Vai trò của yếu tố con người và các giải pháp phát huy vai trò con người trong thời kỳ CNH-HĐH

Mở Đầu Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định “ Nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, Con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ CNH,HĐH…” Đây là một bước phát triển quan trọng trong lý luận về vấn đề con người. Nguồn lực con người là điểm cốt yếu nhất của nội lực của một nước, do đó phải bằng mọi cách phát huy yếu tố con người và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Vì vậy em chọ

doc36 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1217 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Vai trò của yếu tố con người và các giải pháp phát huy vai trò con người trong thời kỳ CNH-HĐH, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n đề tài : “ Vai trò của yếu tố con người và các giải pháp phát huy vai trò con người trong thời kỳ CNH-HĐH. ” Để thấy được tầm quan trọng của yếu tố con người - nguồn nhân lực có tác động quan trọng như thế nào trong thời kỳ CNH-HĐH ở nước ta. Thông qua sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo: Nguyễn Vĩnh Giang và qua những lần được thầy chỉnh, sửa các bản đề cương sơ bộ, đề cương chi tiết, và bản thảo. Em đã hoàn thành đề án này. Tuy nhiên trong quá trình hoàn thành đề án không tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót. Do vậy em mong được thầy chỉ bảo nhiều hơn nữa để đề án của em hoàn thành tốt hơn. Nhất là đối với em, một sinh viên kinh tế lao động sau này ra làm công tác quản lý con người. Nội Dung Chương I: Vai trò con người trong sự nghiệp CNH, HĐH I. Một số quan điểm về con người, nguồn lực con người A.Quan điểm về con người 1.Quan điểm về con người trước Mác Có rất nhiều quan điểm khác nhau về con người trước Mác: Các trường phái triết học tôn giáo phương Tây, đặc biệt là Kito giáo, nhận thức vấn đề con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí. Trong Kitô giáo, con người là kẻ có thể xác. Thể xác sẽ mất đI nhưng linh hồn thì tồn tại vĩnh viễn. Linh hồn là giá trị cao nhất trong con người. Vì vậy, phải thường xuyên chăm sóc phần linh hồn để hướng đến Thiên đường vĩnh cửu. Trong triết học Hy lạp cổ đại, con người được xem là điểm khởi đầu của tư duy triết học. Con người và thế giới là một tiểu vũ trụ trong vũ trụ bao la. Prôtago, một nhà nguỵ biện cho rằng “ con người là thước đo của vũ trụ”. Quan niệm của Arixtốt về con người, theo ông, chỉ có linh hồn, tư duy, trí nhớ, ý chí, năng khiếu nghệ thuật là làm cho con người nổi bật lên, con người là thang bậc cao nhất của vũ trụ. Khi đề cao nhà nước, ông xem con người là “ một động vật chính trị”. Như vậy triết học Hy Lạp cổ đại bước đầu đã có sự phân biệt con ngừơI với tự nhiên, nhưng chỉ là hiểu biết bên ngoài về tồn tại con người. Triết học Tây Âu trung cổ xem con người là sản phẩm của Thượng đế sáng tạo ra. Mọi số phận, niềm vui, nỗi buồn, sự may rủi của con người đều do Thượng Đế xếp đặt. Trí tuệ con người thấp hơn lý trí anh minh sáng suốt của Thượng đế. Con người trở nên nhỏ bé trước cuộc sống nhưng đàng bằng lòng với cuộc sống tạm bợ trên trần thế, vì hạnh phúc vĩnh cửu là ở thế giới bên kia. Triết học thời kỳ phục hưng-cận đại đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lý tính của con người, xem con người là một thực thể có trí tuệ. Đó là một trong những yếu tố quan trọng nhằm giải thoát con người khỏi mọi gông cùm chật hẹp mà chủ nghĩa thần học thời trung cổ đã áp đặt cho con người. Tuy nhiên, để nhận thức đầy đủ bản chất con người cả về mặt sinh học và mặt xã hội thì chưa có trường pháI nào đạt được. Con ngưòi mới chỉ được nhấn mạnh về mặt cá thế, mà xem nhẹ mặt xã hội. Trong triết học cổ đỉên Đức, những nhà triết học nổi tiếng như: Cantơ, Hêghen đã phát triển quan niệm về con người theo khuynh hướng của chủ nghĩa duy tâm. Hêghen, với cách nhìn của chủ nghĩa duy tâm khách quanm, thông qua sự vận động của “ý niệm tuyệt đối”. Bước diễu hành của “ý niệm tuyệt đối” thông qua quá trình tự ý thức của con người đã đưa con người trở về giá trị tinh thần, giá trị bản thể và cao nhất trong đời sống con người. Hêghen cũng là người trình bày một cách có hệ thống về các quy luật của quá trình tư duy của con người, là rõ cơ chế của đời sống tinh thần cá nhân trong mọi hoạt động của con người. Mặc dù, con người được nhận thức từ góc độ duy tâm khách quan, nhưng Hêghen là người khẳng định vai trò chủ thể của con người đối với lịch sử, đồng thời là kết quả của sự phát trỉên lịch sử. Tư tưởng triết học của nhà duy vật Phoiơbẵc đã vượt qua những hạn chế trong triết học Hêghen để hy vọng tìm đến bản chất con người một cách đích thực. Phoiơbẵc phê phán tính chất siêu tự nhiên, phi vật chất, phi thể xác về bản chất con người trong triết học Hêghen, đồng thời khẳng định con người do sự vận động của thế giới vật chất tao nên. Con người là kết quả của sự phát triển của thế giới tự nhiên. Con người và tự nhiên là thống nhất, không thể tách rời. Phoiơbẵc đề cao vai trò trí tuệ của con người với tính các là những cá thế người. Đó là những con người cá biệt, đa dạng, phong phú, không ai giống ai. Quan niệm này dựa trên nền tảng duy vật, đề cao yết tố tự nhiên, Phoiơbẵc không thấy được bản chất xã hội trong đời sống con người, tách con người khỏi những điều kiện lịch sử cụ thể . Con người của Phoiơbẵc là phi lịch sử, phi giai cấp và trừu tượng. Vậy các quan niệm con người trước Mác, dù là đứng trên nền tảng thế giới quan duy tâm, nhị nguyên luận hoặc duy vật siêu hình, đều không phản ánh đúng bản chất con người. Nhìn chung, các quan niệm trên đều xem xét con ngưòi một cách trừu tượng, tuyết đối hoá về tinh thần hoặc thể xác con người, tuyệt đối hoá về mặt tự nhiên- sinh học mà không thấy mặt xã hội trong đời sống con người. Tuy nhiên một số trường phái triết học vẫn đạt được những thành tựu trong việc phân tích, quan sát con người, đề cao lý tính, xác lập các giá trị về nhân bản học để hướng con người tới tự do. Đó là những tiến đề có ý nghĩa cho việc hình thành tư tưởng về con người của triết học macxit. 2.Quan điểm Mác-Lênin về bản chất con người Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội : Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là sản phẩm của thế giới tự nhiên. Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học, tính loài. Yừu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người. Vì vậy, giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người”. Con người là một bộ phận của tự nhiên. Là động vật cao cấp nhất, tinh hoa của muôn loài, con người là sản phẩm của quá trình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên. Con người phảI tìm kiếm mọi điều kiện cần thiết cho sự tồn tại trong đời sống tự nhiên như thức ăn, nước uống, hang động để ở. Đó là quá trình con người đấu tranh với tự nhiên, với thú dữ để sinh tồn. Trải qua hàng chục năm, con người đã thay đổi từ vượn thành người, điều đó đã được chứng minh trong các công trình nghiên cứu của Đácuyn. Các giai đoạn mang tính sinh học mà con người trải qua từ hình thành, phát triển đến mất đi quy định bản tính sinh học trong đời sống, là tổ chức cơ thể của con người và mối quan hệ của nó đối với tự nhiên. Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trình tâm lý-sinh lý, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con người. Tuy nhiên, điều cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải yếu tố duy nhất quy định bản chất con người với thế giới loài vật là mặt xã hội tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người. Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội. Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của con người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thống nhất với nhau. Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp cơ thể với môi trường, quy luật về sụ trao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiến hoá,… quy định phương diện sinh học của con người. Hệ thống các quy luật tâm lý ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học của con người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí. Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người. Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội. Mối quan hệ sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và nhu cầu thẩm mỹ và hưởng thụ các giá trị tinh thần Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa mặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi con người là thống nhất. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người với loài vật. Nhu cầu sinh học phảI được “nhân hoá “ để mang giá trị văn minh con người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học. Hai mặt trên thống nhất với nhau, hoà quyện vào nhau để tạo thành con người viết hoa, con ngưòi tự nhiên-xã hội. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con người vượt lên thế giới loài vật trên cả phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội, với quan hệ với chính bản thân con người. Cả ba mốí quan hệ đó, suy cho cùng đề mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa con người với con người là quan hệ bản chất, bao chùn tất cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người. Do vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người,C.Mác đã nêu lên luận đề nổi tiếng Luận cương về Phoiơbắc: “Bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội.” Luận đề trên khẳng định rằng, con người luôn sống trong điều kiện, hoàn cảnh lịch sử nhất định bằng những hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả về thể lực và tư duy trí tuệ. Chỉ trong toàn bộ mối quan hệ xã hội đó( như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế, quan hệ cá nhân, gia đình,xã hội…) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình. Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người. Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hoá lâu dài của giới hữu sinh. Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử-xã hội. C.Mác đã khẳng định :” Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và giáo dục… cái học thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục” Như vậy với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên, cải tiến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển có sẵn của tự nhiên. Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình. Trong quá trình cải tiến tự nhiên, con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con người. Hoạt động lao động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội. Trên cơ sở lắm vững quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát trỉên từ thấp đến cao phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra. Không có hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xã hội,và do đó, không co sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người. B.Quan điểm về nguồn lực con người Trong các nguồn lực có thể khai thác như nguồn lực tự nhiên, nguồn lực khoa học công nghệ, nguồn lực con người thì nguồn lực con người là quyết định nhất, bởi lẽ nguồn lực khác chỉ có thể khai thác có hiệu quả khi nguồn lực con người được phát huy. Những nguồn lực khác ngày càng cạn kiệt, ngượic lại nguồn lực con người ngày càng đa dạng và phong phú. Các lĩnh vực khoa học khác nhau, có thể hiểu nguồn lực theo những cách khác nhau, nhưng chung nhất nguồn lực là một hệ thống các nhân tố mà mỗi nhân tố đó có vai trò riêng nhưng có mối quan hệ với nhau tạo nên sự phát triển của một sự vật, hiện tượng nào đó. Từ cách hiểu như vậy, nguồn lực con người là những yếu tố ở trong con người có thể huy động, sử dụng để thúc đẩy sự phát triển xã hội. Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về nguồn lực con người. Ngân hàng thế giới cho rằng nguồn nhân lực là toàn bộ vốn người ( thể lực, trí lực, kỹ năng, nghề nghiệp,...) mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất, kinh doanh, hay trong một hoạt động nào đó. Qua các ý kiến khác nhau có thể hiểu, nguồn lực con người là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xã hội, ... tạo nên năng lực của con người, của cộng đồng người có thể sử dụng, phát huy trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và trong những hoạt động xã hội. Khi chúng ta nói tới nguồn lực con người là ta nói tới con người với tư cách là chủ thể hoạt động sáng tạo tham gia cải tạo tự nhiên, làm biến đổi xã hội. Nói tới nguồn lực con người là nói tới số lượng và chất lượng nguồn nhân lực Số lượng nguồn nhân lực được xác định trên qui mô dân số, cơ cấu độ tuổi, sự tiếp nối các thế hệ, giới tính và sự phân bố dân cư giữa các vùng, các miền của đất nước, giữa các ngành kinh tế, giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về thể lực, trí lực, tay nghề, năng lực quản lý, mức độ thành thạo trong công việc, phẩm chất đạo đức, tình yêu quê hương đất nước, ý thức giai cấp, ý thức về trách nhiệm cá nhân với công việc, với gia đình và xã hội, giác ngộ và bản lĩnh chính trị, ... Trong các yếu tố trên thì phẩm chất đạo đức và trình độ học vấn là quan trọng nhất, nó nói lên mức trưởng thành của con người, qui định phương phát tư duy, nhân cách, lối sống của mỗi con người. Số lượng và chất lượng nguồn lực có quan hệ với nhan một cách chặt chẽ. Nếu số lượng nguồn nhân lực quá ít sẽ gây khó khăn cho phân công lao động xã hội và do vậy, chất lượng lao động cũng bị hạn chế. Chất lượng nguồn nhân lực nâng cao sẽ góp phần làm giảm số lượng người hoạt động trong một đơn vị sản xuất, kinh doanh hay giảm số người hoạt động trong một tổ chức xã hội. Xã hội muốn phát triển nhanh và bền vững phải quan tâm đào tạo nguồn lực con người có chất lượng ngày càng cao. Muốn thực hiện được điều đó, cần có sự quan tâm ngay trong quá trình đào tạo, trong quá trình sử dụng và phân công lao động xã hội. II. Vai trò con người và nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH,HĐH 1.Quan niệm về CNH,HĐH Trong lịch sử, một số nước đã tiến hành công nghiệp hoá bắt đầu từ cuối thế kỷ XVIII, mở đầu là nước Anh bằng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất. Thực chất của cộng nghiệp hoá trong thời đó là chuyển nền kinh tế nông nghiệp với kỹ thuật thủ công sang nền kinh tế công nghiệp với kỹ thuật máy móc. Ngày nay trên thế giới đang diễn ra cuộn cách mạng khoa học và công nghệ, nó làm cho lực lượng sản xuất có bước phát triển mới về chất, thúc đẩy quá trình cấu trúc lại nền kinh tế thế giới, làm thay đổi sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội… Vì thế, trong thời đại ngày nay, công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá, nghĩa là tranh thủ ứng dụng những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại ngay trong quá trình công nghiệp hoá. “… công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế –xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.” Như vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá có một phạm vi rộng lớn, bao trùm nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, trong đó công nghiệp và khoa học-công nghệ đóng vai trò rất quan trọng, cốt lõi của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay: có những điểm mới so với quan điểm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá trước khi đổi mới. Thứ nhất: Công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá . Nước ta tiến hành công nghiệp hoá trong điều kiện thế giới đang diễn ra cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ và một số nước đã bắt đầu phát triển nền kinh tế tri thức, bởi vậy không chỉ chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí hoá mà còn phải tranh thủ ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của thời đại. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã nêu lên quan điểm: “ khoa học và công nghệ là động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại; tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định” Thứ hai: CNH,HĐH trước đây được tiến hành theo cơ chế kế hoạch hoá, tập chung quan niêu, bao cấp, với các chỉ tiêu pháp lệnh. Ngày nay, CNH,HĐH theo cơ chế thị trường có sự quản lý nhà nước. Kế hoạch chủ yếu mang tính định hướng, thị trường phản ánh nhu cầu xã hội, sẽ quyết định việc phân bổ các nguồn lực cho sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế mới, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm thước đo. Thứ ba: CNH,HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vain trò chủ đạo. Phải giáo dục phát động tổ chức để toàn cầu, mọi thành phần kinh tế tham gia tích cực vào quá trình CNH,HĐH Thứ tư: CNH,HĐH phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Trong mọi chủ trương, chính sách phải nhằm giải phóng mọi tiền năng của con người, thưòng xuyên quan tâm, bồi dưỡng trí lực, thể lực, sử dụng nhân tài. Nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, phát triển văn hoá giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, động viên toàn dân cần, kiềm để CNH,HĐH đất nước Thứ năm: CNH,HĐH xây dựng một nền kinh tế mở cả trong thị trường trong nước và với bên ngoài, đa dạng hoá, đa phướng hoá quan hệ đối ngoại và kinh tế đối ngoại trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền, kết hợp kinh tế với quốc phòng an ninh, xây dựng nền kinh tế mởi hướng mạnh vào xuất khẩu, thay thế nhập khẩu bằng sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả Thứ sáu: CNH,HĐH phải lấy hiệu quả kinh tế- xã hội làm hiệu quả làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ. Đầu tư vào chiều sâu để khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có. Lựa chọn dự án đầu tư với những quy mô thích hợp với từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương, ưu tiên những dự án quy mô nhỏ và vừa, đòi hỏi ít vốn, tạo nhiều việc làm, thu hồi vốn nhanh. 2. Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hoá, hiện đại hoá Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội, không qua chế độ tư bản chủ nghĩa tất yếu phải tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân. Bởi vì: a. Chỉ có công nghiệp hoá, hiện đại hoá mới có thể xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chế độ mới, “ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước chung quanh, giữ được ổn định chính trị, xã hội, bảo vệ được độc lập, chủ quyền và định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa.” Các nước đã trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ cần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật đã đáp ứng được theo yêu cầu chế độ mới và tiếp tục ứng dụng những công nghệ mới nhất, hiện đại nhất. Các nước có nền kinh tế phát triển chưa cao và các nước công nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ còn phổ biến tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhất thiết phải tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để nhằm thay thế lao động thủ công bằng lao động cơ khí hoá và một phần tự động hoá (khi có điều khiển) trong các ngành của nền kinh tế quốc dân; đồng thời trên cơ sở trình độ đã đạt được của cơ sở vật chất -kỹ thuật mới cải biến cơ cấu kinh tế lạc hậu, què quặt, thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội, mở rộng thị trường, phát triển sản xuất và lưu thông hàn hoá trong nước và quốc tế. b. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo ra lực lượng sản xuất mới về chất, tạo tiền đề cho sự hình thành nhiều mối quan hệ mới về kinh tế, xã hội, chính trị trong toàn xã hội. Trên cơ sở lực lượng ản xuất phát triển, quan hệ sản xuất từng bước được hình thành, mở rộng và củng cố, đời sống của nhân dân sẽ dần cải thiện, liên minh công-nông-trí thức và chính quyền nhà nước sẽ được củng cố và kiện toàn, cách mạng tư tưởng và văn hoá sẽ có nhiều điều kiện thực hiện. Sự giúp đỡ của công nghiệp và thành thị đối với nông nghiệp và nông thôn được tăng cường và có hiệu quả hơn; tạo ra nhiều điều kiện để thực hiện từng bước sự bình đẳng về kinh tế giữa các dân tộc, giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng trong nước. Điều đó đưa đến sự thống nhất ngày càng cao về chính trị và tinh thần trong xã hội. c. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn là yêu cầu khách quan của việc củng cố và tăng cường khả năng quốc phòng, của sự thống nhất giữa sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa xã hội. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn là yêu cầu khách quan mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại... Mục tiêu lâu dài của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất –kỹ thuật hiện đại, cớ sơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Như vậy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế thực chất là một cuộc cải biến cách mạng sâu sắc và toàn diện, trước hết và chủ yếu là từ phát triển lực lượng sản xuất, dẫn đến một loạt hệ quả tất yếu tác động tích cực đến các mặt đời sống, xã hội hình thành những yếu tố của hình thái xã hội mới. Đại hội toàn quốc lần thứ VII đã khẳng định: phát triển lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với việc phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Đại hội lần thứ VIII của Đảng nhấn mạnh : đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới ở nước ta. 3. Vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp CNH-HĐH: a. vai trò nguồn lực trong lĩnh vực kinh tế Trong lĩnh vực này, cần xem xét con người với tư cách là lực lượng sản xuất và vai trò trong quan hệ sản xuất Trong bất cứ xã hội nào, người lao động là yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất. Ngày nay, khoa hoc-công nghệ ngày càng phát triển, hàm lượng chất xám trong giá trị hàng hoá ngày càng cao, thì vai trò của người lao động có trí tuệ lại càng quan trọng trong lực lượng sản xuất. V.I. Lê nin đã chỉ ra : “ lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động.” Con người khi được làm chủ những tư liệu sản xuất, được đào tạo một cách chu đáo những kiến thức quản lý kinh tế sẽ có điều kiện khai thác một cách có hiệu quả tiềm năng đất đai, biết kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất như huy động vốn, động viên khuyến khích người lao động làm việc có hiệu quả, quản lý chặt chẽ nguyên liệu vật tư, do vậy, hiệu quả kinh doanh sẽ tốt hơn. Ngày nay vai trò người quản lý trong sản xuất kinh doanh ngày càng trở nên quan trọng, do vậy, các quốc gia thường rất quan tâm tới đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ này. Trong quá trình xây dựng đất nước tiến nên chủ nghĩa xã hội, người lao động trở thành những người làm chủ đất nước, làm chủ trong quá trình tổ chức quản lý sản xuất, từ việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh tới tổ chức sản xuất kinh doanh và làm chủ trong quá