Hoạt động bán hàng của Công ty Cổ phần đầu tư phát triển công nghệ thời đại mới - Thực trạng & Giải pháp

Tài liệu Hoạt động bán hàng của Công ty Cổ phần đầu tư phát triển công nghệ thời đại mới - Thực trạng & Giải pháp: LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn chuyên đề. Trong xu hướng hội nhập hiện nay, Việt Nam gia nhập WTO, thêm vào đó công nghệ đang có xu hướng phát triển rộng rãi, TMĐT đang dần đi sâu vào lĩnh vực kinh doanh. Bởi vậy em chọn công ty Cổ phần đầu tư phát triển công nghệ thời đại mới là nơi thực tập và học hỏi kinh nghiệm. Trong thời gian thực tập tại đây, cùng với sự hướng dẫn của thầy cô và Ban giám đốc công ty, anh chị em nhân viên kinh doanh em nhận thấy hoạt động kinh doanh chủ yếu của công ty là bán ... Ebook Hoạt động bán hàng của Công ty Cổ phần đầu tư phát triển công nghệ thời đại mới - Thực trạng & Giải pháp

doc78 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1428 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Hoạt động bán hàng của Công ty Cổ phần đầu tư phát triển công nghệ thời đại mới - Thực trạng & Giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hàng trực tuyến, online và tư vấn bán hàng qua điện thoại. Xuất phát từ thực trạng của công ty em quyết định chọn đề tài: “Hoạt động bán hàng của công ty cổ phần đầu tư phát triển công nghệ thời đại mới - Thực trạng và giái pháp” 2. Mục đích yêu cầu cần đạt được. Qua việc nghiên cứu và tìm hiểu chuyên đề này, em có thể vận dụng kiến thức thương mại và kiến thức bán hàng được học tại giảng đường để áp dụng vào thực tiễn và ở đây là trong công ty hoạt động theo hình thức TMĐT. Đồng thời thông qua đó hiểu rõ hơn về hoạt động bán hàng của một công ty, đưa ra một số giải pháp giúp công ty bán được nhiều sản phẩm hơn. 3. Phạm vi nghiên cứu: Chuyên đề nghiên cứu trong phạm vi hoạt động bán hàng, đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bán hàng. 4. Phương pháp nghiên cứu. Thông qua thực tế và kiến thức tại giảng đường, quan sát hoạt động bán hàng tại công ty, cùng với việc phân tích số liệu được cung cấp từ phòng kế toán tài chính giúp em hoàn thành chuyên đề này. 5. Kết cấu chuyên đề: Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, chuyên đề có kết cấu như sau: Chương 1. Khái quát những vấn đề cơ bản về hoạt động bán hàng tại doanh nghiệp thương mại. Chương 2. Thực trạng hoạt động bán hàng của công ty cổ phần đầu tư phát triển công nghệ thời đại mới. Chương 3. Phương hướng và giải pháp đẩy nhanh hoạt động bán hàng của công ty cổ phần đầu tư phát triển công nghệ thời đại mới. Do còn hạn chế về thời gian và kiến thức nên chuyên đề của em không tránh khỏi sai lầm thiếu sót. Rất mong thầy cùng công ty góp ý kiến để em hoàn thiện bài viết này. Em xin chân thành cảm ơn! CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG Ở DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 1.1 Hoạt động bán hàng của doanh nghiệp thương mại. 1.1.1. Khái niệm hoạt động bán hàng. Các khái niệm. Đối với mỗi lĩnh vực kinh doanh, mỗi một mục tiêu nghiên cứu, mỗi cách tiếp cận, mỗi ứng dụng sẽ có những quan niệm khác nhau về bán hàng. Có thể hiểu bán hàng theo các quan niệm sau: * Bán hàng được coi là một phạm trù kinh tế. Các Mac cho rằng: Bán hàng” Là sự chuyển hóa hình thái giá trị của hàng hóa từ hàng sang tiền( H- T)’’ và sự chuyển hóa này là “bước nhảy nguy hiểm’’ chết người, khó khăn nhất. Theo cách tiếp cận này thực chất của việc bán hàng là đổi hàng lấy tiền, hàng hóa chuyển sang hình thái giá trị tiền. Do đó mục tiêu của việc bán hàng là thu được tiền của khách hàng. * Bán hàng là hành vi thương mại. Hành vi thương mại đó là hành vi của thương nhân, ở đó người bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu cho người mua và thu tiền, người mua nhận hàng và trả tiền cho người bán. Hoạt động bán hàng chủ yếu tập trung vào cách thức thực hiện của nhân viên bán hàng. Thông qua thái độ, cách tiếp xúc của nhân viên đối với khách hàng để đánh giá hoạt động bán hàng. Quan tâm nhiều hơn đến chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán trong bán hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Do đó để bán hàng được thành công thì doanh nghiệp cần quan tâm trình độ của nhân viên trong doanh nghiệp, đào tạo hỗ trợ thành những người bán hàng chuyên nghiệp. * Bán hàng là khâu cơ bản quan trọng của quá trình sản xuất kinh doanh. Nghiên cứu thị trường Lựa chọn nguồn hàng để mua Mua hàng và dự trữ Bán hàng Dịch vụ phục vụ khách hàng Hoạt động chủ yếu của các doanh nghiệp là kinh doanh hàng hóa. Để thực hiện thành công thì khâu bán hàng phải tốt. Để tồn tại và phát triển doanh nghiệp cần quan tâm đến hoạt động bàn hàng, đảm bảo thu được lợi nhuận cung cấp nhiều hàng hóa cho khách hàng. Trong đó phải chú ý đến các công cụ hỗ trợ, xúc tiến giúp cho hoạt động bán hàng được kết quả cao. Các công cụ Marketing này giúp quảng cáo sản phẩm đưa sản phẩm đến người tiêu dùng, khách hàng biết đến doanh nghiệp, sản phẩm một cách nhanh nhất. Tạo điều kiện quảng bá sản phẩm của mình. Từ đó hỗ trợ cho nhân viên bán hàng từ vị trí cao nhất đến vị trí bán hàng hoàn thành nhiệm vụ của mình. Theo cách tiếp cận này bán hàng không chỉ là mục tiêu của bộ phận bán hàng mà còn là mục tiêu chung của toàn công ty, doanh nghiệp. Chỉ khi bán được hàng doanh nghiệp mới thu được lợi nhuận, quay vòng vốn, mở rộng quy mô kinh doanh của doanh nghiệp. * Bán hàng là quy trình thực hiện các nghiệp vụ kỹ thuật bán hàng. Từ việc nghiên cứu hành vi mua sắm của khách hàng, doanh nghiệp tiến hành lựa chọn kênh bán và hình thức bán, phân phối hàng hóa vào các kênh. Thực hiện các hoạt động quảng cáo, xúc tiến bán hàng. Để bán được hàng đòi hỏi cần nghiên cứu kỹ thuật bán hàng đưa ra các chỉ tiêu đánh giá và điều chỉnh. Như vậy bán hàng ở doanh nghiệp thương mại được hiểu là một quá trình có sự liên kết chặt chẽ với nhau, việc bán hàng được thực hiện tại các cửa hàng, quầy hàng, đòi hỏi có kỹ thuật nghiệp vụ bán hàng. Nhân viên bán hàng phải thể hiện trực tiếp tại nơi bán hàng sao cho thu hút được nhiều khách hàng, bán được nhiều sản phẩm cho doanh nghiệp. Tóm lại có rất nhiều quan niệm về bán hàng. Mỗi một loại hình hoạt động, một lĩnh vực kinh doanh đều có cách nhìn nhận khác nhau về bán hàng. Do đó các nhà quản trị cần cân nhắc và đưa ra các hình thức bàn hàng phù hợp cho doanh nghiệp mình. 1.1.2. Vai trò của hoạt động bán hàng trong doanh nghiệp thương mại. Trong kinh doanh, bán hàng là hoạt động cơ bản quan trọng đối với xã hội và doanh nghiệp. Bán hàng giúp cho các doanh nghiệp thu hồi vốn kinh doanh, thu được lợi nhuận và mở rộng quy mô kinh doanh của mình. Hiện nay bán hàng là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, là nơi gặp gỡ giữa cung cầu, ổn định giá cả, tăng thu nhập cho người bán, thỏa mãn nhu cầu của người mua. Bán hàng trong các doanh nghiệp thương mại là nghiệp vụ cơ bản trực tiếp thực hiện chức năng lưu thông hàng hóa, đưa hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng phục vụ đời sống của xã hội. Bán hàng giúp ổn định thị trường, cân bằng cung cầu tạo điều kiện ổn định giá cả thị trường. Những người có hàng sẽ bán cho những người cần, họ vừa đạt được mục tiêu kinh doanh, đồng thời thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Các doanh nghiệp thương mại hoạt động bán hàng nhằm mục đích thu lợi nhuận, thu hồi vốn đầu tư. Trong kinh doanh của doanh nghiệp để có thể bán hàng được như mong muốn đòi hỏi các doanh nghiệp phải tiến hành các hoạt động nghiên cứu thị trường, tạo nguồn hàng, dịch vụ, dự trữ. Do đó bán hàng sẽ quyết định và chi phối các hoạt động trên. Nếu bán hàng tốt tức doanh nghiệp đã nghiên cứu đúng thị trường đang cần hàng hóa đó, có được nguồn hàng đủ đáp ứng nhu cầu và các dịch vụ sau bán thực hiện có hiệu quả. Ngược lại nếu bán hàng không tốt tức là các hoạt động