Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế với phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990 – 2005

LỜI NĨI ĐẦU Ngày nay, xu hướng chung của tất cả các quốc gia là xây dựng một nền kinh tế với cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Cơ cấu kinh tế chính là tiêu thức phản ảnh sự thay đổi về chất, là dấu hiệu đàn giá, so sánh về các giai đoạn của nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế được biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau như: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu khu vực thể chế.v.v …Trong đĩ cơ cấu ngành kinh tế là quan trọng nh

doc43 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 03/10/2013 | Lượt xem: 1160 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế với phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990 – 2005, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ất vì nĩ phản ảnh sự phát triển của phân cơng lao động xã hội và sự phát triển của lực lượng sản xuất. Đối với Việt Nam, cơng cuộc đổi mới nền kinh tế chính thức bắt đầu từ năm 1986. Kể từ đĩ, Việt Nam đã cĩ nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổi mới về tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hố tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện cơng nghiệp hố hiện đại hố đất nước, đa dạng hố và đa phương hố các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện mở cửa hội nhập quốc tế. Con đường đổi mới đĩ đã giúp Việt Nam giảm nhanh đựơc tình trạng nghèo đĩi, bước đầu xây dựng nền kinh tế cơng nghiệp hố hiện đại hố, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đi đơi với sự cơng bằng tương đối trong xã hội. Và song song với những kết quả nảy là sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng tích cực: tăng dần tỉ trọng của các ngành cơng nghiệp – xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỉ trọng của các ngành nơng – lâm – thuỷ sản. Từ những lí do trên cho thấy được tầm quan trọng của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đối với sự phát triển bền vững của quốc gia. Do đĩ em chọn đề tài “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế với phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990 – 2005”. Trong thời gian thực hiện đề tài em đã được sự hướng dẫn tận tình của TS. Phan Thị Nhiệm. Em xin chân thành cảm ơn TS. Phan Thị Nhiệm đã giúp đỡ em hồn thành đề tài này. Tuy nhiên do điều kiên về thời gian và khả năng cĩ hạn nên khơng thể tránh khỏi thiếu sĩt. Rất mong được sự gĩp ý của cơ giáo và những người quan tâm tới đề tài này. CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH TRONG NỀN KINH TẾ 1.1 Một số lý luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. 1.1.1 Một số khái niệm cơ bản. 1.1.1.1 Khái niệm về cơ cấu ngành kinh tế. Cơ cấu ngành kinh tế: là tổ hợp các ngành hợp thành các tương quan tỷ lệ biểu hiện mối liên hệ giáa các nhĩm ngành của nền kinh tế quốc dân. Cơ cấu ngành phản ánh phần nào trình độ phân cơng lao động xã hội chung của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, thay đổi mạnh mẽ cơ cấu ngành là nét đặc trưng của các nước đang phát triển. Khi phân tích cơ cấu ngành của một quốc gia người ta phân tích theo 3 nhĩm ngành chính: nơng nghiệp (bao gồm nơng nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp), cơng nghiệp (bao gồm cơng nghiệp và xây dựng), dịch vụ (bao gồm các ngành kinh tế cịn lại như: thương mại, bưu điện, du lịch...). Việc phân tích cơ cấu ngành của nền kinh tế khơng chỉ dừng lại ở những biểu hiện về mặt lượng (số lượng ngành, tỷ trọng) mà quan trọng hơn là phân tích được mặt chất của cơ cấu: vị trí, vai trị của ngành hiện tại trong nền kinh tế, sự tương tác giữa cơng nghiệp và nơng nghiệp trong phát triển, khả năng hướng ngoại, quan hệ giữa cơ cấu ngành với cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu theo thành phần kinh tế... Mặt khác, cơ cấu ngành "luơn luơn vận động, phát triển", nhất là trong