trình phân phối sản phẩm. Điều đó tạo ra những điều kiện thuận lợi để phát huy nguồn lực con người, phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững, làm cho đất nước ngày càng giàu đẹp. b. Vai trò nguồn lực trong lĩnh vực chính trị Xét nguồn lực trên lĩnh vực chính trị, khi mà người dân có tri thức, có năng lực, thấy được trách nhiệm của mình trong việc lựa chọn những người có đức, có tài vào các cơ quan nhà nước sẽ góp phần xây dựng nhà nước vững mạnh. Cán bộ nhà nước có hiểu biết lý luận, hiểu biết thực tiễn, thấy được trách nhiệm của mình đối với nhân dân, sẽ hết lòng phụng sự nhân dân và thực sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân sẽ được dân mến, dân tin, dân ủng hộ. Cán bộ tích cực tuyên truyền đường lối của đảng, phổ biến luật phát của nhà nước đến nhân dân, làm cho dân hiểu dân tin; người dân chủ động tích cực thực hiện đường lối đó, có ý thức tôn trọng luật phát, thực hiện những nghĩa vụ công dân, hiểu rõ quyền lợi của mình, kiên quyết đấu tranh với sức mạnh của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nói về vai trò của quần chúng tham gia công việc của nhà nước, Hồ Chí Minh đã viết: khi người dân “... biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”, “ thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ”. Có thể khẳng định, nguồn lực con người là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân, vì dân; trong quá trình đấu tranh bảo vệ những thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của kẻ thù. c.Vai trò nguồn lực con người trong lĩnh vực văn hoá Một khi , con người có tri thức, có hiểu biết về các hình thức nghệ thuật có giá trị cao như: những bộ phim hay, những điệu múa đẹp, những tác phẩm văn học có nội dung phong phú,... Những công trình văn hoá, nghệ thuật như vậy dễ đi vào lòng người, có tác dụng giáo dục đạo đức, góp phần hình thành nhân cách cho mỗi con người trong xã hội. Con người văn hoá cũng là những người có nghĩa vụ bảo tồn những di sản văn hoá tinh thần của đất nước, của nhân loại. Do vậy, nếu mỗi con người có ý thức, năng lực thực hiện tốt công việc này, thì những giá trị văn hoá tinh thần, giá trị văn hoá vật chất của xã hội được bảo tồn,lưu giữ, được nâng cao. Trong điều kiện giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng, mỗi con người chúng ta có điều kiện tiếp cận với nền văn hoá nhiều nước trên thế giới. Trình độ tri thức của mỗi người về văn hoá sẽ là tiền đề cho họ tiếp nhận những giá trị tốt đẹp của dân tộc khác, loại bỏ những yếu tố không phù hợp để làm giàu cho nền văn hoá dân tộc mình, làm phong phú đời sống tinh thần cá nhân. Con người có tri thức khoa học, có năng lực nghiên cứu tạo ra những khả năng cho họ có những đóng góp xứng đáng trong sự phát triển khoa học của đất nước. Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ tri thức, tạo điều kiện cho họ cống hiến hết khả năng trí tuệ cho đất nước, cho sự phát triển của xã hội. Như vậy, con người không chỉ là chủ thề của hoạt động sản xuất vật chất, mà còn là chủ thể của quá trình sản xuất tinh thần của xã hội. Bằng hoạt động thực hiện, trước hết là lao động sản xuất , con người cải tạo tự nhiên, biến đổi xã hội, bắt tự nhiên phục vụ cho mình, và làm đẹp cho tự nhiên; đồng thời trong quá trình đó con người cải tạo chính bản thân mình. Do vậy, sự phối hợp giữa các thành viên trong cộng đồng đó cũng tạo ra sức mạnh to lớn trong việc phát huy nguồn lực con người để nhận thức, cải tạo tự nhiên và xã hội. Ngược lại, sự thiếu thống nhất, sự phối hợp không ăn khớp của các thành viên trong xã hội sẽ làm giảm đi, thậm chí triệt tiêu cả động lực phát triển tự nhiên và xã hội. Nguồn lực con người, xét về mỗi cá nhân, còn là những tiềm năng yếu tố cấu thành con người có thể được khai thác. Nhưng hiệu quả việc phát huy nguồn lực con người lại tuỳ thuộc vào chế độ xã hội, tuỳ thuộc vào cách tổ chức xã hội, phụ thuộc vào năng lực và nghệ thuật của quản lý xã hội, phụ thuộc vào cơ chế và chính sách xã hội. Nguồn lực con người không khai thác, không phát huy được là lãng phí lớn nhất. Đặc biệt, là đội ngũ trí thức càng hoạt động, càng phong phú và sâu sắc. Nước ta đang còn là một nước nghèo, kinh tế kém phát triển, thì việc phát huy nguồn lực con người để xây dựng đất nước càng trở nên quan trọng. Chương II: Đánh giá vai trò con người và nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH,HĐH hiện nay 1.Vai trò con người và nguồn nhân lực đã đóng góp những mặt tích cực cho sự nghiệp CNH-HĐH: a.Ngay từ đầu thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (1946), nhất là sau năm 1945, đất nước thống nhất. Hơn 30 năm sự nghiệp giáo dục, dạy nghề không ngừng phát triển, đặc biệt là 20 năm đổi mới cùn với những thành tựu to lớn trong việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội thời kỳ 1991-2000 và 2001-2010 Đảng và Nhà nước Việt Nam đã luôn luôn quan tâm phát triển nguồn nhân lực, đầu tư mạnh vào “vốn con người” và đã đạt được kết quả quan trọng. Trình độ dân trí và chất lượng, tính năng động xã hội của nguồn nhân lực được nâng lên đáng kể. Đến nay tỷ lệ người lớn biết chữ đạt 94%, trong đó tỷ lệ lao động biết chữ đạt 97%; số năm đi học trung bình của dân cư là 7,3 năm. Đến năm 2000, cả nước đã hoàn thành mục tiêu xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học; bắt đầu phổ cập trung học cơ sở ; đến cuối năm 2003 đã có 19 tỉnh, thành phố đạt tiêu chuẩn phổ cập trung học cơ sỏ ; đào tạo cao đẳng; đại học phát triển phát triển mạnh, năm học 2003-2004 sinh viên cao đẳng, đại học lên tới 298975 người Tăng gấp 8 lần năm học1986-1987; đến năm 2003 lao động qua đào tạo đạt 25%, trong đó qua đào tạo nghề là 17,5%. Sự nghiệp dạy nghề tuy có những bước thăng trầm nhưng xu hướng chung là ngày càng phát triển. Từ năm 1969 đến nay đã thay đổi nhiều cơ quan quản lý lĩnh vực dạy nghề. Từ năm 1969-1978 là Tổng cục đào tạo công nhân kỹ thuật thuộc Bộ Lao Động;10 năm sau đó (1978-1987) là Tổng cục dạy nghề trực thuộc Chính Phủ ; từ năm 1987-1998 công tác dạy nghề thuộc chức năng quản lý Nhà nước của Bộ Giáo Dục-Đào tạo; từ năm 1998 đến nay Tổng cục dạy nghề được tái thành lập thuộc Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, dạy nghề đã được phục hồi và có nhiều tiến bộ. Đến năm 2003, cả nước có 213 trường dạy nghề tăng 82 trường so với năm 1999; số trung tâm dạy nghề từ 121 trung tâm năm 1999 tăng lên 221 trung tâm, ngoài ra có 141 trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học có tham gia dạy nghề. Trong 3 năm (2001-2003) đã dạy nghề cho 2,97 triệu người . Chất lượng dạy nghề được nâng lên, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp chiếm 90%, tỷ lệ học sinh ra trường tìm được việc làm hoặc tự đào tạo việc làm trung bình khoảng 70% nhiều trường thuộc các doanh nghiệp, tổng công ty, tỷ lệ này khoảng 90%(nguồn số liệu lấy từ số 243(từ 16-31/7/2004)-LĐ&XH). b.Theo nguồn số liệu năm 2002,trong báo cáo phát triển con người 2004, g._.iá trị chỉ số phát triển con người (HDI) nước ta đã đạt 0,691, tăng hơn mức 0,688 của báo cáo năm 2002 và năm 2003. Như vậy, sau hai năm giá trị chỉ số HDI không thay đổi, năm nay giá trị này đã tăng được 0,003. Trong ba thành phần chỉ số HDI, năm nay chỉ số GDP đã tăng từ 0,5 năm 2003 lên 0,52. Có được mức tăng này là do GDP bình quân đầu người của nước ta tính bằng đôla Mỹ theo phương pháp sức mua tương đương đã tăng từ 2070 năm 2003 lên 2300. Tuy nhiên , về thứ hạng, vị trí của nước ta năm nay là 112 trên 177 quốc gia tham gia tính HDI. Theo nhận định của Báo cáo thì so với Pakítan có cùng mức thu nhập