trước đó chưa thực hiện tốt, chưa thu được kết quả như mong muốn. Để thực hiện tốt hoạt động bán hàng đòi hỏi các doanh nghiệp thương mại cần đưa ra các chiến lược và kế hoạch bán cụ thể, chính xác, rõ ràng. Trên cơ sở nghiên cứu thị trường, nhu cầu thị hiếu khách hàng về hàng hóa của doanh nghiệp. Bán hàng không chỉ đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp mà còn tạo được mối quan hệ thân thiết giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng, tạo niềm tin và uy tín, kích thích tái tạo nhu cầu của họ. Đây cũng là một trong những vũ khí cạnh tranh của doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có tốt, có đúng mục tiêu hay không phụ thuộc rất lớn vào họat động bán hàng. Kết quả của họat động bán hàng phản ánh sự đúng đắn mục tiêu của chiến lược, sự nỗ lực của cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp. Chính vì vậy doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì cần thực hiện tốt khâu bán hàng. Hiện nay thị trường đang có sự biến động tăng lên của giá cả.Việc bán hàng trở lên nhộn nhịp hơn, khó khăn và phức tạp hơn. Các hình thức dịch vụ trong bán hàng ngày càng được chú trọng, hoạt động bán hàng có nhiều hình thức hơn. 1.2. Các hình thức bán hàng. Có nhiều hình thức bán hàng được áp dụng phổ biến hiện nay. Tùy theo mô hình họat động và đặc thù của hàng hóa mà doanh nghiệp lựa chọn hình thức bán phù hợp. * Căn cứ theo đặc điểm giao hàng cho khách thì có các hình thức bán sau: - Bán hàng tại kho của người cung ứng hay tại kho của doanh nghiệp thích hợp đối với những nhu cầu lớn, ổn định, thường xuyên, người mua có phương tiện vận chuyển. - Bán hàng qua cửa hàng, quầy hàng thường phục vụ cho nhu cầu nhỏ lẻ, bộc phát, thị hiếu, thói quen, sở thích mua sắm của người tiêu dùng. Đó lá những đơn hàng có nhiều danh mục hàng hóa và không ổn định. - Bán tận nơi tiêu dùng: Đây là hình thức bán tại nhà cho khách hàng theo yêu cầu của họ. Đây là phương thức tạo thuận lợi cho khách hàng và nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng của doanh nghiệp. * Căn cứ theo khâu lưu chuyển hàng hóa có: - Bán buôn: Là hình thức bán với khối lượng lớn theo hợp đồng, thanh toán không bằng tiền mặt. Kết thúc quá trình bán buôn hàng hóa chưa đi vào tiêu dùng ngay mà vẫn nằm trong khâu lưu thông. Do mua khối lượng lớn, không phải thêm chi phí tại các cửa hàng, quầy hàng nên giá rẻ hơn, doanh số cao hơn. - Bán lẻ: Bán cho những người tiêu dùng có nhu cầu nhỏ lẻ, đáp ứng nhu cầu sử dụng ngay và thanh toán ngay. Giá bán lẻ cao hơn giá bán buôn do phải thêm chi phí dự trữ và thuê cửa hàng, quầy hàng. Tuy đạt doanh số thấp hơn nhưng doanh nghiệp nhận được sự phản hồi trực tiếp từ khách hàng. * Theo phương thức bán hàng có: - Bán hàng theo hợp đồng và đơn hàng: Hình thức bán này thường áp dụng với những hàng hóa quan trọng, khối lượng lớn để người bán có thời gian chuẩn bị hàng hóa. Hình thức bán này có thể áp dụng khi khách hàng không thanh toán ngay do đó lập hợp đồng và đơn hàng để rằng buộc trách nhiệm pháp lý giữa hai bên. - Thuận mua vừa bán: Người mua đồng ý với chất lượng, mẫu mã hàng hóa và giá cả, người bán thấy thỏa mãn thì hai bên tiến hành thanh toán và giao hàng. Đây là hình thức nhanh và không cần lập đơn hàng và ký kết hợp đồng. - Bán đấu giá: Là hình thức bán áp dụng cho hàng hóa có khối lượng lớn, khó tiêu chuẩn hóa và hàng chuyên dùng để tìm người mua với giá cao nhất. - Xuất khẩu hàng hóa: Là hình thức đặc biệt cần tuân thủ các quy định xuất nhập khẩu của chính phủ và các đơn vị được phép kinh doanh xuất nhập khẩu thực hiện. * Theo mối quan hệ thanh toán: - Mua đứt bán đoạn: mua và thanh toán ngay khi giao nhận hàng hóa. - Sử dụng hình thức tín dụng trong thanh toán như bán hàng trả chậm, bán hàng trả góp. Được áp dụng tùy từng loại hàng hóa như mua xe máy trả góp. Hiện nay các hình thức này cũng bắt đầu thực hiện ở Việt Nam tuy nhiên chưa phổ biến do luật trả góp chưa được áp dụng vào nhiều hàng hóa. * Các hình thức bán trực tiếp, bán hàng từ xa qua điện thoại, bán hàng qua môi giới, qua tiếp thị và bán hàng qua mạng Internet. Các hình thức bán hàng này đang dần phổ biến trên thị trường hiện nay. - Bán hàng trực tiếp là bán ngay cho người tiêu dùng , người bán và người tiêu dùng trực tiếp trao đổi và thanh toán ngay tiền cho nhau.Trong điều kiện hiện nay các doanh nghiệp lớn cũng tăng cường bán hàng theo điều kiện này nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của mình - Bán hàng qua điện thoại đó là cách tư vấn cho khách hàng hiểu về sản phẩm mình đang cung cấp. Khi họ chấp nhận mua hàng sẽ tiến hành giao hàng cho họ. Bán hàng theo hình thức này tuy doanh số thấp nhưng lại biết được thông tin bổ ích về người tiêu dùng và không bộc lộ những khả năng bán hàng không tốt khi tiếp xúc trực tiếp với khách hàng. - Bán hàng qua môi giới: Là hình thức bán hàng qua trung gian trước khi đến nơi tiêu dùng. Hình thức này phù hợp doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường, thị trường biến động nhanh, chưa có nhiều kinh nghiệm hoặc đối với các doanh nghiệp muốn thâm nhập sâu vào thị trường. - Bán hàng qua tiếp thị: Là hình thức mà các doanh nghiệp nước ngoài muốn xâm nhập vào Việt Nam nhằm giới thiệu sản phẩm vào thị trường này. Các doanh nghiệp cần đào tạo đội ngũ nhân viên tiếp thị có trình độ và kỹ năng bán hàng tốt để đạt được mục tiêu tiếp thị của mình. - Bán hàng qua mạng Internet: Là hoạt động bán hàng thông qua mạng Internet để giới thiệu về sản phẩm, thanh toán trước hoặc ngay khi giao hàng. Các doanh nghiệp bán hàng theo hình thức này còn được gọi là kinh doanh trực tuyến hay TMĐT. Đây là hoạt động mới được thực hiện trong môi trường đặc biệt là Internet dựa trên nền tảng sự phát triển của công nghệ thông tin. Để hoạt động bán hàng theo hình thức này các doanh nghiệp cần xây dựng cho mình một chiến lược, kế hoạch kinh doanh và cách thức thực hiện phù hợp. Có thể nói các hình thức bán hàng trên đây đang tồn tại và phát triển song song trên thị trường. Dù là hình thức bán hàng nào các doanh nghiệp cũng luôn có những kế hoạch tiếp cận cụ thể đối với khách hàng để đạt được kết quả tốt nhất. 1.2. Nội dung về bán hàng của doanh nghiệp thương mại. 1.2.1. Nghiên cứu thị trường sản phẩm. Để đưa được sản phẩm đến tay người tiêu dùng thì các doanh nghiệp tiến hành các họat động nghiên cứu thị trường. Hoạt động nghiên cứu thị trường để trả lời các câu hỏi:Bán cái gì? Bán cho ai và bán bằng cách nào? Vì vậy nghiên cứu thị trường là việc đầu tiên cần thiết đầu tiên đối với doanh nghiệp . Mục đích nghiên cứu thị trường là xác định khả năng bán loại hàng hóa của doanh nghiệp, để đưa ra kế hoạch bán hàng cụ thể. Các doanh nghiệp luôn bán những gì thị trường cần chứ không phải bán những gì doanh nghiệp có. Do đó cần nghiên cứu để biết được thị trường cần gì và tìm cách đáp ứng nhu cầu đó một cách tốt nhất. Doanh nghiệp có thể lựa chọn các hình thức nghiên cứu thị trường khác nhau. Thông qua việc nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp xác định được cầu hàng hóa, cung hàng hóa, giá cả trên thị trường, đối thủ cạnh tranh. Trên cở sở phân tích khoa học, doanh nghiệp sẽ đưa ra những chiến lược xâm nhập thị trường, lực chọn cách thức bán hàng hợp lý nhất. Nghiên cứu thị trường là nghiên cứu tâm lý, thói quen sở thích của người tiêu dùng. Từ đó đưa ra những mặt hàng có chất lượng, mẫu mã phù hợp nhu cầu của họ. Để đạt được hiệu quả cao cán bộ nghiên cứu thị trường cần giải đáp các vấn đề sau: - Thị trường triển vọng của doanh nghiệp ở đâu? - Khả năng bán hàng của doanh nghiệp trên thị trường này như thế nào? - Doanh nghiệp cần làm gì để hỗ trợ cho họat động bán hàng? - Bán với mức giá nào thỏa mãn được nhu cầu của thị trường? - Chất lượng dịch vụ mà khách hàng yêu cầu là gì? - Doanh nghiệp có khả năng đáp ứng được nhu cầu dịch vụ nào của khách hàng? - Lựa chọn hình thức bán hàng, kênh bán hàng phù hợp với đặc thù kinh doanh của doanh nghiệp. Có thể nói một sản phẩm thích hợp trên thị trường là một sản phẩm thích ứng đầy đủ về số lượng, chất lượng, giá cả và thời gian mà thị trường đó đòi hỏi, đặc biệt là họat động bán hàng đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. 