Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Nguyễn Vinh Quang MỤC LỤC Trang TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ MỞ ĐẦU 7 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 14 1.1. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đ

doc234 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 17/01/2022 | Lượt xem: 44 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ề tài 14 1.2. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết 29 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC NGÀNH QUÂN Y TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 34 2.1. Những vấn đề lý luận về đạo đức nghề nghiệp ngành Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường 34 2.2. Những vấn đề lý luận về giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường 46 2.3. Các yếu tố tác động đến giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường 72 Chương 3 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC NGÀNH QUÂN Y TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 79 3.1. Khái quát hệ thống các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y 79 3.2. Khái quát về khảo sát thực trạng 84 3.3. Thực trạng đạo đức nghề nghiệp của học viên các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường 87 3.4. Thực trạng giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường 94 3.5. Thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường 104 3.6. Đánh giá chung, nguyên nhân và kinh nghiệm giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường 106 Chương 4 BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC NGÀNH QUÂN Y TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 113 4.1. Nâng dần tính hiện đại của nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên 113 4.2. Đa dạng hóa các phương pháp, hình thức giáo dục theo hướng tăng cường các hoạt động trải nghiệm, thực hành lâm sàng để rèn luyện thói quen, hành vi đạo đức nghề nghiệp cho học viên 117 4.3. Phát huy vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức, các lực lượng trong giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên 124 4.4. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục và tự giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên 127 4.5. Xây dựng môi trường sư phạm tích cực trong giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên 132 4.6. Gắn đánh giá kết quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp với đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ học tập, rèn luyện của học viên 137 Chương 5 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 142 5.1. Những vấn đề chung về thực nghiệm sư phạm 142 5.2. Quy trình thực nghiệm sư phạm 143 5.3. Xử lý và phân tích kết quả thực nghiệm 147 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 162 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 165 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 166 PHỤ LỤC 175 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt 1 Cán bộ quản lý CBQL 2 Cao đẳng, đại học CĐ, ĐH 3 Cao đẳng Quân y CĐQY 4 Chủ nghĩa xã hội CNXH 5 Đạo đức nghề nghiệp ĐĐNN 6 Điểm trung bình ĐTB 7 Giáo dục - đào tạo GD - ĐT 8 Giáo dục đạo đức nghề nghiệp GDĐĐNN 9 Học viện Quân y HVQY 10 Khoa học xã hội và nhân văn KHXH&NV 11 Kinh tế thị trường KTTT 12 Nghiên cứu sinh NCS 13 Nhóm đối chứng NĐC 14 Nhóm thực nghiệm NTN DANH MỤC CÁC BẢNG Trang Bảng 2.1 Khái quát các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của người thầy thuốc cần giáo dục cho học viên 44 Bảng 3.1 Thống kê các trường y trong quân đội 79 Bảng 3.2 Bảng thang đo các mức độ đánh giá 86 Bảng 3.3 Bảng Hopkins phân tích mối quan hệ tương quan 86 Bảng 3.4 Vai trò của ĐĐNN ngành Quân y 87 Bảng 3.5 Nhận thức của học viên về phẩm chất ĐĐNN ngành Quân y 89 Bảng 3.6 Lý do đồng chí trở thành học viên quân y 91 Bảng 3.7 Thái độ của học viên đối với nghề nghiệp ngành Quân y 92 Bảng 3.8 Mức độ biểu hiện hành vi ĐĐNN của học viên 93 Bảng 3.9 Vai trò của GDĐĐNN cho học viên 94 Bảng 3.10 Thực hiện các nội dung GDĐĐNN cho học viên 96 Bảng 3.11 Mức độ sử dụng các phương pháp GDĐĐNN cho học viên 99 Bảng 3.12 Mức độ sử dụng các hình thức GDĐĐNN cho học viên 100 Bảng 3.13 Phối hợp các lực lượng tham gia GDĐĐNN cho học viên 101 Bảng 3.14 Kết quả GDĐĐNN cho học viên 103 Bảng 3.15 Các yếu tố tác động đến GDĐĐNN cho học viên 104 Bảng 5.1 Kết quả đo nhận thức ĐĐNN trước thực nghiệm 1 147 Bảng 5.2 Kết quả đo thái độ ĐĐNN trước thực nghiệm 1 148 Bảng 5.3 Kết quả đo hành vi ĐĐNN trước thực nghiệm 1 149 Bảng 5.4 Kết quả kiểm định nhận thức, thái độ, hành vi ĐĐNN bằng T- Test trước thực nghiệm lần 1 150 Bảng 5.5 Kết quả đo nhận thức ĐĐNN sau thực nghiệm lần 1 150 Bảng 5.6 Kết quả đo thái độ ĐĐNN sau thực nghiệm lần 1 151 Bảng 5.7 Kết quả đo hành vi ĐĐNN sau thực nghiệm lần 1 152 Bảng 5.8 Kết quả kiểm định nhận thức, thái độ, hành vi ĐĐNN bằng T- Test sau thực nghiệm lần 1 153 Bảng 5.9 Kết quả đo nhận thức ĐĐNN trước thực nghiệm lần 2 153 Bảng 5.10 Kết quả đo thái độ ĐĐNN trước thực nghiệm lần 2 154 Bảng 5.11 Kết quả đo hành vi ĐĐNN trước thực nghiệm lần 2 155 Bảng 5.12 Kết quả kiểm định nhận thức, thái độ, hành vi ĐĐNN bằng T- Test trước thực nghiệm lần 2 156 Bảng 5.13 Kết quả đo nhận thức ĐĐNN sau thực nghiệm lần 2 156 Bảng 5.14 Kết quả đo thái độ ĐĐNN sau thực nghiệm lần 2 157 Bảng 5.15 Kết quả đo hành vi ĐĐNN sau thực nghiệm lần 2 158 Bảng 5.16 Kết quả kiểm định nhận thức, thái độ, hành vi ĐĐNN bằng T- Test sau thực nghiệm lần 2 159 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 5.1 Kết quả đo nhận thức ĐĐNN trước thực nghiệm 1 148 Biểu đồ 5.2 Kết quả đo thái độ ĐĐNN trước thực nghiệm 1 148 Biểu đồ 5.3 Kết quả đo hành vi ĐĐNN trước thực nghiệm 1 149 Biểu đồ 5.4 Kết quả đo nhận thức ĐĐNN sau thực nghiệm lần 1 151 Biểu đồ 5.5 Kết quả đo thái độ ĐĐNN sau thực nghiệm lần 1 151 Biểu đồ 5.6 Kết quả đo hành vi ĐĐNN sau thực nghiệm lần 1 152 Biểu đồ 5.7 Kết quả đo nhận thức ĐĐNN trước thực nghiệm lần 2 154 Biểu đồ 5.8 Kết quả đo thái độ ĐĐNN trước thực nghiệm lần 2 154 Biểu đồ 5.9 Kết quả đo hành vi ĐĐNN trước thực nghiệm lần 2 155 Biểu đồ 5.10 Kết quả đo nhận thức ĐĐNN sau thực nghiệm lần 2 157 Biểu đồ 5.11 Kết quả đo thái độ ĐĐNN sau thực nghiệm lần 2 157 Biểu đồ 5.12 Kết quả đo hành vi ĐĐNN sau thực nghiệm lần 2 158 DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1 Logic của GDĐĐNN cho học viên 59 Sơ đồ 4.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp 140 MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài luận án Nghề y là một nghề đặc biệt, liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người. Do đó, xã hội luôn yêu cầu, đòi hỏi người làm nghề y, bên cạnh trình độ chuyên môn vững vàng, còn phải có lương tâm, đạo đức trong sáng. Dù y lý, y thuật có thay đổi theo thời gian, nhưng y đức (ĐĐNN ngành y) luôn bền vững. Như vậy, nghề y không đơn thuần chỉ là một nghề nghiệp, một phương tiện kiếm sống đối với người thầy thuốc, mà nghề y còn có một sứ mệnh cao cả hơn, đó là trị bệnh, cứu người. Sứ mệnh ấy không chỉ đòi hỏi người thầy thuốc phải tích cực học hỏi để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, mà còn đòi hỏi họ không ngừng rèn luyện, tu dưỡng ĐĐNN; lấy ĐĐNN làm cơ sở và động lực thực hành chuyên môn, lấy chuyên môn để thể hiện và đảm bảo cho ĐĐNN. Giáo dục ĐĐNN cho học viên đã được các trường CĐ, ĐH ngành Quân y thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất cả về nhận thức và tổ chức thực hiện. Là những y, bác sĩ trong tương lai, lực lượng kế cận, bổ sung trực tiếp cho đội ngũ cán bộ, nhân viên quân y, học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường phải thực sự vững vàng về chính trị, tư tưởng, đạo đức; đó là tiền đề đối với sự trưởng thành của mỗi học viên trong quá trình học tập, rèn luyện cũng như khi ra trường, là một bảo đảm quan trọng để học viên góp phần vào nhiệm vụ xây dựng ngành Quân y và quân đội theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Do đó, GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y có ý nghĩa rất quan trọng. Thực tiễn hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và toàn diện. Bên cạnh đó, Đảng ta cũng chỉ ra thách thức mới liên quan đến vấn đề đạo đức, lối sống đó là: “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa được đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn” [25, tr.185]. Mặt khác, tác động từ mặt trái của KTTT đối với quan niệm về giá trị và lối sống, mà cụ thể là việc đề cao lối sống thực dụng, coi trọng giá trị vật chất, xem nhẹ giá trị tinh thần, đề cao lợi ích cá nhân, xem nhẹ trách nhiệm xã hội Tất cả những tác nhân đó và nhiều tác nhân khác nữa đang dẫn đến sự xuống cấp về mặt ĐĐNN ở một bộ phận không nhỏ người thầy thuốc. Những biểu hiện của sự xuống cấp về ĐĐNN như: sự vô trách nhiệm trong khám chữa bệnh, thái độ bất lịch sự, cửa quyền đối với bệnh nhân, đặc biệt là hiện tượng gây sức ép đòi lệ phí ngầm trong hành nghề... đã gây tốn kém, bức xúc đối với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân cũng như dư luận xã hội. Tác động từ mặt trái của nền KTTT cũng như của xu thế toàn cầu hóa và đặc biệt do không nghiêm túc trong rèn luyện, phấn đấu, một bộ phận học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y đã xuất hiện những biểu hiện đáng báo động về đạo đức, lối sống như thái độ thờ ơ với chính trị; giảm sút niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng; đề cao chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, sống thực dụng, buông thả, vi phạm kỷ luật, sùng bái đồng tiền; quay lưng, phủ nhận các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của quân đội; tiếp nhận thiếu chọn lọc các giá trị từ bên ngoài. Quá trình GDĐĐNN cho học viên cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót làm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả GDĐĐNN cho học viên. Mặc dù, các trường đã tích cực đổi mới song nhìn chung nội dung, chương trình vẫn còn nghèo nàn, nhiều khi xa rời thực tế, thiếu cập nhật. Phương pháp giáo dục còn đơn điệu, giảng giải một chiều, áp đặt, chưa coi người học là trung tâm, do vậy chưa kích thích được tính tích cực trong hoạt động học tập của học viên. Các hình thức hoạt động thực tiễn chưa phong phú để tạo ra môi trường GDĐĐNN lành mạnh, giúp học viên phát huy vai trò của mình trong quan hệ với con người, với xã hội. Việc khắc phục tình trạng này, đẩy lùi sự xuống cấp ĐĐNN trong ngành y và đặc biệt với đội ngũ học viên đòi hỏi công tác lý luận phải đẩy mạnh những nghiên cứu về GDĐĐNN cho học viên, qua đó, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của GDĐĐN ở các trường CĐ, ĐH ngành Quân y hiện nay. Trên phương diện nghiên cứu, đã có những công trình khoa học nghiên cứu về ĐĐNN, GDĐĐNN trên những góc độ, đối tượng khác nhau, nhưng chưa có công trình nghiên cứu có hệ thống, chuyên sâu về GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT. Xuất phát từ đòi hỏi khách quan đó, việc GDĐĐNN cho học viên ngay từ khi mới vào trường là rất cần thiết, cơ bản, lâu dài. Để góp phần vào việc nghiên cứu chuyên sâu nhằm đáp ứng yêu cầu trên, NCS chọn vấn đề “Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường” làm đề tài Luận án của mình. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất biện pháp GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT, nhằm nâng chất lượng giáo dục y đức cho học viên, góp phần hình thành và phát triển nhân cách người y, bác sĩ quân đội tương lai. Nhiệm vụ nghiên cứu Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, trên cơ sở đó rút ra những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu. Xây dựng lý luận của GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT. Khảo sát, đánh giá thực trạng GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT. Đề xuất các biện pháp GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT. Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi, hiệu quả của biện pháp được đề xuất. 3. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu Khách thể nghiên cứu Quá trình GD-ĐT ở các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT. Đối tượng nghiên cứu Giáo dục ĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT. Phạm vi nghiên cứu Về nội dung nghiên cứu: Luận án nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và các biện pháp GDĐĐNN cho học viên đang đào tạo chính quy trình độ CĐ, ĐH ở các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT. Về thời gian nghiên cứu: Các tư liệu, số liệu thống kê sử dụng trong thực trạng giới hạn trong 5 năm, từ năm 2015 đến 2020; các số liệu điều tra, khảo sát thực hiện năm 2018, 2019. Về địa bàn nghiên cứu: Tại 3 trường: Học viện Quân y, Trường Cao đẳng Quân y 1, Trường Cao đẳng Quân y 2. 4. Giả thuyết khoa học Giáo dục ĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y là một nhiệm vụ quan trọng trong GD-ĐT. Hiện nay, vấn đề GDĐĐNN cho học viên đang còn những hạn chế, bất cập do nhiều nguyên nhân khác nhau. Nếu dựa trên cách tiếp cận chủ đạo hoạt động - nhân cách, quá trình GD-ĐT học viên ở các trường CĐ, ĐH ngành Quân y và áp dụng các biện pháp giáo dục cốt lõi như nâng dần tính hiện đại của nội dung đến đa dạng hóa các phương pháp, hình thức giáo dục theo hướng tăng cường các hoạt động trải nghiệm, thực hành lâm sàng, phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục và tự giáo dục, xây dựng môi trường sư phạm tích cực... thì chất lượng GDĐĐNN cho học viên sẽ được nâng cao, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo người thầy thuốc trong bối cảnh KTTT. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân ủy Trung ương về giáo dục đạo đức, nhân cách người cán bộ sĩ quan quân đội về y đức và các quan điểm tiếp cận cụ thể trong nghiên cứu sau: Tiếp cận hệ thống - cấu trúc: Giáo dục ĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y là một quá trình gồm nhiều thành tố như: mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, các chủ thể giáo dục, các yếu tố bảo đảm và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục, do vậy khi xem xét, giải quyết các nội dung nghiên cứu của đề tài luận án cần đặt trong hệ thống có quan hệ, chi phối nhau. Tiếp cận lịch sử - logic: Giáo dục nói chung và GDĐĐNN nói riêng luôn gắn với lịch sử, văn hóa của từng quốc gia, vùng miền và phù hợp với sự phát triển của thời đại. Giải quyết những vấn đề GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y phải đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, xem xét trong mối quan hệ với hoàn cảnh lịch sử cụ thể để tìm ra quy luật và logic của sự phát triển. Giáo dục ĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y không tách rời với các giá trị văn hóa dân tộc, yêu cầu đòi hỏi của hoạt động quân sự và xu thế phát triển trong giáo dục. Tiếp cận hoạt động - nhân cách: Nhân cách con người hình thành thông qua hoạt động. Thông qua hoạt động, con người lĩnh hội được các giá trị văn hóa xã hội và thể hiện các giá trị đó trong cuộc sống. Giáo dục ĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y chỉ có hiệu quả thông qua hoạt động thực tiễn. Do vậy, cần lựa chọn các hoạt động hấp dẫn, đa dạng, mang tính giáo dục cao phù hợp với đặc điểm tâm lý, nhu cầu, hoạt động học tập của học viên, tổ chức các hoạt động theo một quy trình phù hợp mang lại hiệu quả GDĐĐNN cho học viên. Tiếp cận liên ngành: Quá trình nghiên cứu đề tài có sử dụng quan điểm, tri thức và phương pháp nghiên cứu của các chuyên ngành khác nhau để giải quyết vấn đề một cách toàn diện, khách quan và hiệu quả nhất. Đặc biệt, trong đề tài luận án có sử dụng đến kiến thức của Đạo đức học Y học và Kinh tế học để làm rõ cho các vấn đề về ĐĐNN và GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT. Phương pháp nghiên cứu Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá các tài liệu lý thuyết chuyên ngành, liên ngành, các văn kiện, nghị quyết, các văn bản pháp luật, chính sách của Đảng, Nhà nước, quân đội; các tài liệu khoa học là sách chuyên khảo, tham khảo, luận án, bài báo, bài hội thảo khoa học; các báo cáo tổng kết chuyên môn và GD-ĐT có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài luận án. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn Phương pháp quan sát khoa học: Quan sát các hoạt động học viên trong học tập, tiếp xúc với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, với đồng nghiệp và với xã hội. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Lập phiếu hỏi và tổ chức điều tra các hoạt động của giảng viên, CBQL và học viên ở các trường CĐ, ĐH ngành Quân y, nhằm thu thông tin về thực trạng GDĐĐNN cho học viên. Phương pháp phỏng vấn: Trao đổi với một số thầy thuốc, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân về nhận thức, thái độ, hành vi ĐĐNN của học viên làm cơ sở cho việc đánh giá kết quả của những biện pháp GDĐĐNN. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Nghiên cứu những hoạt động thực tiễn giáo dục ở nhà trường của các lớp, khóa, các bệnh viện, nhà trường để rút ra những kinh nghiệm giáo dục trong những năm gần đây. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động giáo dục: Phân tích các sản phẩm hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm, các báo cáo tổng kết, kế hoạch tự học, kết quả học tập của học viên ở các trường CĐ, ĐH ngành Quân y. Phương pháp thực nghiệm có đối chứng: Sử dụng các tác động sư phạm có đối chứng trong thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi, hiệu quả của một số biện pháp đã đề xuất. Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến đánh giá của các chuyên gia, các nhà sư phạm, nhà quản lý về các vấn đề liên quan đến đề tài. Các phương pháp hỗ trợ Sử dụng các công thức toán thống kê và phần mềm máy tính để xử lý các số liệu đã thu thập được từ các phương pháp khảo sát thực tiễn và trình bày kết quả nghiên cứu. 6. Những đóng góp mới của luận án Luận án tập trung nghiên cứu, luận giải, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn của ĐĐNN và GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT, như: Xây dựng và làm rõ một số khái niệm, cấu trúc, hệ thống chuẩn mực ĐĐNN ngành Quân y. Khái quát nội dung, phương pháp, hình thức GDĐĐNN đồng thời chỉ ra các yếu tố tác động tới GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT. Qua phân tích làm rõ các vấn đề về thực trạng, nguyên nhân của ĐĐNN và GDĐĐNN từ đó xây dựng hệ thống các biện pháp giáo dục đồng bộ, giúp các chủ thể giáo dục vận dụng trong thực tiễn. Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi, hiệu quả của biện pháp được đề xuất. 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án Ý nghĩa lý luận Luận án đã hệ thống hóa, góp phần phát triển lý luận của GDĐĐNN nhằm thực hiện có kết quả mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục học viên đặt ra. Qua đó, nâng cao chất lượng GD-ĐT ở các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT. Ý nghĩa thực tiễn Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy, GDĐĐNN tại các nhà trường thuộc ngành y; những kết quả nghiên cứu của Luận án cũng có ý nghĩa khuyến nghị để các cấp lãnh đạo, quản lý, các nhà giáo dục tham khảo trong quá trình tiến hành giáo dục học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y. 8. Kết cấu luận án Nội dung luận án được kết cấu gồm: Mở đầu; 5 chương (20 tiết); kết luận và kiến nghị; danh mục các công trình khoa học của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1.1.1. Những công trình nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp và giáo dục đạo đức nghề nghiệp ngành y 1.1.1.1. Những công trình nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp ngành y Với tính nhân đạo sâu sắc, nghề y mạng đậm dấu ấn của đạo đức. Trong suốt chiều dài lịch sử, nghề y luôn là sự hội tụ hài hòa của những giá trị y lý, y thuật và y đạo, trong đó y đạo người thầy thuốc được coi là cốt lõi. Ở phương Đông, ĐĐNN ngành y có nguồn gốc từ quan niệm cái đức của người thầy thuốc phải rộng như biển cả. Nếu có cầu xin là cầu xin tất cả những gì có thể cứu được bệnh nhân từ nước, lửa, cây cỏ. Cùng với phương Đông, ở phương Tây thời kỳ cổ đại cũng có nền y học tương đối phát triển. Không ít danh y đã để lại cho đời sau những bài học vô cùng bổ ích cả về y thuật lẫn ĐĐNN. Thomas Sydenhan (1624 - 1689), vị bác sĩ tài năng người Anh, cha đẻ của ngành y học lâm sàng và dịch tễ học, sách Phương pháp điều trị tốt, ông cho rằng: “Thầy thuốc là công bộc của lòng từ thiện thiêng liêng” [35, tr.34]. Theo ông, người thầy thuốc phải phục vụ tận tâm và tạo điều kiện cho người bệnh lạc quan tin tưởng khi chữa bệnh. Đầu thế kỷ XIX những vấn đề về ĐĐNN ngành y đã được nghiên cứu trong các bài giảng của các giáo sư lâm sàng hệ Y khoa Trường Đại học Tổng hợp Moscow. Nhà nội khoa lâm sàng lớn nhất ở nửa đầu thế kỷ XIX, M. Lamucdrop giảng dạy rằng: “Thầy thuốc phải khiêm tốn và thận trọng, đối với bệnh nhân phải thương yêu” [35, tr.52], ông đã nhiều lần nói rằng: “Trong nghệ thuật Y học không thể có những thầy thuốc làm xong công tác khoa học” [35, tr.87]. Tatsuo Kuroyanagi (2014), “Nghiên cứu và đánh giá sự biến đổi lịch sử của y đức - những thách thức của hội Y học thế giới” [56], tác giả đã chỉ ra sự biến đổi lịch sử của ĐĐNN ngành y từ thời kỳ đầu của Hội Y học Thế giới. Từ tuyên ngôn Geneva cho đến công ước quốc tế về ĐĐNN ngành y đã chỉ ra nghĩa vụ chung của người thầy thuốc trong các mối quan hệ với bệnh nhân và đồng nghiệp. Bài báo làm rõ việc chấp nhận các quan điểm ĐĐNN ngành y lẫn nhau của các khu vực, nhất là ở các khu vực có nền văn hóa và cách suy nghĩ khác so với các nước phát triển phương Tây. Chính vì thế, bài báo đi vào phân tích các quan điểm khác nhau đó và rút ra kết luận rằng dù thế nào thì sức khỏe của người bệnh vẫn là mối quan tâm hàng đầu. Cùng với sự phát triển của ĐĐNN ngành y trên thế giới, đối với Việt Nam, giá trị nhân văn Việt Nam luôn là cơ sở hình thành, nuôi dưỡng và phát triển ĐĐNN ngành y. Với lòng nhân ái cao cả “Thương người như thể thương thân” nhân dân ta rất quý trọng nghề y và tôn vinh những người thầy thuốc hết lòng vì người bệnh mà các bậc danh y như Tuệ Tĩnh (Nguyễn Bá Tĩnh, thế kỷ XIV), Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720-1791) đều hết sức chú trọng xây dựng và truyền đạt ĐĐNN ngành y tới người thầy thuốc. Vào thế kỷ XIX, nhà thơ, đồng thời là người thầy thuốc Nguyễn Đình Chiểu (1812 - 1888) cũng là người rất đề cao ĐĐNN của người thầy thuốc. Bàn về lương tâm, bổn phận của người thầy thuốc, tác phẩm Ngư Tiều vấn đáp y thuật [10], ông đã đã khái quát một cách cô đọng về ĐĐNN của người thầy thuốc như sau: “Xưa rằng: thầy thuốc học thông Thề theo trời đất một lòng hiếu sinh Giúp đời chẳng vụ tiếng danh Chẳng