Quản lý thu thuế ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi - Thực trạng và giải pháp

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thuế do Nhà nước tổ chức và thực hiện. Đó là sự chuyển dịch một chiều thu nhập từ phía doanh nghiệp và dân cư (khu vực tư) vào khu vực công. Phía sau quá trình chuyển dịch này gồm nhiều vấn đề đặt ra như: tương quan giữa số thuế thu được trong hiện tại và tương lai; ảnh hưởng của thuế đến hành vi kinh doanh, đến động thái tiêu dùng xã hội; thuế và tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội... Do đó, thuế là một lĩnh vực phức tạp, bởi lẽ không chỉ thể hiện ra những

doc134 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 1092 | Lượt tải: 2download
Tóm tắt tài liệu Quản lý thu thuế ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi - Thực trạng và giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
vấn đề kinh tế mà còn chứa đựng nhiều vấn đề xã hội sâu sắc. Thuế không những đòi hỏi tính khoa học về mặt lý luận, sự chính xác trong luật định mà còn cần đến nghệ thuật tinh tế trong hành thu. "Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN", hàng năm số thu về thuế chiếm khoảng 80% đến 90% tổng thu NSNN. Điều đó đòi hỏi Nhà nước cần tu chỉnh các Luật thuế, các văn bản pháp lý khác về thuế nhằm hoàn thiện hệ thống thuế, đưa thuế ngày càng tiếp cận thực tiễn. Để phản ánh và theo kịp bước chuyển của nền kinh tế thì quản lý thu thuế cần phải thay đổi và phải được hoàn thiện hơn để đáp ứng tình hình phát triển kinh tế của đất nước cũng như các cam kết quốc tế trong giai đoạn hiện nay. Qua đó khai thác tối đa những uy lực vốn có của thuế để kích thích sự phát triển kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất kinh doanh của mọi đơn vị thuộc các thành phần kinh tế và đảm bảo thực hiện đúng nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. Đối với khu vực KTNQD, hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng mở rộng, đều khắp các địa bàn trong từng địa phương và cả nước. Song chế độ sổ sách kế toán, chứng từ hóa đơn còn thực hiện tùy tiện, chưa đúng chế độ, hiện tượng khai man trốn thuế, lậu thuế còn nhiều từ đó tạo ra sự bất bình đẳng và sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các thành phần kinh tế. Vì vậy, quản lý thu thuế đối với khu vực KTNQD phải tiếp tục cải tiến và hoàn thiện nhằm thực hiện được mục tiêu, yêu cầu của hệ thống thuế đặt ra. Quảng Ngãi là một tỉnh duyên hải miền Trung, số thu về thuế không nhiều, chưa đủ đáp ứng nhu cầu chi tiêu của địa phương, nhưng trong đó kinh tế ngoài quốc doanh (KTNQD) đã đóng góp một phần không nhỏ vào số thu hàng năm của ngân sách địa phương. Nhiều năm qua ngành thuế tỉnh Quảng Ngãi nói chung, thuế ngoài quốc doanh (NQD) nói riêng đã hoàn thành kế hoạch pháp lệnh của Nhà nước giao. Nhưng với tính chất đa dạng và phức tạp của khu vực kinh tế này, công tác quản lý thu thuế ở tỉnh Quảng Ngãi cần được khắc phục những mặt hạn chế và tồn tại, đảm bảo nuôi dưỡng nguồn thu, thu đúng, thu đủ theo quy định của pháp luật. Việc chọn đề tài "Quản lý thu thuế ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi - Thực trạng và giải pháp" có ý nghĩa thiết thực và bức xúc cả về mặt lý luận và thực tiễn. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Cho đến nay đã có một số đề tài nghiên cứu xung quanh vấn đề về thuế - công tác quản lý thu thuế. Mỗi đề tài nghiên cứu đều có mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận và mục tiêu cụ thể khác nhau. Tuy nhiên, chưa có một tác giả nào nghiên cứu bàn về quản lý thu thuế NQD trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Vì vậy, luận văn nghiên cứu là cần thiết, qua đó chỉ những nguyên nhân còn hạn chế trong quản lý thu thuế NQD, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp khả thi ở địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, nhằm thực hiện được mục tiêu của hệ thống thuế tại địa phương. 3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu - Mục đích: làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và những giải pháp thiết thực nhằm tăng cường, hoàn thiện quản lý thu thuế NQD trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. - Nhiệm vụ của luận văn: + Hệ thống hóa những vấn đề lý luận của quản lý thu thuế đối với khu vực KTNQD. + Phân tích đánh giá thực trạng quản lý thu thuế NQD trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. + Đề xuất quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn thiện và tăng cường quản lý thu thuế NQD tại tỉnh Quảng Ngãi. - Phạm vi nghiên cứu: Quản lý thu thuế đối với khu vực KTNQD rất rộng, đa dạng và phức tạp. Vì vậy, phạm vi của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về quản lý thu thuế khu vực NQD trong các hoạt động sản xuất kinh doanh - dịch vụ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi gồm: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Doanh nghiệp tư nhân, Hộ kinh doanh công thương nghiệp và dịch vụ từ năm 1999 - 2001. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh để rút ra những kết luận cần thiết. 5. Đóng góp mới về mặt khoa học của đề tài Từ những đánh giá về thực trạng, những ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân của những tồn tại của công tác quản lý thu thuế đối với khu vực KTNQD ở tỉnh Quảng Ngãi, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường và hoàn thiện công tác quản lý thu thuế NQD trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi hiện nay. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho lãnh đạo và các cán bộ nghiệp vụ ở cơ quan thuế trong quá trình lập dự toán, phân tích, đánh giá kế hoạch thu, đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế ở đơn vị. Đảm bảo sự tinh tế trong hành thu; hạn chế đến mức thấp nhất hiện tượng thất thu thuế; thực hiện công bằng trong điều tiết thuế ở các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết. Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ NGOÀI QUỐC DOANH 1.1. THUẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONG NỀN KINH TẾ NƯỚC TA HIỆN NAY 1.1.1. Khái niệm - bản chất, đặc điểm của thuế - Khái niệm - bản chất: Thuế là một phạm trù kinh tế tài chính mang tính khách quan, đồng thời cũng là một phạm trù lịch sử, nó ra đời, tồn tại, phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của một nhà nước. Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, Nhà nước xuất hiện khi xã hội có sự phân chia thành giai cấp, để duy trì bộ máy hoạt động của mình như: an ninh, quốc phòng; chi hoạt động của bộ máy nhà nước; chi sự nghiệp giáo dục, y tế;....; đòi hỏi Nhà nước phải có nguồn tài chính để chi. Nguồn tài chính này có được là do sự đóng góp của mọi thành viên trong xã hội và sự đóng góp này mang tính bắt buộc. Theo Ph.Ăngghen: "Để duy trì quyền lực công cộng cần phải có sự đóng góp của những người công dân cho Nhà nước đó là thuế má" [24, tr. 522]. Trong thời kỳ Cộng sản nguyên thủy, khi điều kiện lao động của con người còn thô sơ, con người lao động đủ để duy trì sự sống của mình, chưa có Nhà nước lúc đó xã hội chưa biết thuế là gì. Với tiến trình phát triển của xã hội loài người, Nhà nước xuất hiện, thuế cũng từ đó ra đời, tồn tại và phát triển. Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy, một khi Nhà nước chỉ làm nhiệm vụ quản lý hành chính đơn thuần thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ở chừng mực nhất định, xã hội ngày càng phát triển hơn nên Nhà nước có thêm nhiệm vụ điều hành, quản lý nền kinh tế thì chi tiêu của Nhà nước ngày càng nhiều hơn. Đến khi Nhà nước đảm nhận thêm công việc chăm lo đời sống, văn hóa, xã hội của cộng đồng thì thuế lại được động viên càng lớn với nhiều sắc thuế và ở tất cả mọi hoạt động trong nền kinh tế. Như vậy, khi vai trò, nhiệm vụ của Nhà nước ngày càng được mở rộng, đòi hỏi nguồn tài chính phục vụ cho việc chi tiêu ngày càng tăng lên. Điều đó, không thể thiếu sự đóng góp của người dân và các tổ chức kinh tế, đó là thuế. Theo phân tích trên, thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước và thuế ra đời khi hoạt động lao động sản xuất của xã hội loài người tạo ra sản phẩm thặng dư. Với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, sự chuyển dịch giá trị sản phẩm thặng dư từ thành phần kinh tế này sang thành phần kinh tế khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác rất đa dạng và phức tạp. Cho nên, đứng trên giác độ toàn xã hội, đòi hỏi phải có hệ thống thuế để điều tiết thỏa đáng số sản phẩm thặng dư xã hội tạo ra sao cho hợp lý và công bằng. Vì vậy, khi xã hội càng văn minh thì thuế khóa lại càng đa dạng và phát triển. Tóm lại, qua quá trình phát triển của Nhà nước và thuế cho chúng ta thấy, thuế và Nhà nước là hai phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau. Nhà nước tồn tại tất yếu phải có thuế. Thuế là cơ sở vật chất đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của Nhà nước. Trên các sách báo kinh tế thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm về thuế. Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế đưa ra mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế, do đó chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này. Chẳng hạn, theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản: "Thuế khóa là cái vú sữa của chính phủ" [23, tr. 317]. Sau này khái niệm về thuế được bổ sung và hoàn thiện hơn. Trong cuốn Từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes cho rằng: "Thuế là một biện pháp của chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu hàng hóa và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản". Một định nghĩa về thuế tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn "Economics" của hai nhà kinh tế Mỹ như sau: Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hóa hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật [31, tr. 10]. Ở nước ta đến nay cũng chưa có một định nghĩa thống nhất về thuế. Theo một số nhà nghiên cứu: thuế là hình thức động viên, phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo pháp luật của Nhà nước quy định, nhằm đáp ứng những khoản chi tiêu cần thiết của Nhà nước. Đó là khoản thu của Nhà nước đối với các tổ chức (chủ yếu là tổ chức kinh tế) và mọi thành viên trong xã hội; khoản thu này mang tính bắt buộc không hoàn trả trực tiếp [25, tr. 1]. Gần đây, trong một số công trình nghiên cứu về thuế, các nhà kinh tế cho rằng, để vạch rõ bản chất của thuế thì trong định nghĩa phải nêu bật các khía cạnh sau đây: nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với các pháp nhân và thể nhân; những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh nhà nước; xét theo khía cạnh luật pháp thuế là khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định. Kết hợp những hạt nhân hợp lý của những quan niệm về thuế kể trên, có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế như sau: Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, nhằm sử dụng cho mục đích công cộng [30, tr. 11]. - Đặc điểm: Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế. Những thuộc tính đó có tính ổn định qua từng giai đoạn phát triển. Nghiên cứu về thuế người ta thấy nó có những đặc điểm riêng để phân biệt với các công cụ tài chính khác. + Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho Nhà nước mang tính bắt buộc phi hình sự: Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, nó phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác của NSNN. Đặc điểm này vạch rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ, được hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc động viên mang tính chất bắt buộc của Nhà nước. Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế - như một nhà kinh tế định nghĩa: là một phương thức phân phối của Nhà nước mà kết quả của quá trình đó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho Nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác trực tiếp cho người nộp thuế. Tính chất cưỡng chế bắt buộc của việc chuyển giao thu nhập bắt nguồn từ những lý do sau: Thứ nhất, hình thức chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không gắn với lợi ích cụ thể của người nộp thuế, do đó không thể sử dụng phương pháp tự nguyện trong việc chuyển giao. Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng, Nhà nước tất yếu phải sử dụng quyền lực chính trị để bắt buộc mọi đối tượng có thu nhập phải chuyển giao. Thứ hai, trong xã hội văn minh nhu cầu của các thành viên cộng đồng về hàng hóa công cộng ngày càng tăng cao. Để duy trì hoạt động đó thì thu nhập về hàng hóa công cộng từ những người thụ hưởng phải bù đắp đủ các chi phí bỏ ra. Nhưng hàng hóa công cộng lại có tính chất đặc biệt, nó không thể phân bổ theo "khẩu phần" để sử dụng và người thụ hưởng cũng không muốn sử dụng theo "khẩu phần". Mặt khác, hàng hóa công cộng không có tính cạnh tranh và không thể đem trao đổi trực tiếp trên thị trường để bù đắp các chi phí. Chính vì vậy trong việc cung cấp hàng hóa công cộng đã xuất hiện những "người ăn không", nghĩa là không ai tự nguyện trả tiền cho việc thụ hưởng hàng hóa công cộng. Do đó, để đảm bảo cung cấp hàng hóa công cộng, Nhà nước chỉ có thể sử dụng phương pháp thuế để buộc "người ăn không" phải chuyển giao thu nhập từ khu vực tư sang khu vực công. Tuy nhiên, tính bắt buộc của thuế không có nội dung hình sự, nghĩa là hành động đóng thuế cho Nhà nước không phải là hành động xuất hiện khi có biểu hiện phạm pháp, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của người công dân. Từ đặc điểm này, thuế không giống như các hình thức huy động tài chính khác của NSNN như: lệ phí, công trái hoặc hình thức phạt bằng tiền. Hình thức phạt bằng tiền cũng là hình thức bắt buộc, song việc phạt tiền chỉ xảy ra đối với người nộp phạt khi có hành vi vi phạm luật lệ làm phương hại đến lợi ích nhà nước hoặc cộng đồng. Hình thức phí, lệ phí, công trái nói chung mang tính tự nguyện và có tính chất đối giá. Tính bắt buộc của phí và lệ phí chỉ xảy ra khi người trả phí, lệ phí thụ hưởng trực tiếp những dịch vụ do Nhà nước cung cấp. + Việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp: Tính không hoàn trả trực tiếp của thuế được biểu hiện trên các mặt sau: Thứ nhất, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp xã hội chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thụ hưởng những dịch vụ và hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp. Người nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới phát sinh khoản chuyển giao thu nhập cho Nhà nước; mặt khác mức độ cung cấp dịch vụ công cộng của Nhà nước cũng không nhất thiết ngang bằng mức độ chuyển giao. Mức chuyển giao thu nhập nhiều hay ít chỉ căn cứ vào kết quả hoạt động kinh tế và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cũng như nhu cầu tài chính chung của Nhà nước. Thứ hai, khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không được hoàn trả trực tiếp có nghĩa là người nộp thuế suy cho cùng sẽ nhận được một phần các dịch vụ công cộng mà Nhà nước cung cấp chung cho cả cộng đồng, giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết tương đồng với khoản tiền thuế mà họ nộp cho Nhà nước. Đặc điểm này giúp ta phân biệt sự khác nhau giữa thuế và các khoản phí, lệ phí. + Việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế được quy định trước bằng luật pháp: Đặc điểm này một mặt thể hiện tính pháp lý cao của thuế, mặt khác phản ánh sự chuyển giao thu nhập không mang tính chất tùy tiện mà dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định và đã được xác định trước trong Luật thuế; Pháp lệnh thuế. Những tiêu thức thường được xác định trước trong các Luật thuế, Pháp lệnh thuế là: đối tượng chịu thuế; đối tượng nộp thuế; mức thuế phải nộp; thời hạn cụ thể và những chế tài mang tính cưỡng chế khác. + Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội trong những thời kỳ nhất định: Yếu tố kinh tế tác động đến thuế thường là mức độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, thu nhập bình quân đầu người, giá cả, thị trường, sự biến động của NSNN.... Yếu tố chính trị, xã hội tác động đến thuế thường là thể chế chính trị của Nhà nước, tâm lý, tập quán của các tầng lớp dân cư, truyền thống văn hóa, xã hội của dân tộc... Do thuế chịu sự ràng buộc của các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội nên người ta thường nói thuế mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội tổng hợp. + Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chỉ được giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lý của Nhà nước đối với con người và tài sản. Tóm lại: những đặc điểm cơ bản trên đây của thuế đã phản ánh bản chất và nội dung bên trong của thuế. Từ những đặc điểm đó, giúp chúng ta phân biệt thuế với các hình thức động viên khác của NSNN trên nhiều phương diện khác nhau. 1.1.2. Vai trò của thuế + Thuế là công cụ chủ yếu huy động tập trung nguồn lực cho Nhà nước: Bất kỳ một chế độ Nhà nước nào muốn tồn tại và phát triển đều phải tạo cho mình một nền tài chính quốc gia vững chắc và lành mạnh, mà trong đó nguồn tài chính chủ yếu được động viên từ thuế và phí ở nội bộ nền kinh tế quốc dân. "Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN". Ở nước ta từ khi có các Luật thuế ra đời nguồn thu từ thuế ngày càng tăng lên, ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng số thu ngân sách, năm 1990 đạt 86%; năm 1997 đạt 87%; năm 1998 đạt 88%, đến nay khoảng 90% [26, tr. 10]. Vai trò của thuế thực sự được nâng lên và thể hiện rõ trong quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước, thuế được áp dụng thống nhất đối với các thành phần kinh tế, không phân biệt kinh tế nhà nước và KTNQD, nó bao quát và điều tiết các hoạt động kinh doanh, mọi nguồn thu nhập, mọi tài nguyên thiên nhiên và mọi hoạt động tiêu dùng trong xã hội. Chính sách động viên về thuế cần có tác dụng bồi dưỡng nguồn thu vững chắc, lâu dài cho NSNN. Cơ chế thuế suất không nên quá phức tạp, quá cao mà cần nghiên cứu và tính toán dựa trên những căn cứ khoa học và sự phát triển của nền kinh tế sẽ phù hợp hơn với khả năng đóng góp của đối tượng nộp thuế, đảm bảo nguồn thu ngân sách được ổn định thường xuyên. Thuế suất được điều chỉnh giảm có thể sẽ dẫn đến phát sinh lo lắng không đảm bảo nguồn thu cho ngân sách. Nhưng trên thực tế nếu hệ thống thuế hợp lý, thuế suất ở mức vừa phải thì sẽ tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân, đối tượng nộp thuế thấy mức thuế công bằng hợp lý sẽ tự nguyện khai báo nộp thuế tốt hơn. Diện thu thuế được mở rộng, diện miễn giảm thu hẹp, vừa được lòng dân vừa đảm bảo nhiệm vụ thu theo kế hoạch. Tỷ lệ động viên về thuế cần tính toán khoa học, đầy đủ mọi khoản đóng góp cho NSNN, bao gồm mọi khoản thuế, phí và lệ phí. Cần khắc phục tình trạng các ngành, các địa phương tùy tiện đặt ra các khoản thu trái với quy định của Nhà nước. Thuế tạo nguồn thu cho NSNN, nhưng nguồn thu đó được hình thành trên cơ sở nền kinh tế tăng trưởng và đạt hiệu quả cao. Đây là vấn đề luôn được các quốc gia quan tâm đúng mức trong quá trình hoạch định chính sách và tổ chức quản lý thu thuế. + Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước dùng để quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng hóa, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Một chính sách thuế đặt ra không chỉ đơn thuần tạo nguồn thu cho NSNN, mà quan trọng hơn là thực hiện chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Hiện nay, nền kinh tế nước ta đã và đang chuyển sang nền kinh tế thị trường, cùng với sự kích thích sản xuất phát triển, cơ chế thị trường cũng là môi trường làm nảy sinh những khuyết tật vốn có của nó. Vì vậy, để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước, Nhà nước phải sử dụng các công cụ kinh tế, trong đó đặc biệt là công cụ thuế nhằm tạo lập các cân đối vĩ mô, điều tiết thị trường, đảm bảo sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Sự điều tiết của Nhà nước thông qua thuế gồm hai mặt: khuyến khích và hạn chế. Điều đó được thể hiện ra trong việc xây dựng cơ cấu các loại thuế và mối quan hệ giữa chúng cũng như việc xác định thuế suất, chế độ miễn - giảm thuế phù hợp với điều kiện thực tế. Khuyến khích đối với những ngành nghề, hoạt động sản xuất kinh doanh cần thiết cho nền kinh tế quốc dân hoặc những ngành nghề những hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ cho đại đa số quần chúng nhân dân thì áp dụng thuế suất thấp. Hạn chế, thu hẹp những ngành nghề không có lợi cho sự phát triển của nền kinh tế, cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân hoặc những ngành nghề ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, đến sức khỏe của nhân dân thì áp dụng thuế suất cao. Trong nền kinh tế thị trường, các thành phần kinh tế tự do lựa chọn ngành nghề sản xuất, kinh doanh, với mục tiêu đầu tư vào những ngành nghề nào mang lại lợi nhuận cao nhất mà không tính đến hậu quả để lại sau quá trình sản xuất kinh doanh. Nhà nước dùng công cụ thuế để điều chỉnh và hướng các hoạt động sản xuất kinh doanh đi vào con đường phát triển có hiệu quả mang lại nhiều lợi ích cho quốc kế dân sinh. Trong điều kiện nay, hệ thống thuế của Nhà nước Việt Nam thể hiện rất rõ quan điểm khuyến khích các ngành nghề sản xuất hơn là các hoạt động thương mại, dịch vụ. Sản xuất các mặt hàng thiết yếu được khuyến khích hơn sản xuất các mặt hàng và dịch vụ khác. Để khuyến khích các ngành nghề sản xuất hàng xuất khẩu, sản xuất sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu cần thiết khi trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu, hay đầu tư vào những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng không thuận lợi cho sức khỏe, sinh hoạt của người dân,... Nhà nước thường áp dụng thuế ưu đãi để thúc đẩy kinh tế phát triển một cách có hiệu quả, đồng bộ theo hướng có lợi cho quốc kế dân sinh. Hiện nay, Nhà nước ta sử dụng tổng hợp hệ thống chính sách thuế, nhằm: khuyến khích mạnh mẽ các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế cạnh tranh lành mạnh trên cơ sở bình đẳng trước pháp luật; góp phần thúc đẩy việc khai thác vật tư nguyên liệu trong nước, tranh thủ vốn đầu tư nước ngoài để mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế hàng hóa đẩy mạnh xuất nhập khẩu đáp ứng yêu cầu tiêu dùng và tích lũy; bảo đảm lợi ích giữa Nhà nước và xã hội, lợi ích của các bên hợp tác, vừa đảm bảo sản xuất trong nước phát triển nâng cao đời sống của người dân. + Thuế góp phần điều hòa thu nhập thực hiện công bằng xã hội trong phân phối: Với học thuyết "Bàn tay vô hình" của Adam Smith nền kinh tế thị trường không có sự điều chỉnh, can thiệp của Nhà nước, thị trường tự điều chỉnh nền kinh tế. Như vậy, thì sự phân phối thu nhập sẽ gây ra sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc. Một bộ phận dân chúng sẽ giàu lên nhanh chóng, đại đa số người nghèo càng khó khăn hơn, đời sống không được cải thiện. Tình trạng trên không chỉ liên quan đến vấn đề đạo đức, công bằng xã hội mà còn tạo nên tình trạng lũng đoạn, độc quyền và về lâu dài sẽ không thể đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng được. Trong thực tế, sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đều có sự đóng góp của cộng đồng, của toàn xã hội. Chính vì vậy mà thành quả kinh tế đạt được trong hiện tại và tương lai phải được phân phối trên cơ sở của cộng đồng. Cho nên, cần có sự can thiệp của Nhà nước trong quá trình phân phối thu nhập, sự phân phối này chủ yếu nhờ vào công cụ thuế để điều tiết. Nền kinh tế của nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước, thì vai trò tạo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và người dân trong động viên điều tiết thuế và công bằng xã hội ngày càng được nâng cao hơn, bao quát hơn. Sự thành công trong việc đổi mới chính sách thuế của Nhà nước ta trong những năm qua là: hệ thống thuế mới được áp dụng chung cho các ngành nghề, hoạt động sản xuất kinh doanh, không phân biệt thành phần kinh tế cũng như các tầng lớp nhân dân nhằm mục tiêu đảm bảo sự công bằng bình đẳng trong điều tiết. Sự bình đẳng, công bằng thể hiện thông qua các chính sách động viên như nhau giữa các thành phần kinh tế, chủ thể sản xuất kinh doanh và mọi tầng lớp dân cư. Thông qua một hệ thống các sắc thuế, Nhà nước điều chỉnh mức thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội, người có thu nhập cao phải đóng thuế cao và ngược lại (thể hiện thông qua hoạt động tiêu dùng chịu sự điều tiết của các sắc thuế gián thu và thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao). Tổ chức và cá nhân kinh doanh có lợi nhuận cao phải đóng góp thuế cao hơn những tổ chức và cá nhân kinh doanh có lợi nhuận thấp (thể hiện ở sắc thuế TNDN). 