nhưng Việt Nam có HDI cao hơn nhờ có chỉ số tuổi thọ và chỉ số giáo dục cao hơn. Có thể thấu rõ điều này qua số liệu của một số quốc gia khác. GDP bình quân đầu người tính bằng đôla Mỹ theo phương pháp sức mua tương đương của ấn Độ là 2670, chỉ số GDP là 0,52 bằng Việt Nam nhưng thứ hạng HDI là 133. So sánh với nước ASEAN về chỉ số HDI, với vị trí xếp hạng và giá trị chỉ số HDI như trên, Việt Nam giữ vị trí thứ 7/10, năm 2002 và 2003 là 6/10. Báo cáo phát triển con người 2004 của UNDP cũng cho biết chỉ số HDI của nước ta từ năm 1990 đến năm 2002 có xu hướng tăng lên một cách vững chắc. Trong 13 năm , từ năm 1990 đến năm 2002, chỉ số HDI của nước ta được cải thiện đáng kể, tăng 0,081, từ 0,610 năm 1990 đến năm 2000 là 0,686, năm 2002 là 0,691; trung bình mỗi năm tăng 0,0062 Năm 1990 1995 2000 2002 Giá trị chỉ số HDI 0,610 0,649 0,686 0,691 (Nguồn Báo cáo phát triển con người của UNDP 2004) Chỉ số phát triển giới (GDI) của nước ta trong Báo cáo 2004 có giá trị chỉ số là 0,689, xếp thứ 87/144 quốc gia tham gia tính GDI. Năm 2003 nước ta xếp thứ 89/144 nước giá trị chỉ số là 00,687. Trừ Brunei và Myanmar không tham gia tính GDI, Việt Nam đứng thứ nước ASEAN tham gia tính GDI . Nếu ở chỉ số HDI, Inđônêsia đứng trên Việt Nam 1 bậc, xếp thứ 111 thì ở chỉ số GDI Inđônêsia lại kém ta 3 bậc, xếp thứ 90/144 nứoc với giá trị chỉ số GDI là 0,685.Nhìn chung, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có chỉ số GDI tốt trong khu vực. Với 27,3% đại biểu quốc hội là nữ , nước ta đang có tỉ lệ nữ tham gia chính trị cao nhất trong khư vực. Khi đề cập vai trò con người và nguồn nhân lực đã đóng góp những mặt tích cực cho sự nghiệp CNH-HĐH không thể không nói đến tinh thần hiếu học- một truyền thống hết sức tốt đẹp và quan trọng của dân tộc ta. Hiếu học, là sự coi trọng việc học của cộng đồng và sự nỗ lực rùi mài kinh sử của bản thân ngưòi học nhằm tiếp thu các kiến thức KHKT, những kinh nghiệm sống trong nhà trường đến thực tế trong lao động sản xuất, trong mọi lúc mọi nơi theo phương châm câu ngạn ngữ “Đi một ngàu đàng học, một sàng khôn”. Ngày nay, truyền thống hiếu học của ông cha ta đang được Đảng ta phát động và khuyến khích thông qua các chủ trương:Giáo dục cho mọi người; cả nước trở thành một xã hội học tập và học tập thường xuyên, suốt đời. Theo đó, nhiều địa phương (như Hải Dương, Thái Bình, Lai Châu(cũ), Hà Nội, Thanh Hoá,... ) đã thành lập các trung tâm học tập cộng đồng-một mô hình đào tạo xuất phát từ ý tưởng xây dựng một xã hội học tập, thực hiện giáo dục suốt đời, được UNESCO đề xướng vào những năm 1970, sau đó đã được nhiều nước chấp nhận, được đánh giá là một trong những động lực thúc đẩy phát triển của cộng đồng đương đại. Tại đây người dân có thể học văn hóa- nâng cao học vấn, cũng có thể học những nghề thiết thực theo nhu cầu, hoặc học cả hai. Vấn đề hạn chế khả năng tiếp thu các kiến thức khoa học và công nghệ do trình độ học vấn còn thấp đang là thực trạng chung của lao động nông thôn nước ta hiện nay. Tuy nhiên trong đó, phải nói đồng bào các dân tộc thiểu số là những người gặp nhiều khó khăn nhất. Để thấy được sự lỗ lực của toàn Đảng toàn dân nhằm vượt qua thách thức về lĩnh vực này, lấy các dẫn chứng bằng những thành tựu do chính các dân tộc thiểu số nước ta đã đạt được nhờ kiên trì phấn đấu nâng cao trình độ học vấn và trình độ dân trí nói chung qua các số liệu ở Bảng 4 dưới đây Bảng 4 Tình hình dân số và học vấn các dân tộc thiểu số qua hai kỳ Tổng điều tra dân số (1989,1999) chia theo cấp đào tạo và số lượng dân tộc Đơn vị tính:Người TT Dân số và học vấn 1989 1999 1 Tổng dân số các dân tộc thiểu số 8268480 10527455 2 Học vấn tính từ THPT trở lên Tốt nghiệp THPT 113242 752255 Cao đẳng-đại học 11471 113070 Sau đạo học 126 642 Nguồn: Xử lý số liệu Tổng điều tra dân số 1989- Ban chỉ đạoTổng điều tra dân số TW, Hà Nội-1991, và Tổng điều tra dân số-nhà ở 1999-Nxb.Thống kê,Hà Nội-200. Qua các số liệu trong bảng, có thể thấy sự tiến bộ về trình độ học vấn của đồng bào các dân tộc thiểu số nước ta cụ thể như sau: Nếu như năm 1989, số người tốt nghiệp PHTH mới chiếm tỉ lệ 1,3% tổng số thì đến năm 1999 tỉ lệ này đạt 7,15%, tăng gấp 5,5 lần. Nếu như năm 1989, số người tốt nghiệp CĐ-ĐH mới đạt 0.13% thì đến năm 1999, tỉ lệ này đạt 1,07%, tăng gấp 8,2 lần. Nếu như năm 1989, số người có trình độ sau đại học mới đạt tỉ lệ 0,0001%, thì đến năm 1999, tỉ lệ này là 0,007%, tăng gấp 70 lần( tính để tham khảo thêm, được biết tỉ lệ tăng tương ứng ở dân tộc Kinh là 3,16 lần). Tham khảo thêm các số liệu Bảng 5, có thể thấy được một khía cạnh khác về thành tựu này của nhân dân các dân tộc thiểu số, cụ thể là: Bảng 5. Tình hình học vấn các dân tộc thiểu số qua 2 kỳ Tổng điều tra dân số(1989,1999) chia theo cấp đào tạo và số lượng dân tộc Bảng 5. Tình hình học vấn các dân tộc thiểu số qua hai kỳ Tổng điều tra dân số (1989,1999) chia theo cấp đào tạo và số lượng dân tộc TT Số lượng dân tộc 1989 1999 1 Chưa có người tốt nghiệp THPT 7 0 2 Chưa có người tốt nghiệp CĐ-ĐH 12 3 3 Chưa có người có trình độ sau đạo học 42 32 Đơn vị tính:Dân tộc Nguồn: Xử lý số liệu Tổng điều tra dân số 1989 và Tổng điều tra dân số-nhà ở 1999. Sđd. Năm 1989, còn 7 dân tộc thiểu số chưa có người tốt nghiệp THPT(khi đó gọi là cấp 3), thì đến năm 1999, ở mức độ nhiều ít khác nhau, tất cả các dân tộc thiểu số đều đã có người tốt nghiệp cấp học này. Năm1989, 12 dân tộc chưa có người tốt nghiệp CĐ-ĐH, đến năm 1999, trong số 42 dân tộc nói trên đã có thêm 10 dân tộc nữa có người đạt trình độ sau đại học Như vậy, sau 10 năm (1989-1999) vừa thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội VI đề ra (1986), vừa tiếp tục thực hiện các Nghị quyết Đại hội VII(1991) và Đại hội VIII(1996), cơ hội học tập dành cho đồng bào các dân tộc thiểu số đã tăng lên đáng kể và sự phấn đấu nâng cao trình độ học vấn của đồng bào các dân tộc thiểu số cũng thật đáng ghi nhận, đặc biệt là ở trình độ cao, từ CĐ,ĐH trở lên. Về chuyên môn kỹ thuật, nhằm khắc phục hiện trạng yếu kém của đội ngũ lao động nông thôn, Đảng ta đã chủ trương: Mở rộng hệ thống các trường lớp dạy nghề và đào tạo công nhân lành nghề, và: Ưu tiên đào tạo nhân lực phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn, miền núi. Nhờ đó, sau những bước khởi đầu chậm chạm mang tính thí điểm, khoảng mấy năm lại đây, công tác dạy nghề cho lao động nông nghiệp- nông thôn đã được triển khai mạnh hơn. Nhiều trung tâm dạy nghề, các trường lớp dạy nghề cho nông dân đã được hình thành và đi vào hoạt động ở nhiều huyện, cụm xã, tại hầu hết các tỉnh, thành phố. Các cơ sở đào tạo này đã thực hiện nhiều khoá học ngắn hạn và trung hạn với phương châm thiết thực cần gì học, dạy nấy, nhờ vậy tỉ lệ lao động nông thôn qua đào tạo-bồi dưỡng được gia tăng, đặc biệt trong đó là sự gia tăng về số người qua đào tạo nghề bằng nhiều hình thức khác nhau mà số liệu ở hai bảng 2 và 3 trên đây đã nói lên điều đó. Như vậy, có thể nói, những hạn chế về học vấn và CMKT của nguồn nhân lực nông nghiệp-nông thôn hiện nay chỉ là những khó khăn trước mắt, tạm thời. Trong tương lại không xa, thiết nghĩ với một nguồn nhân lực dồi dào như đã trình bày, lại được đào tạo, được trang bị những kiến thức KHKT để kết hợp giữa sử dụng đất đai với bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái, sử dụng phân bón hoá chất bảo vệ thực vật, thức ăn gia súc gắn với vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo đảm sức khỏe con người, chắc hẳn các sản phẩm hàng hoá do nông dân làm ra sẽ không chỉ ngày càng nhiều về số lưọng, mà còn đáp ứng yêu cầu cạnh