điều kiện cơ chế thị trường. Bởi vậy, khi phân tích cơ cấu ngành cần thấy rõ tính quy luật của sự vận động và luơn đặt ra phương hướng chuyển dịch cơ cấu ngành cho thích ứng yêu cầu phát triển kinh tế trong từng giai đoạn. 1.1.1.2 Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế: Chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế: là sự thay đổi cĩ mục đích, cĩ định hướng và dựa trên cơ sở phân tích đầy đủ căn cứ lý luận và thực tiễn cùng với việc áp dụng đồng bộ các giải pháp cần thiết để chuyển cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác hợp lý và hiệu quả hơn. Đây khơng phải đơn thuần là sự thay đổi vị trí, tỷ trọng và quan hệ giữa các ngành mà là sự biến đổi cả về lượng và chất trong nội bộ cơ cấu. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải dựa trên cơ sở cơ cấu hiện cĩ, do đĩ nội dung của chuyển dịch cơ cấu là cải tạo cơ cấu cũ lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hồn thiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn. Xu hướng cĩ tính quy luật chung của sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là chuyển dịch theo hướng cơng nghiệp hố, hiện đại hố, nghĩa là tỷ trọng và vai trị của ngành cơng nghiệp và dịch vụ cĩ xu hướng tăng nhanh cịn tỷ trọng của ngành nơng nghiệp cĩ xu hướng giảm. Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy muốn chuyển từ một nền nơng nghiệp sang nền kinh tế cơng nghiệp đều phải trải qua các bước: Chuyển từ nền kinh tế nơng nghiệp (tỷ trọng ngành nơng nghiệp chiếm 40-60%, cơng nghiệp từ 10-20%, dịch vụ từ 10-30%) sang nền kinh tế cơng, nơng nghiệp (tỷ trọng ngành nơng nghiệp 15-25%, cơng nghiệp 25-35%, dịch vụ 40-50%) để từ đĩ chuyển sang nền kinh tế cơng nghiệp phát triển (tỷ trọng ngành nơng nghiệp dưới 10%, cơng nghiệp 35-40%, dịch vụ 50-60%). 1.1.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế. - Sự phát triển các loại thị trường trong nước và thị trường quốc tế cĩ ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đầu tiên tới cơ cấu ngành của nền kinh tế. Bởi lẽ, thị trường là yếu tố hướng dẫn và điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp đều xuất phát từ quan hệ cung - cầu trên thị trường để định hướng chiến lược kinh doanh của minh. Sự hình thành và biến đổi nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để thích ứng với các điều kiện của thị trường, dẫn tới từng bước thúc đẩy sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước. Bởi vậy, sự hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường trong nước (thị trường hàng hố dịch vụ, thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường khoa học - cơng nghệ...) cĩ tác động mạnh đến quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. - Các nguồn lực và lợi thế so sánh của đất nước là cơ sở hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách bền váng và cĩ hiệu quả. Việc xác định các ngành mũi nhọn, các ngành cần ưu tiên phát triển phải dựa trên cơ sở xác định lợi thế so sánh và các nguồn lực (cả trong và ngồi nước cĩ khả năng khai thác) để chuyển hướng mạnh mẽ sang phát triển các ngành mà quốc gia cĩ lợi thế và cĩ điều kiện phát triển mới tạo đà hội nhập và tham gia cĩ hiệu quả vào phân cơng lao động quốc tế, ví dụ như tài nguyên thiên nhiên và điều kiện tự nhiên phong phú và thuận lợi tạo điều kiện phát triển các ngành cơng nghiệp du lịch, ngư nghiệp, nơng nghiệp... Dân số lao động được xem là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế, sự tác động của nhân tố này lên quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế được xem xét trên các mặt sau: + Kết cấu dân cư và trình độ dân trí, khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật mới... là cơ sở quan trọng để phát triển các ngành cơng nghiệp kỹ thuật cao và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các ngành đang hoạt động, là nhân tố thúc đẩy tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong sản xuất các ngành kinh tế quốc dân. + Quy