Những giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư cho Nông nghiệp và phát triển nông thôn địa bàn Hà Tĩnh

Mục lục Lời nói đầu Chương I: Những vấn đề lý luận chung. I/ Một số khái niệm - Vốn đầu tư - Hoạt động đầu tư II/ Vai trò và sự cần thiết của hoạt động đầu tư phát triển 1. Khái niệm và sự cần thiết của hoạt động đầu tư phát triển 2. Vai trò của đầu tư phát triển III/ Hiệu quả đầu tư phát triển 1. Khái niệm 2. Phương pháp đánh giá hiệu qủa thực hiện đầu tư 3. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế- xã hội của đầu tư xem xét ở tầm vĩ mô IV/ Vai trò của ngành nông nghiệp đối

doc61 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1221 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Những giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư cho Nông nghiệp và phát triển nông thôn địa bàn Hà Tĩnh, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Chương II: Đánh giá hiệu quả đầu tư cho nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Tĩnh (thời gian 1994- 1998) I/ Điều kiện tự nhiên - xã hội II/ Những lợi thế và hạn chế để phát triển nông lâm ngư nghiệp của Hà Tĩnh 1. Vai trò của nông lâm ngư nghiệp đối với sự phát triển kinh tế của Hà Tĩnh. 2. Những lợi thế và hạn chế để phát triển nông lâm ngư nghiệp Hà Tĩnh. III/ Thực trạng đầu tư cho nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Tĩnh (1994- 1998) 1. Tốc độ đầu tư 2. Cơ cấu đầu tư Chương III: Những giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư cho nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn Hà Tĩnh I/ Kinh nghiệm của địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội tương tự Hà Tĩnh II/ Phương hướng quy hoạch ngành nông lâm ngư nghiệp 1. Mục tiêu 2. Quy hoạch phát triển . III/ Các giải pháp cụ thể và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư cho nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Tĩnh Lời nói đầu Sau 10 năm đổi mới gắn liền với thực hiện một loạt chủ trương chính sách cơ chế quản lý mới trong nông nghiệp, bộ mặt nông nghiệp nông thôn Việt Nam đã có những thay đổi đáng mừng. Từ một nước trước đây phải nhập khẩu gạo trong nhiều năm, đến nay Việt Nam đã tự đảm bảo được lương thực và vươn lên đứng hàng thứ 3 các nước xuất khẩu gạo. Tuy nhiên Việt Nam vẫn là một nước nghèo, với 80% dân số sống bằng nghề nông ở nông thôn mà trong số nghèo đói của Việt Nam thì 95% là nông dân. Hà Tĩnh là một tỉnh miền Trung cũng không nằm ngoài xu hướng chung của cả nước, mặc dù trong những năm qua tỉnh đã có tốc độ tăng trưởng khá cao: 8,5% giai đoạn 1994- 1998. Nông nghiệp vẫn là mặt trận hàng đầu của tỉnh trong những năm tới. Vì vậy vấn đề đầu tư vốn và sử dụng vốn cho nông nghiệp và nông thôn của tỉnh đã diễn ra như thế nào? Có gì đáng quan tâm giải quyết để nông nghiệp và nông thôn của tỉnh cất cánh cùng cả nước bằng con đường công nghiệp hoá , hiện đại hoá, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề rộng lớn khó trình bày được tất cả trong phạm vi chuyên đề tôi xin trình bày một số ý kiến về thực trạng và một số kiến nghị trong các ngành nông lâm ngư nghiệp và thuỷ lợi. Bài viết được hoàn thành với sự giúp đỡ hướng dẫn của cô giáo Nguyễn Thị Thu Hà và các cán bộ phòng kế hoạch sản xuất thuộc sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hà Tĩnh. Nội dung của bài viết gồm 3 phần: Phần I: Những vấn đề lý luận chung Phần II: Đánh giá hiệu quả đầu tư cho nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Tĩnh (giai đoạn 1994- 1998) Phần III: Những giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư cho nông nghiệp và phát triển nông thôn địa bàn Hà Tĩnh. Đây là chuyên đề đầu tay do đó sẽ không tránh khỏi sai sót, em mong được sự góp ý, hướng dẫn của các thầy cô giáo trong bộ môn kinh tế đầu tư thuộc trường đại học kinh tế quốc dân. Chương