tranh ngày càng cao về số lượng của thị trường trong nước, khu vực và quốc tế. Thực tế đã chứng minh, những năm qua có một số nông dân nhờ năng động làm ăn, chủ động tìm thầy để học hoặc mày mò học hỏi, đã trở thành nhữ nông dân sản xuất giỏi, những chủ trang trại, trở nên giàu có, thành những tỉ phú nhà nông. Thực tế cũng cho thấy, một mặt nhờ đổi mới co chế quản lý nông nghiệp, mặt khác nhờ thực hiện cơ chế thị trường, nên những năm vừa qua ở khu vực nông thôn đã có động lực phát triển, có nhiều cơ hội việc làm hơn so với trước, đồng thời, nông dân đã dó quyền tiếp cận với các nguồn lực, đặc biệt là đất đai … Theo đó, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động nông thôn đã và đang có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực. Một số vùng nông thôn đã có 30-50% lao động tham gia các hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp, sự phát triển của các hộ nông nghiệp kiêm ngành nghề đã thể hiện rõ xu hướng phá thế thuần nông truyền thống trong nông nghiệp nước ta. Riêng trong lĩnh vực nông nghiệp cũng có sự chuyển dịch từ độc canh cây lúa sang đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi, góp phần tăng thêm đáng kể thu nhập cho các hộ gia đình. Đồng thời, sự phân bố và sử dụng nguồn nhân lực nông thôn, xét trên phương diện cơ cấu hoạt động, phương thức và hiệu quả sử dụng quỹ thời gian lao động nói chung cũng đã có những chuyển biến đáng kể; các hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nhất là tiêu thủ công nghiệp, xây dựng và các dịch vụ sinh hoạt trong cư dân nông thôn cũng đã có nhiều tiến bộ, đa dạng và phong phú hơn. Đại hội IX của Đảng ta đã nhận định: Còn đường công nghiệp hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt. Thực tế những gì đã trình bày, phân tích, cho thấy nhận định của Đảng vừa có co sở thực hiện vừa có co sở khoa học. Qua đó, với truyền thống hiếu học, tinh thần tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau, với quyết tâm không can chịu đói nghèo “thua chị kém em” , cộng với tính chăm chỉ cần cù vốn có trong lao động sản xuất, nông dân nước ta – những người đã từng hoàn thành xuất sắc vai trò là đội quân chủ lực trong cách mạng giải phóng dân tộc giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và đang đảm nhiệm vụ vai trò đội quân chủ lực trên mặt trận đảm bảo an toàn lương thực quốc gia , chắc chắn sẽ vượtv qua những khó khăn thử thách trước mắt, vươn lên đáp ứng yêu cầu lao động thời kỳ CNH-HĐH, hội nhập thành công nền kinh tế khu vực và quốc tế nguyên nhân 2.Những thách thức về con người và nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH-HĐH Bước và thế kỷ XXI nguồn nhân lực nước ta đang ở nhiều cấp độ, trình độ của các nước đã phát triển cao qua các cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, cách mạng công nghiệp lần thứ hai và trong thời đại công nghệ thông tin. Chúng ta phải đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực để chuyển từ một nền kinh tế nông nghiệp sang một nền king tế công nghiệp trong ngữ cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng theo XHCN theo đường lối hội nhập,mở cửa, tức là phải chú ý đến đội ngũ lao động đại bộ phận là lao động nông nghiệp, đội ngũ lao động phục vụ cơ khí hoá, điện khí hoá …lẫn tin học hóa . Chúng ta phải chuẩn bị một nguồn nhân lực phục vụ cả 3 nền kinh tế: kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp, kinh tế tri thức. Xem xét cụ thể, dân cư nước ta hiện nay đa số ở nông thôn, phần đáng kể tổng sản phẩm quốc nội do khu vực nông nghiệp đóng góp (trên phạm vi thế giới năm 1913 nông nghiệp đóng góp 70% vào thương mại thế giới, nay chỉ còn 17%); lao động nông nghiệp chiếm một phần lớn. Cơ cấu lao động đang chuyển dịch theo hướng tăng lao động công nghiệp, lao động dịch vụ, lao động trí thức, nhằm đáp ứng được chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế. Hội nghị Trung ương 6 (khoá IX) họp vào tháng 7-2002 đánh giá rằng bước sang thế kỷ XXI, đội ngũ lao động của nước ta đã có bước phát triển mới: “Lao động có trình độ từ cao đẳng trở lên tăng 17,2%(từ 800000 năm 1995 lên 1300000 năm 2000). Số lao động đã qua đào tạo đạt 20% năm 2000(năm 1996 là 13%). Vậy chúng ta không đạt chỉ tiêu từ 25% lao động đã qua đào tạo vào năm 2000 như Nghị quyết Trung ương (Khoá VIII) đã đề ra ; tình hình nguồn nhân lực của nước ta hiện nay đang ở trong tình trạng rất phức tạp.Theo kết quả điều tra lao động và việc làm năm 2002 do Bộ lao động -thương binh-và xã hội công bố tháng10-2002, đến 1-7-12002 số người trong độ tuổi lao động là 60,66% (khoảng 48,5 triệu người), trong đó khoảng 40,7 triệu người từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên (khu vực thành thị có khoản 9,7 triệu người, chiếm 23,87 % khu vực nông thôn khoảng 31 triệu người, chiếm76,13%). Số lao động không biết chữ là 8,74% và 80,31%lao động trình độ từ tiểu học trở lên: nhưng có khác biệt khá lớn giữa nông thôn và thành thị: tỷ lệ lao động chưa biết chữ nông thôn cao gấp 6 lần thành thị, trong khi đó tỷ lệ lao động ở thành thịcó trình độ từ trung học phổ thông trỏ lên cao gấp 8 lần ở nông thôn. Trong số lao động qua đào tạo(chiếm 19,62% đội ngũ lao động), cũng có sự khác biệt lớn giữa nông thôn và thành thị: ở thành thị, tỉ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật 44,60%, ở nông thôn là 11,89%. Tính đến tháng1-2000, trong khoảng 7,5 triệu người lao động thì đa số có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp :khoảng 4,9 triệu người có trình độ sơ cấp hoặc chứng chỉ nghề; trình độ THCN:1,4 triệu , trình độ CĐ-ĐH: 1,3 triệu;thạc sĩ hơn 10000 người. Riêng tíên sĩ và tiến sĩ khoa học đến tháng 5-2002 có khoảng13500 người. Vào cuối năm 2002 chúng ta có 1032 giáo sư và 4563 phó giáo sư . Cơ cấu trình độ đào tạo của đội ngũ lao động tính theo tỷ lệ giữa lao động trình độ ĐH, THCN và công nhân kỹ thuật là 1:1,75:2,3 vẫn là một cơ cấu bất hợp lý và để kéo dài,dẫn đến tình trạng thừa thầy thiếu thợ, kỹ sư làm công việc của cán bổ trung cấp kỹ thuật.Trong cơ cấu đội ngũ lao động ở các cơ sở sản xuất của nước ta đội ngũ công nhân và lao động đơn giản chiếm hơn 80% đội ngũ lao động; đội ngũ công nhân đã qua đào tạo; nhà kỹ thuật; quản lý; phát minh và đổi mới công nghệ chỉ chiếm 18%.Trong 50 năm qua , chúng ta đã đào tạo được hơn 1 triệu cán bộ các ngành kỹ thuật có trình độ đại học với cơ cấu ngành như sau: Sư phạm : 33,3% Khoa học kỹ thuật :25,5% Khoa học xã hội: 17% Y dược: 9,3% Nông nghiệp: 8,1% Khoa học tự nhiên: 6,8% Rõ ràng cơ cấu ngành đào tạo như vậy là bất hợp lý, là một nước nông nghiệp mà chỉ có 8,1% cán bộ có trình độ đại học được đào tạo thuộc ngành nông nghiệp, chưa đáp ứng yêu cầu của CNH-HĐH. Nước ta tiến hành CNH-HĐH trên cơ sở đan xen giữa hai nền văn minh chủ yếu là nông nghiệp và công nghiệp, cùng với một số nhân tố ban đầu của văn minh tri thức. Song về cơ bản, nước ta vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu: Dân số nông thôn chiếm gần 80% dân số cả nước, đặc biệt trong đó, dân số trẻ (dưới 15 tuổi ) chiếm khá đông, hơn 1/3 tổng số; và lao động nông thôn chiếm hơn 70% tổng nguồn lao động xã hội, trong đó phần lớn lại chưa qua đào tạo, hầu hết đang lao động thủ công, bằng những kinh nghiệm, cổ truyền là chính. Nguồn nhân lực dồi dào ở khu vực nông thôn, do đó chủ yếu vẫn đang ở dạng tiềm năng kinh tế sức mạnh của nó chưa được phát huy đầy đủ do trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật hạn chế. Nhiều nghiêm cứu đã chứng minh nếu tính chi phí trên một đơn vị sản phẩm, lao động nông thôn nước ta