mơ dân số, kết cấu dân cư và thu nhập của họ cĩ ảnh hưởng lớn đến quy mơ và cơ cấu của nhu cầu thị trường. Đĩ là cơ sở để phát triển các ngành cơng nghiệp và các ngành phục vụ tiêu dùng. - Mơi trường thể chế là yếu tố cơ sở cho quá trình xác định và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Mơi trường thể chế là biểu hiện cụ thể của nháng quan điểm, ý tưởng và hành vi của Nhà nước can thiệp và định hướng sự phát triển tổng thể cũng như sự phát triển các bộ phận cấu thành của nền kinh tế. Vai trị đĩ được thể thiện: + Nhà nước xây dựng và Quyết định chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội tổng thể của đất nước. Đĩ thực chất là quá trình định hướng phân bố nguồn lực và hướng đầu tư theo ngành. + Bằng hệ thống pháp luật, chính sách... Nhà nước khuyến khích hay hạn chế, thậm chí gây áp lực để các doanh nghiệp, các nhà đầu tư (cả trong và ngồi nước) phát triển sản xuất kinh doanh theo định hướng Nhà nước đã xác định. Ví dụ: để khuyến khích cơng nghiệp ơ tơ phát triển, trong những năm 1970 nhiều tổ hợp cơng nghiệp của Hàn Quốc được khuyến khích phát triển chế tạo ơ tơ và xuất khẩu ơ tơ. Các tổ hợp này được hưởng chế độ miễn thuế đặc biệt và trong trường hợp doanh nghiệp bị thua lỗ thì Nhà nước sẽ bù lỗ. - Tiến bộ khoa học - cơng nghệ khơng những chỉ tạo ra những khả năng sản xuất mới, đẩy nhanh tốc độ phát triển một số ngành làm tăng tỷ trọng của chúng trong tổng thể nền kinh tế (làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế) mà cịn tạo ra những nhu cầu mới, địi hỏi sự xuất hiện một số ngành cơng nghiệp non trẻ cơng nghệ tiên tiến như: dầu khí, điện tử... do đĩ cĩ triển vọng phát triển mạnh mẽ trong tương lai. Trên đây, chúng ta vừa xem xét một số khái niệm cơ bản cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Qua đĩ, giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về bản chất của vấn đề để từ đĩ cĩ thể rút ra những kết luận mang tính giải pháp nhằm hồn thiện cơ cấu kinh tế hợp lý trong quá trình phát triển. 1.1.2 Vai trị của chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình phát triển kinh tế. Cơ cấu kinh tế hợp lý giúp cho việc thu được mức tăng sản xuất xã hội lớn nhất, mới cĩ thể phân bố hợp lý lực lượng sản xuất, phát triển các mối quan hệ đối ngoại, đưa nhanh tiến bộ khoa học - cơng nghệ vào sản xuất. Để làm sáng tỏ kết luận trên, ta cĩ thể phân tích ví dụ sau đây về cơ cấu ngành sản xuất của hệ thống kinh tế - xã hội cho năm 1976 ở Việt Nam. Bảng 1: Bảng cân đối liên ngành của Việt Nam năm 1976 ĐV: Triệu Ngành sản xuất Giá trị tổng sản lượng Tiêu dùng sản xuất Sản lượng cuối cùng I II III C«ng nghiƯp (I) Nơng nghiệp (II) Các ngành sản xuất khác (III) X1 = 9180 X2 = 7940 X3 = 6310 3850 900 12000 1100 1160 350 1170 250 1160 3060 5630 3600 Chi phí lao động Lợi nhuận Giá trị tổng sản lượng 1940 1290 9180 3550 1780 7940 2200 1530 6310 Năm 1976 Nguồn: Niên giám thống kê Theo tỷ lệ % ta cĩ: Bảng 2: I II III Cộng Giá trị tổng sản lượng 39.18 33.89 26,93 100 Chi phí lao động 25.22 56.16 28,62 100 Tổng số vốn đầu tư (trong và ngồi nước) cĩ thể huy động cho năm sau là 1878 triệu đồng và cĩ thể phân bố cho các ngành với mức tiếp nhận cùng hiệu quả thu được như sau: Bảng 3: Cơng nghiệp Nơng nghiệp Các ngành khác Mức % tiếp nhận Hiệu quả (Mức tăng sản lượng /1 triệu đồng vốn đầu tư) 25 %- 38% 20% 25 – 35% 25% 30 – 42% 22% Vượt quá mức, hiệu quả là 15% 22% 20% Nguồn: Niên giám thống kê. Ta xét 2 phương án phân bố vốn đầu tư như sau: Bảng 4: Vốn đầu tư Cơng nghiệp Nơng nghiệp Các ngành khác 1878 35%(657,3) 25%(469,5) 40%(751,2) Hiệu quả 131,46 117,38 165,26 Giá trị tổng sản lượng 9311,46 8057,38 6475,26 Bảng 5: Vốn đầu tư Cơng nghiệp Nơng nghiệp Các ngành khác 1878 40% (751,2) 20% (375,6) 40% (751,2) Hiệu quả 112,68 82,63 150,24 Giá trị tổng sản lượng 9292,68 8022,63 6460,24 Với 2 phương án phân bổ vốn đầu tư trên, ta thu được hai phương án kế hoạch của năm 1977 như sau: (Bảng 6 và bảng 7 cĩ hiệu quả