Luận án Ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với nhận thức chính trị - Tư tưởng của quân nhân trong giai đoạn hiện nay

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN ------0------ ĐỖ DUY HƯNG ẢNH HƯỞNG CỦA BÁO CHÍ QUÂN ĐỘI ĐỐI VỚI NHẬN THỨC CHÍNH TRỊ - TƯ TƯỞNG CỦA QUÂN NHÂN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ BÁO CHÍ HỌC HÀ NỘI – 2021 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN ------0------ ĐỖ DUY HƯNG ẢNH HƯỞNG CỦA BÁO CHÍ QUÂN ĐỘI ĐỐI VỚI NHẬN THỨC CHÍNH

pdf184 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 14/01/2022 | Lượt xem: 267 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Luận án Ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với nhận thức chính trị - Tư tưởng của quân nhân trong giai đoạn hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TRỊ - TƯ TƯỞNG CỦA QUÂN NHÂN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Ngành: Báo chí học Mã số: 9 32 01 01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ BÁO CHÍ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. TẠ NGỌC TẤN HÀ NỘI – 2021 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Các số liệu nêu trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ ĐỖ DUY HƯNG MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 10 CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ẢNH 37 HƯỞNG CỦA BÁO CHÍ QUÂN ĐỘI ĐỐI VỚI NHẬN THỨC CHÍNH TRỊ - TƯ TƯỞNG CỦA QUÂN NHÂN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1.1 Khái quát về báo chí quân đội; về báo Quân đội nhân dân và 37 kênh truyền hình Quốc phòng Việt Nam 1.2 Lý luận chung về nhận thức chính trị - tư tưởng của quân 47 nhân trong giai đoạn hiện nay 1.3 Những vấn đề lý luận chung về ảnh hưởng của báo chí quân 54 đội đối với nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân Chương 2: NỘI DUNG, HÌNH THỨC ẢNH HƯỞNG 70 CỦA BÁO CHÍ QUÂN ĐỘI ĐỐI VỚI NHẬN THỨC CHÍNH TRỊ - TƯ TƯỞNG CỦA QUÂN NHÂN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 2.1 Nhận thức của cơ quan báo chí quân đội về định hướng nhận 70 thức chính trị - tư tưởng của quân nhân 2.2 Nội dung thông tin định hướng nhận thức chính trị - tư tưởng 75 cho quân nhân 2.3 Hình thức và phương thức chuyển tải thông tin định hướng 90 nhận thức chính trị - tư tưởng cho quân nhân Chương 3: HIỆU QUẢ TIẾP NHẬN THÔNG TIN TỪ 98 BÁO CHÍ QUÂN ĐỘI VỀ NHẬN THỨC CHÍNH TRỊ - TƯ TƯỞNG CỦA QUÂN NHÂN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 3.1 Các yếu tố tác động đến nhận thức chính trị - tư tưởng của 98 quân nhân trong giai đoạn hiện nay 3.2 Nhu cầu, thói quen tiếp nhận thông tin định hướng chính trị - tư 106 tưởng từ báo chíuân q đội của quân nhân 3.3 Đánh giá hiệu quả tiếp nhận thông tin từáo b chí quân đội về 112 nhận thức chínhrị t - tư tưởng của quân nhân trong giai đoạn hiện nay Chương 4: DỰ BÁO TÌNH HÌNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP 124 NÂNG CAO SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA BÁO CHÍ QUÂN ĐỘI ĐỐI VỚI NHẬN THỨC CHÍNH TRỊ - TƯ TƯỞNG CỦA QUÂN NHÂN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 4.1 Dự báo tình hình ảnh hưởng đến nhận thức chính trị - tư 124 tưởng của quân nhân 4.2 Một số giải pháp nâng cao sự ảnh hưởng của báo chí quân 135 đội đối với công tác giáo dục nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân trong giai đoạn hiện nay KẾT LUẬN 150 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 153 TÀI LIỆU THAM KHẢO 154 PHỤ LỤC 165 CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Viết đầy đủ QĐND Quân đội nhân dân QPVN Quốc phòng Việt Nam PT-TH Phát thanh và Truyền hình 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Ngày nay, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa có bước phát triển mới cả về nội dung, tính chất, phạm vi, phương thức hoạt động và đang đặt ra những yêu cầu mới rất cao. Quân đội ta với tư cách là một lực lượng vũ trang, một công cụ đặc biệt của Đảng, của giai cấp công nhân Việt Nam, lực lượng nòng cốt để xây dựng nền quốc phòng toàn dân và tiến hành chiến tranh nhân dân, không những phải nâng cao sức chiến đấu, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược ở các quy mô cường độ khác nhau, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ nền hòa bình cho Tổ quốc, mà còn phải làm tròn trách nhiệm đội quân công tác, tham gia giải quyết các vấn đề của đời sống chính trị - xã hội của đất nước, phòng chống có hiệu quả chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhất là phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Cán bộ sỹ quan quân đội là nhân tố quyết định sức mạnh của quân đội, là lực lượng nòng cốt để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, giữvững hòa bình, ổn định chính trị đất nước. Vì vậy, công tác đào tạo cán bộ quân đội nói chung và vai trò của việc tuyên truyền qua tài liệu, sách, báo, tạp chí luôn có vị trí rất quan trọng và là yêu cầu cấp thiết, khách quan trong thời kỳ hiện nay. Gắn liền với sự trưởng thành, phát triển của Quân đội suốt mấy chục năm qua, báo chí quân đội là một bộ phận hợp thành báo chí cách mạng Việt Nam, góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng trong mỗi thời kỳ. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Tổng cục Chính trị, báo chí quân đội luôn giữ vững định hướng chính trị, tích cực tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và các hoạt độngcủa lực lượng vũ trang nhân dân theo tôn chỉ, mục đích của từng cơ quan báo chí. 2 Cùng với đó, báo chí quân đội còn tuyên truyền về công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước trên các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại trong bối cảnh hội nhập quốc tế; tuyên truyền về công tác xây dựng Đảng, tích cực phát hiện, biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến, v.v. Đồng thời, báo chí quân đội là lực lượng xung kích, nòng cốt, vũ khí sắc bén tuyên truyền, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, bảo vệ trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội và lợi ích chính đáng của nhân dân, góp phần định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về thông tin của bộ đội và nhân dân. Tuy nhiên, theo báo cáo tổng kết của Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị, bên cạnh kết quả đạt được, công tác thông tin tuyên truyền của báo chí quân đội còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Đó là, hình thức thông tin, tuyên truyền chưa thật phong phú, chưa thu hút được nhiều bạn đọc; nội dung tuyên truyền có mặt còn giản đơn, chưa cập nhật và bám sát thực tiễn đời sống của bộ đội và nhân dân. Sự phối hợp giữa các cơ quan báo chí trong quân đội, giữa cơ quan báo chí quân đội với các cơ quan chức năng chỉ đạo, quản lý báo chí chưa thường xuyên, chặt chẽ trong đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch và trước những sự kiện phức tạp, nhạy cảm. Công tác thông tin, tuyên truyền, định hướng dư luận bằng tiếng nước ngoài trên các báo, tạp chí điện tử chưa được quan tâm đúng mức, nội dung, hình thức chưa phong phú, sức thuyết phục chưa cao, chưa đến được với đông đảo bạn đọc trongvà ngoài nước, v.v. Mặt khác, thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tiếp tục tăng cường các hoạt động chống phá cách mạng trên tất cả các lĩnh vực, trong đó chống phá trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa là “mũi đột phá”, xuyên tạc về lý luận, gây hoang mang trong tư tưởng, gây hoài nghi về mục tiêu con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, làm giảm sút lòng tin của các tầng lớp nhân dân Việt Nam vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng 3 thực hiện mục tiêu “phi chính trị hóa” Quân đội và “vô hiệu hóa” lực lượng vũ trang thông qua chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Ngoài ra, mặt trái của nền kinh tế thị trường tác động tiêu cực đến đời sống của bộ đội. Những yếu tố đó có tác động không nhỏ tới nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân, trong đó có các học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở các nhà trường quân đội. Những hạn chế, tác động kể trên cần được tiếp tục nghiên cứu cơ bản, hệ thống, chuyên sâu, làm cơ sở cho việc nhận thức đúng đắn và tổchức thông tin tuyên truyền phòng, chống “tự diễn biến”,tự “ chuyển hóa” một cách hiệu quả ở quân đội và các nhà trường quân đội hiện nay. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài"Ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân trong giai đoạn hiện nay " làm đề tài nghiên cứu của mình theo chuyên ngành báo chí học, nhằm nghiên cứu làm rõ nguyên nhân, điều kiện, hiệu quả tác động của báo chí quân đội tác động đến nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân và để tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng của báo chí quân đội. 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án * Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát thực tế, đánh giá về ảnh hưởng củabáo chí quân đội đối với nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân trong giai đoạn hiện nay qua khảo sát học viên đào tạo cấp phân đội để đề xuất quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả tác động của báo chíuân q đội đối vớiquân nhân ở các nhà trường quân đội nước ta hiện nay, góp phần đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quân đội đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, thực sự là lực lượng nòng cốt chính trị, tư tưởng của quân đội. * Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu xây dựng khung lý thuyết và công cụ để khảo sát ảnh 4 hưởng của báo chí quân đội đến nhận thức chính trị - tư tưởng của các học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở các nhà trường quân đội nước ta hiện nay. - Khảo sát, đánh giá thực trạng và rút ra tính chất, đặc điểm sự tác động củacác nhân tố, điều kiện chi phối chất lượng hiệu quả ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với nhận thức chính trị - tư tưởng của các học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở các nhà trường quân đội nước ta hiện nay. - Dự báo những xu hướng và đề xuất giải pháp nâng cao sự ảnh hưởng của báo chíuân q đội đối với nhận thức chính trị - tư tưởng của các học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở các nhà trường quân đội nước ta hiện nay. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án * Đối tượng nghiên cứu Sự ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân Quân đội nhân dân Việt Nam qua khảo sát học viên đào tạo cấp phân đội. * Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu những yếu tố của báo chí quân đội tác động tới quá trình tiếp nhận và thay đổi nhận thức chính trị - tư tưởng của học viên đào tạo cán bộ cấp phân đội, trình độ đại học các nhà trường quân đội ở nước ta hiện nay. Luận án tập trung nghiên cứu, khảo sát và kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố có liên quan trực tiếp đến báo chí quân đội và học viên đào tạo cán bộ cấp phân đội, trình độ đại học ởnhà trường trong quân đội, đại diện cho 4 khối chuyên môn quân sự trong quân đội là tham mưu, chính trị, hậu cần, kĩ thuật (khảo sát Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Chính trị, Học viện Hậu cần, Học viện Kĩ thuật Quân sự). Về đối tượng quân nhân, tác giả khảo sát học viên đào tạo cán bộ cấp phân đội. Bởi vì, học viên cấp phân đội, sau khi tốt nghiệp trở thành sỹ quan công tác ở các đơn vị trong toàn quân theo chuyên ngành đã học. Với 5 tuổi đời còn trẻ, thời gian phục vụ quân đội còn rất dài và trở thành đội ngũ kế cận thế hệ cán bộ, sỹ quan đi trước, họ sẽ là lớp cán bộ nòng cốt huấn luyện, giáo dục chiến sỹ trong toàn quân. Mặt khác, trong quá trình học tập ở nhà trường, học viên đang định hình về nhận thức chính trị - tư tưởng và là giới trẻ tiếp xúc, tương tác nhiều với phương tiện truyền thông, mạng xã hội. Do đó, tác giả chọn mẫu khảo sát điển hình là học viên cấp phân đội của các trường quân sự Việt Nam hiện nay, vừa có ý nghĩa đại diện bộ phận chiến lược của quân nhân trong điều kiện mới, vừa đáp ứng yêu cầu cấp bách việc nâng cao chất lượng chính trị - tư tưởng trong đào tạo sỹ quan quân đội hiện nay. Về báo chí quân đội, luận án tập trung khảo sát Báo Quân đội nhân dân (báo in và điện tử), Kênh truyền hình Quốc phòng Việt Nam. Đây là những kênh thông tin, dưới sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, trực tiếp là Tổng cục Chính trị, đại diện cho các loại hình báo chí trong Quân đội tác động đến quân nhân trong toàn quân. Luận án khảo sát báo chí quân đội và học viên đào tạo cán bộ cấp phân đội trong thời gian 2 năm, từ đầu năm 2016 đến hếtnăm 2017. 4. Giả thuyết nghiên cứu Báo chí quân đội là một kênh quan trọng trong công tác giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị - tư tưởng cho quân nhân, nhận thức và thực tiễn công tác báo chí đã thể hiện đúng quan điểm đó chưa? Ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho quân nhân trong điều kiện hiện nay ra sao, đâu là thành công và hạn chế, đâu là nguyên nhân của thành công và hạn chế? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả tác động của báo chí quân đội đối với công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho quân nhân? Giải pháp, điều kiện để nâng cao chất lượng ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho quân nhân trong 6 bối cảnh hiện nay là gì? 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án * Cơ sở lý luận Luận án dựa trên hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam về báo chí, về giai cấp và đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng gắn với điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, tác giả cũng căn cứ vào các lý thuyết báo chí hiện đại làm cơ sở lý luận cho đề tài của mình. * Phương pháp nghiên cứu Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích và tổng hợp, hệ thống, lịch sử - lôgíc, tổng kết thực tiễn, phỏng vấn, điều tra xã hội học. Cụ thể như sau: Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tác giả hướng vào thu thập và xử lý những thông tin, cơ sở lý thuyết liên quan đến hệ thống báo chí quân đội và nhận thức chính trị tư tưởng của quân nhân, cụ thể như: Thành tựu lý thuyết đã đạt được liên quan trực tiếp đến chủ đềnghiên cứu; các kết quả nghiên cứu cụ thể đã công bố trên các ấn phẩm; số liệu thốnghủ kê;c trương, chính sách liên quan đến nội dung nghiên cứu; guồnn tài liệu. Phương pháp phân tích và tổng hợp: Trên cơ sở phân tích hệ thống văn bản, báo cáo tổng kết thực tiễn, các tác phẩm báo chí, ý kiến trưng cầu vềsự tác động của báo chí quân đội tới nhận thức tư tưởng của cán bộ, chiến sỹ trong toàn quân, luận án tổng hợp vấn đề, rút ra những kết luận, nhận định về những thành công và hạn chế trong thông tin của báo chí quân đội đối với sự trau dồi phẩm chất đạo đức, giữ vững bản lĩnh chính trị của quân nhân trong giai đoạn xã hội hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh có nhiều biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và các thế lực thù địch tăng cường sự chống phá quyết liệt trên mọi phương diện của cuộc sống. Phương pháp nghiên cứu lịch sử-logic: Trên cơ sở phân tích vấn đề 7 theo lịch sử vận động, dùng để tìm nguồn gốc phát sinh (nguồn gốc xuất xứ, hoàn cảnh nảy sinh), quá trình phát triển và biến hóa (điều kiện, hoàn cảnh, không gian, thời gian. có ảnh hưởng) để phát hiện bản chất và quy luật vận động của sự ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với nhận thức chính trị của quân nhân.. Nghiên cứu lịch sử-logic vấn đề là cơ sở để phát hiện những thành tựu lý thuyết đã có nhằm thừa kế, bổ sung và phát triển các lý thuyết đó, hoặc phát hiện những thiếu sót, không hoàn chỉnh trong các tài liệu đã có từđó tìm thấy chỗ đứng của đề tài nghiên cứu của từng cá nhân. Phương pháp phỏng vấn: Tác giả phỏng vấn lãnh đạo cơ quan báo chí, nhà báo, các chuyên gia trong lĩnh vực báo chí, truyền thông (16 người), đội ngũ chính trị viên tiểu đoàn và học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội (40 người), để phát hiện những nhận định, đánh giá nhận thức chính trị- tư tưởng của đội ngũ thuộc cấp khi tuyên truyền và tiếp nhận thông tin từ báo chí quân đội. Tất cả các tư liệu đều được xử lý theo một chuẩn, một hệ thống để tìm ra được các ý kiến gần nhau hoặc trùng nhau của đa số chuyên gia. Những ý kiến đó là những cơ sở tin cậy để đi đến các kết luận chung, những luận điểm về vấn đề nghiên cứu. Phương pháp điều tra bằng phiếu: tác giả phát phiếu điều tra với số lượng 005 phiếu (mỗi nhà trường 125 phiếu), với đối tượng điều tra là học viên đào tạo cấp phân đội ở 4 học viện, trường sĩ quan quân đội; 150 phiếu với nhà báo nhằm xây dựng thang số có ý nghĩa định lượng cho nghiên cứu. Phương pháp hệ thống: Đó là cơ sở để từ những thống kê số lượng, tần suất và các thang số nghiên cứu tổng hợp đánh giá nội dung, hình thức tin bài viết về giáo dục chính trị - tư tưởng trên báo chí quân đội; mức độ, cách thức tiếp nhận và chuyển hóa nhận thức tư tưởng của quân nhân, qua sự đánh giá những yếu tố trên để rút ra những kiến nghị, giải pháp cho báo chí quân đội trong việc tuyên truyên, vạch rõ, ngăn chặn những thủ đoạn âm mưu chống 8 phá của các thế thù địch và biểu hiện tiêu cực bởi sự tác động của mặttrái kinh tế thị trường, tình hình phức tạp trong và ngoài nước. Đồng thời, tuyên tuyền và khẳng định giá trị khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giáo dục truyền thống của dân tộc, quân đội, đơn vị. Phương pháp tổng kết thực tiễn: Đó là cơ sở để có thể đánh giá chất lượng, hiệu quả quá trình thực hiện các hoạt động trên thực tế của côngtác thông tin, tuyên truyền trên báo chí quân đội, công tác tổ chức, hướng dẫn quân nhân tiếp nhận thông tin trên báo chí quân đội gắn với mục đích nâng cao nhận thức chính trị - tư tưởng. 6. Đóng góp khoa học của luận án Nghiên cứu lý luận về ảnh hưởng của báo chí quân đội đến nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân ở các nhà trường quân đội, có ý nghĩa như một nghiên cứu trường hợp cụ thể trong điều kiện hiện nay. Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu tham khảo về nội dung và phương pháp nghiên cứu làm việc tương tự. Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần phát triển lý luận báo chí truyền thông trong mối quan hệ với công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho quân nhân - một đối tượng đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi mà những diễn biến chính trị kinh tế trên thế giới ngày càng phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ trên đất nước ta. 7. Ý nghĩa của luận án * Về mặt lý luận Phân tích, làm rõ sự ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với nhận thức chính trị - tư tưởng của học viên cácnhà trường quân độiở nước ta hiện nay, góp phần củng cố, khẳng định quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về giai cấp và đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, kiên quyết làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình", 9 "phi chính trị hóa" quân đội của các thế lực thù địch. * Về thực tiễn Kết quả của luận án có thể tham khảo cho các cơ quan có trách nhiệm trong việc hoạch định chính sách nhằm phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quân đội và xã hội. Luận án có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu sự phát triển về lý luận và thực tiễn nghiệp vụ báo chí trong nước nói chung, trong Quân đội nói riêng. 8. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, tổng quan, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương. Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với nhận thức chính trị- tư tưởng của quân nhân trong giai đoạn hiện nay. Chương 2: Nội dung, hình thức ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân trong giai đoạn hiện nay. Chương 3: Hiệu quả tiếp nhận thông tin từ báo chí quân đội về nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân trong giai đoạn hiện nay. Chương 4: Dự báo tình hình và một số giải pháp nâng cao sựảnh hưởng của báo chí quân đội đối với nhận thức chính trị- tư tưởng của quân nhân trong giai đoạn hiện nay. 10 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân là sự định hướng, quán triệt đường lối, chủ trương, chính sách, quan điểm của Đảng, Nhà nước và Quân đội thể hiện trên nội dung tác phẩm báo chí, tác động tới nhận thức, tư tưởng của quân nhân, để họ luôn “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Ngoài sự quán triệt của chỉ huy các cấp, giáo dục - đào tạo ở nhà trường, định hướng chính trị - tư tưởng của báo chí quân đội là một trong những phương thức giáo dục chính trị - tư tưởng hiệu quả đối với quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Do đó, trên cơ sở nghiên cứu tài liệu có liên quan đến đề tài, tác giả tổng hợp thành những vấn đề sau: 1. Công trình nghiên cứu khoa học sự ảnh hưởng, tác động của báo chí đối với nhận thức, tư tưởng của công chúng Trải qua một quá trình cách mạng lâu dài, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân thực hiện những nhiệm vụ to lớn và phức tạp. Phù hợp với tính chất của các nhiệm vụ cách mạng đó, trong những điều kiện lịch sửcụ thể, nội dung và phương thức công tác tư tưởng cũng có sự biến đổi nhất định. Tuy nhiên, nhận thức của Đảng về vai trò, vị trí công tác tư tưởng trong toàn bộ hoạt động của mình là nhất quán. Công tác tư tưởng luôn luôn được coi là