hiện nay đắt hơn so với lao động của nhiều nền kinh tế khác, và : tình hình này dẫn đến hai hậu quả lớn đối với nền kinh tế đang ở trong giai đoạn đẩy mạnh mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, đó là một môi trường đầu tư kém hấp dẫn và sức cạnh tranh thấp của sản phẩm. Theo số liệu thống kê mới nhất công bố năm 2003, lao động nông thôn nước ta có 31012699 người đang tham gia hoạt động kinh tế, chiếm76,18% tổng số lao động cả nước có trình độ học vấn được phản ánh trong bảng 1. Bảng 1. Trình độ học vấn của lao động nông thôn cả nước chia theo nông thôn- thành thị ( tính từ đủ 15 tuổi trở lên đang hoạt động kinh tế) Đơn vị tính:Người Thứ tự Trình độ học vấn Tổng số Chia Theo Nông thôn Thành thị 1 Chưa biết chữ 1523001 1428735 94266 2 Chưa tốt nghiệp Tiểu học 6434724 5629097 805627 3 Tốt nghiệp Tiểu học 12911678 10578521 2333157 4 Tốt nghiệp THCS 12400369 9710280 2690089 5 Tốt nghiệp THPT 7447084 3666066 3781018 Cộng 40716856 31012699 9704157 Nguồn Bộ lao động-Thương binh và xã hội, Số liệu thống kê Lao động-Việc làm ở Việt Nam 2002,Nxb. Lao động-Xã hội-Hà Nội,2003,tr.24 và 30. Xét về trình độ học vấn (B.1), có 4,6% chưa biết chữ(chiếm 93,81% tổng số lao động chưa biết chữ của cả nước), 18,15% chưa tốt nghiệp tiểu học, 34,11% tốt nghiệp tiểu học,31,31% tốt nghiệp THCS và 11,82% tốt nghiệp THPT( so với các tỉ lệ tương ứng của lao động thành thị là 0,97%, 8,3%, 24,04%, 27,72% và 38,96%). Xét trên về trình độ chuyên môn kỹ thuật(B.2), lao động khu vực nông thôn có 3751721 người đã qua đào tạo(B.2), mới đạt tỉ lệ 12,09% so với chỉ tiêu 22-25% lao động cả nước qua đào tạo do Đại Hội VIII đề ra. Chưa nói, phần lớn trong số này đang ở trình độ thấp (52,1% là những lao động có trình độ sơ cấp / chứng chỉ nghề và CNKT không có bằng), còn lại, CNKT:14,88%, THCN:20,43%, CĐ-ĐH: trở lên chiếm 12,59% (so với 21,98%, 30,58%,18,86%, và 28,57% là các tỉ lệ tương ứng của lao động thành thị). Bảng 2. Trình độ chuyên môn-kỹ thuật của lao động cả nước, chia theo nông thôn- thành thị (từ đủ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên) Đơn vị tính:Người Thứ tự Trình độ chuyên môn kỹ thuật Tổng số Chia Theo Nông thôn Thành thị 1 Sơ cấp/ có chứng chỉ nghề 1300947 993782 307165 2 Công nhân kỹ thuật không bằng 1592368 960745 631623 3 Công nhân kỹ thuật có bằng 1864015 558168 1305847 4 Trung học chuyên nghiệp 1571821 766611 805210 5 Cao đẳng, đại học và trên đạo học 1692646 472415 1220231 Cộng 8021797 3751721 4270076 Nguồn Bộ lao động-Thương binh và xã hội, Số liệu thống kê Lao động-Việc làm ở Việt Nam 2002, Sđd, tr.181,183 2. Kết quả điều tra của Đề tài cấp Nhà nước (thuộc Chương trình KHCN cấpNhà nước KX05 2001-2005) về trình độ đào tạo của lao động nông nghiệp –nông thôn được tiến hành tại 7 tỉnh và thành phố trong cả nước, cũng cho biết một số thực trạng tương tự. Bảng 3.Trình độ chuyên môn-kỹ thuật của lao động nông thôn qua điều tra khảo sát Thứ tự Trình độ chuyên môn kỹ thuật Số người Chiếm tỉ lệ(%) Tổng số 990 100,00 I Chưa qua đào tạo: 736 74,40 II Đã qua đào tạo, chia theo cấp trình độ: 1 Nghề <6 tháng 79 7,96 2 Nghề 6-12 tháng 30 3,00 3 Nghề dài hạn(>1 năm) 37 3,76 4 Trung học chuyên nghiệp 68 6,88 5 Cao đẳng 15 1,50 6 Đại học 24 2,40 7 Sau ĐH 01 0,10 Nguồn số liệu Nhà nước KX05-10. Số liệu điều tra, 3-2003 Các số liệu trong Bảng 3 cho thấy, quá nửa (57,50%) số lao động có chuyên môn kỹ thuật ở đây cũng chỉ qua đào tạo nghề, số còn lại gồm THCN chiếm 26,77% và CĐ-ĐH trở lên chiếm 15,74%. 3.Mặt khác, theo dự báo của nhiều nhà khoa học, trong nền sản xuất công nghiệp hiện đại, với tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, với sự cạnh tranh quyết liệt của cơ chế thị trường thì trung bình mỗi người, trong cuộc đời lao động, có thể sẽ phải đổi nghề khoảng 4-5 lần. Như vậy, rõ ràng là người lao động, nếu muốn tiếp tục việc làm, phải không ngừng học tập để nâng cao trình độ, cập nhật các kỹ nẵng, kiến thức mới một cách liên tục hoặc theo hoặc theo định kỳ, thậm chí phải được đào tạo lại mới có thể đáp ứng yêu cầu công việc,.. Nói tóm lại, những điều đã trình bày trên cũng nói rằng, muốn đáp ứng được yêu cầu hội nhập nền kinh tế khu vực vươn tới một cuộc sống ấm no, một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đáp ứng đòi hỏi của CNH,HĐH đất nước thì lao động nông thôn nước ta sẽ phải cố gắng hơn nữa, vượt qua mọi thách thức do thực tiễn CNH,HĐH đặt ra. 3.Nguyên nhân làm hạn chế phát triển nguồn lực con người Những hạn chế trong việc xây dựng, bồi dưỡng, phát huy nguồn lực con người Việt Nam trong thời gian qua do những nguyên nhân sau: Thứ nhất, Nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội, năng suất lao động còn rất thấp, đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, tình trạng nghèo đói còn tồn tại trong một bộ phận dân cư, do vậy, việc chăm sóc đầy đủ, đảm bảo những điều kiện cho con người phát triển toàn diện còn hạn chế. Thứ hai, Việt Nam trải qua nhiều năm chiến tranh, với khẩu hiệu tất cả cho tiền tuyến, tất cả đánh thắng, chúng ta dồn sức người sức của để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, không có điều kiện chăm sóc cho con ngươi. Hiện nay, hậu quả chiến tranh còn để lại rất nặng nề đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân phải tiếp tục khắc phục. Thứ ba, Những ảnh hưởng của phong tục tập quán, thói quen của người sản xuất nhỏ như : thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, cách nhìn thiển cận, tâm lý tự ty, tính vị kỷ, cục bộ địa phương, kể cả tác phong gia trưởng trong giáo dục và đáng giá mỗi con người,... Thứ tư, Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, mở rộng giao lưu quốc tế, một mặt cũng tạo ra những tác động tích cực, nhung mặt khác cũng tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực như : lối sống thực dụng, chỉ vì chức quyền, vì tiền mà không ít người có thể làm mọi việc bất chấp luân thường đạo lý. Điều đó gây ra những tác động xấu trong xã hội. Thứ năm, Sự đầu tư cho giáo dục đào tạo còn hạn chế, “ công tác quản lý giáo dục-đào tạo có những mặt yếu kém bất cập.” Tình trạng tiêu cực trong giáo dục còn đang phổ biến ở nhiều nơi, chất lượng giáo viên còn hạn chế. Những điều đó đang ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo, trực tiếp ảnh hưởng tới việc phát huy nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay. Thứ sáu, Những yếu kém trong quản lý nhà nước, hệ thống luật phát chưa đồng bộ, tính gia trưởng, sự bảo thủ trong một số cán bộ có chức có quyền, tâm lý đố kỵ, ghen ghét với những người có năng lực của một số người đang hạn chế phát huy nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay. Chương III: Một số giải pháp phát huy nguồn lực con người trong quá trình CNH,HĐH ở nước ta hiện nay. Để phát huy nguồn lực con người, cần thực hiện tốt những giải pháp sau: Thứ nhất: Trong lĩnh vực kinh tế Phải nâng cao vị thế của người lao động trong quá trình sản xuất. Cần nhanh chóng khắc phục tình trạng tách người lao động ra khỏi tư liệu sản xuất. Thực hiện giao đất, giao rừng cho nông dân, tạo điều kiện cho mọi người dân làm chủ cụ thể những tư liệu sản xuất của toàn xã hội, ở mọi thành phần kinh tế. Huy động rộng rãi nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, của địa phương, đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, của đơn vị. Phát huy sáng kiến của người lao động, chăm lo đời sống vật chất tinh thần của họ, thực hiện phân phối công bằng, công khai, dân chủ. Động viên mọi người dân bỏ vốn ra sản xuất kinh doanh, khai thác thế mạnh của các