1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA QUẢN LÝ THU THUẾ NGOÀI QUỐC DOANH 1.2.1. Một số vấn đề chung về kinh tế ngoài quốc doanh - Kinh tế thị trường và sự tồn tại tất yếu của khu vực KTNQD: Trong điều kiện nước ta hiện nay, việc nghiên cứu KTNQD nói chung và thuế đối với KTNQD nói riêng không thể tách rời việc nghiên cứu những đặc điểm của môi trường mà KTNQD tồn tại và phát triển. Đó chính là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Bởi lẽ, khi chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường chính là nội dung bao trùm nhất của công cuộc đổi mới được khởi xướng từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, được tiếp tục khẳng định ở những Đại hội lần thứ VII, VIII, IX. Vậy kinh tế thị trường có những đặc trưng cơ bản gì? Nhiều đặc trưng, song có thể nêu ít nhất mấy đặc trưng đáng quan tâm sau đây: Thứ nhất, Đó là tính chất đa thành phần của nền kinh tế. Nếu kinh tế kế hoạch hóa tập trung phủ nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế thì ngược lại kinh tế thị trường coi sự tồn tại của các thành phần kinh tế khác nhau là một tất yếu khách quan, một động lực để thúc đẩy kinh tế phát triển. ở đây, nền kinh tế được chia thành hai khu vực cơ bản đó là: Khu vực kinh tế nhà nước (kinh tế quốc doanh cũ) và kinh tế NQD. Mỗi khu vực đều có chức năng và nhiệm vụ riêng, cùng nhau tồn tại, phát triển theo nguyên tắc hỗ trợ, hỗn hợp, đan xen và bổ sung cho nhau. Thứ hai, Trong cơ chế thị trường mọi sản phẩm sản xuất đều mang tính chất hàng hóa với đầy đủ ý nghĩa của nó. Không những thế, vật tư, kỹ thuật, sức lao động, trí tuệ, thông tin,... đều được coi là hàng hóa, tiêu thụ trên thị trường với giá cả được xác định chủ yếu theo quy luật giá trị, quy luật cung cầu, trên nguyên tắc thuận mua vừa bán. Thứ ba, Tính cạnh tranh. Trong khuôn khổ pháp luật mọi thành phần kinh tế được tham gia bình đẳng ở tất cả mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ (trừ một số ngành nghề Nhà nước cấm kinh doanh), việc đầu tư tiền vốn, tăng cường trang thiết bị kỹ thuật, thuê mướn công nhân, liên doanh liên kết cả trong và ngoài nước đều được khuyến khích phát triển. Các yếu tố thị trường quốc gia dần từng bước hòa nhập với thị trường quốc tế, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Chính sự cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế và sự phát triển không ngừng về nhu cầu tiêu dùng đã tạo ra thị trường hàng hóa đa dạng, phong phú mà thực tiễn kinh tế thị trường đã minh chứng. Kinh tế thị trường có khả năng giải phóng mọi tiềm năng sản xuất, điều chỉnh mọi hoạt động kinh doanh, khuyến khích sử dụng nguồn vốn có hiệu quả, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội ngày càng phát triển. Từ đặc điểm cạnh tranh, thị trường tuy thống nhất nhưng các thành phần kinh tế hoạt động với khả năng, trình độ và mục tiêu khác nhau. Cơ chế thị trường tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp có tiềm lực về trí tuệ, tiền vốn, kỹ thuật, làm ăn có hiệu quả được phép làm giàu một cách chính đáng. Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường luôn tồn tại những khuyết tật vốn có của nó, nhất là khi tình trạng phát triển tự phát hoặc cạnh tranh không lành mạnh. Nếu Nhà nước không đủ sức điều chỉnh thị trường thì với xu thế "mạnh được, yếu thua" phát triển, thị trường sẽ bị rối loạn, hoạt động trốn lậu thuế, mua bán chèn ép nhau, thậm chí có cả những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, lừa gạt, triệt tiêu lẫn nhau để tồn tại và phát triển ngày càng gia tăng theo thời gian. Đối lập với một số người giành thắng lợi làm giàu một cách nhanh chóng sẽ có nhiều người thất bại làm ăn thua lỗ, phá sản, gây lãng phí tiền vốn, tăng thất nghiệp, kinh tế bị kìm hãm, an ninh trật tự xã hội không đảm bảo, các tầng lớp dân cư ngày càng bị phân hóa cao về thu nhập đời sống,... Như vậy, từ trong bản thân của cơ chế thị trường đã bao hàm hai mặt thống nhất: mặt tích cực thúc đẩy kinh tế phát triển, đời sống xã hội được nâng cao; mặt tiêu cực là kìm hãm sự phát triển kinh tế, phân hóa đời sống xã hội. Ở Việt Nam, kinh tế thị trường định hướng XHCN được tiếp tục khẳng định ở Đại hội Đảng lần thứ IX. Nền kinh tế đó phát triển dựa trên hình thức sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp giữa Nhà nước với tư nhân trong và ngoài nước,...trong đó sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể là nền tảng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay ở nước ta. Yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường đặt ra cho tất cả các hình thức sở hữu là phải xác định rõ quyền sở hữu về tài sản, tiền vốn, trí tuệ,... nhằm mục đích định lượng hóa sở hữu của từng đối tượng làm cơ sở để Nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách quản lý thuế và thu thuế cho NSNN. Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam vừa chịu sự điều tiết theo cơ chế "Bàn tay vô hình" của thị trường, theo quy luật cung cầu, quy luật giá trị, vừa chịu sự điều tiết theo cơ chế "Bàn tay hữu hình" của Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, chủ trương chính sách đồng bộ. Thị trường và Nhà nước đóng vai trò là người phân bổ các nguồn lực cho sự phát triển các thành phần kinh tế. Đề cao quá mức vai trò của thị trường mà coi nhẹ hay phủ nhận vai trò của Nhà nước hoặc ngược lại đều không đạt được sự phát triển và tăng trưởng nền kinh tế một cách hiệu quả và bền vững. - Khái niệm và đặc điểm kinh tế NQD: Trong cơ chế thị trường nền kinh tế bao gồm hai khu vực: Kinh tế nhà nước chủ yếu thực hiện chức năng dịch vụ công cộng, nặng về mục tiêu chính là lợi ích chung của toàn xã hội; KTNQD chủ yếu làm chức năng kinh doanh mưu cầu lợi nhuận. Từ đó trong cơ cấu sản xuất xã hội, KTNQD được coi là một thực thể khách quan, gồm các thành phần kinh tế được xác định tùy theo đặc điểm kinh tế - xã hội và đường lối chính trị của mỗi Nhà nước trong từng giai đoạn khác nhau như, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản nhà nước... Khu vực KTNQD: là khu vực kinh tế bao gồm các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh bằng vốn của các tổ chức, của một số cá nhân góp lại; hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường vì mục tiêu lợi nhu._.ận. KTNQD có nhiều đặc điểm riêng biệt, nhưng có thể khái quát một số đặc điểm cơ bản sau: + Sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, do tư nhân quản lý và phân phối lợi nhuận; + Có tính tư hữu cao, trình độ phổ biến thấp, cho nên hiểu biết về luật cũng như ý thức chấp hành pháp luật chưa cao; + Vốn ít, số lượng cơ sở nhiều, nằm rải rác, phân tán ở tất cả các địa phương trong cả nước; + Số thu hàng năm chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số thu ngân sách; + Thường xuyên biến động về số lượng cơ sở, tùy thuộc vào chính sách, chế độ của Nhà nước trong từng thời điểm; Mục tiêu của chủ doanh nghiệp trong khu vực KTNQD chính là lợi nhuận, do vậy không ít cơ sở luôn tìm mọi cách, mọi sơ hở của cơ quan thuế, cán bộ thuế, chính sách, chế độ, để luồn lách, trốn thuế. Các hình thức tồn tại phát triển của khu vực KTNQD rất đa dạng với số lượng lớn, ý thức trong việc thực hiện luật pháp với mức độ khác nhau, tùy theo trình độ phát triển ở mỗi quốc gia. Song rõ ràng đây là một lĩnh vực phức tạp trong quản lý thu thuế. Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong những năm gần đây số lượng cơ sở NQD tăng nhanh, cụ thể: khối doanh nghiệp NQD: năm 1999 có 137 cơ sở, năm 2000 có 190 cơ sở, năm 2001 có 284 cơ sở, đến tháng 4/ 2002 có 316 cơ sở; khối hộ kinh doanh cá thể: năm có 1999 có 14.301 hộ, năm 2000 có 15.270 hộ, năm 2001 có 15.131 hộ (hộ thuộc diện quản lý thuế môn bài) [4], [6], [7], [8]. Sự phát triển ở khu vực KTNQD ở nước ta những năm qua đã tạo thêm nhiều của cải vật chất cho xã hội, giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần không nhỏ vào sự ổn định xã hội và tăng trưởng kinh tế. - Ưu nhược điểm của kinh tế NQD: KTNQD có tiềm năng lớn về trí tuệ, kiến thức, tiền vốn, lao động, sản phẩm, hợp tác, liên doanh, liên kết... + Tiềm năng quan trọng nhất của KTNQD là khả năng vô tận về trí tuệ, sáng kiến cá nhân trong đội ngũ những người lao động, trong nhân dân. Kinh nghiệm của các nước có nhiều thành công trong phát triển kinh tế (Hồng Kông, Đài Loan, Singapo, Nhật Bản, Hàn Quốc...) cho thấy các tiềm năng bên trong như đất đai, tiền vốn trong thời kỳ đầu của sự phát triển ở các nước này đều rất hạn chế. Nhưng nhờ phát huy được trí tuệ, sáng kiến cá nhân và đầu tư xây dựng kinh tế, đồng thời có sự quản lý đúng đắn của Nhà nước, cho nên chỉ sau một thời gian không dài đã làm nên những kỳ tích vĩ đại trong phát triển kinh tế. Đối với nước ta, khi công cuộc đổi mới được triển khai từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nhiều sáng kiến cá nhân của quần chúng lao động, của nhân dân đã và đang được phát huy cả trong lao động sản xuất cũng như trong việc tìm tòi các hình thức kinh doanh thích hợp, năng động, từng bước đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của thị trường. + Tiềm năng về kiến thức, kinh nghiệm quản lý, nâng cao tay nghề, đặc biệt là phát huy kiến thức, bí quyết truyền thống được tích lũy qua nhiều đời là nguồn tiềm năng vô cùng to lớn cho sự tăng trưởng kinh tế nếu được khởi động với những chính sách, chủ trương thích hợp. Hiện nay nguồn "chất xám" của KTNQD cũng rất đa dạng, có loại được Nhà nước đào tạo trong các trường chính quy từ công nhân, kỹ sư, nhà kinh tế đến các thạc sĩ, tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư.... Có loại cá nhân tự bỏ tiền ra để học lấy một nghề nhất định ở trong hoặc ngoài nước. Có loại do các doanh nghiệp NQD sau khi tuyển dụng lao động bỏ tiền đào tạo hoặc đào tạo lại. + Nguồn vốn trong khu vực KTNQD nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác đã và đang được tích lũy ngày càng lớn. ở hầu hết các nước, nguồn vốn