1.2.2. Xác định kênh bán hàng, hình thức bán hàng. a) Kênh bán hàng. Doanh nghiệp khi đã biết được thị trường cần gì, nhưng để đưa được hàng hóa vào thị trường thì cần lựa chọn kênh bán hàng phù hợp. Kênh bán chính là việc sắp xếp bố trí các phần tử tham gia vào quá trình phân phối, quá trình bán hàng của doanh nghiệp. Mỗi hàng hóa đều có đăc điểm, tính chất và điều kiện vận chuyển, bảo quản sử dụng khác nhau mà lựa chọn kênh phân phối khác nhau. Có thể có các kênh bán hàng sau: - Kênh 1: Mua bán trực tiếp giữa người sản xuất hay người nhập khẩu hàng hóa với người tiêu dùng. Ở đây là tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cá nhân, hàng hóa được sử dụng ngay không nằm lại ở trong lưu thông nên giảm chi phí lưu thông, hàng hóa lưu chuyển nhanh, giao dịch mua bán đơn giản. Tuy nhiên kênh bán hàng này còn phụ thuộc vào khối lượng hàng hóa nhiều hay ít, phương tiện vận chuyển có hay không. Điều này do người mua và người bán quyết định. - Kênh 2. Ở đây có sự tham gia của khâu trung gian, hàng hóa phải qua khâu bán lẻ mới đến tay người tiêu dùng. Đây là kênh phân phối ngắn cũng thuận tiện cho người tiêu dùng, hàng hóa cũng được lưu chuyển nhanh. Kênh bán hàng này phục vụ cho khách hàng mua khối lượng nhỏ, thường xuyên. - Kênh 3: Việc phân phối hàng hóa có sự tham gia của nhiều trung gian- bán buôn và bán lẻ. Đây là loại kênh dài, từng khâu của quá trình sản xuất và lưu thông được chuyên môn hóa, tạo điều kiện để phát triển sản xuất, mở rộng thị trường. Hiện nay hàng hóa lưu thông qua kênh này đang chiếm tỷ trọng lớn và thu được hiệu quả cao. Các doanh nghiệp sử dụng kênh này nhằm bán được nhiều hàng hóa, có khả năng cung cấp cho khách hàng được tốt hơn. - Kênh 4: Kênh này cũng giống kênh 3 nhưng mật độ sự tham gia của khâu trung gian dày đặc hơn. Những người môi giới trong kênh này hoạt động năng động hơn giữa người bán và người mua khi họ đã được chấp nhận. b) Các hình thức bán hàng. Việc xác định các hình thức bán hàng cũng rất quan trọng. Dựa vào khả năng phân phối hàng hóa của doanh nghiệp, kết cấu của hàng hóa, cách thức mua hàng mà có những hình thức bán hàng khác nhau. Có thể là các hình thức bán trực tiếp, bán buôn, bán lẻ, bán qua điện thoại, bán qua mạng Internet… Sự lựa chọn hình thức này phụ thuộc rất nhiều vào quyết định của những người đứng đầu doanh nghiệp. 1.2.3. Phân phối hàng hóa vào các kênh bán, xác định các chính sách và biện pháp bán hàng. Phân phối hàng hóa đều đặn, và chính xác vào các kênh đã xây dựng góp phần cho hoạt động bán hàng đạt được hiệu quả tốt nhất. Bên cạnh đó cần đưa ra các chính sách bán hàng thật thiết thực và chặt chẽ nhất. Các chính sách mà doanh nghiệp đưa ra có thể kể đến như sau: - Chính sách về chiến lược sản phẩm. Thể hiện ở việc đưa ra các danh mục hàng hóa tung ra thị trường. Đó là những sản phẩm mới có hàm lượng kỹ thuật cao và uy tín trên thị trường. - Điều chỉnh cơ cấu sản phẩm: Đó là phát triển những sản phẩm chủ chốt đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, cắt giảm những sản phẩm không có khả năng phát triển. - Chính sách không ngừng phát triển sản phẩm mới và dịch vụ phục vụ khách hàng của doanh nghiệp. Đưa ra những sản phẩm phù hợp nhu cầu thị trường nhằm có thể cạnh tranh với các đối thủ của mình. - Chiến lược giá cả. Giá cả là yếu tố nhạy cảm trên thị trường. Nó có ảnh hưởng lớn đến khối lượng hàng hóa bán ra, tác động mạnh mẽ đến sự lựa chọn sản phẩm của doanh nghiệp. - Chính sách phân phối hàng hóa của doanh nghiệp. Đây là hoạt động mở đầu và tạo điều kiện cho họat động bán hàng đạt được mục tiêu đề ra một cách văn minh, chủ động. Được như vậy đòi hỏi có sự phân công chi tiết lượng hàng hóa bán ra theo thời gian và không gian nhất định. Dựa vào việc cân đối giữa cung và cầu mà doanh nghiệp đã tiến hành nghiên cứu điều tra. Việc phân phối sản phẩm của doanh nghiêp cần đảm bảo các nguyên tắc sau: - Nguyên tắc hiệu quả kinh tế: Hoạt động bán hàng đạt được dựa trên cơ sở cân đối giữa doanh thu và chi phí và cuối cùng là lợi nhuận. Do đó việc phân phối phải đảm bảo có lợi nhuận, tăng doanh thu và giảm chi phí. - Nguyên tắc đồng bộ, liên tục: Việc phân phối có được đồng bộ hay không doanh nghiệp cần xem đến các yếu tố như giá mua, giá bán, vị trí địa lý, điều kiện vận chuyển…Nhưng bên cạnh đó phải tính đến những biến động về cung cầu trên thị trường để có những biện pháp ứng phó kịp thời. - Nguyên tắc ưu tiên: Doanh nghiệp cần xác định những khách hàng mục tiêu, quan trọng. Nhưng không bỏ qua một cách tùy ý những mặt hàng khác mà cần có sự cân nhắc, tính toán, so sánh để có quyết định đúng đắn nhất. 1.2.4. Tiến hành quảng cáo và xúc tiến bán hàng. Công cụ xúc tiến là một trong những công cụ hỗ trợ cho hoạt động bán hàng đắc lực nhất hiện nay.Các công cụ đó là: - Quảng cáo hàng hóa: Tuyên truyền thông tin về sản phẩm của doanh nghiệp đến người tiêu dùng bằng những phương tiện thông tin đại chúng. - Xúc tiến bán hàng là hình thức tập hợp các kỹ thuật nhằm giúp cho họat động bán hàng được nhanh chóng nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Những kỹ thuật đó là: + Bán có thưởng + Thực hiện giảm giá. + Tổ chức cuộc thi, trò chơi có thưởng. + Khuyến khích mua thử và các quà biếu khác. Hiện nay các doanh nghiệp đang sử dụng công cụ này như một vũ khí đắc lực cạnh tranh với đối thủ của mình. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng được hưởng nhiều hàng hóa có chất lượng cao thỏa mãn nhu cầu của mình. 1.2.5. Thực hiện tốt các nghiệp vụ kỹ thuật bán hàng ở quầy hàng và cửa hàng. Hoạt động bán hàng được thực hiện tại cửa hàng, quầy hàng cần có những kỹ thuật bán hàng hỗ trợ. Việc sử dụng kỹ thuật bán hàng thường được thực hiện theo 7 bước sau: - Thăm dò- sàng lọc: Đó là thăm dò ý kiến khách hàng tiềm năng, tập quán mua sắm của khách hàng và đối tượng khách hàng mà doanh nghiệp phục vụ. - Tiếp cận hồ sơ: Nghiên cứu thông tin về khách hàng, hoạt động của tổ chức trong việc mua hàng. - Tiếp cận chính thức: Sử dụng các biện pháp nhằm tiếp cận khách hàng để biết được mong muốn của họ và tìm cách đáp ứng nhu cầu của họ. - Giới thiệu và trình diễn là việc đưa sản phẩm ra mắt thị trường, đưa sản phẩm đi vào tiêu dùng. - Khắc phục ý kiến phản hồi. Sau khi sử dụng khách hàng chắc chắn sẽ có những sự phản hồi. Do đo đòi hỏi doanh nghiệp cần thu thập phản hồi của khách hàng và tìm cách khắc phục các phản hồi đó. - Kết thúc thương vụ. Việc kết thúc này giúp cho người bán tạo được niềm tin cho mình đồng thời xây dựng được tình cảm đối với khách hàng. - Theo dõi và duy trì. Sau khi kết thúc hoạt động bán hàng cho khách doanh nghiệp không nên dừng lại mà cần theo dõi để biết được sự tồn tại của hàng hóa trong thị trường. Như vậy mới có thể biết được sản phẩm của mình có được thị trường chấp nhận lâu dài không. Trên cơ sở đó duy trì những sản phẩm tốt và loại bỏ những sản phẩm không được chấp nhận trên thị trường. 