địa phương, phát triển ngành nghề truyền thống, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy trình độ tay nghề, năng lực quản lý kinh doanh của mỗi thành viên trong xã hội, để cùng với Nhà Nước giải quyết những khó khăn của đất nước. Tăng cường giáo dục đạo đức, khơi dậy lương tâm nghề nghiệp, nêu cao trách nhiệm của mỗi con người trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Cần làm cho mọi người thấy được trách nhiệm của mình phải lao động nghiêm túc, có chất lượng, có hiệu quả, tạo ra hàng hóa tốt, nâng cao chất lượng dịch vụ. Điều đó vừa tạo điều kiện cho xã hội phát triển, vừa là điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Phê phán mạnh mẽ thói quen lười biếng, làm bừa, làm ẩu; ngăn ngừa làm ăn phi phát, phi đạo lý. Thứ hai: Trong lĩnh vực chính trị Nâng cao trình độ của cán bộ, đảng viên và nhân dân về nhận thức chính trị(chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta), về luật phát, về Nhà nước của dân, do dân, vì dân, từ đó nâng cao trách nhiệm và năng lực của họ tích cực tham gia vào công việc của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị của nước ta. Tăng cường vai trò kiểm tra giám sát của quần chúng nhân dân trong mọi hoạt động của bộ máy nhà nước, thực hiện dân chủ hoá đời sống xã hội, huy động đông đảo quần chúng nhân dân tham gia vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Xây dựng cơ chế quản lý xã hội, quản lý nhà nước để người dân có điều kiện tham gia công việc Nhà nước, công việc xã hội, thực sự là người làm chủ đất nước; khắc phục tình trạng trì trệ, bảo thủ trong một số cơ quan nhà nước. Phân rõ trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng tập thể, từng cá nhân trong từng công việc, khắc phục tình trạng chồng chéo, hay buông lỏng quản lý nhà nước trong một số ngành, một số địa phương. Giáo dục tinh thần yêu nước, nâng cao ý thức tự cường dân tộc, trách nhiệm công dân, bản lĩnh chính trị của mỗi người dân. kiên quyết đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực, tình trạng vi phạm kỷ cương, phép nước và những âm mưu chống phá của kẻ thù, bảo vệ chế độ của mình Trên cơ sở những thành qủa đạt được, mọi người mới có điều kiện học tập, rèn luyện, phấn đấu về mọi mặt và cống hiến ngày càng nhiều cho xã hội. Thứ ba: trên lĩnh vực xã hội Từng bước khắc phục đi tới loại bỏ những phong tục tập quán lạc hậu, những quan hệ không bình đẳng, xây dựng quan hệ mới giữa người với người trên tinh thần tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất kinh doanh, trong đời sống xã hội. Xây dựng quan hệ bình đẳng hữu nghị giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, giữa các quốc gia. Cần thực hiện những biện pháp làm giảm dần khoảng cách chênh lệch giữa các tần lớp dân cư, giữa các vùng lãnh thổ. Quan tâm tới những hộ nghèo, những gia đình khó khăn, những hộ chính sách xã hội, những vùng sâu, vùng xa tạo ra cơ hội phát triển cho mọi người, làm cho mọi người dân đều được hưởng những thành quả y tế, giáo dục, văn hóa,... Thực hiện chính sách xoá đói, giàm nghèo, tập chung giải quyết những vấn đề cấp bách về lao động việc làm; trên cơ sở đó, người mọi người mới có điều kiện nâng cao trình độ tri thức, trình độ tay nghề, mới có môi trường rèn luyện phấn đấu, cống hiến sức mình cho đất nước, cho xã hội. Thứ tư: Trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá, nghệ thuật Đẩy mạnh cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, phê phán những tư tưởng phản động đang tìm cách phủ nhận con đường mà Đảng và nhân dân ta lựa chọn. “Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị, tạo nên sự thống nhất cao hơn nữa trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân.” , đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, thực dụng, chăn đà suy thoái về đạo đức, lối sống. Trước yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi các nhà văn, nhà thơ, các nhạc sĩ, các nghệ sĩ phải nâng cao trách nhiệm của mình trong sáng tác, biểu diễn, không vì đồng tiền mà bán rẻ lương tâm, vô trách nhiệm với đất nước. Dư luận xã hội phải lên tiếng ủng hộ những tác phẩm có hình thức, nội dung hay, phê phán những tác phẩm có hình thức và nội dung dở. Cần tăng cường hơn nữa công tác quản lý của Nhà nước trong hoạt động sáng tác, biểu diễn, sao cho văn học nghệ thuật phải cổ vũ cho cái hay, cái đẹp, góp phần xây dựng lối sống lành mạnh, nâng cao những giá trị nhân văn, phát huy những giá trị tốt đẹp trong con người Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta phải chăm lo tới việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng và phát huy có hiệu quả nguồn lực con người Việt Nam, tạo nên sự phát triển nhanh và bền vững đất nước, nhanh chóng thực hiện mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Thứ năm: Trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo Để có nguồn nhân lực có chất lượng cao phải thông qua giáo dục và đào tạo, vì vậy có các giải pháp sau đây để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: a.Xã hội hoá giáo dục, đa dạng hoá các loại hình đào tạo và đào tạo liên thông là lộ trình khoa học đảm bảo sự phát triển bền vững của nguồn nhân lực Việt Nam Xã Hội hoá giáo dục Trong những năm qua, thực hiện Nghị Quyết 90/cp và Nghị Quyết 73/cp của Chính Phủ, xã hội hoá giáo dục ở nước ta đã phát triển đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần đáng kể cho sự phát triển của sự nghiệp nứơc nhà: màng lưới các cơ sở giáo dục phát triển,quy mô giáo dục tăng nhanh,đặc biệt đã hình thành phong trào học tập sôi nổi trong cán bộ viên chức .Quy mô giáo dục tăng nhanh, bứơc đầu đáp ứng nhu cầu của xã hội. Cả nứơc đã hoàn thành công tác xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học và đang phổ cập trung học cơ sở, một số tỉnh, thành phố đang phổ cập trung học phổ thông. Chất lượng giáo dục từng bước được nâng cao. Cùng với việc tăng ngân sách nhà nước cho giáo dục hàng năm, nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục tăng lên đáng kể nhất là nguồn tài chính do mở rộng hợp tác với các nước,các tổ chức quốc tế các cá nhân nước ngoài và Việt Kiều. Đến nay nhận thức xã hộ hoá giáo dục đã có những chuyển biến căn bản. Các cấp uy Đảng, các cấp chính quyền,các đoàn thể đã có nhiều biện pháp huy động các lực lượng xã hội tham gia. Sự nghiệp giáo dụcvà xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh.Đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay việc thực hiện xã hội hoá giáo dục là rất cần thiết bởi một số nguyên nhân sau: Một là, để phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay, không thể chỉ sử dụng duy nhất một loại vốn –vốn nhà nước. Với múc thu nhập ngân sách thấp, Nhà nước sẽ không đủ khả năng chi ngân sách để tạo bước chuyển cần thiết, nhằm biến chuyển xã hội Việt Nam thành một xã hội học tập. Việc thực hiện huy động các nguồn vốn phi Nhà Nước sẽ là biện pháp tốt để mở rộng quy mô giáo dục; Hai là, kinh nghiệm phát triển giáo dục ở các quốc gia, đặc biệtlà những quốc gia có những điều kiện gần gũi vời Việt Nam như Sinhgapor,Malaysia đã cho thấy rằng đầu tư cho giáo dục là đầu tư mang lại hiệu quả cao nhất, tạo sự chuyển biến lớn nhất đối với sự phát triển. Đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho con người, vì con người, vì con người, mà con người lại chính là động lực của sự phát triển. Do vậy, cần phát huy mọi nguồn vốn có thể huy động được để đầu tư cho giáo dục,quản lý có hiệu quả các nguồn vốn đó, tức là phảI thực hiện._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc30034.doc
Tài liệu liên quan