế liệu các tông. Các dạng mảnh vụ, đầu mẩu, đầu tấm, sợi bằng nhựa còn lại sau quá trình sản xuất, chưa qua sử dụng. I.4.3. Quyết định số 03/2004/QĐ - BTNMT ngày 02 tháng 4 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Quy định về bảo vệ môi trường đối với phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất. Điều 5: Các loại phế liệu được phép nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất bao gồm: Nhóm kim loại và hợp kim Nhóm giấy và các tông Nhóm thuỷ tinh a, Nguyên liệu thứ phẩm b, Nguyên liệu vụn c, Vật liệu tận dụng: các loại thuỷ tinh thu hồi từ sản phẩm đã qua sử dụng. Nhóm nhựa Điều 6: Điều kiện đối với phế liệu nhập khẩu phế liệu trước khi nhập khẩu phải đảm bảo các điều kiện sau đây: Không lẫn những vật liệu, sản phẩm, hàng hoá không được phép nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập. Không chứa các tạp chất nguy hại Không lẫn chất thải, trừ tạp chát không nguy hại còn bám dính hoặc bị rời ra trong quá trình bốc xếp, vận chuyển. Điều 7: điều kiện đối với tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu Chỉ những tổ chức, cá nhân có đủ các điều kiện sau đây mới được phép nhập khẩu hoặc uỷ thác nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất: Có kho, bãi dành riêng cho việc tập kết phế liệu nhập khẩu đảm bảo các điều kiện về môi trường trong quá trình lưu giữ phế liệu nhập khẩu. Có đủ năng lực xử lý các tạp chất đi kèm với phế liệu nhập khẩu Điều 8: Tráhc nhiệm của tổ chức, cá nhân nhập khẩu và sử dụng phế liệu nhập khẩu. Tổ chức, cá nhân nhập khẩu và sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất có trách nhiệm: Chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định của pháp luật khác có liên quan. Chỉ nhập khẩu phế liệu phù hợp với chủng loại nguyên liệu sản xuất của cơ sở mình. Trong thời hạn ít nhất là 5 ngày làm việc trước khi tiến hành bốc dỡ, vận chuyển phế liệu nhập khẩu từ cửa khẩu về kho, bãi tập kết phải thông báo bằng văn bản cho Sở Tài nguyên và Môi trường ở địa phương có cơ sở sản xuất hoặc kho, bãi chứa phế liệu nhập khẩu về: Chủng loại, số lượng, trọng lượng phế liệu nhập khẩu, địa điểm cửa khẩu nhập phế liệu, tuyến vận chuyển phế liệu, địa điểm kho, bãi tập kết phế liệu, địa điểm đưa phế liệu vào sản xuất. Tổ chức việc xử lý tạp chất sau khi loại ra khỏi phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất, không được cho, bán tạp chất đó. I.ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU TỚI MÔI TRƯỜNG II.1. Hoạt động nhập khẩu phế liệu của Việt Nam trong những năm qua Nguồn nguyên liệu là mối quan tâm lớn khi nghiên cứu xây dựng mới nhà máy, khu công nghiêpẹ. Bởi vì nguồn nguyên liệu trong nước rất hạn chế và khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất còn khiêm tốn. Chúng ta chưa có đầy đủ máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại phụ vụ cho việc thăm dò, khai thác và sử dụng các mỏ tài nguyên khoáng sản. Hơn nữa, giá thành của các nguyên liệu lại cao hơn nhập khẩu. Hàng thập kỷ nay chúng ta đang nhập khẩu phế liệu của nhiều nước, chủ yếu phế liệu là nhóm kim loại và hợp kim trong đó sắt, thép chiếm tỉ trọng lớn. Phế liệu nhập khẩu là nguồn nguyên liệu chủ yếu và lâu dài cho các ngành công nghiệp sản xuất. Phần nhiều đó là máy móc thiết bị, nhà xưởng lỗi thời và các phương tiện vận tải đã hết niên hạn sử dụng. Thép phế liệu nhập khẩu từ nguồn này có chất lượng cao vì lẫn ít tạp chất, khối lượng riêng của đồng lớn, chi phí chuẩn bị liệu thấp , làm giảm nhiều thời gian nấu luyện và chi phí sản xuất. Phế liệu hiện nay được nhập khẩu từ Cộng hoà liên bang Nga, Ukraine, Nhật Bản,trong đó thị trường Nhật Bản chiếm tỷ trọng 50%, Nga 30%, các nước khác 20%. Cộng hoà liên bang Nga, Ukraine đều là nước giàu tài nguyên khoáng sản. Hơn nữa, ngành công nghiệp nặng của Nga phát triển từ rất sớm, máy móc thiết bị đã có từ lâu. Các phế liệu từ ngành công nghiệp nặng nhiều, đó là nguồn hàng lớn và lâu dài của chúng ta. Tuy nhiên, quãng đường chuyên trở từ nước Nga về Việt Nam là quá dài, chi phí vận chuyển lớn. Trong khi đó công nghệ Nhật Bản có bước phát triển thần kì, họ luôn luôn phát minh, sáng tạo ra nhiều máy móc thiết bị mới, nên các thiết bị cũ kĩ lạc hậu họ bỏ đi và tháo dỡ bỏ đem bán cho Việt Nam như một dạng phế liệu. Nhật Bản và Việt Nam cùng thuộc một châu lục nên hàng hó được nhập từ Nhật Bản sẽ giảm được nhiều chi phí vận chuyển. Công ty KAWASHAKI Nhật Bản là doanh nghiệp kinh doanh thép phế liệu lớn với các doanh nghiệp Việt Nam từ 1,2 triệu tấn thép phế liệu đã được chọn lọc vf trên 1 triệu tấn thép phế liệu chưa qua chọn lọc. Ví dụ, nhà máy luyện phôi thép công suất 300.000 tấn/ năm tại xã An Hồng huyện An Dương thành phố Hải Phòng sử dụng 70% nguyên liệu là thép phế liệu nhập khẩu. Phía sau nhà máy đã có cảng sông cho tàu 1.500 tấn nhập cảng. Nguồn thép phế liệu nhập khẩu hàng tháng trung bình là 15.000 tấn. Công ty sẽ liên kết với một số doanh nghiệp cùng ngành luyện thép phế là diện hồ quang nhập khẩu liên tục thép phế liệu, vận tải bằng các tàu biển tải trọng 20-30 nghìn tấn trở lên, tập kết tại Cảng Hải Phòng và Cảng Đình Vũ, sau đó vận tải về nhà máy bằng các xà lan 300-500 tấn. Mỗi tháng bình quan có 2 tàu thép phế cập cảng Phế liệu nhập khẩu vào Việt Nam hầu hết không phải là phế liệu sạch, chúng vẫn còn bám dính một lượng tạp chất không đáng kể mà khó có thể loại bỏ được trong quá trình xử lý, phân