1.2.6. Yêu cầu đối với nhân viên bán hàng. Hoạt động bán hàng thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ nhân viên bán hàng. Họ chính là cầu nối giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng. Họ là người tiếp xúc nhiều nhất với khách hàng, biết được thông tin và sự phản hồi của khách hàng. Do đó doanh nghiệp cần chú ý đến trình độ của nhân viên bán hàng, thái độ của họ trong quá trình bán hàng. Nhân viên bán hàng cần có đức tính cao vọng, tự tin, điền đạm, lịch sự và liêm khiết. Bán hàng là tìm mọi cách rút tiền từ túi khách hàng để bỏ vào túi mình. Do đó người bán cần có khả năng chinh phục khách hàng, khiến cho họ mua hàng của mình. Không những vậy họ còn tiếp xúc với nhiều lớp người trong xã hội nên cần có sự điềm đạm nhẫn nhịn chịu đựng , đáp ứng những yêu cầu khó tính của khách hàng. Người bán hàng đòi hỏi phải có sức khỏe, giọng nói, cách nói, cử chỉ dáng điệu phù hợp, ngoại hình khá là một ưu thế. Giao tiếp với nhiều người sự ưu nhìn là một lợi thế. Nhìn thấy người bán hàng dáng vẻ lịch lãm, giọng nói dễ nghe đi vào lòng người sẽ giúp cho khách hàng cảm thấy thân thiện và muốn nói chuyện lâu hơn. Từ đó người bán hàng có thể tư vấn để khách hàng mua hàng của mình. Một trong những yếu tố không thể thiếu đối với nhân viên bán hàng là trình độ học vấn, tài nói năng, đầu óc không ngoan và giác quan quan sát tâm lý. Họ cần có những hiểu biết nhất định về sản phẩm, có sự khéo léo trong bán hàng. Nhân viên bán hàng cần có sự khôn ngoan khi đàm phán với khách hàng. Có khả năng trả lời những câu hỏi của khách hàng một cách thông minh nhất. Đồng thời có trí nhớ tốt, không chỉ nhớ công dụng của sản phẩm mà còn nhớ những khách hàng của mình. Biết nắm bắt tâm lý khách hàng , để có thể bán hàng được thuận lợi nhất. 1.3. Các chỉ tiêu và nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động bán hàng. 1.3.1. Các chỉ tiêu hoạt động bán hàng Để đánh giá hoạt động bán hàng doanh nghiệp cần dựa vào các chỉ tiêu như: + Khối lượng hàng hóa bán ra thể hiện tổng số, chia ra các mặt hàng, khách hàng, thời gian, khu vực bán hàng. + Số lượng hàng hóa tồn kho, số lượng khách hàng bán được, doanh số trên một khách hàng bình quân. + Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch bán hàng về khối lượng và giá trị tỷ phần thị trường của doanh nghiệp + Chi phí bán hàng bao gồm: Tổng chi phí bán hàng, các khoản mục chi phí như khấu hao, chi tiền lương. Chi phí trực tiếp, gián tiếp… + Lãi gộp, lãi thuần, mức doanh lợi trên doanh thu, chi phí và vốn kinh doanh 1.3.2. Nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động bán hàng doanh nghiệp 1.3.2.1. Hạ tầng công nghệ của nền kinh tế quốc dân. Hiện nay công nghệ phát triển như vũ bão. Sự phát triển của khoa học công nghệ ảnh hường rất lớn đến hoạt động bán hàng của doanh nghiệp. Công nghệ hiện đại sẽ giúp cho nhân viên bán hàng thực hiện nghiệp vụ của mình được nhanh chóng, hàng hóa được tạo ra phong phú về chủng loại, mẫu mã phù hợp nhu cầu khách hàng, giúp cho hoạt động bán hàng đạt kết quả như mong muốn. Doanh nghiệp thực hiện được các nghiệp vụ bán hàng được tốt và nhanh chóng cần đầu tư vào việc mua sắm các công cụ hỗ trợ bán hàng tiến tiến như máy tính, máy đếm tiền…Công nghệ càng phát triển hoạt động bán hàng của doanh nghiệp càng dễ dàng hơn trong việc giới thiệu sản phẩm, thanh toán cũng như tư vấn cho khách hàng. Các hình thức bán hàng mới của công nghệ ngày càng được áp dụng rộng rãi như bán hàng qua điện thoại, bán hàng qua Internet… Đó chính là kết quả của công nghệ đối với sự phát triển của nền kinh tế. 1.3.2.2. Sự tăng trưởng của nền kinh tế và thu nhập của người tiêu dùng. Các nhân tố về mặt kinh tế có vai trò quyết định đến sự hình thành phát triển môi trường kinh doanh, từ đó tác động đến hoạt động bán hàng của doanh nghiệp. Nền kinh tế phát triển cao và mạnh sẽ kéo theo thu nhập của người lao động tăng lên, dẫn đến sức mua hàng hóa tăng theo. Đây là cơ hội giúp cho các doanh nghiệp đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng. Đối với các nước có nền kinh tế phát triển, người dân sẽ đầu tư vào những mặt hàng cấp cao và khả năng bán các mặt hàng này cũng tăng theo. Ngoài ra ảnh hưởng của tỷ giá trong điều kiện nền kinh tế mở đến hoạt động bán hàng rất sâu sắc. Khi nội tệ tăng giá sẽ kích thích nhập khẩu làm thu hẹp thị trường của hàng hóa trong nước. Ngược lại khi nội tệ giảm dẫn đến cơ hội sản xuất trong nước tăng, tạo điều kiện cho hàng hoá trong nước phát triển. Hiện nay nền kinh tế đang trong tình trạng không ổn định lên xuống thất thường, do đó nó ảnh hưởng đến kết quả của nền kinh tế nói chung, và của các doanh nghiệp nói riêng. Đòi hỏi các doanh nghiệp cần theo dõi và nắm vững xu hướng vận động của thị trường để đề ra chiến lược cụ thể. 1.3.2.3. Áp lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Cạnh tranh sẽ giúp các doanh nghiệp ngày càng phát triển và khách hàng sẽ được thoả mãn tốt hơn nhu cầu của mình. Các doanh nghiệp trong một thị trường luôn cạnh tranh nhau về giá cả, sản phẩm, chất lượng, mẫu mã, quy cách chủng loại. Số lượng doanh nghiệp trong cùng một ngành càng lớn sẽ dẫn đến thị trường hàng hóa bị thu hẹp lại, thị trường bị phân chia nhỏ hơn, khắt khe hơn khiến cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm xuống. Do vậy nghiên cứu kỹ lưỡng đối thủ cạnh tranh để biết được chính sách của đối thủ từ đó đưa ra chiến lược kinh doanh của mình. Hiện nay hình thức kinh doanh TMĐT đang dần phổ biến, đối thủ cạnh tranh mọc lên liên tục. Thị trường ngày càng quyết liệt và gay gắt dẫn đến việc bán hàng gặp rất nhiều khó khăn hơn. Kinh doanh theo hình thức này việc quan trọng vẫn là giá cả và các dịch vụ chăm sóc khách hàng. Đây chính là công cụ quan trọng tạo nên thành công của các doanh nghiệp kinh doanh theo hình thức TMĐT. 1.3.2.4. Nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng. Thỏa mãn nhu cầu khách hàng một cách tốt nhất là một trong những mục tiêu quan trọng của các doanh nghiệp. Để làm được điều này các doanh nghiệp cần tiến hành hoạt động nghiên cứu thị trường, tìm ra nhu cầu thị hiếu của khách hàng và tìm mọi cách đáp ứng tốt nhất nhu cầu đó. Tuy nhiên nhu cầu và thị hiếu của khách hàng lại khác nhau trong mỗi vùng, mỗi khu vực. Vì vậy muốn bán được hàng thì doanh nghiệp cần nắm được nhu cầu của từng vùng từ đó đưa ra các kênh bán hàng phù hợp. Đối với các doanh nghiệp kinh doanh theo hình thức TMĐT thì điều này là một trong những khó khăn cần khắc phục. Người dân từ trước đến nay đều muốn nhìn tận mắt sản phẩm mới trả giá và mua hàng. Tâm lý khách hàng luôn muốn chắc chắn để yên tâm. Điều này khiến cho doanh nghiệp hoạt động theo hình thức này mất đi một thị trường khá lớn, đòi hỏi họ cần đưa ra những chính sách phù hợp để khai thác triệt để nó. Nhu cầu thị hiếu của khách hàng quyết định rất lớn đến hoạt động bán hàng của doanh nghiệp. Nắm bắt được nhu cầu này là nắm bắt được tâm lý của khách hàng, như vậy bán hàng sẽ được hiệu quả hơn. 1.3.2.5. Các chính sách và quy dịnh của nhà nước. Nền kinh tế hiện nay vẫn còn chịu một phần nhỏ tác động của nhà nước. Một thể chế chính trị, một hệ thống pháp luật chặt chẽ sẽ tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp. Đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định. Các chính sách đó là: bảo hộ mậu dịch tự do, các chế độ tiền lương, chế độ trợ cấp, phụ cấp người lao động. Các nhân tố này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động bán hàng của công ty.Chế độ nhân viên tốt kích thích khả năng làm việc của họ, họ sẽ bán được nhiều hàng hơn. Các chính sách của nhà nước về hàng hóa được mở rộng, doanh nghiệp dễ dàng thực hiện hoạt động bán hàng của mình. 1.3.2.6. Vấn đề hội nhập nền kinh tế. Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 là cơ hội thuận lợi cho nền kinh tế phát triển. Các doanh nghiệp có điều kiện tham gia quảng bá sản phẩm, tên tuổi của mình trên trường quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ giúp doanh nghiệp củng cố thị trường trong nước mà còn mở rộng thị trường nước ngoài. Sản phẩm được áp dụng công nghệ cao có chất lượng tốt, đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng.Gia nhập WTO doanh nghiệp có nhiều điều kiện bán hàng ,áp dụng các hình thức bán hàng tiên tiến, mạng lưới kênh phân phối hoàn hảo hơn. Hội nhập công nghệ quốc tế là thời đại của công nghệ, việc mua sắm trên Internet sẽ phổ biến, từ đó giúp cho các doanh nghiệp hoạt động theo hình thức TMĐT thu được nhiều kết quả cao. 1.3.2.7. Nguồn cung cấp sản phẩm của doanh nghiệp. Tìm nguồn cung cấp để đảm bảo đầu vào cho doanh nghiệp có hàng hóa phục vụ khách hàng là một việc quan trọng. Các nhà cung cấp có thể gây khó khăn cho các doanh nghiệp, ép giá và đưa ra các hình thức có lợi cho họ. Lựa chọn nhà cung cấp với giá cả tốt, chất lượng cao đủ hàng hóa phục vụ cho nhu cầu khách hàng là việc cần thiết. Để có thể đảm bảo mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được liên tục, đòi hỏi các doanh nghiệp cần tiến hành nghiên cứu thị t._.rường, tìm hiểu các đối tác của mình làm sao để nắm được điểm yếu của họ, từ đó phát huy khả năng của mình đem lại lợi nhuận cho mình. Các nhà cung cấp nhiều tạo cơ hội cho các doanh nghiệp lựa chọn để có được giá đầu vào tốt nhất, có đủ hàng hóa để bán cho người tiêu dùng. Ngược lại số lượng nhà cung cấp ít khiến cho các doanh nghiệp khó khăn trong việc đưa ra giá cạnh tranh làm cho hàng hóa không bán được do giá cao hơn so với thị trường. Các nhà cung cấp luôn có những chính sách giá ưu đãi cho doanh nghiệp để các doanh nghiệp bán được hàng cho họ. Có được nhà cung cấp tốt sẽ khiến cho hoạt động bán hàng diễn ra liên tục, đều đặn tránh tình trạng thiếu hàng hóa khi bán cho khách hàng. 1.3.3. Các nhân tố thuộc doanh nghiệp. 1.3.3.1. Sản phẩm của doanh nghiệp. Nói đến sản phẩm của doanh nghiệp là nói đến chất lượng và giá cả của sản phẩm. Có thể nói chất lượng sản phẩm tốt không chỉ thu hút khách hàng làm tăng khối lượng hàng hóa bán ra mà còn giúp cho doanh nghiệp nâng cao uy tín, nâng cao giá là vẫn giữ được khách hàng. Ngược lại chất lượng sản phẩm thấp khiến cho việc bán hàng của doanh nghiệp gặp khó khăn, không những sản phẩm không đưa được ra thị trường mà còn khiến doanh nghiệp có nguy cơ phá sản. Nâng cao chất lượng sản phẩm là công việc quan trọng trong hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó giá của sản phẩm hợp lý có quyết định rất lớn đến hoạt động bán hàng. Nếu doanh nghiệp đưa ra một mức giá phù hợp với chất lượng sản phẩm sẽ được đông đảo người tiêu dùng ủng hộ và chấp nhận, giúp cho hàng hóa bán được nhiều hơn. Ngược lại giá quá cao, cao hơn so với chất lượng sản phẩm, dẫn đến giá của doanh nghiệp không đủ sức cạnh tranh thị trường doanh nghiệp sẽ không bán được hàng, doanh số bán giảm kéo theo lợi nhuận giảm. Thêm vào đó uy tín doanh nghiệp gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp quản lý kinh doanh tốt làm cho giá thành sản phẩm tốt đưa ra giá cạnh tranh dẫn đến thành công cho doanh nghiệp trên thương trường. Giá của hàng hóa là một trong yếu tố quan trọng trong bán hàng, bởi đây là cái mà khách hàng quan tâm khi mua hàng. 1.3.3.2. Bộ máy quản trị của doanh nghiệp. Vai trò của bộ máy quản trị doanh nghiệp là rất quan trọng. Mọi hoạt động và kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp đều do bộ máy quản trị đảm nhiệm. Để đưa ra được kênh bán hàng và hình thức bán hàng hợp lý và đạt hiệu quả kinh tế cao đòi hỏi ban giám đốc công ty phải có sự điều tra, nghiên cứu kỹ lưỡng về thị trường của công ty mình. Những người trong ban giám đốc phải là những người có trình độ chiến lược, biết nắm bắt cơ hội trong thị trường, dự đoán tình hình biến động của thị trường. Nếu họ không đưa ra được kế hoạch, chiến lược sản phẩm, chiến lược giá cả sẽ khiến cho hoạt động bán hàng rơi vào bế tắc. Do đó vai trò của ban quản trị là rất quan trọng, là đầu não của công ty, điều hành mọi hoạt động của công ty. Quản trị bán hàng thực hiện các hoạt động quản trị kênh bán, hình thức bán, hình thức thanh toán, đội ngũ nhân viên... Vai trò của họ quyết định đến thành công của việc bán hàng. 1.3.2.3. Nguồn lực của công ty. Một trong những yếu tố quyết định đến thành công của doanh nghiệp nói chung và hoạt động bán hàng nói riêng đó là con người. Họ là những người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, nắm bắt tâm lý của khách hàng. Người bán hàng là cầu nối giữa doanh nghiệp và khách hàng. Sản phẩm của doanh nghiệp có được thị trường chấp nhận hay không dựa vào tài chinh phục khách hàng của người bán. Xây dựng đội ngũ bán hàng chuyên nghiệp là điều cần thiết đối với các doanh nghiệp. Nhân viên bán hàng năng động, khéo léo, tự tin, điềm đạm thông minh xử lý các tình huống lôi cuốn được khách hàng mua sản phẩm của doanh nghiệp. Chính vì vậy doanh nghiệp cần có những chương trình đào tạo kỹ năng bán hàng để có được đội ngũ nhân viên bán hàng chuyên nghiệp. Họ là những người đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng, nếu không có họ thì sản phẩm không thể vận động đến nơi cuối cùng. Hàng hóa sẽ chỉ nằm tại chỗ mà không sử dụng được. Do đó nhân viên bán hàng có vai trò rất quan trọng trong hoạt động bán hàng của doanh nghiệp. 1.3.2.4. Các dịch vụ sau bán hàng. Có thể nói dịch vụ là một trong những yếu tố cạnh tranh mạnh mẽ nhất trong nền kinh tế hiện nay. Khi mức sống của người dân được nâng cao thì bên cạnh những đòi hỏi tất yếu về chất lượng, giá cả, dịch vụ được chú ý hơn cả. Dịch vụ giúp thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, khách hàng cảm thấy yên tâm, tin cậy vào sản phẩm của doanh nghiệp, sẽ quay lại mua sản phẩm của doanh nghiệp nhiều hơn như vậy hoạt động bán hàng sẽ được đấy nhanh hơn. Hiện nay dịch vụ sau bán hàng đang được các doanh nghiệp coi trọng và được coi là “chiêu” cạnh trạnh hiệu quả hơn thay cho khuyến mại và giảm giá. Với những sản phẩm bắt buộc phải có dịch vụ sau bán hàng đi kèm như: điện tử, xe máy, điện lạnh... thì thành công trong bán hàng phụ thuộc rất nhiều vào dịch vụ này. Vì vậy, xây dựng một hệ thống dịch vụ sau bán hàng rộng khắp, hoạt động có hiệu quả là việc làm rất quan trọng. Đây không chỉ là chuyện riêng của ngành điện tử mà là vấn đề của tất cả các hàng hóa trên thị trường. Các dịch vụ sau bán hàng góp phần tăng thêm lượng khách hàng quay trở lại doanh nghiệp và những khách hàng nhìn thấy được cái mà họ được hưởng khi mua hàng tại doanh nghiệp. Các dịch vụ sau bán như bảo hành, bảo trì, bảo dưỡng cần được phát huy, để hỗ trợ cho hoạt động bán hàng của doanh nghiệp. 1.4. Đặc điểm bán hàng theo hình thức TMĐT. Thương mại điện tử ( TMĐT) tiếng anh là Electronic Commerce “ là giao dịch nhằm mục đích thương mại, được thực hiện bằng phương pháp điện tử trên mạng truy cập toàn cầu( Internet)’’ .Bán hàng theo hình thức này có những đặc điểm riêng biệt so với bán hàng truyền thống. Bán hàng theo hình thức TMĐT doanh nghiệp phải thông thạo các phần mềm máy tính, hoạt động của website. Doanh nghiệp chủ yếu dựa vào hoạt động của website chứ không phải của những cửa hàng trực tiếp này sản phẩm. Có hệ thống các điều kiện về công nghệ viễn thông và công nghệ thông tin, hệ thống máy tính với tốc độ truyền dẫn cao cùng với các dịch vụ đi kèm phát triển. Doanh nghiệp tiến hành xây dựng cửa hàng ảo của mình bằng hệ thống website có trang bị phần mềm để bán hàng như cơ sở dữ liệu về hàng hóa, trình duyệt, công cụ tìm kiếm từ khóa để người mua có thể xem toàn bộ cửa hàng và hàng hóa chứa trong đó. Cửa hàng này được nối với mạng nội bộ cho phép tiếp nhận các đơn hàng của khách hàng. Do vậy để mua được hàng mà không mất công đi lại, khách hàng tìm trên trang web của doanh nghiệp, xem thông tin về giá cả, hàng hóa, tình trạng hàng hóa rồi lựa chọn sản phẩm phù hợp với mình, muốn mua được hàng họ chỉ cần kích chuột vào vị trí đặt hàng. Sau đó điền đầy đủ thông tin cá nhân của mình. Chỉ sau vài dây là thông tin yêu cầu mua hàng của khách hàng sẽ được gửi tới doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp sau khi nhận được đơn hàng sẽ kiểm tra mình có hàng không? Rồi gọi điện lại cho khách hàng, nếu có hàng cho khách thì tiến hành giao hàng và khách hàng sẽ thanh toán điện tử cho doanh nghiệp. Hình thức thanh toán bằng điện tử đó là