màng của lợi, chẳng ganh ghẻ tài,” “Thấy người đau, giống mình đau Phương nào cứu đặng, mau mau trị lành Ăn mày cũng đứa trời sinh Bệnh còn cứu đặng, thuốc đành cho không” [10, tr.74 - 75]. Kế thừa truyền thống ĐĐNN ngành y của ông cha ta, tiếp thu tinh hoa ĐĐNN ngành y nhân loại, trên cương vị là lãnh tụ của dân tộc và một nhà văn hóa, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc trau dồi và rèn luyện ĐĐNN của người làm nghề y. Hồ Chí Minh là một trong số ít những lãnh tụ cách mạng bàn nhiều nhất về ĐĐNN ngành y thông qua nhiều lần gửi thư, trực tiếp gặp, thăm các cơ sở y tế để bày tỏ quan điểm của Đảng và Chính phủ về phẩm chất người thầy thuốc. Hầu như mỗi lần có dịp tiếp xúc với ngành y điều đầu tiên Hồ Chí Minh nhắc tới vẫn là “thầy thuốc như mẹ hiền”. Đây chính là yêu cầu Hồ Chí Minh đặt ra trong phương châm xử thế, phương châm hành động và phục vụ của cán bộ và nhân viên ngành y đối với người bệnh. Hồ Chí Minh căn dặn thầy thuốc và nhân viên phục vụ cần coi trọng chăm sóc cả sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần. Thư gửi Hội nghị quân y (3/1948), Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5 [68], Người viết: “Người làm thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần của người ốm yếu”. “Người ta có câu “Lương y kiêm từ mẫu” nghĩa là một người thầy thuốc phải là một người mẹ hiền” [68, tr.487]. Trong Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc năm 1953, Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 8 [69], Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ y tế cần phải “Thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt”. “Cần phải tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân”. “Lương y phải kiêm từ mẫu” [69, tr.154]. Tác giả Ngô Gia Hy (1995), sách Nguồn gốc của y đức: Sự đóng góp của nền y học vào văn hóa Việt Nam [53], tác giả đã làm rõ y đức trong điều kiện KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa với những nảy sinh mới ở Việt Nam, đồng thời đã luận chứng cho sự cần thiết phải nâng cao ĐĐNN ngành y trong điều kiện hiện nay. Dựa trên cơ sở nghiên cứu lịch sử và quan niệm về ĐĐNN ngành y của các trường phái y học khác nhau, hay của nhiều quốc gia, tác giả cho rằng: từ cổ chí kim, dù ở nền văn minh nào, qua các lời thề và di huấn, ĐĐNN ngành y cũng có những tính chất chung, nên các thầy thuốc ở bất cứ đâu đều có mối quan hệ về bổn phận, lương tâm và trách nhiệm như nhau. Lê Hữu Trác (1997), sách Hải thượng y tông tâm lĩnh, tập 2 [94], luôn tự nhắc nhở người thầy thuốc cần “tiến đức, tu nghiệp”. Tiến đức là mỗi ngày phải rèn luyện cho toàn diện, toàn mĩ về ĐĐNN ngành y. Tu nghiệp là hàng ngày phải chăm chỉ học tập cho y thuật ngày càng tinh thông. Đối với ông, đạo làm thuốc không chỉ bó hẹp trong phạm vi chuyên môn nghề nghiệp mà còn bao hàm cả ĐĐNN; nghĩa là y thuật phải gắn liền với ĐĐNN, thấm nhuần lòng thương người, thương dân. Ông viết: Suy nghĩ thật sâu xa tôi hiểu rằng, thầy thuốc là bảo vệ sinh mạng cho con người, sống chết một tay mình nắm, họa phúc một tay mình giữ. Thế thì đâu có thể kiến thức không đầy đủ, đức hạnh không trọn vẹn, tâm hồn không rộng lớn, hành vi không thận trọng mà dám liều lĩnh đòi làm cái nghề cao quý đó chăng [94, tr.309]. Lê Hữu Trác luôn nhận thức rằng người thầy thuốc phải biết giữ phẩm chất của mình, bản thân không được vụ lợi. Trong Y huấn cách ngôn, ông viết: “Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người. Phải lo cái lo của người, vui cái vui của người. Chỉ lấy việc cứu mạng sống cho con người làm nhiệm vụ của mình, không nên cầu lợi, kể công” [94, tr.134]. Chính vì vậy mà ông luôn tự đặt cho mình các mục tiêu phấn đấu để trở thành người thầy thuốc giỏi. Các tác giả Quý Long, Kim Thư (2013), sách Những bậc thầy nổi danh về y đức [60], đã đánh giá chính xác vai trò, địa vị của người thầy thuốc từ góc nhìn văn hóa. Các tác giả đã đưa ra và làm rõ quan niệm về ngành y, về ĐĐNN của người thầy thuốc. Đặc biệt, các tác giả dưới góc nhìn từ truyền thống - suy ngẫm về y đức hiện nay. Trên cơ sở khái quát tư tưởng các thầy thuốc nổi danh về ĐĐNN ngành y cổ kim, đông tây, các tác giả đã cho thấy, sự tương đồng, sự thống nhất trong cách nhìn nhận của họ về thiên chức và trách nhiệm, bổn phận ĐĐNN ngành y, về sự cần thiết phải bồi dưỡng, nâng cao ĐĐNN cho những người làm nghề trị bệnh cứu người. Vì vậy, các tác giả khẳng định: “Y thuật phải được gắn liền với y đạo vì người thầy thuốc có trình độ chuyên môn giỏi chưa đủ mà cần phải có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp” [60, tr.13]. Tác giả Lê Thị Lý (2016), Đạo đức người thầy thuốc xưa và nay [63]. Nội dung cuốn sách đã chỉ rõ, so với các nghề nghiệp khác, nghề y có một số đặc trưng cơ bản, những đặc trưng này phản ánh khá rõ nét những yêu cầu về đạo đức của người thầy thuốc. Thầy thuốc phải làm dịu đi những lo lắng về bệnh tật, lạc quan và hy vọng vào cuộc sống, tin tưởng vào y học. Tác giả nhấn mạnh: “Thầy thuốc phải tránh được những thói quen không tốt về tâm lý như sự dạn dày với đau khổ, bệnh tật, chết chóc, thái độ bình thản, lãnh đạm với nỗi đau của người bệnh và thân nhân của họ, không lạm dụng địa vị và sự tôn kính của bệnh nhân làm những việc trái với đạo đức thông thường, tổn hại đến danh dự của người bệnh” [63, tr.112]. Với ý nghĩa đó, cuốn sách là tài liệu quý đối với đội ngũ y, bác sĩ, những người công tác trong ngành y và tất cả những ai quan tâm đến sự phát triển của ngành y tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Tác giả Nguyễn Thế Nghĩa và Nguyễn Thị Bích Thủy (2016), sách Tư tưởng nhân văn và triết lý y đức [73], đã chỉ ra rằng ĐĐNN ngành y chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tư tưởng nhân văn, của triết lý đạo đức mà mỗi quốc gia, dân tộc đã hình thành nên trong quá trình lịch sử của mình. Các tác giả cho rằng: “Tư tưởng nhân văn và triết lý y đức gắn bó chặt chẽ với nhau và gắn bó mật thiết với cuộc sống con người, với quá trình lao động sản xuất, cải tạo xã hội và phát triển khoa học” [73, tr.7], dù ở thời đại nào, chịu ảnh hưởng của triết lý nào đi chăng nữa thì nguyên lý bất hủ của các thầy thuốc vẫn phải là chữa bệnh cứu người, luôn đặt tính mạng, sức khỏe của bệnh nhân lên trên hết, trước hết. Tác giả Chu Tuấn Anh (2017), luận án tiến sĩ Triết học Vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức trong việc nâng cao y đức cho cán bộ ngành y tế ở Việt Nam hiện nay [1], đã tập trung luận giải mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức trong nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, đáng chú ý là tác giả đã làm rõ sự tác động sâu sắc của KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa tới đạo đức ngành y. Qua đó, tác giả cho rằng: “Y đức giúp người cán bộ y tế đề kháng, đấu tranh với những cám dỗ, tiêu cực của cơ chế thị trường tác động vào” [1, tr.60]. Từ việc luận giải mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức, tác giả đã vận dụng vào nâng cao ĐĐNN cho cán bộ y tế ở Việt Nam hiện nay và tiến hành nghiên cứu thực trạng, xác định những vấn đề đặt ra. Tác giả Phạm Công Nhất (1999), “Mâu thuẫn giữa mặt trái của cơ chế thị trường với bản chất nhân đạo của ngành y tế Việt Nam hiện nay” [75], bài báo khoa học đã đề cập đến vấn đề ĐĐNN ngành y trong nền KTTT, chỉ rõ quan hệ thầy thuốc - bệnh nhân không còn đơn thuần là các y, bác sĩ với thương, bệnh binh như trước đây mà là quan hệ giữa người cung cấp dịch vụ khám, chữa bệnh với người bỏ tiền mua dịch vụ. Người thầy thuốc nhận tiền công khám chữa bệnh từ bệnh nhân thực ra không phải là mất ĐĐNN ngành y. Vấn đề là ở chỗ đánh giá công lao động bỏ ra như thế nào cho phải... các yếu tố bên ngoài, đặc biệt là KTTT đối với ngành y, đồng thời đã đưa ra nhiều biện pháp để giáo dục, rèn luyện ĐĐNN ngành y cho học viên, sinh viên. Tuy nhiên, các nghiên cứu về GDĐĐNN ngành y cho đối tượng cụ thể, đối tượng học viên, sinh viên đang theo học nghề y với thiên chức cao cả người thầy thuốc quân đội nói riêng chưa nhiều, chưa hệ thống. Do đó, nghiên cứu Luận án: “Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường” là vấn đề vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn với tư cách là đề tài độc lập mà trước đó chưa có công trình nghiên cứu trùng với tên đề tài này. Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC NGÀNH QUÂN Y TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 2.1. Những vấn đề lý luận về đạo đức nghề nghiệp ngành Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường 2.1.1. Khái niệm đạo đức và đạo đức nghề nghiệp 2.1.1.1. Đạo đức Đạo đức là một vấn đề dành được sự quan tâm của nhiều lĩnh vực khoa học và của nhiều nhà khoa học. Mỗi lĩnh vực khoa học, nhà khoa học lại đề cập đến đạo đức ở những khía cạnh với những phạm vi nội dung khác nhau. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của xã hội, bao gồm những chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ với toàn xã hội” [97, tr.738 - 739]. Theo Từ điển Tâm lý học, “Đạo đức là phẩm chất tốt đẹp của cá nhân hay nhóm, biểu hiện ở hành vi phù hợp với các quy tắc, chuẩn mực xã hội” [16, tr.153]. Dưới góc độ Giáo dục học, tác giả Phạm Viết Vượng đưa ra định nghĩa: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các quan niệm về cái thiện, cái ác trong các mối quan hệ của con người với con người.” [107, tr.300]. Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh cho rằng: “Đạo đức là quy tắc sống, nó có vị trí to lớn trong đời sống nhân loại, đạo đức định hướng giá trị cho cuộc sống của mỗi cá nhân, điều chỉnh hành vi cho phù hợp với chuẩn mực của xã hội.” [77, tr.41]. Có nhiều quan niệm khác nhau về đạo đức, nhưng tựu chung lại, có thể hiểu: Đạo đức là những chuẩn mực trong quan hệ xã hội, là thành phần cơ bản của nhân cách đã được xã hội hóa, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình trong tập thể dựa trên sức mạnh của dư luận xã hội, của tập quán truyền thống. Đạo đức là bộ phận hợp thành và quan trọng nhất của nhân cách, là một thuộc tính chủ yếu của nhân cách, phản ánh bộ mặt xã hội, giá trị xã hội của cá nhân. Đạo đức còn thể hiện ở thái độ và hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện, lao động, hoạt động tập thể, hoạt động xã hội... của cá nhân. Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người, người có đạo đức là người tự giác thực hiện những quy định của pháp luật, của cộng đồng, thực hiện có hiệu quả, có chất lượng cao những nhiệm vụ của bản thân trong học tập, lao động, hoạt động xã hội... ở gia đình, ở trong cộng đồng. 2.1.1.2. Đạo đức nghề nghiệp Nghề nghiệp là một thuật ngữ dùng để chỉ một hình thức lao động trong xã hội theo sự phân công lao động mà con người sử dụng lao động của mình để tạo ra sản phẩm vật chất, tinh thần đóng góp cho xã hội. Theo từ điển Tiếng Việt, “Nghề nghiệp là một công việc mà người ta thực hiện trong suốt cả cuộc đời” [78, tr.698]. Nghề nghiệp không chỉ đảm bảo cuộc sống mà còn tôn vinh con người làm việc trong lĩnh vực đó. Việc lựa chọn nghề nghiệp là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với cá nhân mà đối với cả xã hội, đây không chỉ đơn thuần là một công việc để nuôi sống bản thân, đóng góp cho gia đình và xã hội, mà đó là sự lựa chọn một cách sống, lối sống cho tương lai. Đạo đức nghề nghiệp xuất hiện với tên gọi là Déontologic (Déon: bổn phận, cần phải làm, logos: học thuyết) do nhà Triết học người Anh Bentham sử dụng có nghĩa là: nghĩa vụ luận, ĐĐNN. Đạo đức nghề nghiệp là đạo đức của người lao động trong một lĩnh vực hoạt động cụ thể, do mục đích, đối tượng phục vụ, các đặc điểm của nghề quy định. Đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận quan trọng của đạo đức xã hội, góp phần tạo nên một xã hội văn minh, công bằng và trung thực. Do tính đặc thù của hoạt động nghề nghiệp mà xã hội có những yêu cầu về nghề nghiệp cũng như về đạo đức đối với từng loại hoạt động nghề nghiệp nhất định. Những yêu cầu, những chuẩn mực ĐĐNN một mặt, là sự phản ánh những đòi hỏi của xã hội, mặt khác, lại là động lực tinh thần để con người hoạt động hiệu quả hơn trong lĩnh vực nghề nghiệp của mình. Vì thế, từ lâu, ĐĐNN dưới những hình thức, những mức độ nhất định, đã hình thành như là một lĩnh vực đặc thù của đạo đức xã hội. Đúng như Ph.