một lĩnh vực hoạt động có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong công tác của Đảng. Với khả năng tác động một cách rộng lớn nhanh chóng và mạnh mẽ vào toàn bộ xã hội, hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng có vai trò và ý nghĩa hết sức to lớn trong công tác tư tưởng. Việc giáo dục lý tưởng, giáo dục chính trị, xây dựng lối sống mớin luô gắn liền với việc kế thừa và phát huy những giá trị tích cực trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc. Đấu tranh với những âm mưu, những luận điệu phản tuyên truyền chống Đảng, 11 chống chế độ là một nội dung và mục đích quan trọng của công tác tư. tưởng Bài báo “Vai trò báo chí trong hoạt động chống diễn biến hòa bình về tư tưởng văn hóa” của PGS.TS Tạ Ngọc Tấn – Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền số 5.1995. Chiến lược “diễn biến hòa bình” sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, tuyên truyền và các nsả phẩm vật chất khác tác động vào ý thức con người làm bào mòn những giá trị tinh thần tích cực theo hướng phù hợp với mục tiêu đặt ra của các thế lực thù địch. Sự nguy hại lớn hơn là ở chỗ những tác động đó nhằm vào những người trẻ tuổi, lớp người không được thử thách chiến tranh, chưa rèn luyện thực tiễn, nhạy cảm với “thị hiếu” mới. Tác giả khẳng định việc đấu tranh chống diễn biến hòa bình trên mặt trận tư tưởng - văn hóa là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với công cuộc xây dựng đất nước, vô hiệu hóa ựs tác động có mục đích của kẻ thù vào ý thức con người mới có khả năng giữ vững ổn định chính trị, xã hội. Tác giả đã đưa ra ba phương hướng giải quyết vấn đề này. Thứ nhất, thông tin kịp thời cho xã hội về các sự kiện, hiện tượng có liên quan đến nhậnc, thứ thị hiếu, thẩm mỹ và tình cảm của nhân dân. Thứ hai, báo chí giáo dục để hướng tới hình thành những nền tảng ý thức, tư tưởng, tình cảm vững chắc trong cư dân, cho họ có cơ sở luôn hướng về phía những giá trị tốt đẹp. Thứ ba, vạch trần kịp thời những âm mưu, thủ đoạn chính trị, những luận điệu, hành vi chống phá của các thế lực thù địch.Để thực hiện được những phương hướng trên, việc cần thiết và có ý nghĩa quan trọng là phát triển một hệ thống báo chí mạnh, đa dạng, có khả năng không chỉ đáp ứng kịp ời,th đầy đủ các nhu cầu thông tin phong phú của xã hội mà còn phải dần tạo được một vai trò nhất định trong giao lưu thông tin quốc tế. Bài báo “Khuynh hướng chính trị tư tưởng trong báo chí” của tác giả PGS, TS Tạ Ngọc Tấn, được đăng trên Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền số 8.1996. Bài báo trình bày khuynh hướng chính trị - tư tưởng tồn tại trong báo chí như một hiện tượng khách quan, không thể phủ nhận; được biểu hiện trong từng tác phẩm, trong từng sản phẩm báo chí cụ thể một cách tếnhị. Trong quá trình chủ động hình thành khuynh hướng chính trị - tư tưởng, yếu 12 tố con người là chủ đạo. Do đó việc đào tạo bồi dưỡng, chuẩn bị, lựa chọn, bố trí cán bộ là vấn đề quyết định, rất quan trọng. Đề tài Tác“ động của báo chí đối với việc xây dựng lối sống tích cực của thanh niên sinh viên hiện nay” của PGS. TS Tạ Ngọc Tấn (Học viện Báo chí và Tuyên truyền, năm 1998), làm rõ những biểu hiện, chiều hướng vận động của lối sống thanh niên sinh viên hiện nay, xác định được vai trò ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau trong đời sống xã hội, đặc biệt là ảnh hưởng của báo chí đối với những diễn biến phức tạp trong lối sống của thanh niên sinh viên; xác định những cơ sở khoa học, thực tiễn và dựa vào đó để hình thành những giải pháp đồng bộ nhằm huy động, kiểm soát và sử dụng hiệu quả toàn bộ hệ thống báo chí vào việc giáo dục, hình thành lối sống tíchcực cho thanh niên sinh viên hiện nay. Cuốn Mác“ -Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh bàn về báo chí xuất bản” (năm 2004) cung cấp cho bạn đọc tài liệu nghiên cứu, học tập tư tưởng của Mác- Ăngghen, Lênin và Hồ Chí Minh về báo chí, xuất bản. Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia phối hợp cùng Vụ Báo chí, Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương tổ chức nghiên cứu, tuyển chọn và xuất bản cuốn sách Mác-Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh bàn về báo chí, xuất bản, do PGS.TS. Vũ Duy Thông chủ biên. C.Mác-Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh là những lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản đã bắt đầu cuộc đời hoạt động của mình bằng tiếng nói đấu tranh của báo chí. Bằng những bài báo, tác phẩm của mình, các nhà cách mạng vô sản đã tiến hành luận chiến bảo vệ lợi ích của quảng đại quầnchúng nhân dân lao động, bác bỏ và đánh bại các luận điệu của thế lực thù địch. Báo chí cách mạng thực sự là vũ khí chiến đấu của giai cấp công nhân, là cơquan tuyên truyền, tham gia vào việc tổ chức và phát triển xã hội bằng hoạt động ngôn luận của mình, với mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân lao động, vì sự tiến bộ và giải phóng con người. Cuốn sách “Hồ Chí Minh về báo chí” do tác giả Tạ Ngọc Tấn tuyển chọn và giới thiệu các bài nói, bàiviết về vấn đề báo chí của Chủ tịch Hồ Chí 13 Minh trong suốt cuộc đời hoạt động của Người. Cuốn sách không chỉ có ích đối với nhà báo, các cán bộ lãnh đạo, quản lý báo chí, mà còn giúp cho bạn đọc có thêm tư liệu học tập và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ ChíMinh về báo chí trong giai đoạn mới. (Nxb Chính trị quốc gia, 2004) Cuốn sáchNhững “ vấn đề của báo chí hiện đại” của tác giả Hoàng Đình Cúc, Phạm Dũng (Nxb Lý luận chính trị, năm 2007). Cuốn sách tập hợp các bài nghiên cứu của hai tác giả, đề cập đến 19 vấn đề đang được đặt ra trong các mặt hoạt động của báo chí ở nước ta từ lý luận đến thực tiễn và công tác giảng dạy, nghiên cứu, đào tạo... Cuốn sách gồm hai phần: Phần một, nghiên cứu những vấn đề chung của báo chí; Phần hai, nghiên cứu về nghề báo, nhà báo và tác phẩm báo chí. “Truyền thông đại chúng trong hệ thống tổ chức quyền lực chính trị ở các nước tư bản phát triển” là cuốn sách do TS Lưu Văn An chủ biên (năm 2008); đây là một công trình nghiên cứu khá toàn diện, dựa trên cơ sở phân tích chặt chẽ, đưa dẫn chứng một cách phù hợp, làm sáng tỏ một số vấn đềlý luận cũng như vai trò của truyền thông đại chúng trong thực tiễn hệ thống tổ chức quyền lực chính trị ở một số nước tư bản phát triển; đồng thời đưa ra những đánh giá mang tính khách quan về những giá trị và hạn chế của truyền thông đại chúng trong hệ thống tổ chức quyền lực chính trị ở các nước tư bản phát triển; từ đó rút ra ý nghĩa, những giá trị phù hợp nhằm phát triển truyền thông đại chúng ở Việt Nam. Đề tài Vai “ trò của báo chí và dư luận xã hội trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta hiện nay” của tác giả Lương Khắc Hiếu (năm 2009). Đề tài ghiênn cứu một số vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về báo chí, dư luận xã hội với cuộc đấu tranh chống tham nhũng; khảo sát, đánh giá thực trạng về vai trò của báo chí trong việc tạo lập dư luận xã hội đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta; đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của báo chí trong việc tạo lập dư luận xã hội đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta hiện nay. 14 Luận án Tiến sĩuyền Tr thông đại chúng của tác giả Đỗ Chí Nghĩa (2010) viết về “Vai trò của báo chí trong định hướng dư luận xã hội”, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội. Luận án nghiên cứu, làm rõ lý luận về mối qua...Đảng, chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa xã hội là nội dung hàng đầu của công tác chính trị tư tưởng [13, tr.226- 270]. Trong bài viết “Giáo dục chính trị tư tưởng là linh hồn của giáo dục phẩm chất” đăng trên Tạp chí Cầu thị (Trung Quốc) năm 2009, tác giả Lý Vĩnh Thắng coi giáo dục chính trị tư tưởng là linh hồn của giáo dục phẩm chất con người. Mục đích của hoạt động này là hình thành phẩm chất chính trị tư tưởng, yếu tố “về căn bản quyết định lý tưởng, đức tin, phẩm chất đạo đức và phương thức hành vi của nó” [79, tr.2]. Giáo trình “Công tác chính trị của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc” dùng trong các học viện, nhà trường trong thời kỳ mới, của Nhà xuất bản Đại học Quốc phòng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, năm 1986, coi công tác giáo dục tư tưởng là một hoạt động quan trọng của công tác chính trị trong quân đội với ba nội dung cơ bản là: giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác và “bốn nguyên tắc” cơ bản; giáo dục những vấn đề cơ bản xây dựng hiện đại hoá Chủ nghĩa xã hội Trung Quốc và xây dựng hiện đại hoá, chính quy hoá quân đội cách mạng; giáo dục chính trị tư tưởng thường xuyên. Trong đó, nội dung giáo dục chính trị tư tưởng thường xuyên gồm: giáo dục nhiệm vụ và tình thế, phẩm chất đạo đức, truyền thống, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anhùng h cách mạng, pháp chế và dân chủ ãx hội chủ nghĩa, kỷ luật tổ chức[61]. Việc giáo dục chính trị - tư tưởng ở Quân đội Lào, được tác giả Sỏn Xay Chăn Nha Lạt nêu ra trong luận án “Giáo dục chính trị, tư tưởng cho hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân Lào hiện nay”, năm 2012, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. Luận án trình bày những vấn đề lý luận về giáo dục chính trị, tư tưởng cho hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân Lào. Đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân, kinh nghiệm và đề 28 xuất yêu cầu và các giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng cho hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân Lào hiện nay. Hiện nay, trên mạng internet và mạng MISTEN (mạng nội bộ quân đội), có thể dễ dàng tìm đọc các tài liệu đề cập đến hoạt động tuyên truyền chính trị bằng tiếng Anh, như: “Propaganda”, “What are Tool of Propaganda?”, “Propaganda in NaZi Germany” Trong số tài liệu này, các học giả phương Tây sử dụng phổ biến thuật ngữ tuyên truyền (propaganda) hoặc tuyên truyền chính trị (political propaganda) hoặc tâm lý quân nhân để chỉ hoạt động truyền bá các nội dung liên quan đến việc giành, giữ chính quyền của các đảng phái chính trị. Trong đó, mục đích của tuyên truyền chính trị là nhằm thay đổi quan điểm và hành vi của đối tượng, từ chỗ phản đối, thờ ơ đến việc ủng hộ cương lĩnh, đường lối, chính sách của đảng tranh cử hoặc đảng cầm quyền. Bài viết của tác giả Kapralov F (2016), "Khuynh hướng huấn luyện tâm lý quân nhân Nhật Bản" đăng trên Tạp chí Bình luận quân sự nước ngoài (số 4), tr.35-41. Nghiên cứu tính chất toàn diện trong khuynh hướng huấn luyện tâm lý cho quân nhân của Nhật Bản; phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khuynh hướng huấn luyện - đào tạo này, như: truyền thống lịch sử