thanh toán bằng điện tử thay cho thanh toán bằng tiền mặt. Thanh toán bằng điện tử ở đây thanh toán thông qua thẻ ngân hàng theo hình thức chuyển khỏan. Việc thực hiện các giao dịch, trao đổi thông tin dữ liệu thông qua máy tính, từ máy tính này đến máy tính khác, giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác một cách tự động không cần có sự can thiệp của con người như đặt hàng, gửi hàng, thanh toán. Hình thức truyền tin qua mail điện tử, các doanh nghiệp hoạt động bán hàng, báo giá thông qua việc gửi mail cho nhau, trao đổi thông tin qua mail là chủ yếu. TMĐT giúp cho hoạt động kinh doanh hay bán hàng của doanh nghiệp được thực hiện một cách nhanh nhất. Thông qua mạng đường truyền dữ liệu khách hàng có được đầy đủ thông tin về sản phẩm cách mua hàng theo hình thức nay. Không chỉ vậy khách hàng có thể thấy được doanh nghiệp hoạt động như nào mà không mất thời gian đến tận nơi. Bán hàng theo hình thức TMĐT là hình thức mới xuất hiện ở Việt Nam , nhưng nó đã tìm được chỗ đứng cho mình. Thời đại công nghệ thông tin đang phát triển hình thức bán hàng theo hình thức này đang dần phổ biến. Công ty Cổ Phần Đầu Tư Phát Triển Công Nghệ Thời Đại Mới kinh doanh theo hình thức này được hơn 3 năm. Công ty kinh doanh các mặt hàng điện tử, máy văn phòng, và một số sản phẩm khác. Đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp là siêu thị máy văn phòng, Hoàng Hải. Các doanh nghiệp đều kinh doanh theo hình thức này bán hàng trực tuyến, online. Kinh doanh theo hình thức trực tuyến đòi hỏi có đội ngũ kinh doanh năng động, hiểu biết về công nghệ thông tin, sử dụng thành thạo máy tính, phần mềm. Chính vì vậy bán hàng trực tuyến chủ yếu là bán hàng thông qua họat động của hệ thống máy tính có tốc độ đường truyền cao. Nhưng hiện nay ở Việt Nam đây chưa phải là kinh doanh trực tuyến thực sự mà vẫn có một phần của truyền thống. Bởi việc giao hàng vẫn do đội ngũ kỹ thuật đảm nhiệm, thanh toán vẫn thanh tóan bằng tiền mặt. Do đo ngoài đặc điểm kinh doanh trực tuyến vẫn có những đặc điểm của kinh doanh truyền thống. Khách hàng của hình thức này phần lớn là những người hiểu và tin vào họat động của nó. Tuy nhiên có một bộ phận khách hàng vẫn có thói quen mua hàng trực tiếp để an tâm về số tiền họ bỏ ra. Các doanh nghiệp cần biết và khai thác tạo niềm tin cho khách hàng để đưa TMĐT đi sâu vào trong tiêu dùng mà không có trở ngại gì. CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THỜI ĐẠI MỚI 2.1. Tổng quan về công ty cổ phần đầu tư phát triển công nghệ thời đại mới. 2.1.1. Lịch sử hình thành của công ty cổ phần đầu tư phát triển công nghệ thời đại mới. Tên tiếng việt: Công ty CP Đầu tư Phát triển Công Nghệ Thời Đại Mới (Cty CP Thời Đại Mới) Tên tiếng anh: Newage Technology Development Inverment J.S.C (New J.S.C) Đại diện: Ông Đỗ Duy Đức – Giám Đốc. Trụ sở chính tại: 3 Ngõ 35 Cát linh Đống Đa – Hà nội Tel: 04.2750550/04.2750551. Fax: 04.7366570 Website: www.megabuy.vn Vốn điều lệ: 2.000.000.000 VND Kho hàng: 551 Nguyễn Văn Cừ, Gia Lâm, Hà nội Chi nhánh tại TP HCM: 5A Phan Chu Trinh – P Tân Phú – Q Tân Bình Khi bắt đầu kinh doanh mới chỉ là phòng kinh doanh nhỏ của công ty TNHH xây dựng thương mại H & B từ năm 2001. Sau đó tách thành Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Phát Triển Công Nghệ Thời Đại Mới, với 3 sáng lập viên hội đồng cổ đồng do ông Đỗ Duy Đức là chủ tịch hội đồng quản trị. Ban đầu phòng kinh doanh có chức năng kinh doanh thông thường, bán hàng trực tiếp cho khách hàng. Từ năm 2004 căn cứ vào giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103011136 của Sở kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội ngày 9/3/2004 phòng kinh doanh chính thức trở thành Công Ty Đầu Tư Phát Triển Công Nghệ Thời Đại Mới. Hiện nay công ty trở thành đơn vị kinh doanh hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ thông tin theo hình thức B2C. Công ty có bề dày kinh nghiệm trong nhiều năm liên tục phát triển, lớn mạnh, đạt được nhiều thành quả khích lệ trên con đường kinh doanh của mình. Là đơn vị dẫn đầu, Thời Đại Mới đã mở rộng quan hệ bạn hàng với nhiều đối tác trong và ngoài nước.Thiết lập hệ thông mạng lưới bán hàng quy mô rộng khắp cả nước, danh mục hàng hoá phong phú, xây dựng bộ máy điều hành quản lý chuyên nghiệp, biết phân phối hiệu quả. Mọi thành viên trong công ty luôn nỗ lực cùng với sự phát triển công ty, cũng như định hướng mục tiêu kinh doanh. Tham gia đấu thầu các dự án CNTT trong nước và quốc tế, nhập khẩu và phân phối các sản phẩm CNTT của các hãng nổi tiếng , uy tín trên thế giới, xây dựng các điểm bán buôn ,bán lẻ lớn để phục vụ tại chỗ cho tổ chức và người tiêu dùng. Thời Đại Mới tạo ra một bước đột phá trong việc áp dụng TMĐT vào công việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ trực tuyến tới khách hàng từ năm 2004. Khi siêu thị điện tử Megabuy (www Megabuy.com.vn) ra đời. Trên cơ sở nhận được sự hỗ trợ hợp tác của các nhà sản xuất, phân phối sản phẩm đi đầu tại Việt Nam, Megabuy mang đến cho khách hàng, hàng chục nghìn mặt hàng sản phẩm của nhiều nhóm ngành hàng. Từ đó khách hàng có nhiều sự lựa chọn phong phú các sản phẩm thuộc nhóm ngành hàng như: THIẾT BỊ TIN HỌC, THIẾT BỊ  VĂN PHÒNG, MÁY VĂN PHÒNG, NỘI THẤT VĂN PHÒNG, VĂN PHÒNG PHẨM, VẬT TƯ IN, THIẾT BỊ AN NINH, TB SIÊU THỊ…ĐI KÈM VỚI DỊCH VỤ TƯ VẤN, GIẢI ĐÁP MIỄN PHÍ, GIẢI PHÁP TỔNG THỂ, DỊCH VỤ TRỌN GÓI VỀ LẮP ĐẶT, CÀI ĐẶT, HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG, BẢO HÀNH BẢO TRÌ TOÀN BỘ TẠI CHỖ… Bên cạnh những thành công trong việc phân phối lại cho các công ty bạn hàng cũng như bán lẻ các sản phẩm CNTT cho người tiêu dùng. Công ty Thời Đại Mới còn tham gia rất nhiều các dự án đấu thầu trong nước của các cơ quan, các bộ, ngành, các tổ chức Chính Phủ, Phi Chính Phủ, Viện Nghiên cứu, Ngân hàng, các dự án đấu thầu quốc tế như: Các Dự án mà Công ty đã trúng thầu và triển khai đều đúng tiến độ cũng như các yêu cầu về công nghệ và được chủ đầu tư đánh giá rất cao. Đội ngũ CBCNV hiện nay của Công ty 70 người, trong đó hơn 92% là hiểu biết CNTT, trên 90 % có trình độ đai học và sau đại học, là cử nhân các ngành tài chính, kinh tế, điện tử viễn thông, maketing… Cùng với sự phát triển của Công ty và sự quan tâm sâu sát của Lãnh đạo Công ty, các CBCNV luôn được tạo mọi điều kiện tốt nhất về môi trường làm việc, các chế độ đãi ngộ xứng đáng với năng lực. Những điều này giúp các CBCNV có thể yên tâm công tác và cống hiến cho Công ty, cũng như thu hút được ngày càng nhiều nguồn nhân lực có chất lượng cao về làm việc lâu dài tại Công ty. 2.1.2. Cơ cấu tổ chức của công ty. a) Cơ cấu tổ chức của công ty HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ PHÒNG KINH DOANH PHÒNG HÀNH CHÍNH NHÂN SỰ BAN ĐIỀU PHỐI NHẬP LIỆU trưởng phòng HCNS trưởng phòng kỹ thuật tổ trưởng tổ nội thất điều phối viên kế toán thu chi kiêm thủ quỹ kế toán trưởng Kế toán tổng hợo trưởng phòng kinh doanh Nhân sự hành chính Kế toán thủ kho kiêm thủ kho Kế toán công nợ Nhân viên KD cộng tác viên Cộng tác viên PHÒNG KỸ THUẬT PHÒNG KẾ TOÁN TỔNG GIÁM ĐỐC ĐỖ DUY ĐỨC PHÓ GIÁM ĐỐC ĐỖ THANH SƠN Kỹ thuật viên b) Nhiệm vụ, chức năng của các phòng ban trong công ty. * Phòng kỹ thuật Là một công ty hàng đầu về CNTT, phòng kỹ thuật đóng vai trò quan trọng tạo ra sự tin tưởng, uy tín cho công ty. Chính vì vậy đòi hỏi các quy định đặt ra cho kỹ thuật phải chặt chẽ, gắn bó với các phòng ban chức năng . Phòng kỹ thuật có nhiệm vụ bảo hành, sữa chữa cho khách hàng đối với những sản phẩm mua tại công ty. Đảm bảo hoạt động thường xuyên liên tục, an toàn cho các thiết bị của công ty. Đảm bảo cho mạng lưới của công ty hoạt động tốt trong giờ làm việc. Bảo vệ cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty. Đội ngũ kỹ thuật trẻ tuổi thực hiện việc giao nhận hàng đúng lúc. Tham gia công tác vận chuyển giao hàng cho khách, đưa