Ăngghen từng viết: “Trong thực tế, mỗi giai cấp, và ngay cả mỗi nghề nghiệp đều có đạo đức riêng của mình” [64, tr.425]. Từ sự phân tích trên có thể khái quát: Đạo đức nghề nghiệp là hệ thống phẩm chất, giá trị đạo đức xã hội phù hợp với đặc điểm của mỗi loại nghề nghiệp, phản ánh bộ mặt nhân cách của con người, là động lực phát triển nhân cách, phát triển năng lực nghề nghiệp và hiệu quả hoạt động nghề nghiệp, hoạt động xã hội của mỗi người. Đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận của đạo đức xã hội phản ánh những nét chung về yêu cầu, giá trị tinh thần của nghề. Với tính cách là một dạng của đạo đức xã hội, ĐĐNN có quan hệ chặt chẽ với đạo đức cá nhân và thể hiện thông qua đạo đức cá nhân. Phẩm chất đạo đức cá nhân trong xã hội đều có nét chung, nhưng đạo đức trong lĩnh vực nghề nghiệp có những đặc thù và yêu cầu riêng biệt. Đạo đức nghề nghiệp có quan hệ chặt chẽ với năng lực nghề nghiệp. Đạo đức và năng lực nghề nghiệp thống nhất với nhau, biểu hiện thông qua nhau, tạo nên nhân cách của từng cá nhân trong hoạt động nghề nghiệp. Đạo đức nghề nghiệp có quan hệ với lòng yêu nghề, say mê với công việc. Lòng yêu nghề làm cho mỗi cá nhân dồn hết tâm trí hành nghề, sáng tạo hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. 2.1.2. Khái niệm đạo đức nghề nghiệp ngành Quân y Đạo đức nghề nghiệp ngành y (hay còn gọi là y đức) là một trong những lĩnh vực ĐĐNN được hình thành sớm trong lịch sử nhân loại. Điều đó được quy định bởi hai nhân tố cơ bản: Có con người là có vấn đề chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe là vấn đề có tính chuyên biệt cao. Từ những cách nhìn nhận và quan điểm của các danh y trong lịch sử đến tư tưởng Hồ Chí Minh về y đức, có thể thấy, y đức là một phương diện hữu cơ gắn liền với hoạt động nghề nghiệp của người thầy thuốc. Người thầy thuốc chân chính là người biết ra sức học tập và rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn, toàn tâm, toàn lực thực hiện sứ mệnh cao quý là trị bệnh cứu người. Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau, nên quan niệm về y đức ở nhiều người còn có những điểm khác biệt nhất định. Từ góc độ ứng xử đạo đức, tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà cho rằng: “Y đức trước hết là lối ứng xử của người thầy thuốc trong mối quan hệ xã hội muôn màu muôn vẻ của cuộc sống và trong mọi hoàn cảnh, thể hiện trên các mặt trách nhiệm, thái độ và tấm lòng” [38, tr.11-12]. Từ góc độ hành vi đạo đức, tác giả Đỗ Nguyên Phương quan niệm: “Y đức là những tiêu chuẩn, quy tắc của đời sống xã hội nhằm điều chỉnh hành vi xử sự và quan hệ của thầy thuốc với bệnh nhân cũng như đối với đồng nghiệp” [80, tr.251]. Từ góc độ giá trị đạo đức, tác giả Lê Ngọc Trọng cho rằng: “Y đức là hệ thống những tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức được xã hội thừa nhận, nhằm đảm bảo cho người hành nghề y phục vụ sức khoẻ nhân dân được tốt nhất” [96, tr.59]. Xem xét những quan niệm trên cho thấy, tuy về mặt hình thức có sự khác biệt trong luận giải, song về mặt nội dung đều có những điểm chung thống nhất, cùng nói lên được các dấu hiệu bản chất nhất của ĐĐNN ngành y như: tinh thần và thái độ phục vụ; hành vi đối xử; bổn phận của người thầy thuốc đối với bệnh nhân và những quy tắc xử sự của người thầy thuốc trong các mối quan hệ xã hội. Xuất phát từ những quan niệm trên, có thể hiểu: Đạo đức nghề nghiệp ngành y là tổng hòa những phẩm chất, những chuẩn mực mà xã hội, nghề nghiệp đòi hỏi ở những người làm nghề y được hình thành tự giác và tích cực trong hoạt động nghề nghiệp của mình. Trong lĩnh vực quân sự, ĐĐNN ngành Quân y là tổng hoà các phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc và phẩm chất của người quân nhân cách mạng biểu hiện ở thái độ, hành vi của người thầy thuốc phù hợp với yêu cầu của ngành Quân y, đảm bảo cho họ hoàn thành tốt các nhiệm vụ trong hoạt động y học quân sự. Đạo đức nghề nghiệp ngành Quân y vừa mang phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc nói chung, vừa phải có những phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc Quân y, người quân nhân cách mạng. Do vậy, ngoài những phẩm chất đạo đức chung của người cách mạng, người thầy thuốc, ở họ còn có những phẩm chất đạo đức của ngành Quân y. Đặc điểm nổi bật trong hoạt động nghề nghiệp của y, bác sĩ, nhân viên y tế trong quân đội: “Đối tượng phục vụ của họ là thương binh, bệnh binh và những người bệnh. Bệnh tật của con người không phải thuần tuý là sự biến đổi về sức khoẻ, sinh lý của cơ thể mà còn bao gồm cả những biến đổi về sức khoẻ tâm lý, tinh thần” [55, tr.12]. Do vậy, y, bác sĩ, nhân viên y tế trong quân đội bên cạnh những tiêu chuẩn đạo đức cách mạng, đạo đức người thầy thuốc còn có phẩm chất đạo đức người quân nhân, phẩm chất ĐĐNN mang tính đặc thù của hoạt động y học quân sự, đó là: Thứ nhất, hết lòng hết sức cứu chữa, phục vụ thương, bệnh binh và người bệnh, thực hiện tốt mô hình “Quân dân y kết hợp”. Thứ hai, chịu trách nhiệm chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho quân nhân, cho đơn vị: luôn luôn bảo đảm sức khỏe cho bộ đội, đảm bảo quân số khỏe, sức chiến đấu cho toàn đơn vị. Thứ ba, hoạt động nghề nghiệp quân y diễn ra trong điều kiện thường xuyên sẵn sàng chiến đấu. Đây là đặc điểm nổi bật, là một trong những nhiệm vụ cơ bản hàng đầu, là trạng thái hoạt động thường xuyên ở mỗi đơn vị. Do đó, đòi hỏi người y, bác sĩ, nhân viên quân y không chỉ có sức khỏe, chuyên môn tốt mà còn phải có sự nỗ lực cao về ý chí để vượt qua những khó khăn, trở ngại. Thứ tư, chấp hành nghiêm kỷ luật, sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở những nơi khó khăn (vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo), tham gia vào lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc theo sự phân công của ngành Quân y, của quân đội. Thứ năm, giữ vững phẩm chất của người quân nhân cách mạng, chấp hành nghiêm điều lệnh, điều lệ quân đội. 2.1.3. Cấu trúc, hệ thống chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp ngành Quân y 2.1.3.1. Cấu trúc đạo đức nghề nghiệp ngành Quân y Cấu trúc ĐĐNN ngành Quân y có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau, mỗi cách tiếp cận cho phép chúng ta nhìn ra một cấu trúc ĐĐNN xác định. Ở đây luận án tiếp cận vấn đề theo góc độ ĐĐNN là một bộ phận hợp thành của nhân cách. Chính cách tiếp cận này cho phép lý giải vì sao lại coi ĐĐNN là tổng hòa các phẩm chất chứ không phải chỉ là một hiện tượng xã hội. Theo đó cấu trúc ĐĐNN ngành Quân y bao gồm: ý thức ĐĐNN ngành Quân y, thái độ ĐĐNN ngành Quân y và hành vi ĐĐNN ngành Quân y. Ý thức ĐĐNN ngành Quân y: là một trong ba bộ phận cơ bản hợp thành ĐĐNN, là hệ thống các quan niệm, nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực, lý tưởng và tình cảm ĐĐNN chỉ đạo hoạt động của người thầy thuốc Quân y trong hoạt động nghề nghiệp. Trong ý thức ĐĐNN ngành Quân y, hệ thống quan điểm về tính nhân đạo, lòng nhân ái không đơn thuần là lòng tốt, không chỉ là ý nghĩ tốt đẹp về người khác của thầy thuốc mà còn là sự thấu hiểu nỗi lo lắng của người bệnh; cảm nhận đầy đủ những đau đớn người bệnh đang gánh chịu bằng thái độ sẵn sàng chia sẻ. Ý thức ĐĐNN ngành Quân y thể hiện rõ nhất ở tư tưởng: Người hạnh phúc nhất là người đem lại hạnh phúc cho nhiều người. Đây là quan niệm đạo đức đặc trưng trong nghề y, đòi hỏi cán bộ ngành Quân y phải hiểu đầy đủ; cảm nhận sâu sắc và thành niềm tin, thành giá trị khuôn mẫu của cuộc sống cho mọi suy nghĩ và hành động của mình. Thái độ ĐĐNN ngành Quân y: là cách cư xử, tình cảm của người thầy thuốc với bệnh nhân, với đồng nghiệp, với công việc, với cộng đồng xã hội và với bản thân mình. Hay nói cách khác thái độ ĐĐNN ngành Quân y là tập hợp những mối quan hệ thông qua đó người thầy thuốc thể hiện tư tưởng, thái độ cụ thể của mình. Trong các mối quan hệ đó, mối quan hệ giữa thầy thuốc với bệnh nhân là mối quan hệ cơ bản, phản ánh đặc trưng của ĐĐNN. Quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân là quan hệ hợp tác cùng chiến tuyến đối mặt với bệnh tật. Người bệnh tìm tới thầy thuốc vì họ có bệnh, trong khi đó, thầy thuốc lại hướng vào tìm ra bệnh trong người bệnh. Đây là quan hệ của 3 nhân tố (thầy thuốc, bệnh và bệnh nhân) với 2 chủ thể (thầy thuốc và bệnh nhân). Khi quan hệ này được thiết lập nhanh chóng, thực hiện các ràng buộc chặt chẽ phối hợp thống nhất thì nhiệm vụ khám, chữa bệnh được thuận lợi, khả năng khỏi bệnh cao. Hành vi ĐĐNN ngành Quân y: là quá trình hiện thực hóa ý thức ĐĐNN ngành Quân y; là hành động của chủ thể mà ở đó ý thức đạo đức và thái độ đạo đức được thực hiện. Hành vi ĐĐNN ngành Quân y có hai mặt: động cơ và hành động biểu hiện ra. Mọi hành động đều có động cơ, động cơ thúc đẩy hành vi ĐĐNN. Đưới góc độ nghề y, đây là những thao tác, cử chỉ, hành động cùng với các biểu lộ trên nét mặt, lời nói, dáng vẻ bên ngoài... được thầy thuốc sử dụng trong các mối quan hệ ĐĐNN. Đây là sự thể hiện ra bên ngoài của tư tưởng, thái độ đạo đức của người thầy thuốc. Nội dung của hành vi ĐĐNN ngành Quân y thể hiện ở các thao tác y thuật trong khám, chữa bệnh phải nhẹ nhàng, thận trọng, tỉ mỉ, khoa học, không gây đau đớn cho người bệnh. Thông qua cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, ánh mắt... thầy thuốc thể hiện thái độ ân cần, chu đáo, cảm thông sâu sắc của mình, tạo niềm tin tưởng của thương, bệnh binh, bệnh nhân. Ba bộ phận của cấu trúc ĐĐNN ngành Quân y có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó ý thức đạo đức là nguồn gốc bên trong, giữ vai trò chi phối toàn bộ nội dung và tính chất của thái độ ĐĐNN và hành vi ĐĐNN ngành Quân y. 2.1.3.2. Hệ thống chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp ngành Quân y Các căn cứ xây dựng hệ thống chuẩn mực ĐĐNN ngành Quân y Kế thừa kết quả nghiên cứu về ĐĐNN của người thầy thuốc, hệ thống chuẩn mực ĐĐNN ngành Quân y được xây dựng dựa trên những căn cứ khoa học sau đây: Từ các công trình khoa học đã được tổng quan trong đề tài luận án. Từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nội dung của đạo đức mới, đạo đức cách mạng. Kế thừa và phát triển những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, của ngành y tế Việt Nam, người thầy thuốc quân đội qua các thời kỳ lịch sử. Đồng thời, tiếp thu những chuẩn mực đạo đức nhân văn quốc tế và kinh nghiệm GDĐĐNN của một số nước có nền y học tiên tiến một cách có chọn lọc. Dựa trên cơ sở của Tâm lý học nhân cách và cấu trúc nhân cách của người thầy thuốc. Dựa trên yêu cầu đạo đức của người cán bộ quân đội theo Nghị quyết 765 của Đảng uỷ Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) “Về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội trong thời kỳ mới”. Dựa vào quy định 1820 của Bộ y tế về chuẩn đánh giá năng lực đầu ra của bác sĩ đa khoa. Từ đặc trưng hoạt động khám, chữa bệnh của người thầy thuốc quân y vừa phải đảm nhiệm chức năng điều trị, vừa là nhà khoa học, vừa là người chỉ huy, nhà quản lý, người chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận phòng, chống dịch bệnh. Từ thực trạng đạo đức xã hội, đặc biệt là đạo đức người thầy thuốc quân đội hiện nay. Các chuẩn mực ĐĐNN ngành Quân y Nội dung cụ thể của chuẩn mực ĐĐNN ngành Quân y được thể hiện ở hệ thống ý thức, thái độ, hành vi trong công tác và trong hoạt động nghề nghiệp y học quân sự, đó là: Một là, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, hoạt động chuyên môn đúng với chuẩn mực y học, pháp luật và quy định của ngành Quân y. Lòng trung thành vô hạn, tận tâm phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; kiên định với đường lối đổi mới. Có tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào dân tộc. Giữ vững định hướng chính trị trong hoạt động nghề nghiệp. Sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng và quân đội giao phó. Luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân và quân đội lên trên hết và trước hết; coi đó là niềm vui, là lẽ sống cao đẹp của thầy thuốc quân đội. Thực hiện đường lối kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền, y học dân tộc trong việc khám, chữa bệnh, điều trị cho bộ đội và nhân dân. Tích cực tham gia các hoạt động chính trị xã hội, thực hiện tốt nghĩa vụ của người công dân và trách nhiệm của người quân nhân cách mạng. Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định trong hoạt động chuyên môn y học, tôn trong pháp luật và các quy định của ngành Quân y được cụ thể hóa trong 12 điều y đức của Bộ Y tế và tiêu chuẩn “đơn vị Quân y 5 tốt” của Cục Quân y. Hai là, tình thương yêu con người, đặt lợi ích của thương, bệnh binh, bệnh nhân lên trên lợi ích cá nhân, không lạm dụng nghề nghiệp gây ảnh hưởng hoặc tổn hại cho người bệnh. Sự toàn tâm, toàn ý với thương, bệnh binh, bệnh nhân và nghề nghiệp chăm sóc sức khỏe người bệnh, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng quyết tâm hoàn thành thật tốt nhiệm vụ; thường xuyên đúc rút kinh nghiệm và vận dụng một cách sáng tạo trong hoạt động y nghiệp. Luôn thể hiện niềm tin, tôn trọng và yêu mến thương, bệnh binh, bệnh nhân gắn liền với sự sâu nặng tình cảm, nhân ái, độ lượng, bao dung và giữ vững nguyên tắc nhân đạo trong hoạt động khám, chữa bệnh. Có sự liên hệ mật thiết với thương, bệnh binh, bệnh nhân; tự nguyện và yêu quý nghề nghiệp, say sưa với sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho con người. Trong đó lòng yêu người, yêu nghề là phẩm chất đặc trưng, là động lực giúp người thầy thuốc quân y vươn lên nắm vững đỉnh cao tri thức, rèn luyện tay nghề và tu dưỡng rèn luyện đạo đức người thầy thuốc quân y cách mạng. Coi sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho con người mà mình được tham gia là nghĩa vụ, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của người thầy thuốc quân y. Ba là, tôn trọng quyền được giữ bí mật riêng tư của người bệnh. Giữ bí mật thông tin về người bệnh. Người thầy thuốc khi hành nghề khám, chữa bệnh có nghĩa vụ giữ bí mật tình trạng bệnh của người bệnh, những thông tin mà người bệnh đã cung cấp và hồ sơ bệnh án, trừ trường hợp được phép công bố theo quy định. Tôn trọng quyền được giữ bí mật về tình trạng sức khỏe và đời tư của người bệnh, chỉ được chia sẻ khi được người bệnh đồng ý. (Dựa theo điều 8, Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009). Bốn là, tác phong, phương pháp làm việc lấy thương, bệnh binh, bệnh nhân làm trung tâm trong hoạt động. Khuyến khích, ủng hộ lối sống văn minh, tiến bộ và phê phán những biểu hiện sai trái, lệch lạc của lối sống lạc hậu, ích kỷ, thực dụng. Giải quyết hài hoà các mối quan hệ giữa bản thân với với đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp, với tập thể, với gia đình, người thân, với những người xung quanh, với chính bản thân mình, với cộng đồng. Quan hệ, ứng xử đúng mực với đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp; nêu cao tính chiến đấu của người quân nhân cách mạng, người cán bộ, đảng viên, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật và các quy định của nghề nghiệp. Khiêm tốn, giản dị, sống chan hoà cởi mở, gần gũi với mọi người, đặc biệt là thương, bệnh binh, bệnh nhân và người nhà của họ; tế nhị trong giao tiếp, khám, chữa bệnh, trong quản lý, giáo dục học viên. Phong cách làm việc nhanh nhẹn, khẩn trương, có kế hoạch và khoa học; giải quyết công việc tận tình, chu đáo; có ý thức tập thể, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tác phong mang mặc gọn gàng, sạch sẽ, lịch sự, phù hợp và đúng với quy định của ngành Quân y, điều lệnh quân đội. Năm là, nêu cao tinh thần đấu tranh trước những biểu hiện tiêu cực trong nghề nghiệp, vi phạm đạo đức người thầy thuốc quân y. Không lợi dụng uy tín, chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi trái pháp luật, vi phạm quy chế, quy định của ngành Quân y và quân đội; không gây khó khăn, phiền hà đối với thương, bệnh binh, bệnh nhân. Không trù dập, chèn ép và có thái độ thiên vị, phân biệt đối xử, thành kiến, thờ ơ với người bệnh; không tiếp tay, bao che cho những hành vi tiêu cực trong khám, chữa bệnh. Không xâm phạm thân thể, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thương, bệnh binh, bệnh nhân, đồng chí, đồng đội và của người khác. Không vi phạm quy chế chuyên môn làm ảnh hưởng đến kỷ cương, nền nếp của nhà trường, bệnh viện và quân đội. Không gây bè phái, cục bộ địa phương, làm mất đoàn kết trong tập thể. Không tổ chức, tham gia các hoạt động liên quan đến tệ nạn xã hội; không sử dụng, lưu giữ, truyền bá văn hoá phẩm đồi trụy, độc hại. Nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, ích kỷ, thiếu gương mẫu trong đạo đức, lối sống; thiếu trung thực; thiếu tính nguyên tắc trong hoạt động chuyên môn. Dám nêu ý kiến và dũng cảm bảo vệ chân lý. Những chuẩn mực ĐĐNN ngành Quân y xác định trên đây là những yêu cầu căn bản, đặc trưng cho nghề y trong quân đội. Những chuẩn mực ĐĐNN ngành Quân y có thể có những biểu hiện sinh động, cụ thể với những sắc thái khác nhau ở mỗi nhà trường, bệnh viện, ở từng người thầy thuốc quân y; đồng thời, nó cũng luôn vận động phát triển theo sự phát triển chung của đất nước, sự trưởng thành của mỗi người thầy thuốc quân y. Bảng 2.1: Khái quát các chuẩn mực ĐĐNN ngành Quân y Nội dung Biểu hiện cụ thể Nhận thức Trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, hoạt động chuyên môn đúng với chuẩn mực y học, pháp luật và quy định của ngành Quân y - Có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. - Có tinh thần trách nhiệm cao, luôn khắc phục mọi khó khăn, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. - Hoạt động chuyên môn đúng với chuẩn mực y học, pháp luật và quy định của ngành Quân y. Tình thương yêu con người, đặt lợi ích của thương, bệnh binh, bệnh nhân lên trên lợi ích cá nhân, không lạm dụng nghề nghiệp gây ảnh hưởng hoặc tổn hại cho người bệnh - Yêu ngành, yêu nghề, khiêm tốn học hỏi, cầu tiến bộ. - Yêu mến người bệnh, nhận trách nhiệm khi có thiếu sót trong khám, chữa bệnh. - Có lòng nhân ái, thái độ niềm nở, ân cần, chu đáo, lắng nghe, động viên, chia sẻ với người bệnh. Thái độ Tôn trọng và giữ bí mật riêng tư của người bệnh - Tôn trọng quyền bảo mật thông tin về người bệnh, chỉ được chia sẻ khi có sự đồng ý của người bệnh. - Giữ bí mật về tình trạng sức khỏe và thông tin về đời tư của người bệnh. - Chỉ được chia sẻ thông tin nhằm mục đích nâng cao chất lượng điều trị theo quy định của pháp luật. Tác phong, phương pháp làm việc, lấy thương, bệnh binh, bệnh nhân làm trung tâm trong hoạt động - Tác phong chính quy, chuyên nghiệp, cẩn trọng. - Tích cực học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn của bản thân. - Có tinh thần trách nhiệm cao, luôn khắc phục mọi khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ, không đùn đẩy trách nhiệm. Hành vi Nêu cao tinh thần đấu tranh trước những biểu hiện tiêu cực trong nghề nghiệp, đấu tranh với những biểu hiện vi phạm đạo đức người thầy thuốc quân y - Không yêu cầu thù lao ngoài quy định từ bệnh nhân hoặc gia đình bệnh nhân. - Không lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để gây khó khăn, phiền hà cho bệnh nhân. - Nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, không tham gia vào các tệ nạn xã hội. 2.1.4. Đặc điểm học viên các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y 2.1.4.1. Đặc điểm về xã hội Học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y là những người học đã được tuyển chọn qua các kỳ thi quốc gia và được chọn lọc ở các đơn vị trong toàn quân theo các tiêu chí, điều kiện quy định của tuyển sinh quân sự. Học viên là những thanh niên đang trưởng thành, đang chuẩn bị những hành trang nghề nghiệp, trưởng thành về nhân cách. Học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y cũng là một công dân có nghĩa vụ, trách nhiệm xã hội và tham gia các hoạt động xã hội; tuân thủ pháp luật khi hoạt động ngoài môi trường quân đội. 2.1.4.2. Đặc điểm về lứa tuổi Học viên ở các trường CĐ, ĐH ngành Quân y có tuổi đời trẻ (phổ biến từ 19 - 25 tuổi). Họ đang có sự phát triển mạnh mẽ về các phẩm chất tâm lý, nhạy cảm với cái mới; sôi nổi nhiệt tình trong công việc, ham học hỏi, có quyết tâm cao trong thực hiện nhiệm vụ... Học viên ở các trường CĐ, ĐH ngành Quân y có trí tuệ tốt, trình độ nhận thức cao. Cho nên họ có đầy đủ khả năng tiếp thu hệ thống tri thức y học hiện đại với cường độ học tập căng thẳng. Tuy nhiên, họ còn bộc lộ những hạn chế nhất định như: một số nét tính cách chưa thật sự ổn định, năng lực chuyên môn đang trong quá trình hình thành; vốn sống, kinh nghiệm, sự hiểu biết còn ít; khả năng tự kiềm chế có mức độ, bản lĩnh chưa cao nên dễ bị chi phối bởi các hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội như: lối sống thực dụng, vị kỷ, chạy theo đồng tiền, coi nhẹ các giá trị tinh thần... 2.1.4.3. Đặc điểm về phẩm chất chính trị và xu hướng nghề nghiệp Học viên ở các trường CĐ, ĐH ngành Quân y được lựa chọn kỹ về lý lịch chính trị, phẩm chất, nhân cách. Trong quá trình tại ngũ, học viên được học tập, giáo dục các nội dung cơ bản về chính trị, đạo đức, pháp luật và được giáo dục về nghề nghiệp, do vậy họ bước đầu đã có nhận thức đúng đắn về lý tưởng cách mạng, vai trò, trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp cách mạng; xác định xu hướng nghề nghiệp tương đối rõ ràng. Đây là đặc điểm thuận lợi để tiến hành GDĐĐNN cho học viên. 2.1.4.4. Đặc điểm về học tập, rèn luyện Thời gian học ngành y dài (6,5 năm đối với bậc đại học). Đầu vào với hệ đào tạo bác sĩ đa khoa ở HVQY cũng vào nhóm cao trong số các trường của quân đội và quốc gia. Quá trình đào tạo, một mặt học viên được trang bị khối kiến thức khoa học cơ bản, KHXH&NV, y học cơ sở; mặt khác họ còn được trang bị khối kiến thức về quân sự chung, về tổ chức chỉ huy chiến thuật quân y. Đồng thời học viên còn được trang bị khối kiến