đầu tư từ phía Nhà nước không đáng kể (chiếm từ 13% - 30% tổng vốn đầu tư). Các nước đều có chính sách thỏa đáng để huy động nguồn lực to lớn từ nguồn vốn của KTNQD. Nếu Chính phủ có chính sách đúng đắn, tạo môi trường thuận lợi, tạo lòng tin trong nhân dân, nhất định họ sẽ sẵn sàng bỏ vốn đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển và tăng trưởng mạnh mẽ. + KTNQD có tiềm năng lao động to lớn và góp phần đáng kể vào việc giải quyết việc làm cho xã hội. ở nước ta hàng năm bình quân có khoảng 1,243 triệu người đến tuổi lao động [35, tr. 248], bao gồm: lực lượng thanh niên đến tuổi lao động, số học sinh tốt nghiệp dạy nghề, trung học, cao đẳng, đại học hoặc những người lao động thất nghiệp do sắp xếp lại biên chế trong các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp hoặc do sắp xếp lại sản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân, những người bán thất nghiệp ở nông thôn, thành thị. Đây là nguồn lao động rất dồi dào mà Nhà nước ta chưa khai thác hết được. Nếu chỉ thông qua các doanh nghiệp nhà nước thì sẽ không thu hút được hết những người lao động. Thực tế trong những năm qua cho thấy, ở thời điểm cao nhất kinh tế nhà nước chỉ thu hút khoảng 2 triệu lao động. Trong khi đó riêng kinh tế NQD trong công nghiệp và dịch vụ năm 1992 đã thu hút trên 1,2 triệu lao động [30]. Chỉ thông qua KTNQD với mọi hình thức, mọi quy mô, mọi loại ngành nghề, áp dụng nhiều phương thức tổ chức, sử dụng một cách linh hoạt mọi loại lao động của xã hội mới có thể tận dụng được các lực lượng dôi thừa. Kinh nghiệm của các nước Tây Âu, hơn 70% kết quả tăng trưởng của nền kinh tế là do lao động tạo ra, 30% còn lại là do tiền vốn thiết bị. Đối với Việt Nam có đội ngũ lao động đông đảo, nếu biết cách phát huy và khai thác thì đó là một lợi thế chứ không phải là gánh nặng. Lao động của KTNQD ở Việt Nam còn có tiềm năng quan trọng được bộc lộ rõ thông qua quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, bộ máy nhà nước đã bành trướng quá mức. Khi chuyển sang kinh tế thị trường định hướng XHCN với cơ chế quản lý mới có sự quản lý của Nhà nước, chính khu vực kinh tế nhà nước đã là nguồn cung cấp nhân lực dồi dào cho KTNQD. Theo tài liệu điều tra của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, đã có 72% giám đốc các công ty trách nhiệm hữu hạn đã từng là công chức Nhà nước; 10,4% giám đốc các công ty này đã từng là giám đốc doanh nghiệp nhà nước. Đối với các doanh nghiệp tư nhân, 30% giám đốc đã từng là cán bộ công chức nhà nước. Khi chuyển sang lĩnh vực KTNQD, không những họ đã sử dụng trình độ lành nghề trong kinh doanh mà còn có cả vốn liếng tích lũy được (bằng tiền trợ cấp thôi việc, bằng tiền hưu trí...), thậm chí máy móc kỹ thuật từ nguồn thanh lý, giải thể của các doanh nghiệp nhà nước. Điều này có thể lý giải phần nào tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong khi một bộ phận lớn của kinh tế nhà nước bị thu hẹp, giải thể hoặc ngưng sản xuất do làm ăn thua lỗ, không thích ứng được với cơ chế kinh tế mới [30]. + KTNQD còn là môi trường thuận lợi để hợp tác kinh tế với nước ngoài. Trong nền kinh tế mở hiện nay, sự giao lưu với các nước phát triển mạnh về mọi mặt đó là một tất yếu khách quan. Đại hội Đảng lần IX đã xác định: Phát triển đa dạng kinh tế nhà nước dưới các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong nước, ngoài nước, mang lại lợi ích thiết thực cho các bên đầu tư kinh doanh; chú trọng phát triển các hình thức kinh doanh đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu, giữa các thành phần kinh tế với nhau, giữa trong nước, ngoài nước [21, tr. 99]. Tại các nước, liên doanh với nước ngoài chủ yếu là do KTNQD thực hiện vì là khu vực năng động, làm ăn có hiệu quả, thích ứng nhanh với sự biến động hoặc thay đổi của thị trường, của khách hàng. Trong khi đó ở nước ta hiện nay, các liên doanh với nước ngoài chủ yếu là do kinh tế nhà nước thực hiện. Nhiều Việt kiều muốn đầu tư về quê hương gặp không ít khó khăn trong việc tìm đối tác liên doanh. + Sự đa dạng của KTNQD tạo ra nguồn sản phẩm đa dạng, phong phú đáp ứng mọi nhu cầu tiêu dùng của xã hội ở mọi nơi, mọi thời điểm. Thực tế nhiều năm qua ở các nước XHCN và ở Việt Nam đều cho thấy nền kinh tế chủ yếu dựa trên KTQD thì hàng hóa sẽ nghèo nàn về chủng loại, số lượng. Ở Liên Xô cũ, sau 70 năm xây dựng CNXH với hàng ngàn doanh nghiệp nhà nước chỉ có 10 triệu loại sản phẩm. Trong khi đó ở Nhật Bản một nước nhỏ bé hơn nhiều về dân số và diện tích có tới 1,4 triệu doanh nghiệp với hơn 50 triệu loại sản phẩm. Ở nhiều nước Đông Nam Á, KTNQD đang được đánh giá là nguồn lực chủ yếu làm tăng trưởng kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu, có thể tạo thu nhập quốc dân tính theo đầu người tăng lên rất nhanh. Đường lối phát triển kinh tế - xã hội dựa vào KTNQD về cơ bản là một chiến lược hướng vào thị trường. KTNQD có thể quyết định và điều chỉnh nhanh chóng sản xuất cái gì, đầu tư vào đâu để có lợi nhuận nhiều nhất. ở các nước đang phát triển, KTNQD trở thành động lực kích thích kinh tế phát triển tốt hơn so với sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào quá trình kinh tế và dựa vào kinh tế nhà nước là chủ yếu. Việt Nam, tuy KTNQD mới được công nhận và phục hồi nhưng trong những năm qua đã xác định được chỗ đứng xứng đáng, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp đổi mới đất nước. Sự đóng góp của KTNQD không chỉ dừng lại ở mặt làm tăng tổng sản phẩm trong nước, thêm nhiều hàng hóa với nhiều mẫu mã đẹp, giá cả hợp lý mà còn tạo ra môi trường thuận lợi cho giải quyết việc làm, nâng cao đời sống xã hội, cả cho người sản xuất lẫn người tiêu dùng. Từ một số thế mạnh của KTNQD, có quan điểm muốn tư nhân hóa một cách triệt để nhằm huy động được tối đa mọi nguồn lực, khai thác mọi tiềm năng, lợi thế đang tiềm ẩn trong KTNQD. Thực ra, quan điểm này chưa thấy hết được những khiếm khuyết của KTNQD. Tuy là một khu vực năng động nhưng thiếu định hướng và không bao quát hết mọi nhu cầu xã hội, tự phát theo cơ chế thị trường, trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan nhà nước; không ít cơ sở đã hoạt động vô chính phủ, kinh doanh trái phép, buôn bán trốn lậu thuế. Điều đó càng trở nên khó khăn, phức tạp đối với một nền kinh tế sản xuất nhỏ, phân tán, chưa quen với văn minh công nghiệp, hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, chưa hoàn thiện như ở nước ta. Việc khuyến khích KTNQD để phát triển kinh tế - xã hội không đồng nghĩa với việc buông lỏng quản lý, để mặc cho các thành phần kinh tế tự do phát triển. Ngược lại, đòi hỏi Nhà nước phải quản lý, định hướng, phải có hệ thống pháp luật được thể chế hóa đầy đủ rõ ràng cả ở tầm vĩ mô lẫn vi mô, để có thể phát huy đến mức tối đa mặt tích cực và hạn chế đến mức thấp nhất mặt tiêu cực của KTNQD trong cơ chế thị trường. 1.2.2. Đặc điểm quản lý thu thuế NQD - Mục tiêu, yêu cầu của hệ thống thuế: Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến lần thứ IX, Đảng ta luôn khẳng định chủ trương chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Công cuộc chuyển đổi này là phù hợp với quy luật khách quan của một nền kinh tế nhiều thành phần, mở cửa buôn bán, hợp tác kinh tế rộng rãi với nước ngoài. Do vậy, hệ thống thuế hiện hành đã cải cách bước hai, phải đảm bảo những mục tiêu, yêu cầu cơ bản là: · Mục tiêu của hệ thống thuế: + Về mục tiêu tài chính: Có thể khẳng định mục tiêu này của cải cách thuế đợt I là rất thành công. Từ ngày thành lập đến nay ngành thuế đã không ngừng phấn đấu vươn lên, khắc phục mọi khó khăn để liên tục hoàn thành vượt mức nhiệm vụ kế hoạch thu thuế dược giao. Số thu năm sau tăng nhiều hơn năm trước, số thuế thu trong năm 1999 bằng khoảng 9,7 lần số thuế thu năm 1990. Trước đây thuế chỉ đảm bảo 50% - 60% tổng số thu NSNN, đến nay đã chiếm trên 90%, nhờ vậy đã đáp ứng được nhu cầu chi thường xuyên ngày càng tăng của NSNN, không phải phát hành cho chi tiêu hành chính nữa, đồng thời giảm bội chi NSNN và dành được một phần tích lũy đáng kể cho phát triển kinh tế, góp phần đẩy lùi lạm phát từ 3 con số trong những năm cuối thập kỷ 80, xuống còn 4% trong năm 1999, tạo cơ sở ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân, nhất là những người hưởng lương hành chính - sự nghiệp, hưu trí, hưởng phụ cấp xã hội,.... Về cơ bản chính sách thuế thường xuyên được xem xét, sửa đổi, bổ sung kịp thời, phù hợp với sự biến động phức tạp về tình hình kinh tế - xã hội của đất nước. Những biện pháp về cải tiến, tổ chức thực hiện cũng đã góp phần đáng kể vào thành tích trên, đặc biệt là việc thường xuyên củng cố, kiện toàn tổ chức, bộ máy đào tạo, rèn luyện cán bộ thuế theo 10 điều kỷ luật của ngành. Tuy vậy, kết quả thu được còn chưa phản ánh đúng tình hình phát triển kinh tế. Cả nước còn có đến 60% - 70% cơ sở kinh doanh được nộp thuế theo hình thức khoán, hiệp thương, chủ yếu theo cảm tính, chưa đảm bảo kết quả thu thuế sát với hoạt động của từng cơ sở, vừa lạm thu, vừa thất thu, đặc biệt là ở khu vực KTNQD. Số nợ đọng dây dưa kéo dài đến hàng trăm tỷ đồng cũng là nguyên nhân gây thất thoát lớn cho NSNN. Tình hình đóng góp giữa khu vực kinh tế nhà nước và KTNQD cũng cần được điều chỉnh. Tuy còn thất thu nhưng khu vực kinh tế nhà nước chiếm khoảng 38% GDP, đã đóng góp khoảng 28% tổng số thu NSNN (loại trừ thuế xuất nhập khẩu, thu khấu hao, thu về dầu thô, xổ số). Trong khi đó KTNQD chiếm khoảng 62% GDP, chỉ mới đóng góp 17% tổng số thu NSNN. Như vậy KTNQD làm ra tổng sản phẩm quốc nội gấp 1,63 lần khu vực kinh tế nhà nước nhưng lại đóng góp cho NSNN chỉ bằng 60% mức đóng góp của khu vực kinh tế nhà nước [26, tr.11]. + Về mục tiêu kinh tế: Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố chủ quan (trang bị kỹ thuật, tiền vốn, trình độ quản lý,...) và khách quan (cung cầu, giá cả, chính sách thuế,...) nhưng nhìn chung hệ thống thuế mới đã từng bước góp phần thực hiện yêu cầu phục vụ có hiệu quả chủ trương giải phóng mọi khả năng tiềm tàng, bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy sắp xếp lại tổ chức sản xuất, kinh doanh, tăng cường hạch toán kinh tế, tăng năng suất, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả kinh tế, khắc phục tình trạng lãi giả, lỗ thật trong khu vực kinh tế nhà nước. Phát huy tác dụng hướng dẫn phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông có lợi cho quốc kế dân sinh, góp phần khuyến khích đầu tư vốn, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng, phục vụ xuất khẩu và các chương trình lớn, khuyến khích khai thác nguyên liệu, vật tư trong nước và tranh thủ hợp tác với nước ngoài, vừa coi trọng bảo vệ sản xuất nội địa,... Tuy nhiên, từ thói quen thực hiện lâu dài chế độ tập trung, bao cấp, chúng ta còn đánh giá quá cao vai trò thuế qua chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế trong cơ chế thị trường. Do đó, một số loại thuế được xây dựng quá nhiều mức thuế suất khác nhau, quá phức tạp, vừa phân biệt theo nguyên liệu, ngành nghề, theo công dụng, vừa theo tính chất lý, hóa của từng mặt hàng, với mức thuế suất chênh lệch nhau đến 5 - 7 lần, nhưng lại không có được những tiêu chuẩn đầy đủ, rõ ràng, thiếu phương tiện kiểm hóa để xác định đúng mã số thuế, dẫn đến tình trạng hiểu thế nào cũng được làm thế nào cũng đúng, tạo cơ sở phát sinh tùy tiện, tiêu cực. Nhiều thuế suất xây dựng quá cao nhằm hạn chế sản xuất, tiêu dùng nhưng thực tế lại thúc đẩy việc trốn lậu thuế, dẫn đến tình trạng "dân kêu thuế nặng, Nhà nước phê phán thuế bị thất thu". Trong luật thuế lại quy định nhiều trường hợp được xem