loại. Trên thực tế, khi qua rất nhiều công đoạn vận chuyển, bốc, xếp, dỡ lên phương tiện vận tải từ nới xuất khẩu đến nơi nhập khẩu tạp chất ban đầu là "bám dính", sau đó có thẻ bị bong ra và rơi xuống sàn tàu, bãi đổ phế liệu… Bên cạnh đó thì thuật ngữ "không đáng kể" không có giới hạn rõ ràng, là khe hở để các doanh nghiệp lợi dụng II.2. TÁC ĐỘNG CỦA NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU TỚI MÔI TRƯỜNG II.2.1. Đánh giá môi trường tại cảng nhập. Phế liệu nhập khẩu vào Việt Nam với khối lượng lớn, quãng đường vận chuyển dài. Xét về lợi ích kinh tế cũng như sự an toàn, hiệu quả khi vận chuyển thì tàu thuỷ là phương tiện có nhiều ưu thế hơn cả. ở Việt Nam có 3 cảng lớn đón nhận nhiều phế liệu từ nước ngoài nhập vào đó là cảng Hải Phòng, Sài Gòn và Đà Nẵng trong đó đáng kể đến là cảng Hải Phòng. Các tạp chất bám dính vào phế liệu khi bốc xếp, chuyển tàu xe bị bong ra và rơi xuống sàn tàu, xuống biển. Nhiều tàu, thuyền không bảo quản kỹ lưỡng để nước biển tràn vào làm ngập đống phế liệu cũng tạo ra một lượng hoá chất không tốt vào môi trường biển. Hơn nữa,, chúng cũng thải vào biển dầu mỡ, khi tàu thuyền hoạt động. Các khu vực cửa sông có cảng đang bị ô nhiễm nặng. Theo điều tra, khảo sát gần đây nhất tiến hành tại vùng biển Hải Phòng cho kết quả như sau: Nồng độ Oxy hoà tan (DO): DO ở mức trung bình khoảng 3,3-10,9mg/l vào mùa kiệt và khoảng 0,1-6,1 mg/l vào mùa lũ. Tại bến Bình, Máy Chai DO giảm nhanh so với khu vực lân cận. Tại ngưỡng cửa sông DO cao hơn hẳn phía trong, khoảng 8,6-10,9 mg/l. Nhu cầu Oxy sinh hoá (BOD): Nhìn chung khu vực biển chưa bị ô nhiễm hữu cơ. Nồng độ BOD5 thường nhỏ, khoảng từ 1-3 mg/l, trừ thời gian tháng 6 đầu mùa lũ BOD5 khá cao, có giá trị 13,6-31 mg/l, sau đó thường khoảng 15-25 mg/l. Các chỉ số vi trung học (Colofrom): Qua các đợt khảo sat đều thấy vượt qua tieu chuẩn cho phép. Nồng độ oxy hoà tan thấp tạo điều kiện cho vi khuẩn yếm khí hoạt động, do vậy nồng độ nitrit (NO2) cao gây ô nhiễm môi trường nước. Bảng 1: Đánh giá mức độ ô nhiễm của nước sống Cấm Hải Phòng STT Thống số xác định Đơn vị Giá trị xác định TCVN 5942-1995 1 PH Mg/l 7,4 5,5-9 2 8S Mg/l 340 80 3 COD Mg/l 3,5 <35 4 BOD5 Mg/l 1,9 5 5 NO3 Mg/l 3,91 15 6 NO2 Mg/l 0,1 0,005 7 NH4+ Mg/l 0,05 1 8 Kẽm Mg/l 0,0085 2 9 Cadmi Mg/l 0,0001 0,02 10 Chì Mg/l 0,0038 0,1 11 Đồng Mg/l 0,0117 0,1 12 Mangan Mg/l 0,009 0,8 13 Sắt Mg/l 0,65 2 14 Dầu, mỡ Mg/l 0,25 0,3 Nguồn: Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án xây dựng nhà máy luyện phôi thép. Từ số liệu trên cho thấy hiện trạng chất lượng nước sông Cấm bị ô nhiễm nặng về chất rắn lơ lửng, dầu mỡ, Mangan, sắt, Cadmi, không bị ô nhiễm về độ PH, BOD, COD, DO, chì. II.2.2. Vận