khác nhau với cơ cấu khác nhau - với ký hiệu: Xi (i = I, II, II) là giá trị tổng sản phẩm của ngành i; CPLĐ: Chi phí lao động; LN : lợi nhuận; GTTSL : giá trị tổng sản lượng. Bảng 6: Bảng cân đối liên ngành năm 1977 (Phương án I) Đơn vị: Triệu đồng Ngành sản xuất Giá trị tổng sản lượng Tiêu dùng sản xuất Sản lượng cuối cùng I II III X1 X2 X3 9311 8057,38 6475,26 3905 913 12172 1116,76 1177,15 355,17 1200,64 259 1191,45 CPLĐ LN GTTSL 1967,8 1308,48 9311,46 3602,48 1806,32 8057,38 2259,87 1564,3 6475,26 Năm 1977 Phương án 1 Bảng 7: Bảng cân đối liên ngành năm 1977 (Phương án II) Đơn vị: Triệu đồng Ngành sản xuất Giá trị tổng sản lượng Tiêu dùng sản xuất Sản lượng cuối cùng I II III X1 X2 X3 9292,6 8022,63 - 3897,3 910,70 1214,6 1111,13 1172,11 1214,6 1195,14 258,41 1188,68 CPLĐ LN GTTSL 1963,58 1306,54 9292,68 3586,12 1797,07 8022,63 2254,62 1563,39 6460,24 Năm 1977 Phương án 2 Như vậy, với cùng một mức vốn đầu tư như nhau (2878 triệu) nếu đầu tư theo tỷ lệ khác nhau vào các ngành khác nhau, sẽ dẫn tới kết cấu chi phí lao động khác nhau và hiệu quả thu được mức tăng sản phẩm xã hội khác nhau (Bảng 6,7,8) Phương án I Phương án II I II III I II III Kết cấu vốn 35% 25% 40% 40% 20% 40% Kết cấu lao động 25,13% 46% 28,87% 25,16% 45,95% 28,89% Mức tăng TSL + 414, 1 triệu đồng + 345, 28 triệu đồng Ta thấy phương án I hơn hẳn phương án II mặc dù số vốn đầu tư như nhau. Chính vì vai trị cơ cấu kinh tế trong việc phát triển, cho nên cĩ nhiều tác giả đã nĩi rằng: thực chất của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là chiến lược khơng ngừng hồn thiện và chuyển đổi cơ cấu kinh tế. 1.1.3 Lý luận về mối liên hệ giũa chuyển dịch cơ cấu và quá trình phát triển nền kinh tế. Quá trình phát triển tăng trưởng kinh tế của một quốc gia thường được xem xét như là một quá trình làm thay đổi thu nhập bình quân đầu người. Mặc dù cĩ nhiều thay đổi trong quan niệm về phát triển và tăng trưởng nhưng chỉ tiêu trên vẫn được coi trọng và làm thước đo cho sự phát triển kinh tế. Một xu hướng mang tính quy luật là cùng với sự phát triển của kinh tế là một quá trình thay đổi về cơ cấu kinh tế, tức là một sự thay đổi tương đối về mức đĩng gĩp, tốc độ phát triển của từng thành phần, từng yếu tố riêng về cấu thành nên tồn bộ kinh tế. Một trong những cơ cấu kinh tế được quan tâm và nghiên cứu nhiều trong mối liên hệ với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế là cơ cấu ngành. Ngay từ cuối thế kỷ 19, nhà kinh tế học người Đức E.Engle đã phát hiện ra mối quan hệ giữa phát triển kinh tế (thu nhập bình quân tăng lên) với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Theo E.Engle, khi thu nhập của các gia đình tăng lên thì tỷ lệ chi tiêu của họ cho lương thực, thực phẩm giảm đi. Do chức năng chính của khu vực nơng nghiệp là sản xuất lương thực, thực phẩm nên cĩ thể suy ra là tỷ trọng nơng nghiệp trong tồn bộ nền kinh tế sẽ giảm đi khi thu nhập tăng lên. Quy luật E.Engle được phát hiện cho sự tiêu dùng lương thực, thực phẩm nhưng nĩ cĩ ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng cho việc nghiên cứu tiêu dùng các loại sản phẩm khác. Các nhà kinh tế gọi lương thực, thực phẩm là các sản phẩm thiết yếu, hàng cơng nghiệp là sản phẩm tiêu dùng lâu bền và việc cung cấp dịch vụ là sự tiêu dùng cao cấp. Qua quá trình nghiên cứu, họ phát hiện ra xu hướng chung là khi thu nhập tăng lên thì tỷ lệ chi tiêu cho hàng tiêu dùng lâu bền tăng phù hợp với thu nhập, cịn chi tiêu cho tiêu dùng cao cấp tăng nhanh hơn tốc độ tăng thu nhập, tức là tỷ trọng của ngành cơng nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế đã cĩ sự thay đổi Như vậy, quy luật tiêu thụ sản phẩm của E.Engle đã làm rõ tính xu hướng của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nĩi chung và cơ cấu ngành nĩi riêng trong quá trình phát triển. 