dân tộc, những chặng đường chiến đấu của các đơn vị và lực lượng tự vệ từ năm 1945 đến nay, hệ thống dạy và học phổ cập trong xã hội Nhật Bản, đường lối chính trị của Chính phủ và Đảng cầm quyền, dư luận xã hội và các tầng lớp khác nhau trong xã hội về chiến tranh và thực hiện nghĩa vụ quân sự trong lực lượng tự vệ. Bài tạp chí "Vấn đề tư tưởng - tâm lý của quân nhân Mỹ" của P.Sitov, Tạp chí Bình luận quân sự nước ngoài (số 9, năm 2013). Theo các chuyên gia quân sự Mỹ, trạng thái tư tưởng - tâm lý cao đòi hỏi phải bao gồm các phẩm chất cơ bản như: tính kỷ luật, tinh thần chiến đấu, ý chí quyết thắng, tự chủ, lòng tự trọng, trung thực, tận tâm với công việc, nhận thức danh dự người sĩ quan, người lính v.v Các yếu tố ảnh hưởng tiêu cực tới trạng thái tư tưởng - 29 tâm lý của binh sỹ như: quan tâm nhiều đến quyền lợi vật chất, coi thường địch, đánh giá cao mình, phụ thuộc vào tiện nghi, không sáng tạo trong chiến đấu, phân biệt chủng tộc, thể hiện chủ nghĩa cá nhân, thích danh vọng, không hòa đồng, căng thẳng trong các mối quan hệ, nghiện ngập. 3. Công trình khoa học nghiên cứu về ảnh hưởng của báo chí quân đội trong việc tuyên truyền, giáo dục chính trị - tư tưởng cho quân nhân hiện nay Luận văn “Tuyên truyền nhiệm vụ quốc phòng toàn dân trên hệ thống báo chí quân đội trong giai đoạn hiện nay”, Nguyễn Thị Tâm Bắc, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, năm 2004. Luận văn hệ thống hóa lại việc thực hiện tuyên truyền nhiệm vụ xây dựng quốc phòng toàn dân trong từng giai đoạn cách mạng cụ thể của hệ thống báo chí quân đội. Qua đó, nêu ra một số kiến nghị và giải pháp để nâng cao chất lượng thông tin về quốc phòng toàn dân trên hệ thống báo chíuân q đội. Luận văn "Thông tin đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình trên Báo Quân đội nhân dân" (Khảo sát từ tháng 01/2009 đến 6/2012), Nguyễn Quang Vững,Học viện Báo chíà v Tuyên truyền, năm 2012. Luận văn trình bày những vấn đề lý luận về diễn biến hòa bình và thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống diễn biến hòa bình trên Báo Quân đội nhân dân; khảo sát, phân tích những tác phẩm đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình đăng tải trên hai chuyên mục “Làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình” và “Phòng, chống diễn biến hòa bình” của Báo Quân đội nhân dân, tổng kết bài học kinh nghiệm, rút ra thành công và hạn chế; đề xuất yêu cầu và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng thông tin đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình trên Báo Quân đội nhân dân trong giai đoạn hiện nay. Thông qua việc khảo sát (có chọn lọc) các tác phẩm trong chương trình “Dành cho các bạn trẻ trong quân đội” trên sóng phát thanh Quân đội nhân dân, trang “Tuổi trẻ với Tổ quốc” của báo Quân đội nhân dân, trên cơ sở phân tích, luận văn nhằm đánh giá một cách khái quát về chất lượng, hiệu quả công 30 tác giáo dục đối tượng chiến sỹ trẻ của chương trình và chuyên trang này. Từ đó, rút ra những vấn đề về lý luận và thực tiễn, để đưa ra những giải pháp, kiến nghị, nhằm góp phần nâng cao chất lượng, đổi mới, giúp chương trình và chuyên trang ngày càng phát triển. Đây là nội dung nghiên cứu được trình bày trong Luận văn “Báo chí quân đội với vấn đề giáo dục chiến sỹ trẻ hiện nay” của tác giả Nguyễn Trần Thùy Vinh tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, năm 2014. Luận văn “Báo Quân đội nhân dân với công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự”, Hoàng Thị Bắc, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, năm 2014, khái quát hệ thống những vấn đề lý luận liên quan đến công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự nói chung và đối ngoại quân sự trên báoQuân đội nhân dân nói riêng; khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự trên á b o Quân đội nhân dân từ tháng 1/2013 ế đ n tháng 6/2014; ềđ xuất ộ m t số giải pháp nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự trên báo Quân đội nhân dân trongờ th i gian tới. Luận văn “Báo chí Quân khu 9 với vấn đề tuyên truyền quốc phòng toàn dân” (Khảo sát Báo chí Quân khu 9 năm 2014), Hoàng Văn Khiêm, năm 2015, hệ thống hóa những vấn đề lý luận và hình thành nhận thức lý thuyết về vấn đề báo chí nói chung và Báo chí Quân khu 9 nói riêng, tuyên truyền quốc phòng toàn dân. Khảo sát tìm hiểu thực trạng công tác tuyên truyền quốc phòng toàn dân của báo in và chương trình Truyền hình Quốc phòng toàn dân Quân khu 9. Tìm hiểu những thành công và hạn chế về nội dung và hình thức của báo in và chương trình truyền hình quốc phòng toàn dân hiện nay. Chỉ rõ những vấn đề đang đặt ra và gợi ý giải pháp nâng cao chất lượng tuyên truyền quốc phòng toàn dân trên Báo Quân khu 9, nhằm đáp ứng yêu cầu của Đảng, Nhà nước và nhu cầu thông tin ngày càng cao của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đồng bằng sông Cửu Long. Tài liệu nước ngoài về “Hoạt động tuyên truyền báo chí của các cơ quan tâm lý chiến của lực lượng vũ trang Mỹ ở Ápganixtan và Irắc” của tác 31 giả: A.Nal’deev, đăng trên Tạp chí Nga “Bình luận quân sự nước ngoài”, số 8/2008, tr. 23-25. Bài viết đề cập đến mục đích chủ yếu của tuyên truyền báo chí, đó là làm mất tinh thần, làm sai lạc dẫn đến ngừng chống đối và đầu hàng của các đơn vị vũ trang; giành thiện cảm và bảo đảm sự hợp tác của người dân địa phương. Hình thức tuyên truyền đa dạng cho từng đối tượng là người dân địa phương và lực lượng vũ trang, từ truyền đơn mang nội dung gây khiếp sợ đến xuất bản báo chí bằng tiếng địa phương được lan truyền rộng rãi trong nhân dân, thậm chí có mặt ở các trường học. Để tuyên truyền thắng lợi, thứ nhất, khi chuẩn bị chiến dịch tâm lý cần phải suy nghĩ kỹ chủ đề và nội dung các tư liệu thông tin - tuyên truyền, các tư liệu này phải được chuẩn bị có tính đến đặc điểm tâm lý - dân tộc của người dân và phải có thông tin thuyết phục; thứ hai, thu thập, hệ thống hóa và phổ biến thông tin gây mất uy tín những kẻ cầm đầu các tổ chức khủng bố và phá hoại, nhưng không giành các nỗ lực và nguồn lực để cải chính các thông tin do các chiến binhlan truyền. Trong quá trình các chiến dịch như vậy, chủ yếu vẫnsử dụng các hình thức tác động thông tin - tâm lý truyền thống: đài phát thanh và truyền hình, tuyên truyền báo chí và tuyên truyền miệng. Khẳng định tuyên truyền báo chí vẫn là một trong những phương tiện tác động thông tin - tâm lý hiệu quả nhất đối với quân đội và người dân đối phương. Khi bàn về kinh nghiệm đấu tranh tuyên truyền trên Internet có bài: “Kinh nghiệm nước ngoài trong lĩnh vực đấu tranh chống hoạt động tuyên truyền cho chủ nghĩa khủng bố trên Internet” của tác giả S. Zavalov đăng trên Tạp chí “Bình luận quân sự nước ngoài”, số 4.2014. Internet được coi là mạng thông tin phổ biến nhất hiện nay, phổ biến trên toàn thế giới. Bên cạnh các mặt tích cực của mạng cũng có những khuynh hướng tiêu cực, thường là chiều hướng tư tưởng dẫn tới sự phát sinh và leo thang các xung đột. Từ đó, tác giả đã chỉ ra tính cần thiết của việc các quốc gia phải đưa ra các biện pháp đối phó tương ứng, trong đó có các biện pháp kiểm soát không gian Internet và kiểm soát khán thính giả Internet. Trong môi trường không gian Internet 32 cực kì rộng lớn ở những nơi truy cập công cộng vào www, như các thư viện hoặc nhà trường, các bộ lọc được sử dụng, có tác dụng hạn chế việc truy cập vào các trang mạng chứa đựng thông tin lệch chuẩn, trong đó có tài liệu của các phần tử cực đoan. Điều này đã hạn chế rất nhiều những thông tin không chính thống được đăng tải lên các trang mạng và hạn chế tối đa việc truy cập của người dùng vào các trang thông tin chưa được xác thực và đăng ký với cơ quan có thẩm quyền. Các nhà chức trách của các quốc gia đã đưa ra nhiều chính sách yêu cầu cá nhân tổ chức sử dụng Internet phải đăng ký và chịu trách nhiệm dân sự và hình sự đối với những gì mình đăngtải. Bài viết “Làm thế nào để nâng cao sức cạnh tranh của tuyên truyền đối ngoại qua truyền hình quân sự trên Internet” của tác giả Cứu Tiên Hạc trên Tạp chí “Phóng viên Quân sự”, số 1.2013. Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của ngành truyền hình internet đã thu hút số lượng khán giả xem clip truyền hình internet ngày càng tăng. Các clip truyền hình quân sự trên internet trở thành một loại hình truyền hình đặc thù trên internet, đó là lấy internet làm phương tiện, lấy đề tài quân sự làm nội dung, lấy hình ảnh làm hình thức tuyên truyền. Mạng hóa các nội dung quân sự đã mở rộng được phạm vi tuyên truyền, mở rộng tính đa dạng, tính thời sự, hiệu quả của tin tức quân sự. Đồng thời, đặc điểm không bị hạn chế về không gian, thời gian, địa lý, đã làm cho truyền hình quân sự trên internet trở thành “vũ khí” của tuyên truyền đối ngoại và cổ vũ văn hóa quân sự. Tác giả đã đưa ra các phương pháp để phát triển loại hình này. Đi sâu hợp tác về nội dung, khai thác nguồn tin từ cơ sở, liên kết với các cơ quan truyền thông địa phương, tập trung mọi nỗ lực, phát huy sức ảnh hưởng của truyền hình quân sự internet. Và cách thức thực hiện như theo sát điểm nóng, chủ động lên tiếng; phát huy vai trò cầu nối, sợi dây liên kết trong quá trình hội tụ, phát huy, phát triển văn minh quân sự; chú trọng hình tượng, xây dựng hiệu ứng có thương hiệu của truyền hình quânsự internet; sử dụng người nổi tiếng làm người dẫn chương trình; hình thức chương trình phong phú; tiến hành truyền bá đa ngôn ngữ; tích hợp truyền 33 thông, tăng cường sức thẩm thấu của truyền hình quân sự internet; chia sẻ truyền hình nhờ vào các mạng trạm hợp tác với các cơquan truyền thông nước ngoài. Bài viết "Báo chí quân sự nước ngoài" trên tạp chí Bình luận quân sự nước ngoài của tác giả Sevastyanov Stìm hiểu tình hình phát triển và sự đa dạng phong phú về ấn phẩm của ngành báo chí quân sự ở các cường quốc: Mỹ, Anh, Pháp, Đức... Đánh giá vai trò quan trọng của các phương tiện thông tin đại chúng, internet và các ấn phẩm định kỳ (báo chí) trong việc củng cốvà duy trì mức độ cao của trạng thái tâm lý-tinh thần cho quân nhân của Lực lượng vũ trang quốc gia ở các nước. Giới thiệu khái quát một số báo, tạp chí quân sự uy tín và nổi tiếng trên thế giới hiện nay. I.V. Maneev, V.N. Apanasenko đồng tác giả bài "Các phương tiện thông tin đại chúng - một công cụ hữu hiệu tạo ra hình ảnh tốt của người quân nhân Bộ Nội vụ Nga", Tạp chí Tư tưởng quân sự (số 4, năm 2015), khẳng định ý nghĩa và vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc xây dựng hình ảnh tốt của người quân nhân thuộc Bộ Nội vụ Nga trong điều kiện xã hội hiện nay. Bài viết "Về công việc của các cơ quan chỉ huy quân sự với các phương tiện thông tin đại chúng trong thời kỳ xung đột vũ trang", Tạp chí Tư tưởng Quân sự (số 