chuyển phế liệu làm ô nhiễm môi trường Khi tàu cập cảng, phế liệu sẽ được chuyên chở bằng ô tô về các khu công nghiệp, nhà máy sản xuất. Trên các tuyến đường vận chuyền, các phương tiện này đã gây ra bụi và ồn, khí thải CO2, SO2, NOx, hơi xăng dầu, hơi chì. Thực tế đây là nguồn chất thải thấp rất khó kiểm soát. Hơn nữa, các phương tiện vận tải của Việt Nam hết sức cũ kỹ, lạc hậu cũng là nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm môi trường. Loại xe, tải lượng xe, chất lượng và vận tốc xe quyết định tới tải lượng chất thải vào không khí. Bảng 2: Chất thải của xe tải lớn hơn 3,5 tấn sản xuất năm 1985-1992 khi chạy trên 1000 km Kg/tấn T8S SO2 NOx CD VOC Chạy trong nội thành 0,9 4,29S 1,8 6,0 2,6 Chạy ở ngoại thành 0,9 4,15S 14,8 2,9 0,8 Trong đó: S là nồng độ lưu huỳnh có trong xăng dầu. Nguồn: Tổ chức y tế thế giới - Assessment of sources of Air, Water and Land Pollution Hiện nay, chúng ta chưa có xe chuyên dụng để chuyên chở mà vẫn dùng xe tải. Bụi, khói do loại xe này tạo ra lớn. Các phế liệu không được phân loại, đóng thùng riêng dễ gây các phản ứng hoá học, tạo ra các khí thải độc hại. Nhưng nhìn chung thì khâu vận chuyển cũng không gây ra nhiều tác động xấu tới môi trường. II.2.3. Ô nhiễm tại nơi sản xuất Hậu quả của hoá chất bám dính vào phế liệu, nhập những phế liệu không đạt tiêu chuẩn chất lượng môi trường sẽ tác động trực tiếp tới địa điẻm đặt trụ sở sản xuất. Tại miền Bắc có nhiều nhà máy thép đã sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu cho sản xuất: Nhà máy Gang thép Thái Nguyên, Nam Đô, Vinausteel, Vinapipe, Posco, SSE, Nhà máy thép Quán Toan - Hải Phòng. ở miền Trung có nhà máy thép Đà Nẵng, nhà máy luyện cán thép Phú Mỹ. ở Miền Nam có Nhà máy thép Biên Hoà, Thủ Đức, Nhà Bè. Kết quả đo đạc môi trường ở một số nhà máy như sau: Bảng 3: Số liệu quan trắc chất lượng không khí khu vực Quán Toan Vị trí lấy mẫu và ngày lấy mẫu SO2 (Mg/m3) NO2 (Mg/m3) CO (Mg/m3) Bụi (Mg/m3) Ngày 18/11/2001 Sở dầu 0,04 0,01 1,7 0,86 Sở dầu Trường THCS Quán Toan 0,12 0,18 0,9 0,18 Ngày 21/11/2001 Sở dầu 0,05 0,02 2,3 0,22 Sở dầu Trường THCS Quán Toan 0,26 0,01 2,5 0,22 TCVN khu vực sx 0,5 0,4 5 0,3 Nguồn: Sở Khoa học, Công nghệ Môi trường Hải Phòng Bảng 4: Chất lượng không khí công ty thép Việt úc Vị trí lấy mẫu và ngày lấy mẫu SO2 (Mg/m3) NO2 (Mg/m3) CO (Mg/m3) Bụi (Mg/m3) Tường rào cạnh SSE 0,083 0,226 4,5 0,67 Cổng bảo vệ 0,025 0,056 2,8 0,45 TCVN khu vực sx 0,6 0,4 0,3 5 Nguồn: Trung tâm ENCEN kết hợp với trung tâm KHCNMT - Viện nghiên cứu KHKT - Bảo hộ lao động thực hiện khảo sát ngày 24/12/2002 Khi đưa phế liệu vào làm nguyên liệu sản xuất khí thải, bụi, ồn phát sinh ở các công đoạn trong