1.2 Cơ cấu ngành kinh tế trong các lý thuyết phát triển. Với tư cách là loại lý thuyết chủ yếu nghiên cứu các con đường phát triển kinh tế của các nước chậm phát triển hiện đang tiến hành cơng nghiệp hố, các lý thuyết phát triển trực tiếp hoặc gián tiếp đều bàn tới một trong những vấn đề cơ bản nhất của cơng nghiệp hố là chuyển dịch cơ cấu ngành. Song do bản thân thế giới chậm phát triển bao gồm nhiều quốc gia với những đặc điểm đặc thù khác nhau. Do xuất phát từ các quan điểm và các gĩc độ nghiên cứu khác nhau nên vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành trong quá trình cơng nghiệp hố của các loại lý thuyết phát triển cũng rất khác nhau. Cĩ thể thấy điều này qua một số lý thuyết phát triển chủ yếu sau: 1.2.1. Lý thuyết phân kỳ phát triển kinh tế. Năm 1960 cuốn "Các giai đoạn phát triển kinh tế" của nhà kinh tế học Mỹ Walt -Rostow đã tạo ra sự quan tâm lớn về nghiên cứu quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế của các nước. Theo W.Rostow, nhìn chung quá trình phát triển kinh tế của một nước cĩ thể chia ra 5 giai đoạn: Xã hội truyền thống, chuẩn bị cất cánh, trưởng thành và mức tiêu dùng cao. * Giai đoạn I. Xã hội truyền thống: Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là sản xuất nơng nghiệp giá vai trị chủ yếu trong hoạt động kinh tế. Năng suất lao động thấp do sản xuất chủ yếu bằng cơng cụ thủ cơng, khoa học - kỹ thuật chưa phát triển mạnh. Hoạt động chung của xã hội kém linh hoạt: sản xuất nơng nghiệp cịn mang tính tự cung, tự cấp, sản xuất hàng hố chưa phát triển. Tuy vậy xã hội truyền thống khơng hồn tồn là tĩnh tại, mức sản lượng cĩ thể là vẫn tăng liên tục, do diện tích canh tác được mở rộng, hoặc do áp dụng những cải tiến trong sản xuất như: xây dựng các hệ thống thuỷ lợi, áp dụng giống cây trồng mới. Song nhìn chung nền kinh tế khơng cĩ những biến đổi mạnh. Đặc trưng cơ cấu ngành kinh tế là: nơng - cơng nghiệp và cơng nghiệp cịn rất nhỏ bé, chậm phát triển. * Giai đoạn II. Chuẩn bị cất cánh: Đây được coi là thời kỳ quá độ giữa xã hội truyền thống và sự cất cánh. Trong giai đoạn này những điều kiện cần thiết để cất cánh đã bắt đầu xuất hiện. Đĩ là những biểu hiện về khoa học - kỹ thuật đã bắt đầu được áp dụng vào sản xuất cả trong nơng nghiệp và cơng nghiệp với những thay đổi quan trọng là trong xã hội đã xuất hiện nháng khu vực "đầu tầu" cĩ tác động lơi kéo nền kinh tế. Bắt đầu phát triển các ngành cơng nghiệp địi hỏi phải sử dụng nhiều lao động như các ngành dệt, may, đồ da, chế biến nơng sản và các hàng tiêu dùng khác... vốn đầu tư ít. Giáo dục được mở rộng và cĩ những cải tiến phù hợp để phù hợp với những yêu cầu mới của sự phát triển. Nhu cầu đầu tư tăng lên đã thúc đẩy sự hoạt động của ngân hàng và sự ra đời của các tổ chức huy động vốn. Tiếp đĩ giao lưu hàng hố trong và ngồi nước phát triển đã thúc đẩy sự hoạt động của ngành giao thơng vận tải, thơng tin liên lạc. Tuy vậy, tính cả các hoạt động này chưa vượt qua được phạm vi giới hạn của một nền kinh tế với những đặc trưng của phương thức sản xuất truyền thống, năng suất thấp. Xã hội truyền thống vẫn tồn tại song song với các hoạt động kinh tế hiện đại đang phát triển. * Giai đoạn III. Cất cánh: Đây là giai đoạn mà lực cản của xã hội truyền thống và các thế lực chống đối với sự phát triển đã bị đẩy lùi. Các lực lượng tạo ra sự tiến bộ về kinh tế đang lớn mạnh và trở thành lực lượng chiếm tỷ trọng lớn trong xã hội. Trong giai đoạn này khoa học - kỹ thuật tác động mạnh vào cơng nghiệp và nơng nghiệp; cơng nghiệp giá vai trị “đầu tầu”, cĩ tốc độ tăng trưởng cao, đem lại lợi nhuận lớn. Ngồi ra, ở giai đoạn này hầu hết các nước đã phát huy các ngành cơng nghiệp mũi nhọn để chiếm lĩnh đỉnh cao về khoa học - cơng nghệ của lĩnh vực này và tiến hành chuyển giao cho các nước đi sau. Sự chuyển dịch cơ cấu ngành trong giai đoạn này đã phát triển đến một trình độ cao hơn. Ví dụ, nước Anh tiến hành cơng nghiệp hố từ cuối thế kỳ XVII với sự khởi sắc của ngành cơng nghiệp dệt và đến nay vẫn là ngành cĩ ưu thế. Đức, Hoa Kỳ, Bỉ, Pháp, Thuỵ Điển là những nước tiến hành cơng nghiệp hố ở vào thời kỳ những năm 