I: Những vấn đề lý luận chung I/ Một số khái niệm: _ Đầu tư là sự hy sinh cái gì đó ở hiện tại như tiền, sức lao động, trí tuệ v.v. nhằm thu được một kết quả lớn hơn trong tương lai. Những kết quả trong tương lai phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà đôi khi nhà đầu tư không lường trước được như: Thị trường tâm lý người tiêu dùng, chính sách nhà nước, thiên tai... Không phải hoạt động đầu tư nào cũng mang lại kết quả là tăng thêm tiềm lực cho nền kinh tế quốc dân, chẳng hạn như hoạt động đầu tư tài chính và đầu tư thương mại. Đầu tư tài chính là hoạt động đầu tư trong đó chủ đầu tư bỏ vốn ra để cho vay lấy lãi hoặc mua các cổ phiếu, trái phiếu sau đó bán lại hoặc hưởng lãi suất do cổ phiếu, trái phiếu mang lại. Đầu tư thương mại là hoạt động đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để mua hàng hoá sau đó bán lại với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận từ chênh lệch giá mua và giá bán. Đầu tư tài chính và đầu tư thương mại làm tăng tài sản của chủ đầu tư và góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển. _ Vốn đầu tư: Trong điều kiện của nền sản xuất hàng hoá, để tiến hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải có tiền. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh tiền này dùng để sửa chữa hoặc mua sắm thêm các trang thiết bị, nhà xưởng, trả lương cho công nhân, cán bộ quản lý, mua sắm nguyên vật liệu... Đối với nhà nước tiền này dùng để chi cho bộ máy quản lý nhà nước; xây dựng cơ sở hạ tầng; chi cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, các chương trình phúc lợi xã hội; chi bổ sung cho các doanh nghiệp mà nhà nước muốn nắm độc quyền. Số tiền dùng để chi cho các hoạt động trên là rất lớn không thể trích ra cùng một lúc từ các khoản chi tiêu thường xuyên của các cơ sở của xã hội vì điều này sẽ làm xáo trộn mọi hoạt động bình thường của sản xuất và sinh hoạt của xã hội. Do đó tiền sử dụng cho các hoạt động trên chỉ có thể là tiền tích luỹ của xã hội của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ nước ngoài. Từ đây có thể rút ra định nghĩa về vốn đầu tư và nguồn gốc của vốn đầu tư như sau: Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, là tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo ra tiềm lực lớn hơn cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt xã hội và sinh hoạt của mỗi gia đình. _ Hoạt động đầu tư: Quá trình sử dụng vốn đầu tư xét về mặt bản chất chính là quá trình thực hiện sự chuyển hoá vốn bằng tiền (vốn đầu tư) thành vốn hiện vật để tạo nên những yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt. Quá trình này được gọi là hoạt động đầu tư hay đầu tư vốn. Như vậy, hoạt động đầu tư là quan trọng sử dụng vốn đầu tư nhằm duy trì tiềm lực sẵn có hoặc tạo ra tiềm lực lớn hơn cho sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt đời sống. Đối với nền kinh tế hoạt động đầu tư là một lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế nhằm tạo ra và duy trì sự hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ hoạt động đầu tư là điều kiện để phát triển của các cơ sở này. Hoạt động đầu tư đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế nói chung và trong từng cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng, nó là hoạt động có đặc thù riêng so với các hoạt động kinh tế khác và nhất là tính khó khăn trong khâu thực hiện do vừa có tính phức tạp về mặt kỹ thuật vừa tác động trực tiếp đến nền kinh tế quốc dân, ảnh hưởng mọi mặt đến đời sống xã hội. Do đó trước khi tiến hành hoạt động đầu tư phải có sự nghiên cứu cẩn thận, chu đáo. Sự chuẩn bị này thể hiện ở việc nghiên cứu và soạn thảo các dự án đầu tư. Một dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau, trên mỗi góc độ lại có một khái niệm riêng. Nhưng nhìn chung dự án đầu tư là một tập hồ sơ thể hiện một cách chi tiết có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được kết quả và thực hiện những mục tiêu trong tương lai. Một dự án đầu tư vừa là một công cụ để quản lý quá trình đầu tư, vừa là một công cụ để kế hoạch hoá chi tiết một công cuộc đầu tư. Một dự án đầu tư gồm 4 phần: 1- Mục tiêu của dự án. Có hai loại mục tiêu: + Mục tiêu phát triển là những lợi ích kinh tế xã hội do việc thực hiện dự án đem lại. Đây là mục tiêu chủ yếu của nhà quản lý và lập kế hoạch vĩ mô. + Mục tiêu trước mắt là các mục tiêu cụ thể cần đạt được như lợi nhuận, giải quyết công ăn việc làm... Các kết quả đạt được khi thực hiện dự án. Tổ chức thực hiện để đạt được kết quả đó. Nguồn lực huy động cho việc thực hiện dự án. II/ Vai trò và sự cần thiết của hoạt động đầu tư phát triển. 1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư phát triển. a- Khái niệm: Đầu tư phát triển là hoạt động đầu tư trong đó chủ đầu tư bỏ vốn ra để tiến hành các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh. Đây là loại đầu tư tái sản xuất mở rộng, là biện pháp để cung cấp việc làm cho người lao động, là tiền đề để thực hiện đầu tư tài chính và đầu tư thương mại. Chính sách điều tiết của nhà nước và sự điều tiết của thị trường sẽ hướng tới việc sử dụng vốn của các nhà đầu tư theo định hướng của nhà nước từ đó tạo nên một cơ cấu kinh tế hợp lý. b- Đặc điểm: Đầu tư phát triển có những khác biệt so với các loại đầu tư khác. Sự khác biệt này thể hiện ở các khía cạnh sau: _Tiền, vật tư lao động cần huy động cho một công cuộc đầu tư thường rất lớn. _ Do tính chất phức tạp của đầu tư phát triển mà thời gian cần thiết để thực hiện một công cuộc đầu tư thường kéo dài, vốn đầu tư nằm khê đọng lâu không tham gia vào quá trình chu chuyển và trong suốt thời gian này không sinh lợi cho nền kinh tế và chủ đầu tư. _ Thời gian thu hồi vốn lâu thường là hàng chục năm, độ rủi ro cao do ảnh hưởng của các yếu tố bất định trong tương lai. Vì vậy để đảm bảo cho công cuộc đầu tư đem lại hiệu quả cao cần phải xem xét tính toán toàn diện các khía cạnh kinh tế kỹ thuật, điều kiện tự nhiên, môi trường pháp lý... có liên quan đến quá trình thực hiện đầu tư; phải lường trước được các rủi ro có thể xảy ra trong tương lai cũng như trong quá trình thực hiện đầu tư. Điều này thể hiện trong việc nghiên cứu và lập dự án đầu tư, dự án đầu tư càng chi tiết bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu, đây là điều kiện cho một dự án đầu tư mang lại hiệu quả cao. 2. Vai trò của đầu tư phát triển: a- Đầu tư phát triển vừa tác động đến tổng cung vừa tác động đến tổng cầu của nền kinh tế. _ Đối với tổng cầu: Khi tiến hành một công cuộc đầu tư trong giai đoạn đầu đòi hỏi phải mua sắm các máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng, trả lương cho công nhân v.v.. điều này làm cho tổng cầu tăng lên. Theo số liệu của WB đầu tư chiếm khoảng 24- 28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới. Đối với tổng cầu tổng cầu tác động của đầu tư là ngắn hạn. Công cuộc đầu tư chưa phát huy được tác dụng (tổng cung chưa kịp thay đổi). Sự tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng: Đường cầu D dịch chuyển lên D’- sản lượng cân bằng tăng từ Q0 lên Q1 và giá tăng từ P0 lên P1. _ Đối với tổng cung: Khi thành qủa của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung tăng lên: Đường cung S dịch chuyển sang S’, điểm cân bằng từ E1 chuyển sang E2 với sản lượng Q2 và giá P2 < P1. P D’ D S S’ P1 E1 P0 E0 P2 E2 0 Q0 Q1 Q2 Q b- Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cầu và đối với tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư, dù là tăng hay giảm đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định nền kinh tế của mọi quốc gia. Khi tăng đầu tư, cầu của các yếu tố đầu tư tăng làm cho giá cả các mặt hàng có liên