dây truyền công nghệ bao gồm: Bụi, ồn, khí CO, SO2, NOX, hơi oxít kim loại, nhiệt độ phát sinh từ công đoạn lò gia nhiệt đun nóng chảy phế liệu do còn. Bụi, ồn, khí CO, SO2, NOX, hơi oxít kim loại phát sinh từ công đoạn cắt nguyên liệu ban đầu Bụi, ồn từ công đoạn vận chuyển nguyên liệu vào lo và sản phẩm ra bãi chứa. Bụi, ồn, khí CO, SO2, NOX, hơi hydrocabon do các phương tiện vận chuyển nguyên liệu và sản phẩm. Khí CO2 được sinh ra khi nhà máy sử dụng khí gas để cắt phôi kim loại. Lượng khí gas sử dụng ước 0,16 tấn cho 1 tấn sản phẩm. Đặc tính của khí gas hoá hlỏng thường theo tỷ lệ 50/50 Propan và Butan theo phương trình đốt cháy hoàn toàn ta có thể tính được tải lượng khí CO2 phát tán vào môi trường không khí như sau: C5H5 + SO2 CO2 +H2O + SO4 Với công suất 300.000 tấn/ năm thì lượng CO2 phát sinh và phát tán vào môi trường là : (0,24+0,247)*300=146 tấn Khí CO2 tuy tính chất không độc như các khí khác và cây xanh có khả năng hấp thụ nhưng nó cũng góp phần gây hiệu ứng nhà kính. Khi đưa vào lò ở nhiệt độ 1540-1600oC các tạp chất lẫn trong phế liệu sẽ bị cháy hoàn toàn hoặc không hoàn toàn tạo ra CO, SO2, NOX, CO2 và hơi oxít kim loại. Tính chất độc của các khí này rất lớn và rất khó tính toán tải lượng của nó, phụ thuộc vào yếu tố nhiên liệu lẫn ít hay nhiều tạp chất. Ta hãy xem xét kết quả đo đạc tại một nhà máy cơ khí. Bảng 5: Kết quả đo đạc hiện trạng chất lượng không khí tại khu A2 và vùng phụ cận của nhà máy cơ khí Duyên Hải. Điểm đo Vì khí hậu Bụi (mg/m3) SO2 (mg/m3) CO3 (mg/m3) CO2 (mg/m3) NO2 (mg/m3) T (oC) % V (m/s) 1 29,0 48,1 0,6 4,6 1,2 2 29,8 47,6 0,5 10,6 2,3 3 5,2 4,6 4 33,1 46,1 0,5 16,4 2,5 20,3 0,67 0,1 5 29,5 4,2 33,9 0,81 0,4 6 33,4 48,6 0,8 6,4 0,4 17,2 0,58 0,1 7 15,6 1,2 22,7 0,66 0,2 8 29,9 52,6 0,1 9,1 9 6,7 10 Dân cư 2,1 11 Dân cư 1,8 12 Dân cư 2,8 Tiêu chuẩn cho phép Sản xuất 18-32 <= 80% 0,4-0,5 6 20 30 1 5 Dân cư 0,5 <0,005-0,5 3-5 1 0,087 Nguồn: Trung tâm ứng dụng KHKT - Viện Bảo hộ lao động Chú thích các vị trí đó Điểm 1: ở giữa phân xưởng đúc gang Điểm 2: ở cuối phân xưởng đúc ngang Điểm 3: ở đầu phân xưởng đúc cán (cách ống khói đốt dầu 60 m). Điểm 4: ở cuối phân xưởng cán (cách ống khói đốt dầu 10m) Điều 5: ở cuối phân xưởng đúc ngang ( cách ống khói 10m, đúng hướng gió khi cán thép). Điểm 6: ở sân, cạnh phân xưởng luyện thép (cách lò thép 10m) Điểm 7: ở gần ống khói phân xưởng luyện thép (cuối hướng gió Đông Nam). Điểm 8: ở phân xưởng rèn Điểm 9: ở giữa phân xưởng cán và luyện thép (cuối hướng gió của cán và lò đúc). Điểm 10: ở tầng khu tập thể dân cư, cách tầng rào Nhà máy 10m (cuối hướng gió Đông của cả._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNKT185.doc
Tài liệu liên quan