xét, miễn giảm thuế, tạo tâm lý phổ biến cho nhiều doanh nghiệp là cố tìm vài khía cạnh để có thể "xin" và được xem xét miễn giảm thuế. Một người được miễn giảm thuế, để kéo theo nhiều trường hợp phải giải quyết, vì cán bộ có thẩm quyền khó có đủ lý lẽ, hiểu biết, số liệu, tình hình để bác bỏ, thậm chí có cả trường hợp bị áp lực từ nhiều phía, khó có thể công minh. Kết quả là miễn giảm tràn lan, gây tiêu cực và thất thu cho ngân sách. Quan điểm bảo vệ sản xuất nội địa kéo dài, một chiều, qua thuế suất thuế nhập khẩu, thuế suất thuế GTGT, vừa gây thiệt hại cho nhân dân (phải tiêu dùng hàng xấu, giá cao) vừa không thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng, hạ giá thành, giá bán để tạo được môi trường cạnh tranh lành mạnh trong thị trường nội địa và hội nhập quốc tế. Trong thuế GTGT có nhiều trường hợp thu chồng chéo, làm tăng giá, tác động không tốt đến sản xuất, kinh doanh,... Không ít trường hợp vì yếu tố thuế, giá bán hàng quá cao, không được xã hội chấp nhận nên thuế gián thu trở thành gánh nặng của thuế trực thu mà cơ sở kinh doanh phải chịu để có thể tiêu thụ được hàng hóa. + Về mục tiêu xã hội: Chính sách thuế mới được áp dụng thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế đã cơ bản bảo đảm được sự động viên đóng góp bình đẳng và thực hiện công bằng xã hội. Người có thu nhập cao, nộp thuế TNDN và thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao nhiều hơn những người có thu nhập thấp nhưng vẫn đảm bảo được hưởng số thu nhập còn lại cao hơn, thậm chí cao hơn nhiều so với người làm ăn lười biếng. Thông qua kết quả thu thuế, Nhà nước có thêm điều kiện giải quyết nhiều việc mang tính xã hội: xóa đói giảm nghèo; giúp đỡ khắc phục thiên tai. Tuy vậy, trong hoàn cảnh còn nhiều cơ sở kinh doanh được nộp thuế theo hiệp thương, mức thuế phải nộp cao hay thấp tùy vào "thế mạnh" của cán bộ thuế hay người nộp thuế, có trường hợp người có doanh thu cao, thu nhập lớn lại chỉ phải nộp thuế ít và ngược lại. Việc đánh thuế TNDN bổ sung chưa khuyến khích người làm ăn giỏi, có thu nhập cao. Trong căn cứ tính thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao chưa có sự xem xét đến hoàn cảnh gia đình (độc thân hay đông người ăn theo), đến các chi phí bỏ ra để có thu nhập đánh thuế (học tập, nâng cao tay nghề) do đó chưa đảm bảo sự công bằng hợp lý [26, tr. 10-12]. · Yêu cầu chủ yếu của hệ thống thuế: Từ những mục tiêu cơ bản, yêu cầu đặt ra đối với hệ thống chính sách thuế và từng sắc thuế là: + Phải bao quát hết nguồn thu để kiểm kê, kiểm soát và thu đúng, thu đủ cho NSNN; + Góp phần khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển theo định hướng của Nhà nước trong từng thời kỳ; + Đảm bảo tính bình đẳng và công bằng xã hội; + Phải rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, dễ làm, dễ kiểm tra; + Chi phí hành thu thấp. - Nội dung cơ bản của một số sắc thuế chủ yếu đối với KTNQD: Nhằm bao quát mọi đối tượng phải thu thuế, đảm bảo tính công bằng trong động viên điều tiết tiền thuế và đáp ứng yêu cầu thu của ngân sách, hệ thống thuế hiện nay ở nước ta bao gồm các sắc thuế sau: Thuế GTGT; Thuế TTĐB; Thuế XNK; Thuế tài nguyên; Thuế TNDN; Thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao; Thuế sử dụng đất nông nghiệp; Thuế nhà đất; Thuế chuyển quyền sử dụng đất; Thuế môn bài. Mỗi sắc thuế có chức năng, tác dụng, đối tượng nộp khác nhau nhưng có mối liên hệ chặt chẽ tác động lẫn nhau; giữa thuế trực thu và thuế gián thu để phát huy tác dụng toàn diện của hệ thống thuế. Ngoài ra, còn một số khoản thu mang tính chất lệ phí, nhằm động viên sự đóng góp cho NSNN vừa mang tính chất phục vụ cho người nộp lệ phí thực hiện một số thủ tục hành chính. Một số loại thuế chủ yếu đối với khu vực KTNQD: + Thuế môn bài: [7] Thuế môn bài mang tính chất là loại thuế trực thu, động viên sự đóng góp trực tiếp của cơ sở kinh doanh tạo được nguồn thu quan trọng cho nhu cầu chi tiêu của NSNN ngay từ đầu mỗi năm khi các nguồn thu khác chưa nhiều. Thuế môn bài còn có tác dụng kiểm kê, kiểm soát các cơ sở kinh doanh, có căn cứ phân loại quy mô kinh doanh để áp dụng biện pháp quản lý cho phù hợp. Thuế môn bài áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân có thực tế kinh doanh. Thuế thu mỗi năm một lần và chủ yếu thu vào đầu năm. Những cơ sở kinh doanh hoạt động trong 6 tháng đầu năm phải nộp mức thuế môn bài cả năm. Nếu bắt đầu hoạt động trong 6 tháng cuối năm thì nộp 50% mức thuế cả năm. Mức thuế môn bài hàng năm được quy định trong biểu thuế đối với các doanh nghiệp và đối với các hộ kinh doanh tương ứng với số thu nhập bình quân tháng của cơ sở. Mức thuế từ 25.000đ đến 850.000đ một năm. Các tổ chức, cá nhân kinh doanh phải nộp thuế môn bài trong thời hạn quy định theo mức thuế cơ quan thuế ghi trong thông báo. Nếu thay đổi địa điểm, ngành nghề, mặt hàng kinh doanh đã ghi trong thẻ môn bài, cơ sở kinh doanh phải báo ngay cho cơ quan thuế biết để thay đổi thẻ môn bài mới cho phù hợp với ngành nghề kinh doanh. Với mục đích kiểm kê, kiểm soát tất cả các cơ sở thực tế kinh doanh, thuế môn bài không có quy định miễn giảm thuế. + Thuế GTGT: [27], [8], [1] Thuế GTGT tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu dùng. Thuế GTGT được hoàn đối với hàng hóa xuất khẩu sẽ phát huy tốt tác dụng khuyến khích xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế; thuế GTGT kết hợp với hàng nhập khẩu làm tăng giá vốn đối với hàng nhập khẩu; góp phần tích cực bảo vệ hàng sản xuất trong nước; tăng cường hạch toán kế toán kinh doanh, thúc đẩy việc mua bán hàng hóa thực hiện tốt chế độ hóa đơn để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào; khuyến khích hiện đại hóa, chuyên môn hóa sản xuất, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm,... Đối tượng đánh thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng ở Việt Nam, kể cả hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu, hàng tiêu dùng nội bộ hoặc làm quà biếu, quà tặng đem trao đổi (không thanh toán bằng tiền), trừ 26 nhóm mặt hàng quy định trong Luật thuế GTGT (như hàng nông sản tự sản xuất, tự chăn nuôi của người nông dân trực tiếp bán ra, các dịch vụ không mang tính chất kinh doanh, dịch vụ công cộng, dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo, thông tin đại chúng,...). Đối tượng nộp thuế GTGT là tất cả các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh mọi ngành nghề sản xuất, xây dựng, vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế, hoạt động các ngành hàng, dịch vụ thuộc diện đánh thuế GTGT. Giá tính thuế GTGT là giá chưa có thuế GTGT. Khi bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ, trên hóa đơn phải ghi rõ giá bán hàng (hoặc giá dịch vụ) chưa có thuế GTGT, tiền thuế GTGT phải nộp và giá bán gồm cả thuế GTGT (tổng giá thanh toán). Đối với hàng nhập khẩu là giá tính thuế hàng nhập khẩu (giá CIF hoặc giá do Bộ Tài chính quy định) cộng (+) với thuế nhập khẩu (nếu có). Giá tính thuế đối với hoạt động hưởng hoa hồng là tiền hoa hồng được hưởng chưa trừ khoản phí tổn nào từ hoạt động này. Riêng đối với các loại hàng hóa, dịch vụ mang tính đặc thù, dùng các chứng từ thanh toán gồm cả thuế GTGT (như vé cước tàu xe, tem bưu điện, giá bìa sách,...) thì giá ghi trên chứng từ thanh toán hoặc giá bìa sách được công nhận là giá đã có thuế GTGT; cần quy đổi tìm giá chưa có thuế GTGT làm căn cứ tính thuế. Thuế suất thuế GTGT có 4 mức: 0% (áp dụng cho hàng hóa, dịch vụ thực tế xuất khẩu); 5% đối với những hàng hóa dịch vụ cần thiết cho nhu cầu đời sống và sản xuất; 20% đối với hàng hóa dịch vụ cần điều tiết cao; 10% đối với đại bộ phận các mặt hàng và dịch vụ. Thuế GTGT được thực hiện theo hai phương pháp: khấu trừ và trực tiếp. Phương pháp thu có khấu trừ áp dụng đối với mọi cơ sở kinh doanh phải thực hiện chế độ hóa đơn GTGT và sổ sách kế toán, có căn cứ xác định thuế đầu ra và thuế đầu vào để thực hiện chế độ khấu trừ thuế. Phương pháp thu trực tiếp được thực hiện đối với các cơ sở kinh doanh không có điều kiện thực hiện chế độ hóa đơn GTGT, sổ sách kế toán, chủ yếu áp dụng đối với hộ nhỏ, thuế tính theo tỷ lệ giá trị gia tăng trên doanh thu khoán, trong thời gian từ 6 tháng đến 1 năm. Thuế GTGT chỉ thực hiện việc khấu trừ thuế đầu vào đã nộp của hàng hóa, nguyên nhiên vật liệu, TSCĐ, dịch vụ đầu vào dùng để sản xuất, kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng đánh thuế GTGT khi bán hàng ra. Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ đối hàng hóa, nguyên nhiên vật liệu và dịch vụ dùng vào sản xuất, kinh doanh hàng hóa tính thuế GTGT, phát sinh trong tháng nào thì được kê khai khấu trừ khi xác định thuế GTGT phải nộp của tháng đó, không phân biệt đã xuất dùng, bán ra hay còn trong kho. Nếu số thuế GTGT được khấu trừ trong tháng lớn hơn số thuế GTGT đầu ra của tháng đó thì số thuế GTGT nộp thừa còn lại sẽ được chuyển để tiếp tục khấu trừ trong tháng sau hoặc được xét hoàn thuế theo quy định trong chế độ. Đối với hàng hóa dịch vụ đầu vào mua trong nước hoặc nhập khẩu, sử dụng đồng thời cho cả hoạt động thuộc diện chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT, cơ sở kinh doanh chỉ được khấu trừ số thuế đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa thuộc diện chịu thuế GTGT. Đối với hàng hóa là nông, lâm, thủy sản chưa qua chế biến mua của người sản xuất mà không có hóa đơn GTGT, thuế GTGT đầu vào được khấu trừ đối với các cơ sở sản xuất, chế biến theo tỷ lệ % đã được quy định trong Nghị định của Chính phủ về "Quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT" [10]. Đối với TSCĐ, về nguyên tắc việc khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với TSCĐ được áp dụng tương tự như đối với vật tư, hàng hóa và dịch vụ. Nhưng nếu khấu trừ liên tục trong 3 tháng mà số thuế GTGT đầu vào vẫn chưa được khấu trừ hết thì cơ sở kinh doanh được làm thủ tục đề nghị cơ quan thuế xét hoàn lại hết số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ theo chế độ. Điều kiện chung để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào là cơ sở kinh doanh phải thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ; hàng hóa, dịch vụ mua vào phải có hóa đơn GTGT hay chứng từ thanh toán đặc thù; hàng hóa vật tư nhập khẩu phải có chứng từ nộp thuế GTGT hàng nhập khẩu; hàng nông, lâm, thủy sản phải có bảng kê thu mua theo mẫu quy định; trên hóa đơn ghi rõ số thuế GTGT đầu vào. Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ được xét hoàn thuế khi cơ sở kinh doanh có lũy kế số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ lớn hơn số thuế GTGT đầu ra phát sinh liên tục 3 tháng (không phân biệt niên độ kế toán) hoặc sau khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể có số thuế GTGT nộp thừa. Đối với cơ sở kinh doanh xuất khẩu mặt hàng theo thời vụ hoặc xuất khẩu theo từng lần với số lượng lớn, phát sinh số thuế đầu vào được khấu trừ cao, thì được hoàn thuế GTGT theo từng kỳ hoặc theo tháng. Cơ quan thuế phải xác định số thuế phải hoàn và ra quyết định hoàn thuế trong vòng 15 ngày (tối đa là 30 ngày) kể từ ngày nhận hồ sơ xin hoàn thuế hợp pháp, đầy đủ. Ngoài ra trong luật thuế GTGT còn quy định một số trường hợp miễn giảm thuế như: một số hàng hóa, dịch vụ sản xuất, kinh doanh đang gặp khó khăn; hộ cá thể nghỉ kinh doanh trong tháng từ 15 ngày trở lên; những cá nhân kinh doanh có thu nhập bình quân tháng thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. + Thuế TNDN: [28], [9], [2] Thuế TNDN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập có được của một doanh nghiệp trong một kỳ sản xuất kinh doanh nhất định (gồm thu nhập kinh doanh và các thu nhập khác). Có nhiều nước trên thế giới gọi thuế này là thuế thu nhập công ty. Dù tên gọi có thể khác nhau nhưng nội dung cơ bản thì đều giống nhau: đánh vào thu nhập sau khi đã trừ chi phí hợp lý [12, tr. 93]. Việc ban hành Luật thuế TNDN nhằm bao quát và điều tiết được tất cả các khoản thu nhập đã, đang và sẽ phát sinh của cơ sở kinh doanh trong cơ chế thị trường; khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài và khuyến khích các tổ chức cá nhân trong nước tiết kiệm vốn cho đầu tư phát triển kinh doanh qua các chế độ miễn, giảm thuế; từng bước thu hẹp sự khác biệt về chính sách thuế để đảm bảo sự bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế; hệ thống hóa những quy định ưu đãi về thuế trong nhiều Luật khác nhau, bảo đảm sự rõ ràng thống nhất trong việc thực hiện các chế độ ưu đãi thuế. Đối tượng đánh thuế TNDN là TNCT phát sinh trong năm kinh doanh của doanh nghiệp, từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các khoản thu nhập khác, kể cả thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ ở nước ngoài. Đối tượng nộp thuế TNDN là các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có TNCT. Đối tượng không thuộc diện chịu thuế TNDN là các hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có thu nhập từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản (trừ hộ gia đình, cá nhân, nông dân sản xuất hàng hóa lớn có thu nhập cao theo quy định của Chính phủ). Ngoài ra đối với Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Chính phủ Việt Nam ký kết có quy định khác thì thực hiện theo quy định đó. TNCT từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ là khoản chênh lệch giữa doanh thu với các khoản chi phí hợp lý được trừ, có liên quan đến TNCT. TNCT khác bao gồm: thu nhập từ chênh lệch mua bán chứng khoán, quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; lãi về chuyển nhượng, cho thuê, thanh lý tài sản; lãi tiền gởi, cho vay vốn, bán ngoại tệ; kết dư cuối năm các khoản dự phòng; thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý xóa sổ nay đòi được; thu các khoản nợ phải trả không xác định được chủ nợ; các khoản thu nhập từ kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót nay mới phát hiện ra và các khoản thu nhập khác. Doanh thu để xác định TNCT là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cung ứng dịch vụ, kể cả trợ giá, phụ thu. Nếu có doanh thu bằng ngoại tệ, thì phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá chính thức do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm thu ngoại tệ. Các khoản chi phí hợp lý được trừ để xác định TNCT là những khoản chi phí về vật chất, thực tế có liên quan đến doanh thu, TNCT trong năm, với mức hợp lý theo các văn bản pháp quy của Nhà nước hiện hành. Không được tính vào chi phí hợp lý các khoản sau đây: chi phí trích trước mà thực tế không chi; các khoản chi không có chứng từ hoặc chứng từ không hợp lệ; các khoản tiền phạt; các khoản chi không liên quan đến doanh thu, TNCT trong năm; các khoản chi do các nguồn vốn khác đài thọ. Theo nguyên tắc chung thuế suất thuế TNDN áp dụng đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh ở Việt Nam không theo Luật đầu tư nước ngoài là 32%. Cơ sở kinh doanh có địa điểm kinh doanh thuận lợi, ngành nghề kinh doanh ít bị cạnh tranh, sau khi đã nộp thuế TNDN theo thuế suất ổn định 32% mà thu nhập còn lại vẫn cao thì phải nộp thuế TNDN bổ sung đối với phần thu nhập còn lại vượt 20% vốn chủ sở hữu tại thời điểm quyết toán, với thuế suất thuế TNDN bổ sung là 25% [11], [4]. Ngoài ra, để khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh đầu tư mở rộng, đầu tư theo chiều sâu; các cơ sở hoạt động ở những vùng miền núi, hải đảo; vùng sâu, vùng xa, vùng có khó khăn;... Luật thuế TNDN thể hiện sự ưu đãi qua chế độ miền, giảm thuế. Hơn nữa các doanh nghiệp còn được chuyển lỗ sang năm sau nếu thực sự trong năm kinh doanh bị lỗ và thời gian chuyển lỗ không quá 5 năm. - Ý ._.ệm vụ riêng của ngành thuế, đồng thời cũng không được can thiệp một cách sai trái vào chính sách, pháp luật thuế. 3.2.6. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền chính sách thuế Xây dựng các Luật thuế, pháp lệnh thuế nhằm cung cấp cho cơ chế quản lý tài chính những phương tiện quản lý, làm cơ sở và đảm bảo cho việc ban hành các quyết định phù hợp với đối tượng quản lý. Muốn các quy phạm pháp luật thuế tác động vào đối tượng nộp thuế, cần khâu tiếp theo đó là việc áp dụng luật thuế, đảm bảo cho chủ thể quản lý tổ chức thực hiện các quy phạm pháp luật thuế đối với các đối tượng nộp thuế. Các quyết định quản lý mang lại hiệu quả khi nó tác động tới đối tượng quản lý, tới những người chấp hành và thực hiện nghiêm túc. Điều đó, phụ thuộc vào khâu thực hiện luật thuế, vào tính tự giác của mỗi công dân, đồng thời phụ thuộc vào hiệu quả của các luật thuế. Ở nước ta hiện nay, việc xây dựng, áp dụng và tổ chức thực hiện Luật thuế còn nhiều hạn chế. Thể hiện sự coi thường pháp luật của các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế. Để khắc phục tình trạng trên, điều quan trọng là phải tiến hành thường xuyên việc giáo dục và nâng cao ý thức pháp luật là điều kiện hàng đầu để tăng cường pháp chế trong thực hiện các luật thuế. Phải giáo dục những điều sơ đẳng về chính sách thuế ngay trong ghế nhà trường tiểu học, giáo dục và phổ cập những điều cơ bản của luật thuế cho mọi công dân hiểu biết và thực hiện tốt. Các nhà chức trách, các tổ chức, đặc biệt là cơ quan thi hành pháp luật phải có biện pháp nâng cao sự hiểu biết và hình thành một ý thức pháp luật trong quảng đại quần chúng nhân dân. Điều đó, không những là tiền đề mà còn là chỗ dựa cho việc xây dựng và thi hành các luật thuế. Cần có sự kết hợp chặt chẽ của các ngành, các cơ quan thông tin báo chí, đặc biệt là sự phối hợp chặt chẽ của ngành giáo dục để tuyên truyền phổ biến luật thuế. Cần tạo ra một sự chuyển biến sâu sắc trong toàn xã hội từ chỗ khuyến khích chống thuế dưới chế độ cũ sang hình thức nộp thuế là nghĩa vụ, là biểu hiện nhiệt tình yêu nước của mỗi người, niềm tự hào về mức đóng góp của mình đối với đất nước. Trốn thuế, lậu thuế đồng nghĩa với lừa đảo và ăn cắp, không những bị pháp luật trừng trị nặng, ghi vào hồ sơ cá nhân, không ai muốn thuê mướn sử dụng người đang bị án mà còn bị xã hội khinh rẽ, phê phán. Phương pháp tuyên truyền có hiệu quả nhất là thông qua các cấp chính quyền, cơ quan đoàn thể quần chúng. Cần nhận thức rằng, Nhà nước Việt Nam là "Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân" [21, tr. 48]. Do đó, phải bằng mọi cách làm cho người dân hiểu đúng pháp luật và chấp hành pháp luật, thực hiện sự kiểm tra của nhân dân đối với cơ quan thuế. Ngành thuế và các cấp chính quyền tranh thủ kết hợp trong các cuộc họp, hội nghị tổng kết của Đảng, chính quyền, đoàn thể, quần chúng để tuyên truyền, vận động thực hiện chính sách thuế. Việc cung cấp tri thức và giáo dục, tuyên truyền ý thức về pháp luật cho mỗi công dân không phải sự nghiệp riêng của ngành thuế mà là nhiệm vụ có tầm chiến lược quốc gia cần đặt dưới sự chỉ đạo của Trung ương và các cấp chính quyền địa phương. Kinh nghiệm cho thấy, trong quá trình tuyên truyền cần phải lưu ý quan tâm đến tâm tư của người nộp thuế. Người nắm được chính sách thuế thì luôn mong đợi câu trả lời chính xác, người chưa nắm vững thì mong được nghe trình bày và giải thích rõ hơn. Nếu làm được như vậy sẽ cải tiến được mối quan hệ giữa nhân dân và người nộp thuế với các cơ quan chức năng quản lý nhà nước về thuế. Các địa phương cần đẩy mạnh công việc thành lập các trung tâm dịch vụ, tư vấn pháp luật về thuế (có thể thu lệ phí hoặc không thu lệ phí hướng dẫn, tư vấn). Giúp đỡ, hướng dẫn thực hiện công tác kế toán, sổ sách chứng từ và khuyến khích động viên sự trung thực trong khai báo và tự giác nộp thuế. Phải đề cao trách nhiệm của Bộ Tư pháp và các cơ quan tư pháp ở địa phương trong việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật thuế. Hàng năm, cần tiến hành tổ chức tổng kết công tác thuế với đối tượng nộp thuế trên địa bàn để rút kinh nghiệm. Coi trọng việc biểu dương khen thưởng tổ chức, cá nhân nộp thuế đúng luật và phê phán những cơ sở trốn thuế, lậu thuế để có tác dụng giáo dục. "Cần thiết phải tôn vinh và có chế độ khen thưởng phù hợp ở các đối tượng nộp thuế và doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, thực hiện tốt nghĩa vụ nộp thuế" [22, tr. 4]. Ban tuyên giáo, các cấp ủy cần quan tâm hơn nữa đối với công tác này, phải coi đây là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của mình. Qua các phiên họp của Hội đồng nhân dân các cấp, cần phải thông báo cụ thể cho nhân dân biết về tình hình và hiệu quả sử dụng nguồn thu thuế, nhằm tăng thêm chất lượng trong công tác tuyên truyền. Mở rộng hình thức tuyên truyền bằng tranh cổ động, áp phích thể hiện các công trình được xây dựng bằng nguồn thu thuế. 3.2.7. Một số giải pháp đặc thù đối với công tác quản lý thu thuế NQD - Hoạt động kinh doanh thương mại xe máy Thực hiện chủ trương của Nhà nước về tăng cường đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại trong tình hình mới, đặc biệt là tình trạng các cơ sở kinh doanh xe máy bán hàng ghi giá bán thấp hơn giá người mua thực tế thanh toán đang diễn ra rất phổ biến, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc hạch toán kế toán, làm thất thu tiền thuế của NSNN, gây bất bình trong dư luận xã hội. Để hạn chế tình trạng này nên chăng UBND tỉnh và Cục thuế tỉnh Quảng Ngãi căn cứ vào số liệu điều tra thống kê, quy định số thuế GTGT và thuế TNDN cơ sở phải nộp dựa trên GTGT và TNCT ấn định để làm cơ sở tính thuế cho các loại xe: + Xe mới 100% (gồm xe nhập khẩu và sản xuất trong nước) + Xe cũ đã qua sử dụng có biển số kiểm soát. Thuế GTGT (TNDN) 1 chiếc = GTGT (TNCT) x Thuế suất thuế GTGT (TNDN) Nếu cơ sở có cam kết bằng văn bản với cơ quan thuế thực hiện tốt chế độ sổ sách kế toán, hóa đơn chứng từ và trong thực tế thực hiện đúng những điều đã cam kết thì được tính thuế theo quy định hiện hành của hai luật thuế GTGT và TNDN. Ngược lại, sẽ nộp thuế theo phương pháp ấn định, đồng thời còn phải bị phạt từ 1 đến 2 lần số thuế trốn lậu hoặc có thể bị thu hồi giấy phép kinh doanh. - Hoạt động đánh bắt hải sản Do trình độ dân trí ở các vùng dân cư ven biển còn thấp, đòi hỏi ngành thuế phải chủ động, linh hoạt áp dụng mọi hình thức tuyên truyền phong phú và đa dạng, phù hợp với đặc điểm của ngành hải sản như tập trung tuyên truyền vào lúc biển động ngư dân không ra khơi hoặc ngày lễ, tết. Đặc biệt phải xây dựng được mối quan hệ chặt chẽ giữa ngành thuế với chính quyền địa phương, công an biên phòng như: đồn công an biên phòng không cho tàu thuyền đánh bắt ra khơi khi không nộp thuế. Vấn đề có tính cấp thiết hiện nay là phải tiến hành rà xét, đối chiếu, phân tích, phân loại tàu thuyền đánh bắt hiện có trên địa bàn thuộc tỉnh quản lý để đưa vào diện thu thuế. Nghiên cứu xây dựng mức sản lượng hải sản các loại khoán khai thác trong năm căn cứ vào công suất của tàu thuyền, giá tính thuế hải sản bình quân, tỷ lệ GTGT, tỷ lệ TNCT đảm bảo tính dân chủ, công khai, công bằng và ổn định trong thời gian khoảng 1 năm. Ngoài ra, để tạo động lực khuyến khích tăng thu, Bộ Tài chính hoặc UBND tỉnh cần phải quy định chế độ sử dụng nguồn thu một cách thỏa đáng có phân biệt những vùng thu đặc biệt khó khăn, số thuế thu được nên chăng để lại một tỷ lệ % nhằm hỗ trợ công tác quản lý thu thuế và khen thưởng cho các tổ chức, cá