thức y học chuyên ngành, được thực hành, thực tập ở các bệnh viện và các đơn vị quân đội trên các cương vị từ y tá đến bác sĩ điều trị (các bệnh viện) và đại đội trưởng quân y, chủ nhiệm quân y (cấp trung đoàn). Riêng đối với y sĩ đào tạo ở các trường CĐQY, mặc dù thời gian đào tạo ngắn hơn do yêu cầu, quy định của quân đội và ngành Quân y, nhưng cường độ học tập và yêu cầu nghề nghiệp tương lai cũng rất cao. Hơn nữa học viên còn phải tham gia vào các hoạt động quân sự, các hoạt động chuyên môn y học quân sự nên áp lực về học tập và áp lực chuyên môn cũng cao hơn so với các ngành nghề khác. Với đặc điểm là trường đào tạo gắn với thực nghiệm trên cơ thể người nên đòi hỏi học viên phải có kiến thức chính xác, tay nghề cao. Học viên ở các trường CĐ, ĐH ngành Quân y được trang bị những kiến thức cơ bản về pháp luật, điều lệnh, điều lệ của quân đội, quy định của đơn vị, của ngành y tế; làm cơ sở để nâng cao nhận thức, điều chỉnh hành vi, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội. 2.1.4.5. Đặc điểm về nguy cơ rủi ro trong nghề nghiệp tương lai Nghề y là một nghề có nguy cơ lây nhiễm cao. Học viên trong thời gian đi thực tập sớm, phải tiếp xúc hàng ngày và liên tục với người bệnh có thể mang mầm bệnh nguy hiểm như viêm gan siêu vi, bạch hầu, lao phổi, HIV/AIDS, Covid-19 đặc biệt là tại các chuyên khoa như truyền nhiễm, lao, ngoại khoa, các khoa có can thiệp phẫu thuật, thủ thuật (răng hàm mặt, sản khoa, hồi sức cấp cứu) rất dễ lây nhiễm. Nghề y lại rất nhạy cảm với dư luận xã hội, luôn bị dư luận xã hội tập trung phán xét khi có những sai sót dù nhỏ xảy ra. Từ những đặc điểm cơ bản của học viên đang đào tạo y, bác sĩ, cho thấy đối tượng này đang trong quá trình học tập, rèn luyện để hoàn thiện về mọi mặt, trong đó có ĐĐNN. 2.2. Những vấn đề lý luận về giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường 2.2.1. Kinh tế thị trường và sự tác động đến giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y 2.2.1.1. Đặc điểm chủ yếu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Thứ nhất, nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là mô hình KTTT hỗn hợp, vừa vận hành theo cơ chế thị trường, vừa có sự điều tiết của nhà nước. Nền KTTT ở nước ta là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật khách quan của KTTT như: quy luật tự do cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá trị Thị trường cũng chính là cơ chế chủ yếu thực hiện phân phối các thành quả của tăng trưởng kinh tế, trong đó thu nhập của mỗi người được hình thành trên cơ sở và phù hợp với kết quả lao động cũng như mức đóng góp về các nguồn lực trong quá trình tạo ra của cải xã hội. Tuy nhiên, nền KTTT đó không phải là KTTT tự do mà có sự điều tiết, quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở tầm vĩ mô, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước trên cơ sở tuân thủ và tôn trọng các nguyên tắc của thị trường. Đối với ngành y, trong bối cảnh KTTT thì việc mua sắm trang bị máy móc thiết bị, vật tư y tế đến cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh và giá thành các dịch vụ y tế thậm chí cả thời gian phục vụ (ngày, giờ khám, chữa bệnh) phải tuân theo thị trường. Thứ hai, mô hình kinh tế thị trường với đa dạng các hình thức sở hữu và đa dạng các thành phần kinh tế. Trong nền KTTT ở nước ta các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng bình đẳng, hợp tác, cạnh tranh cùng phát triển, trong đó “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế” [26]. Các thành phần kinh tế đều hoạt động theo cơ chế thị trường nhưng theo định hướng chung và khuôn khổ pháp luật của nhà nước. Sự lựa chọn đa dạng các hình thức sở hữu là phù hợp với trình độ phát triển chưa đồng đều của lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay nhằm khai thác tối đa thế mạnh của mọi nguồn lực kinh tế cho mục tiêu tăng trưởng. Đối với ngành y trong đó có các trường CĐ, ĐH ngành Quân y các nguồn nhân lực, vật lực huy động cho đào tạo ngoài nguồn từ đào tạo y trong quân đội, từ ngân sách quốc phòng thì phần còn lại được cung cấp từ thị trường theo quy luật giá cả thị trường và đơn vị tổ chức, các hình thức đào tạo và khám, chữa bệnh cũng đa dạng và theo nhu cầu của đối tượng khác nhau. Thứ ba, việc phân phối trong nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được...yêu nghề, yêu thương người bệnh, có xu hướng phục vụ lâu dài trong quân đội. 1.2. Tiêu chí 2, đánh giá về thái độ đạo đức nghề nghiệp Xếp loại Điểm Tiêu chí và mức độ thể hiện (1) Kém 1 ÷ <1,8 Đối với người bệnh: Không tôn trọng, cảm thông với người bệnh; Không có tinh thần trách nhiệm; phân biệt đối xử với người bệnh; thái độ ban ơn, gây phiền hà cho người bệnh. Đối với nghề nghiệp: Không say mê, không có tinh thần trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp, không tuân thủ các quy định của pháp luật và ĐĐNN; không khiêm tốn trong nghề nghiệp. Đối với bản thân: Không tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực và phẩm chất ĐĐNN; không nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm trong học tập, rèn luyện. (2) Yếu 1,8 ÷ <2,6 Đối với người bệnh: Thiếu tôn trọng, cảm thông với người bệnh; tinh thần trách nhiệm yếu; phân biệt đối xử với người bệnh; tỏ rõ thái độ ban ơn, gây phiền hà cho người bệnh. Đối với nghề nghiệp: Không say mê, thiếu tinh thần trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp, chưa tuân thủ các quy định của pháp luật và ĐĐNN; thiếu khiêm tốn trong nghề nghiệp. Đối với bản thân: Chưa tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực và phẩm chất ĐĐNN; chưa nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm trong học tập, rèn luyện. (3) Trung bình 2,6 ÷ <3,4 Đối với người bệnh: Chưa thực sự tôn trọng, cảm thông với người bệnh; chưa có tinh thần trách nhiệm cao, chưa tận tình chăm sóc, cứu chữa người bệnh; có biểu hiện phân biệt đối xử với người bệnh; còn có thái độ ban ơn, gây phiền hà cho người bệnh. Đối với nghề nghiệp: Chưa say mê, tinh thần trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp chưa cao, đã có sự tuân thủ các quy định của pháp luật và ĐĐNN; đôi lúc thiếu khiêm tốn trong nghề nghiệp.. Đối với bản thân: Đôi lúc chưa tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực và phẩm chất ĐĐNN; đôi lúc chưa nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm trong học tập, rèn luyện. (4) Khá 3,4 ÷ <4,2 Đối với người bệnh: Tôn trọng, cảm thông với người bệnh; có tinh thần trách nhiệm khá cao, tận tình chăm sóc, cứu chữa người bệnh; không phân biệt đối xử với người bệnh; không có thái độ ban ơn, gây phiền hà cho người bệnh. Đối với nghề nghiệp: Say mê, có tinh thần trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp, tuân thủ các quy định của pháp luật và ĐĐNN; khiêm tốn trong nghề nghiệp. Đối với bản thân: Tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực và phẩm chất ĐĐNN; nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm trong học tập, rèn luyện. (5) Tốt 4,2 ÷ 5 Đối với người bệnh: Luôn tôn trọng, cảm thông sâu sắc với người bệnh; có tinh thần trách nhiệm cao, tận tình chăm sóc, cứu chữa người bệnh; không phân biệt đối xử đối với người bệnh; không có thái độ ban ơn, gây phiền hà cho người bệnh. Đối với nghề nghiệp: rất say mê, tinh thần trách nhiệm cao trong hoạt động nghề nghiệp, luôn tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật và ĐĐNN; rất khiêm tốn trong nghề nghiệp.. Đối với bản thân: Rất tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực và phẩm chất ĐĐNN; nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm trong học tập, rèn luyện. 1.3. Tiêu chí 3, đánh giá về hành vi đạo đức nghề nghiệp Xếp loại Điểm Tiêu chí và mức độ thể hiện (1) Kém 1 ÷ <1,8 Hành vi trong thực hiện nhiệm vụ: Gây nguy hiểm cho người bệnh, vi phạm quyền của bệnh nhân; không trách nhiệm trong việc cứu chữa bệnh nhân; không chịu học hỏi. Hành vi trong chấp hành các quy định, điều lệnh và pháp luật: Không chấp hành pháp luật, quy chế chuyên môn, nội quy, quy định trong học tập, thi cử; thường xuyên nhũng nhiễu, đòi hỏi quà cáp, phong bì từ bệnh nhân. Hành vi trong giao tiếp, ứng xử: Thao tác, cử chỉ thiếu tôn trọng trong giao tiếp, ứng xử; không cảm thông với hoàn cảnh, sự đau đớn về thể xác và tinh thần của người bệnh. (2) Yếu 1,8 ÷ <2,6 Hành vi trong thực hiện nhiệm vụ: Gây nguy hiểm cho người bệnh, thiếu tôn trọng quyền của bệnh nhân; thiếu trách nhiệm trong việc cứu chữa bệnh nhân; ít học hỏi. Hành vi trong chấp hành các quy định, điều lệnh và pháp luật: Chưa chấp hành nghiêm pháp luật, quy chế chuyên môn, nội quy, quy định trong học tập, thi cử; nhũng nhiễu, đòi hỏi quà cáp, phong bì từ bệnh nhân. Hành vi trong giao tiếp, ứng xử: Thao tác, cử chỉ thiếu tôn trọng trong giao tiếp, ứng xử; không cảm thông với hoàn cảnh, sự đau đớn về thể xác và tinh thần của người bệnh. (3) Trung bình 2,6 ÷ <3,4 Hành vi trong thực hiện nhiệm vụ: Chưa bảo đảm an toàn cho người bệnh, đôi khi thiếu tôn trọng quyền của bệnh nhân; chưa trách nhiệm trong việc cứu chữa bệnh nhân; ngại học hỏi. Hành vi trong chấp hành các quy định, điều lệnh và pháp luật: Chấp hành chưa nghiêm pháp luật, quy chế chuyên môn, nội quy, quy định trong học tập, thi cử; có biểu hiện nhũng nhiễu, đòi hỏi quà cáp, phong bì từ bệnh nhân. Hành vi trong giao tiếp, ứng xử: Thao tác, cử chỉ chưa thận trọng trong giao tiếp, ứng xử; chưa cảm thông với hoàn cảnh, sự đau đớn về thể xác và tinh thần của người bệnh. (4) Khá 3,4 ÷ <4,2 Hành vi trong thực hiện nhiệm vụ: Đã biết bảo đảm an toàn cho người bệnh, tôn trọng quyền của bệnh nhân; trách nhiệm trong việc cứu chữa bệnh nhân; có sự học hỏi. Hành vi trong chấp hành các quy định, điều lệnh và pháp luật: Chấp hành khá tốt pháp luật, quy chế chuyên môn, nội quy, quy định trong học tập, thi cử; không có biểu hiện nhũng nhiễu, đòi hỏi quà cáp, phong bì từ bệnh nhân. Hành vi trong giao tiếp, ứng xử: Thao tác, cử chỉ ân cần trong giao tiếp, ứng xử; đã biết cảm thông với hoàn cảnh, sự đau đớn về thể xác và tinh thần của người bệnh. (5) Tốt 4,2 ÷ 5 Hành vi trong thực hiện nhiệm vụ: Bảo đảm an toàn cho người bệnh, tôn trọng quyền của bệnh nhân; nhiệt tình, trách nhiệm trong việc cứu chữa bệnh nhân; không ngừng học hỏi. Hành vi trong chấp hành các quy định, điều lệnh và pháp luật: Chấp hành nghiêm pháp luật, quy chế chuyên môn, nội quy, quy định trong học tập, thi cử; không có biểu hiện nhũng nhiễu, đòi hỏi quà cáp, phong bì từ bệnh nhân. Hành vi trong giao tiếp, ứng xử: Thao tác, cử chỉ ân cần, thận trọng trong giao tiếp, ứng xử; cảm thông với hoàn cảnh, sự đau đớn về thể xác và tinh thần của người bệnh. 2. Kết quả điều tra thực nghiệm sư phạm 2.1. Trước thực nghiệm lần 1 Statistics Nhận thức TN1 Nhận thức ĐC1 Thái độ TN1 Thái độ ĐC1 Hành vi TN1 Hành vi ĐC1 N Valid 75 75 75 75 75 75 Missing 0 0 0 0 0 0 Mean 3,3867 3,3467 3,3600 3,3867 3,2533 3,2800 Std. Deviation ,80360 ,81362 ,83245 ,80360 ,79003 ,84725 Minimum 1,00 1,00 1,00 1,00 1,00 1,00 Maximum 5,00 5,00 5,00 5,00 5,00 5,00 Nhận thức TN1.1 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Kém 2 2,7 2,7 2,7 Yếu 4 5,3 5,3 8,0 Trung bình 37 49,3 49,3 57,3 Khá 27 36,0 36,0 93,3 Tốt 5 6,7 6,7 100,0 Total 75 100,0 100,0 Nhận thức ĐC1.1 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Kém 2 2,7 2,7 2,7 Yếu 6 8,0 8,0 10,7 Trung bình 35 46,7 46,7 57,3 Khá 28 37,3 37,3 94,7 