40-50 của thế kỷ XIX và chiếm giữ thế mạnh là ngành cơ khí chế tạo. ở trên ta mới xét đến đặc điểm về cơ cấu ngành, ngồi ra ở giai đoạn này cịn một số đặc điểm về mặt kinh tế - xã hội như: tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư tăng từ 5 đến 10% và cao hơn trong thu nhập quốc dân thuần tuý (NNP), ngồi vốn đầu tư huy động trong nước, vốn đầu tư huy động từ nước ngồi cĩ ý nghĩa quan trọng. * Giai đoạn IV. Trưởng thành: Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là: Tỷ lệ đầu tư đã tăng từ 10 đến 20% thu nhập quốc dân thuần tuý; khoa học - kỹ thuật được ứng dụng trên tồn bộ các mặt hoạt động kinh tế. Nhiều ngành cơng nghiệp mới, hiện đại phát triển; nơng nghiệp được cơ giới hố, đạt được năng suất lao động cao; nhu cầu xuất nhập khẩu tăng mạnh, sự phát triển kinh tế trong nước hồ dịng vào thị trường quốc tế. * Giai đoạn V. Tiêu dùng cao: Trong giai đoạn này cĩ 2 xu hướng cơ bản về kinh tế. Thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh tới mức phần lớn dân cư cĩ nhu cầu tiêu dùng vượt quá địi hỏi cơ bản về ăn, mặc, ở. Thứ hai là cơ cấu lao động thay đổi theo chiều hướng tăng tỷ lệ dân cư đơ thị và tăng tỷ lệ lao động cĩ trình độ chuyên mơn và tay nghề cao. Về mặt xã hội các chính sách kinh tế hướng vào phúc lợi xã hội nhằm tạo ra nhu cầu cao về hàng tiêu dùng lâu bền và các dịch vụ xã hội của nhĩm dân cư. Xét về cơ cấu ngành thì tỷ trọng của ngành dịch vụ đang cĩ xu hướng tăng lên, vượt qua tỷ trọng của ngành cơng nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân. Theo lý thuyết phân kỳ phát triển của W.Rostow thì hầu hết các nước đang phát triển đang tiến hành cơng nghiệp hố hiện nay nằm ở khoảng giai đoạn 2 và 3, tuỳ theo mức độ phát triển của từng nước. Ngồi những dấu hiệu kinh tế - xã hội khác, về mặt cơ cấu phải bắt đầu hình thành một số ngành cơng nghiệp chế biến cĩ khả năng lơi kéo tồn bộ nền kinh tế tăng trưởng. Đồng thời cùng với sự chuyển tiếp từ giai 2 sang 3 là sự thay đổi của những lĩnh vực đĩng vai trị “đầu tầu”. Nghĩa là trong chính sách cơ cấu cần xét đến trật tự ưu tiên phát triển những lĩnh vực cĩ thể đảm trách vai trị đĩ qua mỗi giai đoạn cụ thể. 1.2.2. Lý thuyết nhị nguyên: A.Lewis là nhà kinh tế gốc Jamaica, năm 1955 trong tác phẩm "Lý thuyết về phát triển kinh tế" ơng đưa ra cách giải thích hiện đại về mối quan hệ giáa hai khu vực: Cơng nghiệp và nơng nghiệp. Lewis đã được giải thưởng Nơbel về kinh tế năm 1979. Ơng xuất phát từ tư tưởng của Ricardo, lưu ý đến mối quan hệ giưã cơng nghiệp và nơng nghiệp trong việc giải quyết lao động dư thừa ở nơng thơn. Ơng đưa ra khả năng mở rộng khu vực cơng nghiệp bằng cách sử dụng nguồn lao động nơng thơn khơng hạn chế. Mơ hình này đã được hai nhà kinh tế học là John Fei và Gustar Rairis áp dụng vào phân tích quá trình tăng trưởng ở các nước đang phát triển. Cơ sở nghiên cứu của mơ hình: Lewis xuất phát từ cách đặt vấn đề của nhà kinh tế học cổ điển David Ricardo, người đầu tiên nghiên cứu vấn đề hai khu vực kinh tế trong tác phẩm “Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khố” xuất bản năm 1817. Trong nghiên cứu mơ hình của mình, Ricardo đã đưa ra hai vấn đề: Một là, khu vực nơng nghiệp cĩ lợi nhuận biên giảm dần theo quy mơ và tiến tới bằng khơng. Nguyên nhân của hiện tượng này là do quy mơ sản xuất nơng nghiệp ngày càng tăng lên địi hỏi phải sử dụng đất đai ngày càng xấu hơn, dẫn đến chi phí sản xuất tăng dần khi sản xuất một tấn lương thực, với mức tăng cho trước ở đầu vào dẫn đến các mức tăng liên tục nhỏ hơn ở đầu ra. Số và chất lượng ruộng đất là yếu tố cĩ điểm dừng, nếu con người khai thác đến điểm đĩ, việc tăng thêm các yếu tố đầu vào sẽ khơng làm tăng mức sản lượng đầu ra. Hai là, trong khi ruộng đất cĩ xu hướng cạn kiệt dần thì lao động trong khu vực nơng nghiệp vẫn tiếp tục tăng và dẫn đến hiện tượng dư thừa ngày càng phổ biến. Ơng cho rằng lao động dư thừa ở nơng thơn về hình thức khác với lao động dư thừa ở khu vực thành thị. ở