6, năm 2007), tác giả V. I. Timofeev khái quát các nguyên nhân tác động của các phương tiện thông tin đại chúng đối với bộ đội và các cuộc xung đột quân sự; phương pháp và nội dung công việc của các cơ quan chỉ huy quân sự với các phương tiện thông tin đại chúng trong thời kỳ xung đột vũ trang. Tác giả - Đại tá Ju. N. Klenov, Cục trưởng Cục Thông tin và các quan hệ xã hội quân khu Lêningrat viết về kinh nghiệm phối hợp hoạt động của các sĩ quan chỉ huy Quân khu Lêningrat với các phương tiện thông tin đại chúng trong bài "Sự phối hợp hoạt động của các cơ quan chỉ huy quân khu Lêningrat với các phương tiện thông tin đại chúng", Tạp chí Tư tưởng quân 34 sự (số 1, năm 2007). Bài viết "Lục quân và các phương tiện thông tin đại chúng đi cùng", Tạp chí Mỹ “Military Review”, tập 83 (số 5, năm 2003) của Tammy L.Miracle viết: một số nhà lãnh đạo lục quân Mỹ cho rằng không để cho giới báo chí tiếp cận hành động quân sự là một sai lầm. Tướng Wesley K.Clark, đã về hưu và hiện là một nhà phân tích quân sự, cho rằng do “tâm trạng Việt Nam”, quân đội đã phạm sai lầm khi hạn chế việc đưa tin trên báo chí trong thời gian diễn ra cuộc chiến tranh vùng Vịnh Pếch-xích. Clark nói “trận đánh bằng xe tăng của sư đoàn 1 thiết giáp thật không thể tưởng tượng được và có lẽ là trận đánh bằng lực lượng thiết giáp lớn từ trước đến nay. Vậy mà không một hình ảnh nào được đưa lên báo hoặc ghi lại cho lịch sử”. Một sĩ quan lục quân Mỹ nói về Ap-ga-ni-xtan: “Không có ai ở đó để kể lại câu chuyện về những thanh niên Mỹ xông lên làm nhiệm vụ vĩ đại này một cách thành công đến như vậy trên địa hình thực sự hiểm trở. Đó là một cơ hội bị bỏ lỡ mà tôi nghĩ rằng chúng ta (sẽ) không gặp lại trong tương lai.” 4. Đánh giá và những vấn đề cần nghiên cứu Trên cơ sở tìm kiếm, tổng hợp, nghiên cứu các công trình khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài, tác giả rút ra một số nhận xét sau: Thứ nhất, về các công trình khoa học nghiên cứu về giáo dục chính trị - tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam Các công trình khoa học đã xây dựng được cơ sở lý luận, thống nhất đưa ra khái niệm nội dung của công tác giáo dục chính trị - tư tưởng trong quân đội. Công tác giáo dục chính trị - tư tưởng được khảo sát với nhiều đối tượng quân nhân ở các đơn vị khác nhau trong toàn quân. Các công trình nghiên cứu đã đề xuất nhiều biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chính trị - tư tưởng, hướng vào giải quyết các vấn đề thuộc chủ thể, đối tượng, môi trường xã hội khách quan và đổi mới các yếu tố, các bộ phận của bản thân công tác chính trị - tư tưởng. Trong đó, hầu hết các công trình đều đề cập đến việc nâng cao nhận thức, tăng cường đổi mới sự lãnh đạo, chỉ đạo cấp uỷ, 35 người chỉ huy các cấp đối với công tác tư tưởng; phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng, mọi lĩnh vực;nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính trị làm nòng cốt; phát huy tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện của đối tượng; kết hợp giáo dục chính trị với tổ chức phong trào hành động cách mạng, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức công tác chính trị - tư tưởng; xây dựng môi trường văn hoá giáo dục lành mạnh, tốt đẹp; đảm bảo và phát huy tác dụng của cơ sở vật chất, phương tiện Các công trình nghiên cứu nói trên cũng cung cấp khá nhiều thông tin có giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc về đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình, trong đó có đề cập vấn đề phát huy vai trò của báo chí cách mạng và phương tiện truyền thông đại chúng của quân đội trong đấu tranh với các âm mưu thủ đoạn của thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa. Mặt khác, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài tuy tên gọi khác nhau nhưng đều khẳng định công tác chính trị - tư tưởng có một hoạt động hướng vào xây dựng niềm tin, lý tưởng chính trị với nội dung truyền bá chủ yếu là tri thức về lĩnh vực chính trị theo nghĩa rộng nhất của từ này. Tuy nhiên, các công trình khoa học chưa khảo sát, nghiên cứu sâu, toàn diện đến giải pháp tuyên truyền, định hướng, giáo dục chính trị - tư tưởng qua hệ thống báo chíuân q đội tác động đến nhận thức của quân nhân trong điều kiện cụ thể hiện nay. Thứ hai, về các công trình khoa học nghiên cứu về tác động của báo chí đối với nhận thức, tư tưởng của công chúng; nghiên cứu về ảnh hưởng của báo chí quân đội trong việc tuyên truyền, giáo dục chính trị - tư tưởng cho quân nhân hiện nay Các công trình nghiên cứu đã chỉ rõ khả năng tác động một cách rộng lớn nhanh chóng và mạnh mẽ vào toàn bộ xã hội, vai trò quan trọng các phương tiện thông tin đại chúng trong công tác tư tưởng, định hướng tinh thần, trong đấu tranh, chống diễn biến hòa bình; khái quát hệ thống những vấn đề lý luận liên quan đến công tác tuyên truyền nhiệm vụ xây dựng quốc 36 phòng toàn dân, đối ngoại quân sự, chống diễn biến hòa bình của hệ thống báo chí quân đội. Và các tác giả cũng đã khảo sát thực trạng tuyên truyền của một số cơ quan báo chí riêng lẻ (Báo Quân đội nhân dân, Phát thanh Quân đội nhân dân, Báo chí Quân khu 9) tác động tới quân nhân, tìm ra thành công và hạn chế về nội dung và hình thức. Từ đó, đề xuấtmột số kiến nghị và giải pháp để nâng cao chất lượng thông tin về quốc phòng toàn dân trên hệ thống báo chí quân đội. Tuy nhiên, các công trình khoa học này chưa nghiên cứu sựnh ả hưởng của báo chíuân q đội đối với đối tượnglà học viên sỹ quan cấp phân đội ở 4 khối tham mưu, chính trị, hậu cần, kĩ thuật- những người sẽ giữ vai trò chủ chốt trong xây dựng quân đội nói chung và giáo dục chính trị - tư tưởng cho quân nhân trong thời gian tới. 37 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA BÁO CHÍ QUÂN ĐỘI ĐỐI VỚI NHẬN THỨC CHÍNH TRỊ - TƯ TƯỞNG CỦA QUÂN NHÂN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1.1. Khái quát về báo chí quân đội; về báo Quân đội nhân dân và kênh truyền hình Quốc phòng Việt Nam 1.1.1. Khái niệm báo chí quân đội Báo chí quân đội là một bộ phận nằm trong hệ thống báo chí nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là tiếng nói của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, của Đảng ủy, chỉ huy các cấp, cácngành trong quân đội; là diễn đàn tin cậy của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân về hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân. Báo chí trong QĐND Việt Nam là một bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng, phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước và Quân đội, góp phần xây dựng quân đội nhân dân về chính trị; động viên, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Báo chí quân đội đã cùng với hệ thống báo chí của cả nước tích cực tuyên truyền sâu rộng các quan điểm đường lối của Đảng, các chủ trương, chính sách của Nhà nước, tuyên truyền, cổvũ phong trào hành động cách mạng của quân đội, của nhân dân, xứng đáng là vũ khí đấu tranh sắc bén trên mặt trận chính trị - tư tưởng, quốc phòng - an ninh, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng quốc phòng toàn dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh. Báo chí quân đội đã tích cực đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chống lại các quan điểm sai trái, tham gia đấu tranh chống tham nhũng, chống tiêu cực, được Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội tin tưởng. Ở Việt Nam, báo chí trong QĐND Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Quân ủy Trung ương, sự quản lý thống nhất của Bộ Quốc phòng mà trực tiếp là Tổng cục Chính trị, đồng thời chịu sự chỉ đạo của Ban Tuyên giáo 38 Trung ương, sự quản lý Nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông; bảo đảm cho báo chí quân đội đúng đường lối, quan điểm, phương hướng tư tưởng của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của quân đội. Từ những khái quát trên, có thể định nghĩa:báo chí quân đội là những sản phẩm báo chí của các cơ quan báo chí Quân đội nhân dân Việt Nam, dưới sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, đảng ủy chỉ huy các cấp, các ngành trong quân đội, tuyên truyền về hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phục vụ đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân và nhân dân cả nước. 1.1.2. Đặc điểm báo chí quân đội Ngay từ những năm 50 của thế kỷ XX, Tổng thống Mỹ Eisenhower đã nói rằng: “Chi 1 đôla cho tuyên truyền bằng chi 5 đôla cho quốc phòng”. Cố vấn an ninh Mỹ dưới thời Tổng thống Richard Nixon, Kissinger cho rằng: “Uy lực của một đài phát thanh tự do ngang với 20 sư đoàn”. Đối với nước ta, báo chí quân đội là một bộ phận quan trọng trong công tác tuyên truyền của Đảng, Nhà nước. Các nhà báo được xem là chiến sỹ xung kích trên mặt trận văn hóa - tư tưởng. Báo chí là công cụ sắc bén tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật củaNhà nước; đồng thời, là cầu nối, kịp thời phản ánh những tâm tư, nguyện vọng, những nhu cầu cấp thiết của nhân dân. Do đặc thù hoạt động trong lĩnh vực quân sự, báo chí quân đội có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, báo chí quân đội do các cơ quan quân đội quản lý, điều hành dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng Gắn liền với sự trưởng thành, phát triển của QĐND Việt Nam suốt mấy chục năm qua, báo chí quân đội là một bộ phận hợp thành báo chí cách mạng Việt Nam, góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng trong mỗi thời kỳ. Hiện nay, toàn quân có 60 cơ quan báo chí được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép hoạt động; trong đó, có 07 cơ quan báo chí do Tổng cục Chính trị trực tiếp chỉ đạo, quản lý; 12 báo quân khu, quân chủng, 39 Báo Biên phòng và Báo Quốc phòng Thủ đô; 41 tạp chí chuyên ngành thuộc các tổng cục, học viện, viện nghiên cứu, các trường đại học, bệnh viện. Đội ngũ cán bộ, phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên phát triển về số lượng, chất lượng; có trình độ nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp. Cơ sở vật chất, trang bị, phương tiện kỹ thuật phục vụ tác nghiệp báo chí được đầu tư đáng kể, tạo điều kiện cho báo chí quân đội phát triển theo phương châm: cách mạng, chuyên nghiệp, hiện đại. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Tổng cục Chính trị, báo chí quân đội luôn giữ vững định hướng chính trị, tích cực tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và các hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân,QĐND, theo tôn chỉ, mục đích của từng tờ báo, tạp chí. Cùng với đó, báo chí quân đội còn tuyên truyền về công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước trên các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại trong bối cảnh hội nhập quốc tế; tuyên truyền về công tác xây dựng Đảng, tích cực phát hiện, biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến, v.v. Đồng thời, là lực lượng xung kích, nòng cốt, vũ khí sắc bén tuyên truyền, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, bảo vệ trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội và lợi ích chính đáng của nhân dân, góp phần định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về thông tin của bộ đội và nhân dân. Thứ hai, chủ yếu tuyên truyền về đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, về quốc phòng - an ninh, xây dựng quân đội, hoạt động của lực lượng vũ trang; là mũi xung kích thường trực trên mặt trận đấu tranh chính trị - tư tưởng, phản bác các quan điểm phản động, sai trái, của các thế lực thù địch Báo chí quân đội đã luôn đồng hành cùng những chặng đường đấu tranh kiên cường của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội. Trong các cuộc kháng chiến anh dũng chống xâm lược, bảo 40 vệ Tổ quốc, báo chí quân đội đã trở thành một binh chủng quan trọng trên mặt trận tư tưởng; nhiều tác phẩm báo chí đã thực sự thúc giục đồng bào cả nước cùng ra trận đánh đuổi đế quốc, giành lạinon sông gấm vóc cho dân tộc. Bước vào thời kỳ đổiới, m báo chí quân đội tiếp tục tham gia trong việc định hướng dư luận xã hội, tuyên truyền, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, đóng góp to lớn vào sự nghiệp chung của cả dân tộc. Báo chí quân đội đã thông tin kịp thời, phân tích sâu sắc những diễn biến hằng ngày trên các lĩnh vực, ở khắp mọi miền của Tổ quốc; phản ánh, tuyên truyền, nhân lên các điển hình tiên tiến; tham gia giám sát, phản biện, đóng góp ý kiến xây dựng các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; mở rộng quan hệ đối ngoại, quảng bá, giới thiệu đất nước, con người, văn hóa Việt Nam với bạn bè quốc tế Đặc biệt, trên mặt trận phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, báo chí đã phát huy thế mạnh, tích cực tham gia phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù địch; bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng; đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ. Nhiều cơ quan báo, đài, tạp chí của quân đội đã xây dựng, duy trì và phát huy hiệu quả các chuyên trang, chuyên mục về phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, viết và đăng tải hàng chục nghìn tin, bài, tập trung đấu tranh phản bác các thông tin bịa đặt, xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù địch. Những bài đấu tranh, phản bác đã bám sát hệ thống lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, và các luận điểm chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức khá bài bản, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm; có nhiều tin, bài có lý luận và thực tiễn tốt, phân tích, luận giải sâu sắc, được độc giả đón nhận và đánh giá cao. Thông qua tin, bài viết, những quan điểm, đường lối của Đảng được bảo vệ; đồng thời, vạch trần rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân nâng 41 cao nhận thức và hành động đúng, không bị mắc mưu các thếlực phản động. Báo chí quân đội góp phần phân tích, luận giải, khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng chỉ đạo cơ bản trong sự nghiệp xây dựng Đảng, xây dựng đất nước. Thực tiễn cách mạng Vi...n sĩ Triết học, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 59. Nguyễn Đình Minh (2016), Hãy cảnh giác với “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 60. Nguyễn Văn Minh (2015), Phòng, chống "tự diễn biến, tự chuyển hóa" trong sử dụng mạng xã hội, Báo Quân đội nhân dân, ngày 25/5/2015. 61. Chương Tử Nghị (1986), Công tác chính trị của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, NXB Đại học Quốc phòng, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, sách dịch lưu hành trên trang thông tin điện tử nội bộ Bộ Quốc phòng, Quân đội nhân dân Việt Nam. 62. Đỗ Chí Nghĩa (2010), Vai trò của báo chí trong định hướng dư luận xã hội, Luận án Tiến sĩ Truyền thông đại chúng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội. 63. Hoàng Phê (chủ biên) (2016), Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, NXB Hồng Đức, Hà Nội. 64. E. P. Prôkhôrốp (2004),Cơ sở lý luận của báo chí, NXB Thông tấn, Hà Nội. 65. Trần Đại Quang (2013), Một số vấn đề về phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 66. Nguyễn Văn Quyết (1990), Đẩy mạnh quá trình hình thành và phát triển phẩm chất chính trị của thanh niên quân đội ta trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ Khoa học quân sự, Học viện Chính trị Quân sự, Hà Nội. 67. Quân ủy Trung ương (2010), Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ IX, Hà Nội. 68. Quân ủy Trung ương (2014), 28 luận cứ đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái với quan điểm, đường lối của Đảng, làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, Hà Nội. 160 69. Quốc hội (2008), Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Hà Nội. 70. Quốc hội (2016), Luật Báo chí, Hà Nội. 71. Sỏn Xay Chăn Nha Lạt (2012), Giáo dục chính trị, tư tưởng cho hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân Lào hiện nay, Luận án Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 72. Nguyễn Tiến Sỹ (2010), “Mấy vấn đề về công tác chính trị của uânQ giải phóng nhân dân Trung Quốc”,Thông tin KHXH&NV quân sự, (số 127). 73. Tạ Ngọc Tấn (2001),Truyền thông đại chúng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 74. Tạ Ngọc Tấn (1995), “Vai trò báo chí trong hoạt động chống diễn biến hòa bình về tư tưởng văn hóa”,Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền (số 5). 75. Tạ Ngọc Tấn (1996), “Khuynh hướng chính trị tư tưởng trong báo chí”, Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền (số 8). 76. Tạ Ngọc Tấn (1998), Tác động của báo chí đối với việc xây dựng lối sống tích cực của thanh niên sinh viên hiện nay, Đề tài khoa học cấp Bộ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền. 77. Tạ Ngọc Tấn (2004), Hồ Chí Minh về báo chí, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 78. Tạ Ngọc Tấn (2005),Cơ sở lý luận báo chí, NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội. 79. Lý Vĩnh Thắng (2000), “Giáo dục chính trị tư tưởng là linh hồn của giáo dục phẩm chất”, Tạp chí Cầu thị, Trung Quốc (số10), bản dịch, lưu thư viện Họciện v Chính trị, Hà Nội. 80. Nguyễn Vĩnh Thắng (chủ biên) (2006), Diễn biến hòa bình và đấu tranh chống diễn biến hòa bình, (Hỏi và đáp), NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội. 81. Võ Văn Thắng (2012), Góp phần chống suy thoái tư tưởng chính trị đạo đức, lối sống theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 82. Nguyễn Trung Thông (2004), Nâng cao nhận thức tư tưởng Hồ Chí Minh của sĩ quan cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quân sự, Hà Nội. 161 83. Vũ Duy Thông (2004), Mác-Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh bàn về báo chí xuất bản”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 84. Nguyễn Viết Thông (2004), “Một vài nét về giảng dạy và học tập các môn chính trị tư tưởng ở các trường đại học Trung Quốc”, Tạp chí Công tác tư tưởng, (số 5). 85. Nguyễn Đức Tiến (1999), Mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong phát triển lý tưởng xã hội chủ nghĩa ở thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ quân sự, Học viện Chính trị Quân sự, Hà Nội. 86. Trần Doãn Tiến (2010), Phê phán các quan điểm sai trái về tư tưởng chính trị trên mạng Internet góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. 87. Phạm Thị Thanh Tịnh, (2013), Công chúng báo chí, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội. 88. Nguyễn Đình Tu (1996), Nâng cao bản lĩnh chính trị của sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Khoa học quân sự, Học viện Chính trị Quân sự,Hà Nội. 89. Trần Ngọc Tuệ (1996), Nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng trong quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Khoa học quân sự, Học viện Chính trị Quân sự, Hà Nội. 90. Trần Ngọc Tuệ (chủ biên) (2012), Đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội hiện nay, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội. 91. Lê Văn Toan (2011), Quan điểm của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về báo chí”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 92. Tổng cục Chính trị (1999), Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và 30 năm thực hiện Di chúc của Người, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội. 162 93. Tổng cục Chính trị (2002), Tăng cường giáo dục lý tưởng, truyền thống cách mạng cho đội ngũ sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt nam hiện nay, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội. 94. Tổng cục Chính trị (2006), Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị trong đào tạo sĩ quan hải quân hiện nay, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội. 95. Tổng cục Chính trị (2012), Đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội hiện nay, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội. 96. Tổng cục Chính trị (2009), Giáo trình Lý luận giáo dục quân nhân, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội. 97. Tổng cục Chính trị (2012), Giáo trình Công tác Đảng, công tác chính trị, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội. 98. Cao Xuân Trung (2002), Những điều kiện tâm lý sư phạm nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị tư tưởng cho quân nhân ở các đơn vị cơ sở hiện nay, Luận án Tiến sĩ Tâm lý học, Học viện Chính trị Quân sự. 99. Trương Thành Trung (chủ biên) (2011), Sự thật về dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội. 100. Bế Xuân Trường, Nguyễn Bá Dương (2013), Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 101. Vũ Thanh Vân (2015), Khuynh hướng chính trị của báo chí Mỹ, Luận án tiến sĩ Báo chí học, Học viện Báo chí Tuyên truyền, Hà Nội. 102. Đ.A. Vôn-cô-gô-nốp (1984), Phương pháp luận công tác giáo dục tư tưởng, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội. 103. Nguyễn Hồng Vinh (chủ biên) (2007), Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam: Tài liệu tham khảo nội bộ, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 104. Nguyễn Trần Thùy Vinh (2014), Báo chí quân đội với vấn đề giáo dục chiến sỹ trẻ hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Báo chí học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội. 163 105. Lương Ngọc Vĩnh (2012), Hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng trong học viên các học viện quân sự ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học chính trị, Học viện Báo chí Tuyên truyền, Hà Nội. 106. Nguyễn Quang Vững (2012), Thông tin đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình trên báo Quân đội nhân dân (Khảo sát từ tháng 01/2009 đến 6/2012), Luận văn Thạc sĩ Báo chí học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội. 107. V.A. Xu-Khôm-Lin-Xki (1983), Hình thành niềm tin cho thế hệ trẻ, NXB Thanh niên. 108. X.I. Xu-rơ-ni-tren-cô (chủ biên), (1982), Hoạt động tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô, NXB Thông tin Lý luận, Hà Nội. Tài liệu nước ngoài 109. Полковник Ю. Н. Кленов (2007), "Взаимодействие органов управления Ленинградского военого округа со средствами массовой информации", Военная Мысль(1), c.72-80. 