hàng tận nơi cho khách hàng. Thực hiện đầy đủ quy định của công ty. Đến đúng giờ, ra vào công ty phải báo cáo cho cấp trên được biết. Nhờ vậy mà công ty luôn thu hút đuợc nhiều khách hang, một phần từ dịch vụ bảo hành của công ty . * Phòng điều phối nhập liệu Megabuy - công ty phân phối sản phẩm từ nhà cung cấp đến khách hàng, việc phân phối phải chính xác, đầy đủ kịp thời của ban điều phối, góp phần tạo sự phát triển bền vững cho công ty. Ban điều phối có chức năng phân phối nhập liệu, sản phẩm vào các mặt hàng, ngành hàng hợp lý, điều phối toàn bộ sản phẩm của công ty . Nhiệm vụ của ban điều phối: - Theo dõi dòng sản phẩm của công ty trên trang chủ của mình, đưa ra các mặt hàng mà thị trường đang cần, bổ sung các mặt hàng còn thiếu lên trang web megabuy. - Tìm kiếm các thông tin, các đặc tính của sản phẩm cập nhật lên trang của công ty tạo ra một siêu thị phong phú về các sản phẩm. - Tạo ra các chỉ tiêu đánh giá sản phẩm của công ty. - Theo dõi, nắm vững dòng lưu chuyển hàng hoá, điều phối sản phẩm trên trang, điều phối giá cả, màu sắc hình dáng của sản phẩm. * Phòng kinh doanh Chịu trách nhiệm đảm nhiệm phụ trách kinh doanh của một hoặc nhiều ngành hàng khác nhau. - Chịu trách nhiệm chấp hành xử lý các công việc của nhóm do Trưởng nhóm hoặc Ban Giám Đốc giao cho. Trong trường hợp nhóm ngành hàng chưa có CTV đảm trách hoặc không đủ nhân lực tham gia việc cập nhập, duy thì gian hàng và CTV tư vấn bán hàng làm nhiệm vụ cập nhập các sản phẩm lên trang webtheo đúng lịch, đảm bảo tiến độ cập nhập và thông tin về sản phẩm, khuyến mại do điều phối viên và trưởng nhóm kinh doanh cung cấp. - Chịu trách nhiệm xử lý các đơn đặt hàng của ngành hàng mà mình phụ trách trên website Megabuy hoặc theo yêu cầu của khách hàng điện thoại trực tiếp hoặc do trưởng nhóm kinh doanh hoặc Ban Giám Đốc giao cho (Nội dung cụ thể như sau: Báo giá, làm đơn đặt hàng, hợp đồng kinh tế, biên bản bàn giao, hồ sơ tđấu thầu, chào hàng cạnh tranh..) - Chịu trách nhiệm chăm sóc những khách hàng mà mình phụ trách - Chịu trách nhiệm cao nhất để duy trì, cập nhập đúng thời hạn & bảo đảm những thông tin sản phẩm, giá cả sản phẩm chính xác của những ngành hàng mà mình phụ trách trên website megabuy theo sự điều phối của trưởng nhóm kinh doanh hoặc ban điều phối hoặc tình hình thị trường thực tế - Nhân viên kinh doanh chịu trách nhiệm tham gia tất cả training về kỹ năng bán hàng, kiến thức sản phẩm và công nghệ do trưởng nhóm kinh doanh hoặc nhà cung cấp tổ chức. - Chịu trách nhiệm tuân thủ các quy định, quy chế và các chế tài của công ty (nội dung tóm tắt như sau: gửi báo cáo những công việc đã thực hiện trong tuần, giờ làm việc, giờ nghỉ, ngày nghỉ quy định, xin nghỉ, nghỉ phép, nội quy kỉ luật công ty, thực hiện các công việc chỉ đạo của Ban Giám Đốc, bảo mật những thông tin nội bộ của công ty, giữ gìn đảm bảo những tài sản mà Ban Giám Đốc trang bị cho, báo cáo công việc định kì theo quy định chung của công ty) * Phòng kế toán. - Chức năng: + Tham mưu cho Ban Giám Đốc về chiến lược, kế hoạch phát triển kinh doanh, tổ chức quản lý tài chính, kế toán ngân quỹ. + Trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ kế toán, ngân quỹ như: hạch toán kế toán, chế độ báo cáo thống kê, thanh toán ngân quỹ để quản lý và kiểm soát nguồn vốn và sử dụng vốn, quản lý tài sản, vật tư, thu nhập chi phí và xác định kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. - Nhiệm vụ: + Trực tiếp hoạch toán, hạch toán thống kê và thanh toán theo quy định của ngân hàng nhà nước + Xây dựng chỉ tiêu kế hoạch tài chính, quyết toán kế hoạch thu chi tài chính, quỹ tiền lương trình Giám Đốc phê duyệt. + Quản lý và sử dụng các quỹ chuyên dùng theo quy định + Thực hiện nghiệp vụ thanh toán trong và ngoài nước + Chấp hành quy định về an toàn kho quỹ và định mức tồn kho theo quy định + Chấp hành chế độ báo cáo và kiểm tra, thường xuyên kiểm tra tỷ giá hối đoái thông báo cho mọi người thu nhận chứng từ, và sổ sách các số liệu có liên quan + Thực hiện nhiêm vụ khác do Giám Đốc giao cho * Phòng hành chính nhân sự - Chức năng: + Tham mưu cho Giám Đốc về chiến lược, kế hoạch phát triển kinh doanh, chiến lược phát triển nguồn nhân lực, lao động tiền lương, thi đua khen thưởng quy hoạch bổ nhiệm + Trực tiếp triển khai tác nghiệp các nghiệp vụ về tổ chức cán bộ lao động, tiền lương, thi đua khen thưởng - Nhiệm vụ: + Dự thảo các văn bản quản lý và đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện về lao động, tài sản, phòng cháy chữa cháy, đảm bảo an ninh trật tự, nội quy công ty. + Tư vấn pháp luật trong việc kí kết hợp đồng, tham gia tố tụng để giải quyết các vấn đề có liên quan đến con người, tài sản của công ty theo uỷ quyền của Giám Đốc. + Tổ chức các cuộc họp, tiếp khách đến làm việc với Giám Đốc. + Thừa lệnh Giám Đốc cấp giấy công tác, giấy nghỉ phép, giấy giới thiệu cho các cán bộ nhân viên trong công ty sau khi có ý kiến phê duyệt của Ban Giám Đốc. + Lưu trữ các văn bản theo quy định của pháp luật. + Thực hiện nhiệm vụ văn thư, tiêp nhận luân chuyển công văn, ấn phẩm đi, đến đúng địa chỉ, in ấn tài liệu phục vụ cho hoạt động của công ty + Thực hiện công tác thông tin tuyên truyền, quảng cáo tiếp thị + Xây dựng chiến ꨐược kế hoạch ngắn hạn, dài hạn và nội dung đào tạo tuyển dụng nguồn nhân lực của công ty + Đề xuất bố trí sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn nhân lực của công ty. + Đề xuất các biện pháp quản lý, khuyến khích lao động như định mức lao động, khoán quỹ tiền lương + Trực tiếp giải quyết các thủ tục có liên quan đến chế độ người lao động của công ty, kể cả chế độ nghỉ theo quy định của nhà nước + Thực hiện công tác quy hoạch và đào tạo, đề xuất, cử nhân viên đi công tác học tập trong và ngoài nước. + Trong phạm vi phân cấp, uỷ quyền của Giám Đốc, quản lý lưu trữ hồ sơ cán bộ, hồ sơ bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật người lao động theo đúng quy định. + Thực hiện các nhiệm vụ khác của ban Giám Đốc 2.1.3 Tình hình kinh doanh của công ty Công ty cổ phần đầu tư phát triển công nghệ thời đại mới kinh doanh theo hình thức góp vốn kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại. Tài sản của công ty bao gồm hệ thống máy tính hoạt động phục vụ cho hoạt động của nhân viên kinh doanh. Hệ thống điện thoại và các khoản tiền mặt tại ngân hàng. Hàng năm tài sản của công ty tăng khoảng 6 triệu, trong đó tăng chủ yếu là các phương tiện truyền dẫn phục vụ cho hoạt động của công ty. Mỗi năm công ty huy động được nguồn vốn vừa đủ để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh diễn ra bình thường và phát triển bền vững. Được thể hiện thông qua bảng báo cáo kinh doanh của công ty như sau: Bảng 1. Bảng cân đối kế toán đầu năm 2006 Đơn vị: VND TÀI SẢN Số tiền NGUỒN VỐN Số tiền A.Tài sản ngắn hạn 1.625.792.359 A. Nợ phải trả 648.751.873 I. Tiền và các khoản tương đương tiền 986.179.553 I. Nợ ngắn hạn 648.751.873 II. Các khoản phải thu ngắn hạn 391.940.630 1. Phải trả người bán 584.347.108 1. Phải thu khách hàng 391.940.630 2. Thuế và các khoản phải nộp nhà nước 126.547 III. Hàng tồn kho 247.360.905 3. Các khoản phải trả ngắn hạn khác 64.278.218 IV. Tài sản ngắn hạn khác 311.271 B. Vốn Chủ sở hữu 1.095.163.033 Thuế và các khoản phải thu nhà nước 311.271 1. Vốn đầu tư của chủ sở hữu 1.080.000.000 B. Tài sản dài hạn 118.122.547 2.Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối 15.163.033 I.Tài sản cố định 118.122.547 1.Nguyên giá 119.916.198 2. Giá trị hao mòn luỹ kế (1.793.651) Tổng cộng tài sản 1.743.914.906 Tổng nguồn vốn 1.743.914.906 Qua bảng số liệu có thể thấy công ty chủ yếu sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu để kinh doanh. Đây là năm công ty bắt đầu đi vào hoạt động với quy mô lớn và bước đầu xây dựng cho mình uy tín trên thị trường. 