thành thị lao động được coi là dư thừa khi họ cĩ khả năng lao động, cĩ nhu cầu lao động nhưng khơng thể tìm được việc làm. Cịn ở nơng thơn thì khơng phải như vậy, hiện tượng phổ biến ở đây là mọi người đều cĩ việc làm nhưng với năng suất lao động ngày càng thấp, các thành viên trong gia đình phải chia việc ra để làm. Sản phẩm biên của lao động giảm dần và tiến tới bằng khơng. Hiện này các nhà kinh tế gọi là thất nghiệp trá hình (vơ hình hoặc bán thất nghiệp). Từ những cơ sở nêu trên, Ricardo kết luận rằng khu vực nơng nghiệp mang tính trì trệ tuyệt đối, cần phải giảm dần cả về quy mơ và tỷ trọng trong đầu tư. Nội dung của mơ hình: Lý thuyết nhị nghuyên cho rằng ở các nền kinh tế cĩ 2 khu vực kinh tế song song tồn tại: Khu vực kinh tế truyền thống chủ yếu là sản xuất nơng nghiệp và khu vực kinh tế hiện đại (cơng nghiệp) du nhập từ bên ngồi. Theo ơng, với các mức tăng cho trước ở đầu vào dẫn đến các mức tăng liên tục nhỏ hơn ở đầu ra. Vì thế, cĩ thể chuyển một phần lao động từ khu vực này sang cơng nghiệp hiện đại mà khơng làm ảnh hưởng gì tới sản lượng nơng nghiệp. Do cĩ năng suất cao nên khu vực cơng nghiệp hiện đại cĩ thể tự tích luỹ để mở rộng sản xuất một các độc lập mà khơng phụ thuộc vào những điều kiện chung của tồn bộ nền kinh tế. Kết luận đương nhiên rút ra từ những nhận định này là để thúc đẩy sự phát triển kinh tế của những nước chậm phát triển cần phải bằng mọi cách mở rộng khu vực sản xuất cơng nghệ hiện đại càng nhanh càng tốt mà khơng cần quan tâm tới khu vực nơng nghiệp truyền thống. Sự gia tăng của khu vực cơng nghiệp hiện đại tự nĩ sẽ rút dần lao động từ khu vực nơng nghiệp sang và biến nền sản xuất xã hội từ trạng thái nhị nguyên thành một nền kinh tế cơng nghiệp phát triển. Như vậy, theo lý thuyết nhị nguyên, trong quá trình phát triển các nước chỉ nên chú trọng vào phát triển ngành cơng nghiệp và cơng nghiệp sẽ chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế. Phải nĩi rằng, những kết luận của lý thuyết nhị nguyên đã gây ra được ấn tượng mạnh mẽ đối với các quốc gia chậm phát triển từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II đến thời gian gần đây đã ít nhiều chịu ảnh hưởng của lý thuyết này.Một hướng phát triển khác dựa trên lý thuyết nhị nguyên là phân tích khả năng di chuyển lao động từ nơng thơn ra khu vực cơng nghiệp thành thị. Quá trình chuyển dịch lao động chỉ trơi chảy khi "tổng cung" về lao động từ nơng nghiệp phù hợp với "tổng cầu" ở khu vực cơng nghệp. Sự di chuyển này khơng chỉ phụ thuộc vào mức chênh lệch về thu nhập mà cịn phụ thuộc vào "xác suất" tìm được việc làm đối với những người lao động nơng nghiệp. Khi đưa thêm yếu tố "xác suất tìm được việc làm" vào phân tích, người ta thấy xuất hiện những tình huống làm yếu đi khả năng di chuyển lao động giáa 2 khu vực như sau: - Sự năng động của bản thân khu vực cơng nghiệp: Về mặt này, so với nền cơng nghiệp ở các nước phát triển thì khu vực được gọi là "cơng nghiệp hiện đại" ở các nước chậm phát triển yếu kém hơn rất nhiều. Vì vậy, để vừa cĩ thể tăng cường khả năng cạnh tranh với các nền cơng nghiệp nước ngồi, vừa làm "đầu tầu" lơi kéo sự tăng trưởng của tồn bộ nền kinh tế thì khu vực cơng nghiệp hướng tới những ngành kỹ thuật cao. Nhưng những ngành này cần tăng hàm lượng vốn đầu tư hơn là cần tăng hàm lượng lao động vì thế, khu vực "cơng nghiệp hiện đại" ở các nước chậm phát triển cũng cĩ nguy cơ gặp phải vấn đề dư thừa lao động chứ khơng riêng gì ở khu vực nơng nghiệp. - Khả năng đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của người lao động nơng nghiệp khi chuyển sang lĩnh vực cơng nghiệp. Về mặt này, một thực tế là người lao động nơng thơn cĩ trình độ học vấn thấp hơn nhiều so với lao động thành thị và thậm chí chưa quên với mơi trường lao động cơng nghiệp. Việc đào tạo lao động cơng nghiệp kỹ năng cao chẳng những địi hỏi nhiều thời gian mà cịn phải cĩ đầu tư lớn, đến mức người ta xem như một trong những lĩnh vực đầu tư quan trọng nhất