quan tăng đến một mức độ nào đó dẫn đến tình trạng lạm phát. Lạm phát làm sản xuất đình trệ, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, thâm hụt ngân sách, kinh tế phát triển chậm lại. Mặt khác, do cầu các yếu tố liên quan tăng khi tăng đầu tư dẫn đến sản xuất các mặt hàng này phát triển và khi kết quả đầu tư phát huy tác dụng, làm tăng thêm năng lực sản xuất của nền kinh tế, thu hút thêm lao động, giảm tình trạng thất nghiệp , nâng cao đời sống người lao động, góp phần giảm tệ nạn xã hội . Tất cả các tác động này tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. Khi giảm đầu tư cũng dẫn đến tác động hai mặt nhưng theo chiều hướng tác động ngược lại. Khi giảm đầu tư kéo theo giảm phát, năng lực sản xuất của nền kinh tế giảm, thất nghiệp tăng lên, kinh tế đình trệ. c- Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế : kết quả nghiên cứu cho thấy muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt từ 15- 25% so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước. Vốn đầu tư ICOR = Mức tăng GDP suy ra: Vốn đầu tư Mức tăng GDP = ICOR Nếu ICOR không đổi mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư . Chỉ tiêu ICOR phụ thuộc vào nhiều nhân tố thay đổi theo trình độ phát triển và cơ chế chính sách của mỗi nước. ở các nước phát triển ICOR thường lớn từ 5- 7 do thừa vốn thiếu lao động, vốn được sử dụng nhiều để thay thế cho lao động do sử dụng công nghệ hiện đại, giá cao. Còn ở các nước chậm phát triển ICOR thường thấp từ 2- 3 do thiếu vốn, thừa lao động, sử dụng công nghệ kém hiện đại cần nhiều lao động ít vốn. Đối với các nước đang phát triển để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, thoát khỏi sự nghèo đói lạc hậu thì cần phải tăng cường đầu tư nhưng để đầu tư thì cần phải có vốn, đây là cái vòng luẩn quẩn của các nước nghèo. d- Đầu tư tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy: để có tốc độ tăng trưởng nhanh (9- 10%) cần tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ. Đối với các ngành nông lâm ngư nghiệp do những hạn chế về đất đai và khả năng sinh học, để đạt được tốc độ tăng trưởng 5-6% là rất khó khăn. Như vậy chính sách đầu tư quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh của toàn bộ nền kinh tế. Về cơ cấu lãnh thổ đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị... của những vùng có khả năng phát triển. e- Đầu tư làm tăng khả năng khoa học công nghệ của đất nước. Khoa học công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá, là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của mỗi quốc gia. Có 2 con đường để có công nghệ là tự nghiên cứu phát minh ra công nghệ và nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài. Dù là tự nghiên cứu hay nhập công nghệ của nước ngoài đều phải có tiền, phải có vốn đầu tư. Đó là năm vai trò của đầu tư phát triển đối với nền kinh tế quốc dân, còn đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở. III/ Hiệu quả đầu tư phát triển: 1. Khái niệm: a- Hiệu quả tài chính: Hiệu quả tài chính (Etc) của hoạt động đầu tư là mức độ đáp ứng nhu cầu phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và nâng cao đời sống của người lao động trong các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ so với số vốn đầu tư mà cơ sở đã bỏ ra. Các kết quả mà cơ sở thu được do thực hiện đầu tư Etc = Số vốn đầu tư mà cơ sở đã thực hiện để tạo ra các kết quả trên Etc được coi là hiệu quả khi Etc > Etco Etc0: chỉ tiêu hiệu quả tài chính định mức, hoặc của kỳ trước mà cơ sở chọn làm so sánh. Để phản ánh hiệu quả tài chính người ta dùng các chỉ tiêu như: Lợi nhuận thuần tỷ suất hoàn vốn nội bộ IRR... b- Hiệu quả kinh tế - xã hội : Hiệu quả kinh tế -xã hội là kết quả so sánh giữa cái mà xã hội phải trả cho việc sử dụng các nguồn lực sẵn có một cách tốt nhất và lợi ích do đầu tư tạo ra