110. Ф. Капралов(2006), "Направленность психологической подготовки японских военнослужащих", Журнал Зарубежного Военного Обозрения (4), c.35-41. 111. Полковник И.В. Манеев(2015), "Средства массовой информации как эффективный инструмент в формировании позитивного образа военнослужащих внутренних войск МВД России, Военная Мысль(4) c.47-52. 112. Н. Ледюкова(2011), "Мировая Экономика и Международные Отношения”, Мировая Экономика и Международные Отношения(1), c.69-76. 113. Т. Ровинская(2008), "Методы воздействия СМИ на общественное сознание", Мировая Экономика и Международные Отношения(6), c.100-103. 164 114. Полковник В.И. Тимофеев(2007), "О работе органов военного управления со средствами массовой информации в период вооруженного конфликта", Военная Мысль(6), c.48-61. 115. Полковник С.Севастьянов (2014), "Военная печать иностранных государств", Зарубежное Военное Обозрение (11), c.29-36. 116. А. Нальдеев (2008), "Печатная пропаганда в деятельности органов ПСО ВС США в Афганистане и Ираке", Зарубежное Военное Обозрение (8), c.23-26. 117. С. Завьялов (2014), "Зарубежный опыт в области борьбы с пропагандой терроризма в Интернете", Зарубежное Военное Обозрение (4), c.34-40. 118. Подполковник П.Шитов (2013), "Морально-психологические проблемы военнослужащих США", Зарубежное Военное Обозрение (9), c.34-39. 119. Tammy L.Miracle (2003), "The army and embedded media", Military Review, 83(1), pp.70-74. 120. http//www.constructing a postwar world, What are Tool of Propaganda? 121. http//www.historylearningsite.co.uk/propaganda_in_Nazi_Germany.htm, Propaganda in NaZi Germany. 122. http//www.uv.es/EBRIT/macro/macro_5005_29.html, Propaganda 165 PHỤ LỤC KẾT QUẢ ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ NHÀ BÁO CỦA BÁO QĐND VÀ KÊNH TRUYỀN HÌNH QPVN Số phiếu: 137 phiếu. Thời gian khảo sát: tháng 6, 7 năm 2017 Phụ lục 1: Cơ cấu giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, thâm niên trong nghề TT NỘI DUNG Số % phiếu A4 Giới tính Nam 57,4 78 Nữ 42,6 58 A5 Độ tuổi 20 – dưới 30 32,1 44 30 – dưới 40 42,3 58 40 – dưới 50 20,4 28 từ 50 trở lên 5,1 7 A6 Ngành học Ngành báo chí 41,0 55 Ngành chính trị 11,2 15 Ngành quân sự 10,4 14 Ngành khác.. 37,3 50 A7 Trình độ học vấn Trung cấp/cao đẳng 2,9 4 Đại học 89,0 121 Sau đại học 8,1 11 A8 Thời gian công tác trong lĩnh vực báo chí Dưới 5 năm 33,6 45 5 năm - dưới 15 năm 52,2 70 15 năm - dưới 35 năm 14,2 19 A9 Đang giữ chức danh, nhiệm vụ nào sau đây 1. Phóng viên 35,8 49 2. Biên tập viên 42,3 58 3. Phát thanh viên 2,2 3 4. Kỹ thuật viên 5,8 8 5. Giảng viên 0,7 1 6. Nghiên cứu viên 0,7 1 7. Quản lý đơn vị báo chí 4,4 6 166 8. Quản lý ngành báo chí 0,0 0 9. Khác 8,0 11 Phụ lục 2: Nhận diện về giáo dục chính trị - tư tưởng của đội ngũ nhà báo B1 Theo đồng chí, giáo dục chính trị - tư tưởng nhằm mục đích gì Giáo dục lý tưởng cách mạng 82,5 113 Giáo dục lập trường chính trị 86,9 119 Giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc 78,8 108 Giáo dục phẩm chất đạo đức, lối sống cách mạng 69,3 95 Giáo dục nghĩa vụ, trách nhiệm với nhiệm vụ được giao 56,2 77 Giáo dục kỉ luật quân đội 51,1 70 Giáo dục ý thức trách nhiệm chính trị - xã hội 56,9 78 Giáo dục nhận diện âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch 50,4 69 Ý kiến khác............................................................ 2,2 3 B2 Đồng chí tìm hiểu về đề tài giáo dục chính trị - tư tưởng bằng hình thức nào Nghiên cứu tài liệu 88,2 120 Đọc sách, báo 77,9 106 Nghe đài phát thanh 59,6 81 Xem truyền hình 60,3 82 Nghe lãnh đạo, chuyên gia thuyết trình chuyên đề 58,8 80 Dự lớp tập huấn ngắn hạn 40,4 55 Dự lớp tập huấn dài hạn 33,1 45 Giao tiếp xã hội 32,4 44 Nguồn khác........................................................... 5,1 7 Theo đồng chí, khi viết về đề tài giáo dục chính trị - tư tưởng, tác giả cần B3 có kiến thức nào Kiến thức về chủ nghĩa Mác-Lênin 96,3 131 Kiến thức về tư tưởng Hồ Chí Minh 84,6 115 Hiểu sâu về chủ trương, đường lối của Đảng 78,7 107 Kiến thức về nhiệm vụ chính trị của quân đội 61,8 84 Kiến thức về truyền thống dân tộc, quân đội 58,8 80 Kiến thức về phẩm chất của “Bộ đội Cụ Hồ” 61,0 83 Kiến thức về chống chiến lược “diễn biến hòa bình” của địch 55,9 76 Kiến thức về nghiệp vụ báo chí truyền thông 46,3 63 Khác............................................................................... 3,7 5 167 Phụ lục 3: Đánh giá về truyền thông giáo dục chính trị - tư tưởng trên báo chí quân đội Mức độ quan tâm của lãnh đạo các cơ quan báo chí trong truyền thông C1 giáo dục chính trị - tư tưởng Rất nhiều 51,5 70 Nhiều 41,9 57 Trung bình 5,9 8 Ít 0,0 0 Rất ít 0,0 0 C2 Nguyên nhân do đâu 15 Đây là mảng đề tài khó 20,0 3 Ít phóng viên am hiểu sâu về lĩnh vực này 26,7 4 Các mảng đề tài này chưa tạo được nhiều nguồn thu 33,3 5 Các cơ quan chức năng chưa đầu tư kinh phí riêng để truyền 20,0 3 thông chủ trương này Khác................................................................... 0,0 0 Theo đồng chí, mức độ hiệu quả thông tin của báo chí quân đội về những C3 nội dung liên quan đến giáo dục chính trị - tư tưởng Giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin 99,3 136/137 Rất mạnh 51,1 70 Mạnh 40,9 56 Trung bình 7,3 10 Yếu 0,0 0 Giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh 99,3 136/137 Rất mạnh 55,5 76 Mạnh 43,1 59 Trung bình 0,7 1 Yếu 0,0 0 Giáo dục đường lối, quan điểm của Đảng 99,3 136/137 Rất mạnh 59,9 82 Mạnh 36,5 50 Trung bình 2,9 4 Yếu 0,0 0 Giáo dục nhiệm vụ chính trị của Quân đội và đơn vị 99,3 136/137 Rất mạnh 61,3 84 168 Mạnh 36,5 50 Trung bình 0,7 1 Yếu 0,7 1 Giáo dục truyền thống dân tộc, quân đội và đơn vị 99,3 136/137 Rất mạnh 62,0 85 Mạnh 35,8 49 Trung bình 1,5 2 Yếu 0,0 0 Giáo dục bản chất, âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù 98,5 135/137 Rất mạnh 59,1 Mạnh 32,1 Trung bình 7,3 Yếu 0,0 C4 Theo đồng chí, những thuận lợi khi truyền thông giáo dục chính trị - tư tưởng Sự quan tâm của lãnh đạo, chỉ huy các cấp 82,4 112 Trình độ nghiệp vụ đội ngũ phóng viên, nhà báo có chất lượng tốt 76,5 104 Nguồn tư liệu về chính trị - tư tưởng phong phú 66,2 90 Trang thiết bị truyền thông đầy đủ 50,7 69 Chế độ khen thưởng động viên kịp thời 41,2 56 Khác............................................................................ 0,0 0 C5 Theo đồng chí, những khó khăn khi truyền thông giáo dục chính trị - tư tưởng Chưa có kinh nghiệm để hiểu rõ phương thức truyền thông mới 51,9 70 Thiếu thông tin về giáo dục chính trị - tư tưởng 37,0 50 Thiếu tài liệu, tư liệu về giáo dục chính trị- tư tưởng 26,7 36 Thiếu trang thiết bị phương tiện truyền thông 19,3 26 Sức hút của lĩnh vực chính trị- tư tưởng đối với công chúng còn yếu 54,8 74 Khó tiếp cận với các chuyên gia, nhà quản lý 31,9 43 Chưa có nhiều kênh để tiếp nhận và lắng nghe ý kiến phản hồi 43,7 59 của công chúng Khác..................................................................... 0,0 0 Theo đồng chí, những hình thức truyền thông giáo dục chính trị - tư tưởng C6 nào được thể hiện trên báo chí quân đội hiện nay 1. Tin tức 82,5 113 169 2. Tường thuật 35,8 49 3. Bài phản ánh 55,5 76 4. Ghi nhanh 35,0 48 5. Phóng sự 50,4 69 6. Điều tra 29,9 41 7. Xã luận 57,7 79 8. Bình luận 62,0 85 9. Đàm luận 23,4 32 10. Phỏng vấn 43,8 60 11. Talkshow 17,5 24 12. Forum 6,6 9 13. Tiểu phẩm 16,8 23 14. Bài nghiên cứu khoa học 31,4 43 15. Ghi chép 40,9 56 16. Ký 27,7 38 17. Câu chuyện truyền thanh 29,2 40 18. Truyện ngắn 24,1 33 19. Tiểu thuyết 21,2 29 20. Thơ ca, nhạc họa 25,5 35 21. Khác................................ 1,5 2 Theo đồng chí, những hình thức truyền thông giáo dục chính trị - tư tưởng C7 thể hiện trên báo chí quân đội hiện nay như thế nào Rất hấp dẫn 18,7 25 Hấp dẫn 44,0 59 Bình thường 30,6 41 Chưa hấp dẫn 6,0 8 Đơn điệu 0,7 1 Khác.................... 0,0 0 Phụ lục 4: Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng truyền thông giáo dục chính trị - tư tưởng của báo chí quân đội Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng truyền thông giáo D dục chính trị - tư tưởng của báo chí quân đội Quan điểm của các cơ quan báo chí 70,9 95 Trình độ hiểu biết giáo dục chính trị - tư tưởng của nhà báo 70,1 94 Lợi ích kinh tế của cơ quan báo chí 27,6 37 170 Lợi ích kinh tế của báo chí 15,7 21 Trình độ dân trí 45,5 61 Sự hợp tác của các chuyên gia, nhà khoa học 40,3 54 Khác.................................................................................... 6,0 8 Phụ lục 5: Giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông giáo dục chính trị - tư tưởng trên báo chí quân đội Theo đồng chí, giải pháp nào nhằm nâng cao chất lượng truyền thông giáo E1 dục chính trị - tư tưởng Nâng cao trình độ chuyên môn, nhận thức cho những người 88,8 119 quản lý, tổ chức sản xuất các sản phẩm báo chí Thường xuyên tổ chức cập nhật kiến thức về giáo dục chính trị 70,1 94 - tư tưởng cho nhà báo Cơ quan báo chí thường xuyên tổ chức thu thập thông tin, phản hồi từ công chúng (đo rating) về các sản phẩm giáo dục chính 65,7 88 trị - tư tưởng Ngoài các sản phẩm báo chí, nên đa dạng hóa nhiều hình thức truyền thông khác (Chiến dịch truyền thông về giáo dục chính 60,4 81 trị - tư tưởng; Sự kiện truyền thông về giáo dục chính trị - tư tưởng; Hội thảo, hội nghị, tọa đàm, tờ rơi, phát hành sách) Khác.................................................................................. 0,7 1 Các cơ quan báo chí quân đội cần phải làm gì để nâng cao chất lượng E2 truyền thông giáo dục chính trị - tư tưởng Tham gia hoạch định, đóng góp về thực hiện đề án giáo dục 72,4 97 chính trị - tư tưởng Đa dạng hóa các nội dung và hình thức truyền thông giáo dục 66,4 89 chính trị - tư tưởng Đào tạo những nhà báo chuyên sâu về giáo dục chính trị - tư 67,2 90 tưởng Giới thiệu nhiều mô hình truyền thông tuyên truyền thông tin 61,2 82 chính trị của các nước phát triển Phối hợp, liên kết với các viện, trường để nghiên cứu, đào tạo 66,4 89 công tác truyền thông dài hạn về giáo dục chính trị - tư tưởng Khác..................................................................... 