nhân. - Hoạt động XDCB + Đối với hoạt động xây dựng công trình nhà nước: Các công trình được ký kết trên cơ sở đấu thầu, giá xây dựng phải được xác định trên cơ sở bên giao thầu thanh toán theo tiến độ hợp đồng. Số tiền ứng theo hợp đồng phải được coi là doanh thu của bên xây dựng và phải được kê khai, tính thuế và nộp thuế kịp thời, không nhất thiết phải có đầy đủ khối lượng hạng mục công trình hoàn thành bàn giao từng phần hay phiếu giá công trình có xác nhận của hai bên. Khi có biên bản bàn giao khối lượng hay ứng vốn công trình, bên nhận thầu bắt buộc phải xuất hóa đơn GTGT cho bên giao thầu. Các cơ quan có thẩm quyền khi duyệt hồ sơ khối lượng đều phải coi hóa đơn GTGT là một chứng từ bắt buộc không thể thiếu được, có như vậy mới giúp cho cơ quan thuế quản lý chặt chẽ được doanh thu đối với doanh nghiệp xây lắp; hoặc Tổng cục Thuế ban hành phiếu giá công trình xây dựng cơ bản, lắp đặt thay cho hóa đơn làm cơ sở để kê khai nộp thuế. + Về hoạt động bán thầu và nhượng thầu: Thời gian qua tính chất và quy mô của hoạt động xây dựng cơ bản có nhiều thay đổi, việc bán thầu hay nhượng thầu tương đối phổ biến trong quá trình thi công. Tuy nhiên, việc hạch toán doanh thu đối với các hoạt động trên vẫn chưa thống nhất, nhiều doanh nghiệp ký toàn bộ công trình nhưng chỉ hạch toán phần gói thầu do mình thi công phần nhượng lại cho nhà thầu phụ không được phản ánh vào doanh thu nhà thầu chính. Một số nhà thầu phụ thực hiện các gói thầu nhỏ, lẽ lại cho rằng việc kê khai thuế GTGT và TNDN là do nhà thầu chính cho nên nhà thầu phụ không có nghĩa vụ gì với NSNN. Doanh thu nhượng thầu hay bán thầu theo tỷ lệ % được coi là một khoản thu nhập tài chính (không kê khai thuế) hoặc có thể coi là một khoản doanh thu xây lắp và kê khai nộp thuế theo thuế suất của hoạt động xây lắp. Do vậy, ở trường hợp này để hạn chế sự thất thu thuế nên chăng cần quy định như sau: trường hợp doanh nghiệp xây lắp nhận thầu một công trình nhưng vì lý do khách quan hoặc chủ quan nào đó không thực hiện mà nhượng lại một phần hay toàn bộ công trình, thì phần chênh lệch doanh thu do nhượng lại phải được xem là hoạt động môi giới và tiền thuế nộp ngân sách được kê khai thuế theo thuế suất của hoạt động môi giới. Trường hợp doanh nghiệp ký nhận công trình, nhưng phần nguyên vật liệu do chủ đầu tư cung cấp thì bên xây dựng vẫn phải kê khai thuế đầy đủ giá trị công trình và phần vật tư bên chủ thầu cấp được coi như đầu vào của giá trị công trình và được khấu trừ thuế, có như vậy mới buộc bên cung cấp vật tư phải kê khai thuế GTGT theo đúng quy định. + Đối với xây dựng nhà ở tư nhân: Đây là loại hình kinh doanh rất khó quản lý và rất khó phân biệt trường hợp nào có bao thầu hoặc không có bao thầu. Hơn nữa, cá nhân nhận thầu xây dựng hầu hết là thân quen với chủ nhà, họ có nhiều kinh nghiệm thực tế, có tay nghề cao được chủ nhà tin cậy nhưng các cá nhân này lại không đăng ký kinh doanh và theo đó họ không kê khai nộp thuế. Do vậy, để hạn chế thất thu thuế cần thiết phải có quy định của cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan chức năng, yêu cầu bên chủ nhà khi hợp đồng giao thầu phải có trách nhiệm yêu cầu tổ chức hay cá nhân nhận thầu đến cơ quan thuế nơi có nhà ở xây dựng để kê khai nộp thuế. Nếu công trình hoàn thành mà chưa nộp thuế và chủ công trình nhà ở không cung cấp các tài liệu theo yêu cầu của cơ quan thuế để truy thu thuế, thì chủ công trình nhà ở phải nộp thuế thay cho tổ chức, cá nhân nhận thầu. Để có cơ sở làm căn cứ tính thuế văn bản ban hành phải quy định rõ giá tính thuế đối với từng cấp nhà, hạng nhà và đây cũng là cơ sở để xác định tiền thuế trong trường hợp bên nhận thầu không ký hợp đồng hoặc không cung cấp hợp đồng hoặc có hợp đồng nhưng giá ghi trong hợp đồng không phù hợp với giá thực tế xây dựng. - Đối với hoạt động thu thuế nợ đọng Nhằm tăng cường quản lý và chống thất thu NSNN, đồng thời để quản lý tốt nguồn thu, thúc đẩy nhanh tiến độ thu, hạn chế tình trạng cơ sở sản xuất kinh doanh dây dưa nợ đọng tiền thuế, Cục thuế cần thiết tham mưu cho UBND tỉnh về việc thu tiền thuế thông qua ngân hàng. Cụ thể: các Chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thuế trong việc trích tiền từ tài khoản tiền gởi của cơ sở kinh doanh để nộp thuế, nộp phạt vào NSNN theo quyết định xử lý về thuế của cơ quan thuế hoặc cơ quan có thẩm quyền trước khi thu hồi nợ theo quy định của các luật thuế; chỉ đạo các ngân hàng cấp huyện phối hợp chặt chẽ với cơ quan thuế địa phương triển khai biện pháp thu nợ bằng Lệnh thu ngân sách. Trường hợp số dư trên tài khoản của cơ sở sản xuất kinh doanh không đủ để thực hiện lệnh thu ngân sách thì ngân hàng hồi báo kịp thời cho cơ quan thuế về số dư trên tài khoản để làm thủ tục trích toàn bộ số tiền hiện có vào NSNN và tiếp tục theo dõi để làm Lệnh thu tiếp theo khi tài khoản có phát sinh (có số dư) mà đơn vị chưa nộp; nếu trong tháng các ngân hàng không thể thực hiện được Lệnh thu do tài khoản của đơn vị không có số dư thì phải thông báo kịp thời cho cơ quan thuế để có biện pháp phối hợp xử lý. * Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế khu vực KTNQD Thứ nhất, trong tuyển dụng cán bộ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ. Theo phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2005 ở Đại hội Đảng lần thứ IX, cải cách hành chính là một công việc quan trọng quyết định thành công của công cuộc đổi mới. Tổ chức bộ máy Nhà nước theo hướng tinh gọn, trong sạch, có đủ phẩm chất và năng lực phục vụ nhân dân. Trong bối cảnh đó, để đảm bảo yêu cầu ngày càng cao của bộ máy quản lý thu thuế nhằm tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ thuế cũng như nâng cao tinh thần trách nhiệm của công chức thuế trong quá trình thi hành công vụ ngành thuế cần thiết cũng phải có những cải cách phù hợp về công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ cho cán bộ, công chức ngành thuế, cụ thể: Công tác thuế là công tác mang tính kinh tế - chính trị - xã hội tổng hợp, vì vậy cán bộ thuế một mặt phải là người am hiểu sâu về các chính sách tài chính, kế toán, các luật thuế, Pháp lệnh thuế đồng thời phải là người am hiểu các chính sách xã hội. Mặt khác, cũng cần phải có khả năng tuyên truyền, vận động quần chúng, bên cạnh đó phải là người có bản lĩnh kiên định vững vàng. Do đó, để có đội ngũ công chức thuế tốt, đủ tư cách đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công tác thuế không gây lãng phí cho xã hội, ngành thuế đã đến lúc cần có một cơ sở đào tạo riêng, không phải chỉ đào tạo mới mà còn đào tạo lại, bồi dưỡng, tập huấn, phổ biến kinh nghiệm, một trung tâm chuyên ngành có chất lượng cao phù hợp với yêu cầu thực tiễn của công tác thuế. Muốn có được đội ngũ công chức đủ đảm đương công tác thuế trong thời gian tới, công tác tổ chức cán bộ hàng năm trên cơ sở cân đối tổng thể cả nước sẽ có chỉ tiêu tuyển dụng để đào tạo thay thế. Vì yêu cầu của mỗi công chức thuế rất cao đòi hỏi phải nắm vững nhiều kiến thức và có năng lực, có sức khỏe nên nhất thiết phải qua sơ tuyển. Nội dung đào tạo nhất thiết phải có các giảng viên là cán bộ thuế có trình độ và kinh nghiệm truyền đạt và phải có nhiều kiến thức thực hành,... khi ra trường nếu đủ yêu cầu sẽ được tuyển dụng chính thức vào các vị trí đã được cân đối từ trước. Việc đào tạo có địa chỉ sẽ tạo nên khí thế tự học tập, tự rèn luyện cho mỗi học sinh, sinh viên mà từ đây chất lượng đội ngũ cán bộ sẽ được nâng cao. Đối với một số cán bộ không được đào tạo đúng chuyên ngành thì hàng năm phải có kế hoạch bồi dưỡng tập trung để nâng cao chất lượng cán bộ; còn bộ phận cán bộ thuế có chức danh như: thanh tra viên thuế, kiểm soát viên thuế,... thì nhất thiết hàng năm phải được tập huấn nghiệp vụ đồng thời phổ cập kiến thức quản lý mới, học tập trao dồi thêm kinh nghiệm nhằm nâng cao trình độ chuyên môn. Luôn coi trọng công tác giáo dục tư tưởng, thường xuyên rèn luyện phẩm chất "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" có như vậy mới có đủ đội ngũ cán bộ có đức, có tài đáp ứng được yêu cầu quản lý thuế trong tình hình mới. Để đánh giá công tác cán bộ hàng năm, từ đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phù hợp, có thể dựa vào tiêu chuẩn để phân biệt phẩm chất và năng lực của một cán bộ thuế thông qua tinh thần phục vụ các đối tượng nộp thuế như sau: Bảng 2.12: Cán bộ thuế yếu kém Cán bộ thuế giỏi 1. Bắt buộc và ra lệnh 1. Chỉ dẫn và tư vấn 2. Dựa trên quyền hành của mình 2. Dựa trên lòng tin cậy và thiện chí của đối tượng nộp thuế (ĐTNT) 3. Gây sự sợ hãi cho ĐTNT 3. Làm cho ĐTNT phấn khởi 4. Thường dùng chữ "Tôi" 4. Thường dùng chữ "chúng ta" 5. Đỗ lỗi cho người khác 5. Giải quyết khó khăn hiện có 6. Nói với ĐTNT - Hãy đóng thuế đi - Hãy khai thuế đi 6. Nói với ĐTNT - Chúng tôi sẽ chỉ dẫn cho Ông (Bà) khai thuế - Ông (Bà) vui lòng nộp thuế để xây dựng đất nước Nguồn: [6, tr. 41]. Thứ hai, về chính sách chế độ. - Về thuế môn bài: Mức thuế Môn bài hiện hành đang áp dụng được thực hiện theo Nghị định số 52/CP ngày 9/9/1996 của Chính phủ về điều chỉnh mức thuế Môn bài. Theo nghị định này mức thuế Môn bài gồm 6 mức là 850.000đ, 550.000đ, 325.000đ, 165.000đ, 60.000đ và 25.000đ...[7]. Căn cứ vào Nghị định của Chính phủ, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư hướng dẫn trong đó quy định: Các tổ chức kinh tế hạch toán kế toán độc lập nộp chung một mức thuế 850.000 đ/năm; các cơ sở kinh doanh hạch toán phụ thuộc nộp chung một mức thuế 550.000 đ/năm; hộ kinh doanh cá thể nộp thuế căn cứ vào thu nhập kinh doanh bình quân tháng, nếu thu nhập bình quân tháng trên 1.250.000 đ nộp mức thuế là 850.000 đ/năm, nếu thu nhập dưới mức lương tối thiểu của cán bộ công nhân viên chức (khi đó là 144.000 đ) nộp thuế là 25.000 đ. Cho đến nay tình hình kinh tế - xã hội đã có nhiều biến đổi nên chế độ thuế môn bài đã có nhiều nhược điểm: có sự phân biệt giữa các tổ chức kinh tế với hộ kinh doanh cá thể, các mức thuế có sự chênh lệch cao, thu nhập làm căn cứ tính thuế cũng chưa phù hợp vì tổ chức kinh tế thu nhập hàng tỷ đồng hoặc cao hơn cũng chỉ nộp mức thuế Môn bài 850.000 đ/năm, trong khi hộ cá thể thu nhập 15.000.000đ/năm cũng phải nộp mức thuế Môn bài 850.000 đ/năm. Chính sách thuế Môn bài chưa điều tiết mạnh ở những ngành nghề, hoạt động có thu nhập cao, chưa có chế độ ưu đãi cho cơ sở sản xuất kinh doanh ở những vùng có khó khăn, vùng sâu, vùng xa, nghề đánh bắt hải sản, sản xuất muối,... Để hoàn thiện chính sách thuế một cách đồng bộ cần phải tiếp tục nghiên cứu sửa đổi chính sách thuế Môn bài cho phù hợp với điều kiện mới theo hướng tích cực. Xóa bỏ sự phân biệt giữa các thành phần kinh tế đảm bảo người có thu nhập cao nộp thuế cao hoặc ngược lại, người kinh doanh không đảm bảo mức sống tối thiểu thì được miễn giảm thuế. Có như vậy chính sách thuế mới đi vào cuộc sống. - Thuế GTGT: Sau hơn 3 năm thực hiện, những vướng mắc cần giải quyết vẫn xoay quanh các nội dung sau: hoàn thuế GTGT, hệ thống chứng từ hóa đơn và những quy định sử dụng phù hợp, điều chỉnh mức thuế suất, những quy định khấu trừ cá biệt và khấu trừ khống,... cần thiết phải sửa đổi nhanh để tạo thuận lợi hơn cho đối tượng nộp thuế, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế. Bởi lẽ, trong những năm qua các tổ chức đã sử dụng những sơ hở trên chứng từ hóa đơn để moi tiền Nhà nước từ quá trình hoàn thuế, có thể liệt kê điển hình như sau: Hợp tác xã thương mại và dịch vụ Vạn Lợi (An Giang) chỉ có mỗi việc nhẹ tênh là bán hóa đơn cho các công ty chế biến để lập hồ sơ hoàn thuế lên tới 26,5 tỷ đồng; Công ty