Tốt 4 5,3 5,3 100,0 Total 75 100,0 100,0 Thái độ TN1.1 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Kém 2 2,7 2,7 2,7 Yếu 7 9,3 9,3 12,0 Trung bình 32 42,7 42,7 54,7 Khá 30 40,0 40,0 94,7 Tốt 4 5,3 5,3 100,0 Total 75 100,0 100,0 Thái độ ĐC1.1 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Kém 1 1,3 1,3 1,3 Yếu 8 10,7 10,7 12,0 Trung bình 31 41,3 41,3 53,3 Khá 31 41,3 41,3 94,7 Tốt 4 5,3 5,3 100,0 Total 75 100,0 100,0 Hành vi TN1.1 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Kém 2 2,7 2,7 2,7 Yếu 8 10,7 10,7 13,3 Trung bình 36 48,0 48,0 61,3 Khá 27 36,0 36,0 97,3 Tốt 2 2,7 2,7 100,0 Total 75 100,0 100,0 Hành vi ĐC1.1 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Kém 3 4,0 4,0 4,0 Yếu 7 9,3 9,3 13,3 Trung bình 34 45,3 45,3 58,7 Khá 28 37,3 37,3 96,0 Tốt 3 4,0 4,0 100,0 Total 75 100,0 100,0 Kiểm định T-Test trước thực nghiệm 1 Paired Samples Statistics Mean N Std. Deviation Std. Error Mean Pair 1 NTN1.2 3,3333 75 ,46175 ,05332 NĐC1.2 3,3378 75 ,52130 ,06019 Paired Samples Correlations N Correlation Sig. Pair 1 NTN1.2 & NĐC1.2 75 ,318 ,005 Paired Samples Test Paired Differences t df Sig. (2-tailed) Mean Std. Deviation Std. Error Mean 95% Confidence Interval of the Difference Lower Upper Pair 1 NTN1.2- NĐC1.2 -,00444 ,57603 ,06651 -,13698 ,12809 -,067 74 ,947 2.2. Sau thực nghiệm 1 Statistics Nhận thức TN1.2 Nhận thức ĐC1.2 Thái độ TN1.2 Thái độ ĐC1.2 Hành vi TN1.2 Hành vi ĐC1.2 N Valid 75 75 75 75 75 75 Missing 0 0 0 0 0 0 Mean 3,6533 3,5333 3,6533 3,5067 3,5600 3,4533 Std. Deviation ,70698 ,74132 ,70698 ,72360 ,66251 ,72211 Minimum 2,00 2,00 2,00 2,00 2,00 1,00 Maximum 5,00 5,00 5,00 5,00 5,00 5,00 Nhận thức TN1.2 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Yếu 1 1,3 1,3 1,3 Trung bình 33 44,0 44,0 45,3 Khá 32 42,7 42,7 88,0 Tốt 9 12,0 12,0 100,0 Total 75 100,0 100,0 Nhận thức ĐC1.2 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Yếu 4 5,3 5,3 5,3 Trung bình 34 45,3 45,3 50,7 Khá 30 40,0 40,0 90,7 Tốt 7 9,3 9,3 100,0 Total 75 100,0 100,0 Thái độ TN1.2 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Yếu 2 2,7 2,7 2,7 Trung bình 30 40,0 40,0 42,7 Khá 35 46,7 46,7 89,3 Tốt 8 10,7 10,7 100,0 Total 75 100,0 100,0 Thái độ ĐC1.2 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Yếu 4 5,3 5,3 5,3 Trung bình 35 46,7 46,7 52,0 Khá 30 40,0 40,0 92,0 Tốt 6 8,0 8,0 100,0 Total 75 100,0 100,0 Hành vi TN1.2 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Yếu 2 2,7 2,7 2,7 Trung bình 34 45,3 45,3 48,0 Khá 34 45,3 45,3 93,3 Tốt 5 6,7 6,7 100,0 Total 75 100,0 100,0 Hành vi ĐC1.2 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Kém 1 1,3 1,3 1,3 Yếu 3 4,0 4,0 5,3 Trung bình 36 48,0 48,0 53,3 Khá 31 41,3 41,3 94,7 Tốt 4 5,3 5,3 100,0 Total 75 100,0 100,0 Kiểm định T-Test sau TN1 Paired Samples Statistics Mean N Std. Deviation Std. Error Mean Pair 1 NTN1.2 3,6222 75 ,38098 ,04399 NĐC1.2 3,4978 75 ,42579 ,04917 Paired Samples Correlations N Correlation Sig. Pair 1 NTN1.2 & NĐC1.2 75 ,194 ,096 Paired Samples Test Paired Differences t df Sig. (2-tailed) Mean Std. Deviation Std. Error Mean 95% Confidence Interval of the Difference Lower Upper Pair 1 NTN1.2- NĐC1.2 ,12444 ,51340 ,05928 ,00632 ,24257 2,099 74 ,039 2.3. Trước thực nghiệm 2 Statistics Nhận thức TN2.1 Nhận thức ĐC2.1 Thái độ TN2.1 Thái độ ĐC2.1 Hành vi TN2.1 Hành vi ĐC2.1 N Valid 75 75 75 75 75 75 Missing 0 0 0 0 0 0 Mean 3,2933 3,3200 3,3333 3,3600 3,2133 3,2800 Std. Deviation ,83461 ,87240 ,75933 ,81606 ,84299 ,81473 Minimum 1,00 1,00 1,00 1,00 1,00 1,00 Maximum 5,00 5,00 5,00 5,00 5,00 5,00 Nhận thức TN2.1 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Kém 3 4,0 4,0 4,0 Yếu 6 8,0 8,0 12,0 Trung bình 35 46,7 46,7 58,7 Khá 28 37,3 37,3 96,0 Tốt 3 4,0 4,0 100,0 Total 75 100,0 100,0 Nhận thức ĐC2.1 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Kém 3 4,0 4,0 4,0 Yếu 7 9,3 9,3 13,3 Trung bình 32 42,7 42,7 56,0 Khá 29 38,7 38,7 94,7 Tốt 4 5,3 5,3 100,0 Total 75 100,0 100,0 Thái độ TN2.1 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Kém 2 2,7 2,7 2,7 Yếu 5 6,7 6,7 9,3 Trung bình 36 48,0 48,0 57,3 Khá 30 40,0 40,0 97,3 Tốt 2 2,7 2,7 100,0 Total 75 100,0 100,0 Thái độ ĐC2.1 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Kém 3 4,0 4,0 4,0 Yếu 4 5,3 5,3 9,3 Trung bình 34 45,3 45,3 54,7 Khá 31 41,3 41,3 96,0 Tốt 3 4,0 4,0 100,0 Total 75 100,0 100,0 Hành vi TN2.1 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Kém 4 5,3 5,3 5,3 Yếu 7 9,3 9,3 14,7 Trung bình 34 45,3 45,3 60,0 Khá 29 38,7 38,7 98,7 Tốt 1 1,3 1,3 100,0 Total 75 100,0 100,0 Hành vi ĐC2.1 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Kém 2 2,7 2,7 2,7 Yếu 9 12,0 12,0 14,7 Trung bình 32 42,7 42,7 57,3 Khá 30 40,0 40,0 97,3 Tốt 2 2,7 2,7 100,0 Total 75 100,0 100,0 Kiểm định T-Test trước TN2 Paired Samples Statistics Mean N Std. Deviation Std. Error Mean Pair 1 NTN2.1 3,2800 75 ,45862 ,05296 NĐC2.1 3,3200 75 ,49453 ,05710 Paired Samples Correlations N Correlation Sig. Pair 1 NTN2.1 & NĐC2.1 75 ,050 ,671 Paired Samples Test Paired Differences t df Sig. (2-tailed) Mean Std. Deviation Std. Error Mean 95% Confidence Interval of the Difference Lower Upper Pair 1 NTN2.1 - NĐC2.1 -,04000 ,65750 ,07592 -,19128 ,11128 -,527 74 ,600 2.4. Sau thực nghiệm 2 Statistics Nhận thức TN2.1 Nhận thức ĐC2.1 Thái độ TN2.1 Thái độ ĐC2.1 Hành vi TN2.1 Hành vi ĐC2.1 N Valid 75 75 75 75 75 75 Missing 0 0 0 0 0 0 Mean 3,6267 3,5067 3,6267 3,4933 3,5200 3,4000 Std. Deviation ,69308 ,74204 ,65292 ,64459 ,64431 ,73521 Minimum 2,00 1,00 2,00 2,00 2,00 1,00 Maximum 5,00 5,00 5,00 5,00 5,00 5,00 Nhận thức TN2.2 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Yếu 2 2,7 2,7 2,7 Trung bình 31 41,3 41,3 44,0 Khá 35 46,7 46,7 90,7 Tốt 7 9,3 9,3 100,0 Total 75 100,0 100,0 Nhận thức ĐC2.2 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Kém 1 1,3 1,3 1,3 Yếu 3 4,0 4,0 5,3 Trung bình 33 44,0 44,0 49,3 Khá 33 44,0 44,0 93,3 Tốt 5 6,7 6,7 100,0 Total 75 100,0 100,0 Thái độ TN2.2 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Yếu 1 1,3 1,3 1,3 Trung bình 32 42,7 42,7 44,0 Khá 36 48,0 48,0 92,0 Tốt 6 8,0 8,0 100,0 Total 75 100,0 100,0 Thái độ ĐC2.2 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Yếu 2 2,7 2,7 2,7 Trung bình 38 50,7 50,7 53,3 Khá 31 41,3 41,3 94,7 Tốt 4 5,3 5,3 100,0 Total 75 100,0 100,0 Hành vi TN2.2 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Yếu 3 4,0 4,0 4,0 Trung bình 33 44,0 44,0 48,0 Khá 36 48,0 48,0 96,0 Tốt 3 4,0 4,0 100,0 Total 75 100,0 100,0 Hành vi ĐC2.2 Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Kém 1 1,3 1,3 1,3 Yếu 6 8,0 8,0 9,3 Trung bình 32 42,7 42,7 52,0 Khá 34 45,3 45,3 97,3 Tốt 2 2,7 2,7 100,0 Total 75 100,0 100,0 Kiểm định T-Test sau TN2 Paired Samples Statistics Mean N Std. Deviation Std. Error Mean Pair 1 NTN2 3,5911 75 ,38192 ,04410 NĐC2 3,4533 75 ,43716 ,05048 Paired Samples Correlations N Correlation Sig. Pair 1 NTN2 & NĐC2 75 ,199 ,087 Paired Samples Test Paired Differences t df Sig. (2-tailed) Mean Std. Deviation Std. Error Mean 95% Confidence Interval of the Difference Lower Upper Pair 1 NTN2 - NĐC2 ,13778 ,52014 ,06006 ,01810 ,25745 2,294 74 ,025 Phụ lục 16 Y HUẤN CÁCH NGÔN CỦA HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG 1- Phàm người học thuốc, tất phải hiểu thấu lý luận đạo Nho, có thông lý luận đạo Nho thì học thuốc mới dễ. Khi có thời giờ nhàn rỗi, nên luôn luôn nghiên cứu các sách thuốc xưa nay. Luôn luôn phát huy biến hoá, thu nhập được vào Tâm, thấy rõ được ở mắt thì tự nhiên ứng vào việc làm mà không phạm sai lầm. 2- Được mời đi thăm bệnh: nên tuỳ bệnh cần kíp hay không mà sắp đặt đi thăm trước hay sau. Chớ nên vì giàu sang hoặc nghèo hèn mà nơi đến trước chỗ tới sau hoặc bốc thuốc lại phân biệt hơn kém khi lòng mình có chỗ không thành thật, thì khó mong thu được kết quả. 3- Khi xem bệnh cho phụ nữ, goá phụ, ni cô... cần phải có người nhà bên cạnh mới bước vào phòng để thăm bệnh để tránh hết sự nghi ngờ. Dù cho đến con hát, nhà thổ cũng vậy, phải đứng đắn coi họ như con nhà tử tế, không nên đùa cợt mà mang tiếng bất chính, sẽ bị hậu quả về tà dâm. 4- Phàm thầy thuốc nên nghĩ đến việc giúp đỡ người, không nên tự ý cầu vui như mang rượu lên núi, chơi bời ngắm cảnh, vắng nhà chốc lát, lỡ có bệnh cấp cứu làm cho người ta sốt ruột mong chờ, nguy hại đến tính mạng con người. Vậy cần biết nhiệm vụ mình là quan trọng như thế nào". 5- Phàm gặp phải chứng bệnh nguy cấp, muốn hết sức mình để cứu chữa, tuy đó là lòng tốt, nhưng phải nói rõ cho gia đình người bệnh biết trước rồi mới cho thuốc. Lại có khi phải cho không cả thuốc, như thế thì người ta sẽ biết cảm phục mình. Nếu không khỏi bệnh cũng không có sự oán trách và tự mình cũng không hổ thẹn. 6- Phàm chuẩn bị thuốc thì nên mua giá cao để được loại tốt. Theo sách Lôi Công để bào chế và bảo quản thuốc cho cẩn Thận. Hoặc theo đúng từng phương mà bào chế, hoặc tuỳ bệnh mà gia giảm. Khi lập ra phương mới, phải phỏng theo ý nghĩa của người xưa, không nên tự lập ra những phương bữa bãi để thử bệnh. Thuốc sắc và thuốc tán nên có đủ. Thuốc hoàn và thuốc đơn nên chế sẵn. Có như thế mới ứng dụng được kịp thời, khi gặp bệnh khỏi phải bó tay. 7- Khi gặp bạn đồng nghiệp, cần khiêm tốn, hoà nhã, giữ gìn thái độ kính cẩn, không nên khinh nhờn. Người lớn tuổi hơn mình thì kính trọng; người học giỏi thì coi như bậc thầy, người kiêu ngạo thì mình nhân nhượng; người kém mình thì dìu dắt họ. Giữ được lòng đức hậu như thế, sẽ đem lại nhiều hạnh phúc cho mình. 8- Khi đến xem bệnh ở những nhà nghèo túng hoặc những người mồ côi, goá bụa, hiếm hoi, càng nên chăm sóc đặc biệt. Vì những người giàu sang không lo không có người chữa, còn người nghèo hèn thì không đủ sức đón được thầy giỏi, vậy ta để tâm 1 chút họ sẽ được sống 1 đời. Còn như những người con thảo, vợ hiền, nghèo mà mắc bệnh, ngoài việc cho thuốc, lại còn tuỳ sức mình chu cấp cho họ nữa. Vì có thuốc mà không có ăn thì cũng vẫn đi đến chỗ chết. Cần phải cho họ được sống toàn diện mới đáng gọi là nhân thuật. Còn những kẻ vì chơi bời phóng đãng mà nghèo và mắc bệnh thì không đáng thương tiếc lắm. 9- Khi chữa cho ai khỏi bệnh rồi, chớ có mưu cầu quà cáp vì những người nhận của người khác cho thường hay sinh ra nể nang, huống chi đối với những kẻ giàu sang, tính khí bất thường mà mình cầu cạnh, thường hay bị khinh rẻ. Còn việc tâng bốc cho người ta để cầu lợi thường hay sinh chuyện. Cho nên nghề thuốc là thanh cao, ta càng giữ khí tiết cho trong sạch. Tôi xét lời dạy bảo của các bậc tiên hiền về lòng tử tế và đức hàm dục, rèn luyện cho mình rất chặt chẽ và đầy đủ. Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người và vui cái vui của người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình, không nên cầu lợi, kể công. Tuy không có sự báo ứng ngay nhưng để lại âm đức về sau. Phương ngôn có câu: “Ba đời làm thuốc có đức thì đời sau con cháu tất có người làm nên khanh tướng đó phải chăng là do có công vun trồng từ trước chăng”, “Thường thấy người làm thuốc, hoặc nhân bệnh cha mẹ người ta ngặt nghèo hoặc bắt bí người ta lúc đêm tối, trời mưa, có bệnh nguy cấp: bệnh dễ chữa bảo là khó chữa, bệnh khó bảo là không trị được, giở lối quỷ quyệt đó để thoả mãn yêu cầu, rắp tâm như thế là bất lương. Chữa cho nhà giàu thì tỏ tình sốt sắng, mong được lợi nhiều, chữa cho nhà nghèo thì ra ý lạnh nhạt, sống chết mặc bay. Than ôi! Đem nhân thuật làm chước dối lừa, đem lòng nhân đổi ra lòng mua bán, như thế thì người sống trách móc, người chết oán hờn không thể tha thứ được!”