đối với 1 nền kinh tế. Với những phân tích trên, người ta thấy rằng xác suất tìm được việc làm mới ở khu vực cơng nghiệp đối với người nơng dân dời bỏ ruộng đồng là cĩ giới hạn. Tĩm lại, khi phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của 2 lĩnh vực sản xuất vật chất quan trọng nhất của nền kinh tế chậm phát triển trong thời kỳ cơng nghiệp hố, các lý thuyết nhị nguyên đã đi từ chỗ cho rằng chỉ cần tập trung vào phát triển cơng nghiệp mà khơng chú ý tới nơng nghiệp đến chỗ chỉ ra những giới hạn của chúng và vì thế cần quan tâm thích đáng tới nơng nghiệp trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quá trình phát triển. 1.2.3. Lý thuyết phát triển cân đối liên ngành. Những người ủng hộ quan điểm này như R.Murkse, P.Rosentein -Rodan... cho rằng để nhanh chĩng cơng nghiệp hố cần thúc đẩy sự phát triển đồng đều ở tất cả các ngành kinh tế quốc dân. Họ chủ yếu dựa trên những luận cứ sau: - Trong quá trình phát triển, tất cả các ngành kinh tế liên quan mật thiết với nhau trong chu trình "đầu ra" của ngành này là "đầu vào" của ngành kia. Vì thế, sự phát triển đồng đều và cân đối chính là địi hỏi sự cân bằng cung, cầu trong sản xuất. - Sự phát triển cân đối giáa các ngành như vậy cịn giúp tránh được ảnh hưởng tiêu cực của nháng biến động của thị trường thế giới và hạn chế mức độ phụ thuộc vào các nền kinh tế khác, tiết kiệm ngoại tệ vốn rất khan hiếm và thiếu hụt. - Một nền kinh tế dựa trên cơ cấu cân đối hồn chỉnh như vậy chính là nền tảng váng chắc đảm bảo sự độc lập chính trị của các nước thuộc thế giới thứ ba chống lại chủ nghĩa thực dân. Tuy nhiên, trong sự phát triển luơn cĩ cạnh tranh giữa các nước về các sản phẩm, hàng hố. Do đĩ, để phát triển được các ngành kinh tế nội địa, Nhà nước cần cĩ nháng chính sách bảo hộ, cụ thể là: + Chính sách bảo hộ mậu dịch: Nhà nước thực hiện hàng rào thuế quan cao và chế độ hạn ngạch nhâp khẩu nhằm hạn chế các loại hàng nhập khẩu và nâng sức cạnh tranh về giá của các mặt hàng nội địa. + Chính sách tỷ giá hối đối: Để khuyến khích sản xuất và tiêu dùng hàng hố nội địa, các Chính phủ thường duy trì chế độ tỷ giá hối đối theo hướng nâng cao trị giá đồng tiền bản điạ nhằm làm yếu khả năng cạnh tranh của hàng ngoại trên thị trường nội địa. Như vậy, theo lý thuyết này, để phát triển cần xây dựng một nền kinh tế đa ngành và hạn chế giao lưu, trao đổi với bên ngồi, hay nĩi cách khác đĩ là nền kinh tế "tự cung, tự cấp". Với những chính sách trên, hầu hết các quốc gia đang phát triển theo mơ hình này đã đạt được mức tăng trưởng tương đối cao trong giai đoạn đầu. Mặc dù về thực chất, sự tăng trưởng này chủ yếu bắt nguồn từ điểm xuất phát thấp, khiến cho một mức gia tăng nhỏ về số lượng tuyệt đối cũng đẩy chỉ số tương đối lên rất cao, song nĩ cũng tạo ra sự thay đổi về cơ cấu kinh tế nhất định, làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của các quốc gia vốn trước đây là xứ thuộc địa. Đáng tiếc rằng, tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mơ hình này đã khơng thể tiếp tục duy trì lâu hơn. Các nước khác nhau tuỳ vào những điều kiện cụ thể của mình mà lần lượt rời bỏ mơ hình trước những giới hạn khơng sao vượt qua được. Các nhà kinh tế học đã tổng kết các lý do cơ bản của tình hình này là: + Mơ hình này tự nĩ giả định phát triển đồng thời tất cả (hay ít nhất cũng là hầu hết) các ngành kinh tế quốc dân. Yêu cầu này khơng thể đáp ứng được bởi các nền kinh tế kém phát triển do bị quá tải về vốn đầu tư, khả năng cơng nghệ kỹ thuật và quản lý. + Việc phát triển một cơ cấu kinh tế cân đối, hồn chỉnh đã đưa nền kinh tế đến chỗ khép kín và tách biệt với thế giới bên ngồi. Điều này chẳng những ngược với xu hướng chung của tất thảy mọi nền kinh tế trong điều kiện hiện đại là khu vực hố và tồn cầu hố. Kinh nghiệm thế giới và lý thuyết hệ thống đã chỉ ra rằng: Sự phát triển của một quốc gia do động lực bên trong q._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docG0044.doc
Tài liệu liên quan