0,7 1 171 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC ĐỐI VỚI HỌC VIÊN QUÂN SỰ Ở 4 HỌC VIỆN, NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI Số phiếu: 497 phiếu Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Chính trị, Học viện Hậu cần, Học viện Kĩ thuật quân sự Thời gian khảo sát: tháng 6,7 năm 2017 Phụ lục 6: Thông tin chung về học viên quân sự ở các nhà trường quân đội Số TT NỘI DUNG % phiếu chọn A2 Giới tính Nam 97,2 483 Nữ 2,8 14 A7 Nơi đóng quân thuộc khu vực Đô thị 79,9 397 Nông thôn 19,5 97 Vùng sâu/vùng xa 0,6 3 A8 Thực trạng báo chí của đơn vị Đầy đủ 74,2 369 Khá đầy đủ 24,1 120 Thiếu báo 1,4 7 Không có 0,0 0 Phụ lục 7: Tiếp nhận thông tin từ báo chí quân đội của học viên quân sự B1 Đồng chí tiếp nhận thông tin từ các loại hình báo chí như thế nào Hằng ngày 95,0 472 Hằng tuần 4,4 22 Hằng tháng 0,2 1 Hằng quý 0,2 1 Hằng năm 0,0 0 Không bao giờ tiếp cận 0,2 1 Đồng chí thường tiếp cận loại hình báo chí nào nhiều nhất thông qua B2 phương tiện truyền thông gì sau đây Báo in 89,1 443 Báo giấy 84,3 419 Máy tính 4,2 21 Điện thoại 4,4 22 172 Báo điện tử 57,1 284 Máy tính 20,5 102 Điện thoại 16,9 84 Tivi 28,8 143 Truyền hình 75,3 374 Máy tính 5,0 25 Điện thoại 8,5 42 Tivi 66,0 328 Phát thanh 55,7 277 Máy tính 4,8 24 Điện thoại 8,5 42 Radio 44,3 220 B3 Thời gian đồng chí tiếp cận báo chí để nắm bắt thông tin Từ 30 phút - dưới 1 giờ/ngày 67,4 335 Từ 1 giờ - dưới 2 giờ/ngày 30,6 152 Từ 2 giờ - dưới 6 giờ/ngày 1,2 6 Từ 6 giờ - dưới 8 giờ/ngày 0,4 2 Hơn 8 giờ/ngày 0,4 2 B4 Thời điểm đồng chí thường tiếp cận báo chí Từ 5 giờ - 7 giờ 30 25,8 128 Từ 7 giờ 30 - 11 giờ 30 4,6 23 Từ 11 giờ 30 - 13 giờ 30 1,6 8 Từ 13 giờ 30 - 17 giờ 0,8 4 Từ 17 giờ - 24 giờ 67,6 336 Phụ lục 8: Nhận diện thông tin về giáo dục chính trị - tư tưởng Đồng chí thường tiếp cận thông tin về chính trị - tư tưởng qua sản phẩm báo C1 chí nào Báo Quân đội nhân dân 91,8 456 Báo Quân đội nhân dân điện tử 13,3 66 Kênh Truyền hình QPVN 70,8 352 Báo Biên phòng 1,8 9 Tạp chí Quốc phòng toàn dân 29,0 144 Báo Hải quân Việt Nam điện tử 2,0 10 Báo điện tử PK-KQ 1,4 7 Báo điện tử QK 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9 0,6 3 173 Tạp chí Văn hóa quân sự 43,7 217 Khác 8,7 43 Đồng chí thường tiếp cận thông tin giáo dục chính trị - tư tưởng qua dạng C2 chương trình nào Tin tức thời sự 98,2 488 Tiểu mục, tiết mục 9,1 45 Chuyên trang, chuyên đề, chuyên mục, tạp chí 30,8 153 Câu chuyện truyền thanh 24,7 123 Chương trình phát thanh, truyền hình trực tiếp 48,1 239 Khác 0,4 2 Phụ lục 9: Đánh giá về công tác truyền thông giáo dục chính trị - tư tưởng của báo chí quân đội Tần suất các tin, bài truyền thông giáo dục chính trị - tư tưởng trên báo chí D1 quân đội như thế nào Rất nhiều 16,5 82 Nhiều 57,5 286 Bình thường 24,7 123 Ít 1,0 5 Rất ít 0,2 1 Đồng chí tiếp cận những thông tin nào liên quan đến giáo dục chính trị - tư D2 tưởng trên báo chí quân đội nhiều nhất và nội dung đó ra sao Giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin 78,3 389 Phong phú 48,5 241 Bình thường 27,4 136 Đơn điệu 2,4 12 Giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh 82,9 412 Phong phú 64,2 319 Bình thường 18,1 90 Đơn điệu 0,6 3 Giáo dục đường lối, quan điểm của Đảng 87,1 433 Phong phú 64,6 321 Bình thường 20,9 104 Đơn điệu 1,6 8 Giáo dục nhiệm vụ chính trị của Quân đội và đơn vị 80,9 402 174 Phong phú 57,7 287 Bình thường 22,1 110 Đơn điệu 1,0 5 Giáo dục truyền thống dân tộc, quân đội và đơn vị 76,1 378 Phong phú 51,7 257 Bình thường 23,3 116 Đơn điệu 1,0 5 Giáo dục bản chất, âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù 78,3 389 Phong phú 51,1 254 Bình thường 24,7 123 Đơn điệu 2,4 12 Theo đồng chí, thông tin báo chí truyền thông về chính trị - tư tưởng D3 ở mức độ nào Rất sâu 15,7 78 Sâu 65,6 326 Bình thường 18,1 90 Sơ sài 0,4 2 Hình thức truyền thông nào của báo chí quân đội về chính trị - tư tưởng mà D4 đồng chí được tiếp cận nhiều nhất Các sản phẩm báo chí (tin, bài, phóng sự, chuyên trang, chuyên 91,8 456 mục, chương trình trực tiếp) về chính trị - tư tưởng Chiến dịch truyền thông về chính trị - tư tưởng 12,5 62 Sự kiện truyền thông về chính trị - tư tưởng 19,7 98 Hội thảo, hội nghị, tọa đàm, tờ rơi, sách 22,1 110 D5 Hình thức thể hiện các sản phẩm của báo chí quân đội có hấp dẫn không Hấp dẫn 47,7 237 Trung bình 46,9 233 Kém hấp dẫn 5,8 29 D6 Đồng chí có tương tác với báo chí quân đội chưa Thường xuyên 17,3 86 Thỉnh thoảng 23,5 117 Chưa bao giờ 59,0 293 D7 Đồng chí tương tác với báo chí quân đội bằng hình thức nào Gặp trực tiếp đại diện cơ quan báo chí 6,4 32 Gọi điện thoại 3,8 19 Gửi thư 15,5 77 175 Bình luận thông qua mạng 19,7 98 Bình luận thông qua điện thoại di động 6,0 30 Dung lượng, thời lượng của các chương trình truyền thông giáo dục chính D8 trị - tư tưởng của báo chí quân đội như thế nào Quá nhiều 3,4 17 Nhiều 35,8 178 Vừa phải 58,8 292 Ít 1,4 7 Quá ít 0,4 2 Thời điểm phát sóng các chương trình phát thanh, truyền hình liên quan D9 đến giáo dục chính trị - tư tưởng của báo chí quân đội có phù hợp không Phù hợp 94,2 468 Chưa phù hợp 7,8 39 Thời điểm phát hành, đăng tải các thông tin về giáo dục chính trị - tư tưởng D10 của báo chí quân đội có kịp thời không Kịp thời 93,6 465 Chưa kịp thời 3,4 17 Phụ lục 10: Hiệu quả của báo chí quân đội trong truyền thông giáo dục chính trị - tư tưởng Mức độ tác động thông tin của báo chí quân đội về những nội dung liên E1 quan đến giáo dục chính trị - tư tưởng Giáo dục chủ nghĩa Mác Lê nin 98,4 489 Yếu 1,8 9 Trung bình 22,7 113 Mạnh 58,4 290 Rất mạnh 15,5 77 Giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh 98,8 491 Yếu 0,6 3 Trung bình 9,1 45 Mạnh 56,7 282 Rất mạnh 32,4 161 Giáo dục đường lối, quan điểm của Đảng 98,6 490 Yếu 1,0 5 176 Trung bình 6,6 33 Mạnh 55,5 276 Rất mạnh 35,4 176 Giáo dục nhiệm vụ chính trị của quân đội và đơn vị 98,8 491 Yếu 1,4 7 Trung bình 8,5 42 Mạnh 57,3 285 Rất mạnh 31,6 157 Giáo dục truyền thống dân tộc, quân đội và đơn vị 98,8 491 Yếu 1,0 5 Trung bình 12,3 61 Mạnh 58,4 290 Rất mạnh 27,2 135 Giáo dục bản chất, âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù 99,0 492 Yếu 1,6 8 Trung bình 14,1 70 Mạnh 50,9 253 Rất mạnh 32,4 161 Những nội dung liên quan đến giáo dục chính trị - tư tưởng tác động sâu E2 sắc đến nhận thức của đồng chí Giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin 66,0 328 Giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh 80,7 401 Giáo dục đường lối, quan điểm của Đảng 78,1 388 Giáo dục nhiệm vụ chính trị của Quân đội và đơn vị 69,4 345 Giáo dục truyền thống dân tộc, quân đội và đơn vị 66,4 330 Giáo dục bản chất, âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù 74,6 371 Khác........................................................................ 3,4 17 Phụ lục 11: Những hạn chế trong công tác truyền thông giáo dục chính trị - tư tưởng trên báo chí quân đội Nội dung truyền thông giáo dục chính trị - tư tưởng của báo chí quân đội F1 còn có những hạn chế gì Nhiều chuyên mục, chuyên đề khi được truyền thông trên báo chí 58,8 292 quân đội chưa hiệu quả Chưa phản ánh hết mong muốn của quân nhân về nội dung chính 52,3 260 trị - tư tưởng Chưa thông tin kịp thời về nội dung chính trị - tư tưởng 13,9 69 177 Chưa thông tin đầy đủ về nội dung chính trị - tư tưởng 18,5 92 Làm cho quân nhân nhận thức mơ hồ về chính trị tư tưởng 8,5 42 Khác 5,6 28 Hình thức thể hiện của các chương trình truyền thông giáo dục chính trị - F2 tư tưởng của báo chí quân đội như thế nào Thu hút 53,9 268 Chưa thu hút 36,6 182 Đơn điệu 8,5 42 Tốc độ đường truyền truy cập, tần số phát sóng, công tác phát hành F3 như thế nào Tốt 42,7 212 Khá 46,5 231 Trung bình 8,9 44 Yếu 0,6 3 Nguyên nhân của những hạn chế đối với công tác truyền thông giáo dục F4 chính trị - tư tưởng trên báo chí quân đội là do Tác giả chưa am hiểu, nắm chắc vấn đề 15,1 75 Nội dung phản ánh còn chung chung 58,4 290 Thiếu những chuyên gia, nhà tư vấn hay 38,6 192 Chưa có dự báo, cảnh báo về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch 19,5 97 Khác 6,0 30 Phụ lục 12: Những giải pháp để nâng cao hiệu quả tuyên truyền giáo dục chính trị - tư tưởng của báo chí quân đội trong thời gian tới Theo đồng chí, báo chí quân đội cần có những giải pháp nào để nâng cao G1 chất lượng truyền thông giáo dục chính trị - tư tưởng trong thời gian tới Thông tin đa chiều về nội dung chính trị - tư tưởng 72,2 359 Tích cực sưu tầm, giới thiệu những chuyên đề chuyên sâu 56,5 281 Tổ chức sản xuất nhiều tin, bài, chương trình truyền hình thực 55,1 274 tế về các nội dung chính trị - tư tưởng Đa dạng hóa hình thức thể hiện 71,4 355 Sân khấu hóa các nội dung chính trị - tư tưởng 44,7 222 178 Đẩy mạnh tính tương tác giữa cơ quan báo chí với công chúng 60,0 298 Tăng thời lượng, dung lượng nội dung chính trị - tư tưởng 28,8 143 Thực hiện nhiều chiến dịch truyền thông, hội thảo, hội nghị, tọa 39,6 197 đàm, phát tờ rơi, phát hành sách về các nội dung chính- trị tư tưởng Giải pháp khác 1,0 5 Báo chí quân đội cần phải làm gì để nâng cao chất lượng truyền thông về G2 giáo dục chính trị - tư tưởng Tăng cường vài trò lãnh đạo của Đảng trong công tác truyền 73,0 363 thông giáo dục chính trị - tư tưởng Đào tạo nâng cao đạo đức, năng lực chuyên môn cho những người sản xuất, thực hiện các chương trình về giáo dục chính trị 64,0 318 - tư tưởng Thường xuyên thăm dò ý kiến của công chúng và đẩy mạnh 73,8 367 tương tác giữa cơ quan báo chí với công chúng Liên kết giữa các cơ quan báo chí quân đội với các cơ quan báo 54,5 271 chí trong và ngoài nước Đầu tư các trang, thiết bị, công nghệ số để thay đổi hình thức thể 61,8 307 hiện các chương trình truyền thông giáo dục chính -trị tư tưởng Các nhà quản lý và cơ quan báo chí cần tạo cơ chế như thế nào để các cơ G3 quan báo chí nâng cao chất lượng truyền thông giáo dục chính trị - tư tưởng Có nguồn kinh phí dành riêng cho công tác truyền thông giáo 63,2 314 dục chính trị - tư tưởng Đầu tư, nâng cấp các trang thiết bị cho các cơ quan báohí c nhằm 67,8 337 nâng cao chất lượng truyền thông giáo dục chính trị- tư tưởng Ký kết, hợp tác với các viện, trường thực hiện các đề tài nghiên 61,2 304 cứu khoa học về giáo dục chính trị- tư tưởng trên báo chí quân đội Tạo điều kiện cho các cơ quan báo chí, nhà báo đi tham quan, 61,4 305 tìm hiểu học hỏi nghiệp vụ ở các nước phát triển Giải pháp khác 0,8 4

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_anh_huong_cua_bao_chi_quan_doi_doi_voi_nhan_thuc_chi.pdf
  • pdfThông tin tóm tắt những kết luận mới (TA).pdf
  • pdfThông tin tóm tắt những kết luận mới của luận án tiến sĩ (TV).pdf
  • pdfTom tat luan an (TA).pdf
  • pdfTom tat luan an (TIENG VIET).pdf
Tài liệu liên quan