. Phụ lục 17 LỜI THỀ TỐT NGHIỆP CỦA NGƯỜI CÁN BỘ Y TẾ VIỆT NAM Sau nhiều năm học tập dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, được các thầy cô giáo hết lòng dạy dỗ, dìu dắt, được các bạn đồng nghiệp chân tình giúp đỡ. Trong buổi lễ tốt nghiệp trọng thể này. Dưới lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc, Trước các thầy giáo, cô giáo và các cán bộ công nhân viên chức kính mến, Trước các bạn đồng học thân thiết. Tôi xin thề: - Một: Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phấn đấu hết sức mình để bảo vệ và xây dựng đất nước thân yêu. Sẵn sàng đi bất cứ nới đâu, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc cần đến. - Hai: Luôn luôn tôn trọng hiến pháp và luật pháp của Nhà nước, thực hiện nghiêm chỉnh các quan điểm và quy định của ngành y tế Việt nam, không bao giờ có những hành động làm ảnh hưởng đến truyền thống nhà trường, trái với lương tâm của người cán bộ y tế nhân dân. - Ba: Giữ gìn bí mật nghề nghiệp, tôn trọng phẩm chất người bệnh, hết lòng hết sức phục vụ sức khoẻ nhân dân, làm đúng lời dạy của Hồ Chủ tịch: ”Lương y như từ mẫu” - Bốn: Khiêm tốn, đoàn kết và hợp tác chân thành với các đồng nghiệp, yêu ngành, yêu nghề, tự hào chính đáng với các công việc của chính mình. - Năm: Vì sự nghiệp tạo nên sức khoẻ và đem lại hạnh phúc cho nhân dân, tôi nguyện tích cực lao động và học tập, phấn đấu không mệt mỗi nâng cao trình độ chính trị khoa học kỹ thuật, góp phần xây dựng nền y học Việt Nam. Tôi nguyện giữ trọn lời thề trong bất cứ hoàn cảnh nào để xứng đáng với công ơn to lớn của Đảng, của nhân dân, nhà trường và gia đình. Phụ lục 18 QUY ĐỊNH VỀ Y ĐỨC (TIÊU CHUẨN ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI LÀM CÔNG TÁC Y TẾ) (Ban hành kèm theo Quyết định số 2088/BYT-QĐ ngày 06/11/1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế) Y đức là phẩm chất tốt đẹp của người làm công tác y tế, được biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tuỵ phục vụ, hết lòng thương yêu chăm sóc người bệnh, coi họ đau đơn như mình đau đớn, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Lương y phải như từ mẫu". Phải thật thà đoàn kết, khắc phục khó khăn, học tập vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ, toàn tâm toàn ý xây dựng nền Y học Việt Nam. Y đức phải thể hiện qua những tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức được xã hội thừa nhận. 1- Chăm sóc sức khoẻ cho mọi người là nghề cao quý. Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ. Phải có lương tâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề, luôn rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc. Không ngừng học tập và tích cực nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn. Sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn gian khổ vì sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân. 2- Tôn trọng pháp luật và thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn. Không được sử dụng người bệnh làm thực nghiệm cho những phương pháp chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học khi chưa được phép của Bộ Y tế và sự chấp nhận của người bệnh. 3- Tôn trọng quyền được khám bệnh chữa bệnh của nhân dân. Tôn trọng những bí mật riêng tư của người bệnh; khi thăm khám, chăm sóc cần bảo đảm kín đáo và lịch sự. Quan tâm đến những người bệnh trong diện chính sách ưu đãi xã hội. Không được phân biệt đối xử người bệnh. Không được có thái độ ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gây phiền hà cho người bệnh. Phải trung thực khi thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh. 4- Khi tiếp xúc với người bệnh và gia đình họ, luôn có thái độ niềm nở, tận tình; trang phục phải chỉnh tề, sạch sẽ để tạo niềm tin cho người bệnh. Phải giải thích tình hình bệnh tật cho người bệnh và gia đình họ hiểu để cùng hợp tác điều trị; phổ biến cho họ về chế độ, chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của người bệnh; động viên an ủi, khuyến khích người bệnh điều trị, tập luyện để chóng hồi phục. Trong trường hợp bệnh nặng hoặc tiên lượng xấu cũng phải hết lòng cứu chữa và chăm sóc đến cùng, đồng thời thông báo cho gia đình người bệnh biết. 5- Khi cấp cứu phải khẩn trương chẩn đoán, xử trí kịp thời không được đun đẩy người bệnh. 6- Kê đơn phải phù hợp với chẩn đoán và bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý, an toàn; không vì lợi ích cá nhân mà giao cho người bệnh thuốc kém phẩm chất, thuốc không đúng với yêu cầu và mức độ bệnh. 7- Không được rời bỏ vị trí trong khi làm nhiệm vụ, theo dõi và xử trí kịp thời các diễn biến của người bệnh. 8- Khi người bệnh ra viện phải dặn dò chu đáo, hướng dẫn họ tiếp tục điều trị, tự chăm sóc và giữ gìn sức khoẻ. 9- Khi người bệnh tử vong, phải thông cảm sâu sắc, chia buồn và hướng dẫn, giúp đỡ gia đình họ làm các thủ tục cần thiết. 10- Thật thà, đoàn kết, tôn trọng đồng nghiệp, kính trọng các bậc thầy, sẵn sàng truyền thụ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau. 11- Khi bản thân có thiếu sót, phải tự giác nhận trách nhiệm về mình, không đổ lỗi cho đồng nghiệp, cho tuyến trước. 12- Hăng hái tham gia công tác tuyên truyền giáo dục sức khoẻ, phòng chống dịch bệnh cứu chữa người bị tai hạn, ốm đau tại cộng đồng; gương mẫu thực hiện nếp sống vệ sinh, giữ gìn môi trường trong sạch. Phụ lục 19 LỜI THỀ HYPPOCRAT Tôi xin thề trước Appolon thần chữa bệnh, trước Esculape thần y học, trước thần Hygie và Panacéc và trước sự chứng giám của tất cả các nam nữ thiên thần, là tôi sẽ đem hết sức lực và khả năng để làm trọn lời thề và lời cam kết sau đây: - Tôi sẽ coi các thầy học của tôi ngang hàng với các bậc thân sinh ra tôi. Tôi sẽ chia sẻ với các vị đó của cải của tôi, và khi cần tôi sẽ đáp ứng những nhu cầu của các vị đó. Tôi sẽ xem con của thầy như anh em ruột thịt của tôi, và nếu họ muốn học nghề y tôi sẽ dạy cho họ không lấy tiền công mà cũng không dấu nghề. Tôi sẽ truyền đạt cho họ những nguyên lý, những bài học truyền miệng và tất cả vốn hiểu biết của tôi cho các con tôi, các con của thầy dạy tôi và cho tất cả các môn đệ cùng gắn bó bởi một lời cam kết và một lời thề đúng với y luật mà không truyền cho một ai khác. - Tôi sẽ chỉ dẫn mọi chi tiết có lợi cho người bệnh tuỳ theo khả năng và sự phán đoán của tôi, tôi sẽ tránh mọi điều xấu và bất công. - Tôi sẽ không trao thuốc độc cho bất kỳ ai, kể cả khi họ yêu cầu và cũng không tự mình gợi ý cho họ; Cũng như vậy, tôi sẽ không trao cho bất cứ người phụ nữ nào những thuốc sẩy thai. - Tôi suốt đời hành nghề trong sự vô tư và thân thiết. Tôi sẽ không thực hiện những phẫu thuật mở bàng quan mà dành việc đó cho những người chuyên nghiệp. - Dù vào bất kỳ nhà nào, tôi cũng chỉ vì lợi ích của người bệnh, tránh mọi hành vi xấu xa, cố ý và đồi bại nhất, tránh cám dỗ phụ nữ và thiếu niên tự do hay nô lệ. Dù tôi có nhìn hoặc nghe thấy gì trong xã hội, trong và cả ngoài lúc hành nghề của tôi, tôi sẽ xin im lặng trước những điều không bao giờ cần để lộ ra và coi sự kín đáo trong trường hợp đó như một nghĩa vụ. Nếu tôi làm trọn lời thề này và không có gì vi phạm tôi sẽ được hưởng một cuộc sống sung sướng và sẽ hành nghề trong sự quý trọng mãi mãi của mọi người. Nếu tôi vi phạm lời thề này hay tôi tự phản bội, thì tôi sẽ phải chịu một số phận khổ sở ngược lại. Phụ lục 20 TUYÊN NGÔN GENEVA Tại thời điểm được thừa nhận là một thành viên của ngành y tế: - Tôi trang nghiêm cam kết hiến dâng đời mình để phục vụ nhân loại; - Tôi sẽ tôn trọng và biết ơn những người thầy của tôi như họ xứng đáng được như vậy; - Tôi sẽ hành nghề với lương tâm và danh dự; - Sức khoẻ của bệnh nhân sẽ là mối quan tâm hàng đầu của tôi; - Tôi sẽ tôn trọng những bí mật được tiết lộ cho tôi, kể cả sau khi bệnh nhân đã chết; - Tôi sẽ duy trì bằng tất cả khả năng của mình, danh dự và truyền thống cao đẹp của nghề y; - Đồng nghiệp sẽ là anh chị em của tôi; - Tôi sẽ không cho phép những quan tâm về tuổi tác, bệnh tật hay tàn tật, đức tin, nguồn gốc đạo đức, giới tính, quốc tịch, quan hệ chính trị, chủng tộc, xu hướng tình dục, địa vị xã hội hoặc bất kỳ tác nhân nào khác can thiệp vào giữa trách nhiệm của mình và bệnh nhân của mình; - Tôi sẽ duy trì sự tôn trọng tối đa với sự sống nhân loại; - Tôi sẽ không dùng kiến thức y khoa để vi phạm nhân quyền và tự do dân sự, kể cả khi bị đe doạ; Tôi hứa điều này một cách trang nghiêm, tự do và bằng danh dự của mình. Phụ lục 21 LUẬT QUỐC TẾ VỀ ĐẠO ĐỨC Y HỌC CỦA HỘI Y HỌC THẾ GIỚI (Ban hành tại Hội nghị lần thứ 3 London 10/1949, sửa lần cuối tại Hội nghị lần thứ 35, Venice 10/1983) Nhiệm vụ chung của bác sĩ Bác sĩ phải duy trì các tiêu chuẩn cao nhất về đạo đức nghề nghiệp của mình. Bác sĩ không được để lợi nhuận ảnh hưởng đến độ chính xác và độc lập các kết quả kết luận chuyên môn của bệnh nhân. Bác sĩ ở mọi chuyên ngành phải tận tụy cung cấp dịch vụ y khoa tốt với đầy đủ kỹ thuật chuyên môn và đạo đức, với lòng nhân ái và tôn trọng nhân phẩm của bệnh nhân. Bác sĩ cần đối xử chân thành với bệnh nhân và đồng nghiệp, và đấu tranh lại với những bác sĩ thiếu hụt về đạo đức hoặc năng lực, hoặc người khuyến khích sự gian lận hay dối trá. Những hoạt động sau đây bị coi là vô đạo đức Bác sĩ tự quảng cáo bản thân, trừ khi được sự cho phép bởi luật pháp của nước đó và Luật đạo đức của Hội Y học Quốc gia. Trả hay nhận bất kì một một khoản tiền thù lao nào hoặc có bất kì một sự cân nhắc nào nhờ việc được giới thiệu bệnh nhân hoặc kê đơn hoặc giới thiệu bệnh nhân đến bất kì một nơi nào khác. Bác sĩ cần tôn trọng quyền của bệnh nhân, của đồng nghiệp và của các nhân viên y tế khác, và phải giữ gìn các bí mật của bệnh nhân. Bác sĩ chỉ hành động vì lợi ích của bệnh nhân khi cung cấp những dịch vụ y tế có thể gây hậu quả không tốt đến sức khỏe hay trạng thái tâm thần của bệnh nhân. Bác sĩ phải hết sức cẩn trọng khi tiết lộ những phát hiện mới hoặc kỹ thuật mới hoặc điều trị thông qua những nguồn tin không chuyên nghiệp. Bác sĩ sẽ chỉ kí chứng nhận các kết quả thăm khám hay điều trị khi chính bản thân mình đã kiểm tra lại. Trách nhiệm của bác sĩ với bệnh nhân Bác sĩ cần luôn luôn ghi nhớ trách nhiệm giữ gìn cuộc sống của con người. Bác sĩ cần dành cho bệnh nhân lòng trung thành và tất cả nguồn lực khoa học của mình. Bất kì khi nào việc khám hay điều trị bệnh vượt quá khả năng của mình, cần mời bác sĩ khác có kinh nghiệm tốt hơn. Bác sĩ phải giữ gìn tất cả mọi điều bí mật về bệnh nhân thậm chí ngay cả sau khi bệnh nhân đã chết. Bác sĩ phải tiến hành cấp cứu như một nhiệm vụ nhân đạo trừ khi biết chắc rằng có những người khác có mong muốn và có thể tiến hành công việc này. Trách nhiệm của bác sĩ với đồng nghiệp Bác sĩ phải đối xử với các đồng nghiệp như cách mà anh ta muốn đồng nghiệp đối xử với mình. Bác sĩ không được lôi kéo bệnh nhân của đồng nghiệp. Bác sĩ phải tuân theo mọi nguyên tắc của “Tuyên ngôn Geneva” đã được Hội Y học thế giới công nhận.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docgiao_duc_dao_duc_nghe_nghiep_cho_hoc_vien_cac_truong_cao_dan.doc
  • doc1 BIA LUAN AN - QUANG.doc
  • doc2 BIA TOM TAT TIENG VIET - QUANG.doc
  • doc2 TOM TAT TIENG VIET - QUANG.doc
  • doc3 BIA TOM TAT TIENG ANH - QUANG.doc
  • doc3 TOM TAT TIENG ANH - QUANG.doc