xuất nhập khẩu Hà Nam - Chi nhánh Hà Nội cũng hình thức trên đã được hoàn thuế 17 tỷ đồng; Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn tinh dầu Hà Nội cũng vẽ ra con số 39.000 tấn tinh dầu (số lượng mà vét cả nước cũng không có được) để xuất khẩu để được hoàn thuế 7,2 tỷ đồng;..... Ngoài ra, một thực tế khác nhiều doanh nghiệp thành lập ra cũng để chỉ kinh doanh hóa đơn. Thành phố Hồ Chí Minh hiện có khoảng 1.500 doanh nghiệp mất tích, con số này ở Hà Nội là 1.000 doanh nghiệp. Vì vậy nên trong 3 năm thực hiện Luật thuế GTGT tổng số tiền được đề nghị hoàn là 15.600 tỷ đồng nhưng số thực hoàn chỉ khoảng 11.000 tỷ đồng trong đó số tiền chiếm đoạt hơn 1% [31, tr. 3]. - Thuế TNDN: Mức độ động viên 32% đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh của Việt Nam là cao so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Trong thời gian đến cần ban hành mức thuế suất phù hợp để doanh nghiệp có điều kiện tăng phần lợi nhuận để lại tái đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Đối với thuế TNDN bổ sung cũng cần phải nghiên cứu để quy định phù hợp, vì để có được địa điểm kinh doanh thuận lợi, ngành nghề kinh doanh ít bị cạnh tranh, doanh nghiệp phải đầu tư nhiều vốn cho sản xuất kinh doanh sản phẩm mới, tập trung nhiều công sức để có được sự nhạy bén trong hoạt động sản xuất kinh doanh, có tầm nhìn chiến lược trong kinh doanh, nên nếu đã nộp thuế suất thuế TNDN 32%, ngoài ra còn phải nộp thuế TNDN bổ sung 25% trên phần thu nhập còn lại sau khi nộp thuế TNDN theo thuế suất ổn định vượt 20% vốn chủ sở hữu có thể sẽ làm triệt tiêu động lực sản xuất kinh doanh, kìm hãm sản xuất, không kích thích sự phát triển và tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn hiện nay. - Thuế TTĐB: Mở rộng diện chịu thuế TTĐB, thực hiện thống nhất với thuế GTGT, khuyến khích xuất khẩu, hạn chế và xóa bỏ các trường hợp giảm thuế TTĐB. - Nhà nước cần có chính sách tiền lương phù hợp đối với cán bộ, công chức ngành thuế, có thể tiền lương cao hơn các ngành khác và hình thức kỷ luật đối với những cán bộ, công chức có hiện tượng tham những, tiêu cực cũng nghiêm khắc hơn. Có chính sách hỗ trợ đối với cán bộ, công chức làm công tác ở các phòng tư vấn thuế, phòng tuyên truyền thuế. Có kinh phí sử dụng cho hoạt động tuyên truyền, giáo dục ở một mức nhất định, sẽ làm tiêu tốn của ngân sách một khoản không nhỏ nhưng bù lại là ở tương lai trình độ dân trí được nâng cao, hiệu quả quản lý ngày càng tốt hơn không phải chỉ riêng ngành thuế mà cả xã hội. Đối với những cơ sở có số thuế hàng năm vượt dự toán đầu năm có thể quy định một mức thưởng phù hợp bằng một tỷ lệ % trên số thuế vượt dự toán, sẽ kích thích cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng hiệu quả hơn, thực hiện tốt nghĩa vụ nộp thuế, đây là một trong những nội dung bồi dưỡng nguồn thu thuế. Đối với thủ tục nộp thuế qua Kho bạc đối với hộ kinh doanh hiện nay rất rườm rà, ngoài thông báo nộp thuế của cơ quan thuế, hộ kinh doanh còn phải tự viết giấy nộp tiền 5 liên gây rất nhiều khó khăn nhất là đối với những hộ kinh doanh có trình độ kế toán yếu và trình độ văn hóa thấp. Đề nghị Tổng cục Thuế nghiên cứu xây dựng chương trình quản lý thu thuế trên máy vi tính theo hướng căn cứ số tiền, chương, loại, mục, tiểu mục theo mục lục ngân sách ghi trên thông báo nộp thuế, Kho bạc nhập dữ liệu, in chứng từ nộp tiền để lưu giữ, hồi báo cho cơ quan thuế và giao cho người nộp tiền. KẾT LUẬN Đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong những năm qua đã có tác động tích cực thúc đẩy, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh đúng hướng, tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân ngày càng tốt hơn, xóa được đói, giảm được nghèo. Đặc biệt từ khi Luật doanh nghiệp ban hành, các thủ tục hành chính được cải tiến đơn giản hơn tạo ra sự thông thoáng, từ đó các thành phần kinh tế phát triển mạnh, đặc biệt là các cơ sở KTNQD phát triển nhanh chóng, đa dạng và phong phú góp phần tạo nhiều sản phẩm hàng hóa dịch vụ phục vụ nhân dân, thu hút hàng vạn lao động có việc làm, ổn định thu nhập đóng góp một phần đáng kể cho NSNN. Tuy nhiên, bên cạnh quá trình phát triển thì việc thực hiện nghĩa vụ với NSNN của các cơ sở thuộc khu vực KTNQD chưa sát đúng với tình hình hoạt động của cơ sở theo pháp luật hiện hành, do đó dẫn đến sự mất công bằng trong động viên tiền thuế ở tất cả các thành phần kinh tế, hiện tượng thất thu thuế còn nhiều. Cho nên tăng cường và hoàn thiện quản lý thu thuế ở khu vực KTNQD là điều cần thiết trong tiến trình cải cách thuế hiện nay. Với 3 chương thể hiện đề tài nghiên cứu, luận văn "Quản lý thu thuế ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi - Thực trạng và giải pháp" đã đi sâu phân tích và giải quyết một số nội dung cơ bản sau: 1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về thuế và sự tồn tại phát triển tất yếu của KTNQD. 2. Phân tích thực trạng công tác quản lý thu thuế NQD trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong những năm 1999 - 2000 - 2001. Những nguyên nhân tồn tại trong quản lý thu thuế, biện pháp khắc phục, từ đó rút ra những nguyên nhân chủ yếu tác động đến quản lý thu thuế NQD trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua. 3. Luận văn đã phân tích những quan điểm mang tính chiến lược của Đảng và Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và quan điểm về động viên đóng góp bình đẳng, công bằng về thuế bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế. 4. Trên cơ sở nguyên nhân của những thực trạng quản lý thu thuế NQD cả nước nói chung và tỉnh Quảng Ngãi nói riêng, luận văn đã đề xuất 7 giải pháp nhằm tăng cường và hoàn thiện công tác quản lý thu thuế NQD trong giai đoạn hiện nay, hạn chế sự thất thu về thuế ở khu vực này trong thời gian đến. 5. Qua nghiên cứu thực tiễn công tác quản lý thu thuế và chính sách chế độ hiện hành, luận văn nêu ra 2 kiến nghị với mục đích tăng cường công tác quản lý thu thuế trong giai đoạn mới hiện nay và những vấn đề còn chưa hợp lý ở các sắc thuế cũng như những nhân tố tác động đến việc bồi dưỡng nguồn thu. Do điều kiện và thời gian nghiên cứu hạn hẹp cũng như những hạn chế nhất định về khách quan lẫn chủ quan, luận văn khó tránh khỏi những sai sót nhất định và đủ khả năng đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu đặt ra trong quản lý thu thuế khu vực KTNQD. Tác giả mong nhận được nhiều đóng góp của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, quý Thầy, Cô giáo và cán bộ, công chức ngành thuế - những người rất giàu kiến thức thực tiễn, cũng như bạn bè đồng nghiệp, với hy vọng có thể đóng góp được một số giải pháp trong quản lý thu thuế ở khu vực KTNQD trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi có hiệu quả thiết thực. Qua đó góp phần đảm bảo hệ thống thuế có thể phục vụ ngày càng tốt hơn trong phát triển kinh tế - xã hội và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Bộ Tài chính (1998), Thông tư số 89/1998/TT-BTC ngày 27/6/1998 hướng dẫn thi hành Nghị định số 28/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế Giá trị gia tăng, Hà Nội. Bộ Tài chính (1998), Thông tư số 99/1998/TT-BTC ngày 14/7/1998 hướng dẫn thi hành Nghị định số 30/1998/NĐ-CP ngày 13/5/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp, Hà Nội. Bộ Tài chính (2000), Thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 hướng dẫn thi hành Nghị định số 79/2000/NĐ-CP ngày 29/12/2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế Giá trị gia tăng, Hà Nội. Bộ Tài chính (2002), Thông tư số 18/2002/TT-BTC ngày 20/2/2002 hướng dẫn thi hành Nghị định số 26/2001/NĐ-CP ngày 4/6/2001 của Chính phủ và Nghị định số 30/1998/NĐ-CP ngày 13/5/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp, Hà Nội. Bộ Tài chính - Tổng cục Thuế (2001), Thuế Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, tập II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Lê Văn Chấn (2001), "Cùng trao đổi về việc xử lý quan hệ giữa cán bộ thuế và đối tượng nộp thuế", Thuế Nhà nước, (6), tr. 41. Chính phủ (1996), Nghị định 52/NĐ-CP Chính phủ ban hành ngày 9/9/1996. Chính phủ (1998), Nghị định số 28/1998/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế Giá trị gia tăng ngày 11/5/1998, Hà Nội. Chính phủ (1998), Nghị định số 30/1998/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp ngày 13/5/1998, Hà Nội. Chính phủ (2000), Nghị định số 79/2000/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế Giá trị gia tăng ngày 11/5/1998, Hà Nội. Chính phủ (2001), Nghị định số 26/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp ngày 4/6/2001, Hà Nội. PGS.PTS Ngô Thế Chi - PTS Vũ Công Ty (1999), Hướng dẫn thực hành thuế và kế toán thuế, Nxb Thống kê, Hà Nội. Cục thống kê Quảng Ngãi (1996), Niên giám thống kê 1991 - 1995, Công ty in Thống kê và sản xuất bao bì Huế, Huế. Cục thống kê Quảng Ngãi (2001), Niên giám thống kê 1996 - 2000, Công ty in Thống kê và sản xuất bao bì Huế, Huế. Cục thuế Quảng Ngãi (2000), Báo cáo tổng kết công tác thu thuế năm 1999, Quảng Ngãi. Cục thuế Quảng Ngãi (2001), Báo cáo tổng kết công tác thu thuế năm 2000, Quảng Ngãi. Cục thuế Quảng Ngãi (2001), Báo cáo chuyên đề: Biện pháp quản lý thu thuế đối với cơ sở kinh doanh NQD năm 2000 và 6 tháng đầu năm 2001, Quảng Ngãi. Cục thuế Quảng Ngãi (2002), Báo cáo tổng kết công tác thu thuế năm 2001, Quảng Ngãi. Cục thuế Quảng Ngãi (2002), Báo cáo tình hình kết quả triển khai công tác 6 tháng đầu năm 2002; nhiệm vụ, biện pháp 6 tháng cuối năm 2002, Quảng Ngãi. Đảng bộ Tỉnh Quảng Ngãi (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XVI, Xí nghiệp in Quảng Ngãi, Quảng Ngãi. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nguyễn Sinh Hùng (Bộ trưởng Bộ Tài chính) (2002), "Các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả và thực hiện tốt nghĩa vụ thuế - cần được tôn vinh", Thuế Nhà nước, (2), tr. 4. Mác - Ăngghen (1962), tập 1, Nxb Sự thật Hà Nội. Mác - Ăngghen (1962), tập 2, Nxb Sự thật Hà Nội. Đào Duy Quát (2000), "Nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng nhằm thực hiện thắng lợi các luật thuế mới", Thuế Nhà nước, (5), tr. 1. Huỳnh Huy Quế (2000), "Thuế trong thời kỳ đổi mới", Tài chính, tr. 10-12. Quốc hội (1997), Luật thuế Giá trị gia tăng ban hành ngày 10/5/1997. Quốc hội (1997), Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp ban hành ngày 10/5/1997. Thanh Thanh (2002), "Luật quá thoáng", Báo Pháp luật, ngày 13/5, Hà Nội. Vũ Thị Toản (1996), Công tác quản lý thu thuế NQD trên địa bàn Hà Nội, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. Trường Đại học Tài chính - Kế toán Hà Nội (2000), Thuế, Nxb Tài chính, Hà Nội. Tổng cục Thuế (2001), Báo cáo công tác quản lý thu thuế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh công thương nghiệp và dịch vụ NQD, Hà Nội. Tổng cục Thuế (2002), "Công văn số 11218 TC/TCT ngày 22/11/2001 của Bộ Tài chính về việc tăng cường biện pháp quản lý sử dụng hóa đơn", Thuế Nhà nước, (1), tr. 39-40. UBND tỉnh Quảng Ngãi (1995), Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi thời kỳ 1996 - 2010, Xí nghiệp in Quảng Ngãi, Quảng Ngãi. Viện Chiến lược phát triển (2001), Cơ sở khoa học của một số vấn đề trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. PHỤ LỤC Phụ lục 1: Kết quả thu ngân sách năm 1999 - phân theo sắc thuế. Phụ lục 2: Kết quả thu ngân sách năm 2000 - phân theo sắc thuế. Phụ lục 3: Kết quả thu ngân sách năm 2001 - phân theo sắc thuế. ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLUANVA~2.DOC
Tài liệu liên quan