2.2. Thực trạng hoạt động bán hàng của công ty cổ phần đầu tư phát triển công nghệ thời đại mới. 2.2.1. Tình hình nghiên cứu thị trường của công ty. Megabuy là công ty hoạt động kinh doanh theo hình thức TMĐT việc nghiên cứu thị trường đặt lên hàng đầu. Công ty đã giao việc nghiên cứu thị trường này cho các nhân viên kinh doanh ngành hàng đó thực hiện và trực tiếp bán hàng cho khách. Nguyên nhân là do họ nghiên cứu, họ sẽ chủ động trong kinh doanh. Hình thức TMĐT đòi hỏi có sự chủ động trong việc tìm thị trường, đối tác và các sản phẩm cũng như đầu ra cho nó. Công ty cổ phần đầu tư phát triển công nghệ thời đại mới đã rất thành công trong hoạt động này. Ban đầu tiến hành điều tra nghiên cứu nhu cầu của khách hàng thông qua mạng Internet và thực tế. Xét xem khách hàng đang cần gì, và đang trong mùa vụ gì. Có những sản phẩm lâu dài, có những sản phẩm mang tính chất thời vụ.Do đó việc điều tra nghiên cứu thị trường là rất quan trọng. Tiếp theo các nhân viên tiến hành điều tra đối thủ cạnh tranh, giá của đối thủ và giá trên thị trường, sau đó đưa ra chính sách giá cho ngành hàng của mình. Thông qua việc điều tra nghiên cứu thị trường, hiện nay công ty đưa ra thị trường các sản phẩm về điều hòa nhiệt độ, máy hút ẩm, máy phát điện, làm phong phú thêm siêu thị của mình. 2.2.2. Hoạt động tạo nguồn hàng của công ty. Công tác tạo nguồn hàng là một công việc quan trọng tạo nên sự thành công cho Megabuy. Nó tạo ra nguồn hàng để công ty mua được trong kỳ kế hoạch, đảm bảo cung ứng đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, đúng chất lượng, đúng kỹ thuật theo nhu cầu của khách hàng. Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, công tác tạo nguồn hàng đòi hỏi có sự nhạy bén, linh hoạt, nhanh và chính xác mới có thể cạnh tranh và tồn tại được. Hoạt động kinh doanh của Megabuy có thành công hay không là nhờ vào các nguồn hàng có sẵn hay không, giá của nguồn hàng có tốt không để đưa ra giá cạnh tranh cho khách hàng…Kinh doanh theo hình thức này chủ yếu qua mạng Internet, hàng hóa không có sẵn tại công ty mà nằm tại kho của các nhà cung cấp. Vì thế để đảm bảo cho việc cung cấp ngay hàng hóa cho khách hàng là điều quan trọng. Có được nguồn hàng phong phú và giá cả hợp lý tạo điều kiện cho hoạt động bán hàng của công ty phát triển. Hiện nay Công ty cổ phần đầu tư phát triển công nghệ thời đại mới đã tìm cho mình những nhà cung cấp tin vậy nhất. Các mặt hàng điện tử nhà cung cấp Hoàng Hải, văn phòng phẩm có H$B, các loại máy thiết bị văn phòng có Ben, Công ty TNHH Tân Long, và liên kết với một số nhà cung cấp hàng đầu Việt Nam. Các hoạt động tạo nguồn hàng của công ty cổ phần đầu tư phát triển công nghệ thời đại mới: - Nghiên cứu nhu cầu mặt hàng: Tùy từng ngành hàng mà công ty tiến hành nghiên cứu nhu cầu khác nhau. Có những ngành hàng theo thời vụ công ty cũng xác định được nhu cầu của nó. Nghiên cứu nhu cầu khách hàng về số lượng, giá cả hàng hóa, nhu cầu, trào lưu và các cơn sốt trên thị trường, dịch vụ khách hàng có kỳ vọng. Chỉ có như vậy mới có thể có được nguồn hàng chính xác theo yêu cầu khách hàng, sẽ không có hiện tượng hàng hóa ứ đọng, chậm tiêu thụ, không bán được vì giá quá cao. Nhất là các mặt hàng mà có giá thường xuyên thay đổi về giá nhập cần được theo dõi chặt chẽ hơn như: các mặt hàng về giấy, văn phòng phẩm. Mỗi tháng công ty tiến hành xin báo giá mới để điều chỉnh giá của mình cho hợp lý hơn. - Nghiên cứa thị trường nguồn hàng: Đó là việc xem xét trên thị trường có nhiều nhà cung cấp mặt hàng này không về: số lượng, chất lượng, giá cả từ đó đưa ra các kế hoạch bán hàng cho mặt hàng của mình. Đồng thời nắm bắt được khả năng cung ứng sản phẩm của các nhà cung cấp có chính xác và tốt nhất chưa. Có như vậy hoạt động bán hàng mới có thể được thực hiện liên tục. Hiện nay tại công ty thì ngành hàng đảm bảo đầu vào tốt nhất vẫn là máy văn phòng và máy hút ẩm. Giúp cho nhân viên ngành hàng này gặt hái được nhiều thành công trong kinh doanh. - Thiết lập các mối quan hệ kinh tế thương mại bằng hợp đồng mua bán hàng hóa có xác nhận của các bên. - Kiểm tra hàng hóa trong kho còn cho khách hàng hay không, tồn kho hàng hóa trong kho, để đưa ra kế hoạch nhập hàng cho hoạt động bán hàng của kinh doanh - Tiến hành các hoạt động nhập kho hàng hóa cho công ty. 2.2.3. Tổ chức mạng lưới kênh phân phối bán hàng cho sản phẩm của công ty. Công ty cổ phần đầu tư phát triển công nghệ thời đại mới kinh doanh theo hình thức trực tuyến nên việc bán hàng phụ thuộc vào hệ thống mạng Internet. Trong công ty hình thành mạng lưới kinh doanh bán hàng nhằm tạo ra nhóm khách hàng và nguồn thông tin trực tiếp làm tăng chất lượng sản phẩm dịch vụ, làm giảm sự mệt mỏi của khách hàng và tăng khả năng cạnh tranh. Nếu công ty tổ chức tốt mạng lưới này và hình thức bàn hàng, phân phối hàng hóa hợp lý sẽ khuyến khích người tiêu dùng mua hàng giúp cho công ty mở rộng thị trường, đẩy nhanh tốc độ bán hàng, tăng lợi nhuận đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hiện nay công ty chủ yếu bán trực tiếp đến tay người tiêu dùng, không qua các đại lý bán lẻ, cửa hàng. Vì vậy công ty cũng là đại lý cho các nhà cung cấp khác hoạt động theo hình thức TMĐT. Chính vì vậy hệ thống kênh phân phối của công ty ngắn, không qua trung gian. Hiện nay việc mở đại lý của công ty gặp nhiều vấn đề về giá, nên công ty chỉ bán trực tiếp. Việc giao hàng tận nơi cho khách được thực hiện bằng đội ngũ kỹ thuật trẻ, trình độ cao. Khách hàng ở xa công ty sẽ chuyển hàng qua bưu điện, được hướng dẫn cài đặt qua mail, điện thoại. 2.2.4. Hoạt động Marketing, quảng cáo, xúc tiến thương mại. Hoạt động Marketing, quảng cáo xúc tiến của công ty chủ yếu được thực hiện thông qua mạng Internet, qua trang web của công ty. Tất cả hoạt động khuyến mại, quảng cáo được thực hiện qua mail. Dưới các hình thức như: - Brochure, tờ rơi, poster, có thể gửi trực tiếp, fax, gửi qua đường bưu điện tới khách hàng mục tiêu. - Thực hiện in ấn các tờ rơi quảng cáo, catalog sản phẩm. - Công cụ đặc biệt và hữu hiệu nhất là thông qua trang web của công ty để đưa ra, hướng dẫn cách đặt hàng, thanh toán. Công ty có nhân viên chuyên thực hiện lắp ghép các banner quảng cáo cho các gian hàng, các sản phẩm đưa lên trang web mang tính chuyên nghiệp cao. Nhằm mục tiêu quảng cáo thu hút lượng khách hàng mục tiêu như báo điện tử, trao đổi banner, logo. - Công ty đã đăng ký tên công ty mình trên trên google, Yahoo tên vì đây là những công cụ search nhanh, hiệu quả nhất, vào đó họ có thể thấy được sản phẩm mà họ đang cần và mức độ khách hàng tham gia truy cập vào trang web đó. - Thực hiện quảng cáo qua mạng di động, thực hiện các hoạt động khuyến mại đặc biệt nhân dịp đầu năm, thường xuyên có phần quà hấp dẫn thu hút khách hàng. Các hình thức khuyến mại có thể như tặng đồ bát tràng, tặng thẻ cào điện thoại và các hình thức miễn phí khác. Các hoạt động này giúp cho công ty bán được nhiều hàng hóa hơn. Cùng kinh doanh theo hình thức này nhưng chỉ có Megabuy có được các chính sách quảng cáo độc đáo thu hút được khách hàng. Lượng khách hàng vào thăm website ngày càng nhiều. Có thể nói www.megabuy.vn là siêu thị quan trọng giúp cho công ty bán được nhiều hàng nhất. 2.2.5. Các hoạt động dịch vụ của công ty. Trong điều kiện hiện nay dịch vụ là yếu tố quan trọng giúp cho công ty bán được nhanh và nhiều hàng, tăng doanh thu và tạo điều kiện thuận đáp ứng nhu cầu khách hàng. Công ty cần chú trọng các vấn đề dịch vụ như: - Các yếu tố dịch vụ mà khách hàng đòi hỏi và khă năng của công ty đáp ứng các loại dịch vụ đó. - Chất lượng dịch vụ của công ty so với đối thủ cạnh tranh như thế nào? - Chi phí cho các dịch vụ Các hình thức để thực hiện dịch vụ có hiệu quả: a) Dịch vụ chăm sóc khách hàng - Dịch vụ trước khi mua, bán hàng hóa: Trước khi thực hiện giao dịch khách hàng, công ty tiến hành các ho._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc10960.doc