cho toàn bộ nền kinh tế. Các chi phí mà xã hội phải gánh chịu như ô nhiễm môi trường, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, của cải vật chất, sức lao động... Các lợi ích thu được có thể là lợi nhuận , tăng thu cho ngân sách, hoặc cũng có thể là số chỗ làm việc, đáp ứng được các mục tiêu chính sách của nhà nước. 2. Phương pháp đánh giá hiệu quả do thực hiện đầu tư. a- Xuất phát từ góc độ nhà đầu tư : Là các doanh nghiệp, lợi ích kinh tế xã hội của đầu tư được xem xét biệt lập với những tác động của nền kinh tế đối với nó (như trợ giá đầu vào, bù lỗ đầu ra... của nhà nước). Trong trường hợp này phương pháp được áp dụng là dựa trực tiếp vào số liệu của các báo cáo tài chính của hoạt động đầu tư để tính các chỉ tiêu định lượng, như các chỉ tiêu: NPV, IRR, Wi... Bên cạnh đó doanh nghiệp cũng xem xét các chỉ tiêu định tính như sau: + Mức đóng góp cho ngân sách từng năm và cả đời dự án. + Số chỗ làm việc tăng thêm khi thực hiện đầu tư. Số chỗ lao động tăng thêm = số lao động thu hút thêm - số lao động mất việc làm + Số ngoại tệ thu được từ hoạt động đầu tư Số ngoại tệ thực thu = S thu ngoại tệ - S chi ngoại tệ + Nâng cao năng suất lao động và trình độ sản xuất + Mức nâng cao trình độ nghề nghiệp của người lao động và của các cán bộ quản lý. + Tạo thị trường mới và mức độ chiếm lĩnh thị trường. + Các tác động đến môi trường. + Đáp ứng các mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước. b- Đối với các cấp quản lý vĩ mô của nhà nước, của địa phương, của ngành. Khi xem xét hiệu quả kinh tế xã hội của đầu tư phải tính đến mọi chi phí trực tiếp và gián tiếp có liên quan đến việc thực hiện đầu tư, mọi lợi ích trực tiếp hay gián tiếp thu được do đầu tư mang lại. Chi phí ở đây bao gồm chi phí của nhà đầu tư của địa phương, ngành và của đất nước. Các lợi ích ở đây bao gồm lợi ích mà nhà đầu tư, người lao động, địa phương và cả nền kinh tế được hưởng. Để xác định các chi phí lợi ích đầy đủ của các công cuộc đầu tư phải sử dụng các báo cáo tài chính , tính lại giá cả đầu vào và đầu ra theo giá xã hội (giá ẩn, giá tham khảo). Không thể dùng giá thị trường để tính thu chi và lợi ích kinh tế xã hội vì giá thị trường chịu sự chi phối của các chính sách tài chính, kinh tế của đất nước. Do đó giá thị trường không phản ánh đúng chi phí xã hội thực tế. Để giảm nhẹ quá trình tính toán, các khoản thu chi chiếm tỷ trọng nhỏ, những giá trị trường của những đầu ra khác biệt ít so với chi phí xã hội thì không cần điều chỉnh. Đối với các khoản thu chi lớn thì nguyên tắc điều chỉnh là: * Đối với đầu ra: _ Để xuất khẩu dùng giá FOB (Free on board). _ Để tiêu thụ nội địa dùng giá CIF (Cost insurance Freight). Đây là cái giá xã hội thực tế sử dụng trong nước. + Nếu là hàng thiết yếu dùng giá thị trường trong nước hiện tại. Giá này bằng giá nội địa cộng với thuế gián thu (nếu có). + Đối với dịch vụ hạ tầng tiêu thụ nội địa dùng gía thị trường trong nước hiện tại hoặc chi phí sản xuất tuỳ thuộc loại nào cao hơn. * Đối với đầu vào: _ Nhập khẩu dùng giá CIF hiện tại. Giá này bằng giá CIF cộng với phí vận tải, phí bảo hiểm... trong nước. _ sản xuất nội địa + Loại đầu vào sản xuất nội địa có thể xuất khẩu dùng giá thị trường trong nước hiện tại hoặc giá nào cao hơn. + Loại đầu vào sản xuất nội địa có thể nhập khẩu dùng giá thị trường trong nước hiện tại hoặc giá FOB hiện tại tuỳ thuộc giá nào cao hơn. + Các loại đầu tư vào khác dùng giá thị trường trong nước hiện tại (giá thị trường trong nước cộng thuế gián thu). Đối với dịch vụ hạ tầng tạo ra trong nước (nếu không thể xuất khẩu hoặc nhập khẩu được) dùng giá thị trường trong nước hiện tại hoặc chi phí sản xuất tuỳ thuộc vào mức nào cao hơn. Đối với đất đai dùng giá thị trường trong nước hiện tại đối với đất đai dùng để xây dựng nhà máy. Lao động gồm: tiền lương, tiền thưởng và phụ cấp Để điều chỉnh giá FOB và CIF về tiền nội địa cần sử dụng tỷ giá hối đoái có điều chỉnh PF. PF là thước đo giá trị xã hội thực tế của ngoại tệ khi tỷ giá chính thức bị sai lệch không phản ánh đúng giá trị thực tế của ngoại tệ. M PF= RF * B RF: Tỷ giá hối đoái chính thức. M: giá trị các khoản thanh toán hữu hình và vô hình bằng tiền trong nước. B: gía trị các khoản thanh toán hữu hình và vô hình bằng tiền nước ngoài. 3) Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư ở tầm vĩ mô: a. Các yêu cầu khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu: Để các chỉ tiêu đánh gía hiệu quả đầu tư thực hiện chức năng của mình là giúp cho người quản lý trên cơ sở số liệu đó có thể phân tích đánh giá chính xác, khoa học tình hình đầu tư ở Hà Tĩnh thì việc xây dựng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư phải bảo đảm các yêu cầu sau: _ Tính so sánh: các chỉ tiêu phải bảo đảm tính so sánh tức là các chỉ tiêu phải so sánh được giữa năm này với năm khác, vùng này với vùng khác, giữa thời nghiên cứu với thời kỳ gốc... _ Tính hệ thống nghiên cứu của các chỉ tiêu: các chỉ tiêu tính toán phảỉ có hệ thống, chỉ tiêu này bổ sung cho chỉ tiêu khác, hỗ trợ lẫn nhau trong phân tích. _ Tính thống nhất: các chỉ tiêu phải được xác định theo nguyên tắc nhất định, sử dụng cùng một số liệu tính toán. b. Một số chỉ tiêu chủ yếu phản ánh hiệu qủa kinh tế - xã hội của đầu tư xem xét ở tầm vĩ mô. (1) Giá trị sản phẩm thuần tuý tăng thêm ký hiệu là NVA (Net Value Added). Đây là chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả kinh tế xã hội của đầu tư. NVA là mức chênh lệch giữa giá trị đầu vào và giá trị đầu ra. NVA = O - (MI + IV) NVA: giá trị sản phẩm thuần tuý tăng thêm do đầu tư mang lại. (output) giá trị đầu ra (doanh thu) của công cuộc đầu tư. MI: (Material Input) giá trị đầu vào vật chất thường xuyên và các dịch vụ mua ngoài theo yêu cầu. IV: Vốn đầu tư hoặc khấu hao. + NVA tính cho từng năm: NVAi = Oi - (Mii + Di) Di là khấu hao năm i + NVA tính cho cả đời dự án. n-1 n-1 S NVAi = S (0 - MI)ipv - Iv0 i= 0 i= 0 + NVA tính bình quân năm cho cả một thời kỳ. n-1 NVA = [S(0 - MI)ipv - Iv0] / n i =0 hoặc : n-1 rs (1 + rs)n NVA = [S(0 - MI)ipv - Iv0] * i =0 (1 + rs)n - 1 rs: tỷ suất chiết khấu xã hội NVA bao gồm 2 yếu tố: chi phí trực tiếp trả cho người lao động (Wg) và các thu nhập xã hội (SS). Wg phụ thuộc vào mức độ làm việc và mức lương bình quân của người lao động. SS là thu nhập xã hội từ hoạt động của các kết quả đầu tư như: thuế, trả lãi vay, lãi cổ phần, đóng bảo hiểm và tái bảo hiểm, thuế đất, tiền đóng bảo hiểm và tái bảo hiểm, tiền mua phát minh sáng chế và lợi nhuận không phân phối để lại cho cơ sở để lập các quỹ phát triển sản xuất gây dự trữ, gây phúc lợi... + Đối với các dự án đầu tư liên doanh NVA gồm hai bộ phận: _ giá trị sản phẩm thuần tuý gia tăng quốc gia, giá trị này được sử dụng trong nước (NNVA) _ giá trị gia tăng thuần tuý được chuyển ra nước ngoài RP. NNVA là chỉ tiêu biểu hiện sự đóng góp của đầu tư đối với nền kinh tế trong nước. n-1 n-1 SNNVAi = S [ 0 - (MI + RP)]ipv - Iv0 i= 0 i= 0 (2) Chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Chỉ tiêu này thường được hiểu là toàn bộ sản phẩm và dịch vụ mới được tạo ra trong năm bằng các yếu tố sản xuất trong phạm vi lãnh thổ quốc gia hoặc trong một khu vực địa phương. Đại lượng này được tiếp cận theo các cách khác nhau: + về phương diện sản xuất thì GDP có thể được xác định bằng toàn bộ giá trị gia tăng của các ngành, các khu vức sản xuất và dịch vụ trong nước. Giá trị gia tăng được xác định dựa trên cơ sở hạch toán các khoản chi phí, các yếu tố sản xuất và lợi nhuận của các cơ sở sản xuất và dịch vụ Giá trị gia tăng (Y) = Giá trị sản lượng (G0) - chi phí các yếu tố trung gian (đầu vào)(MI) + Về phương diện tiêu dùng thì GDP biểu hiện ở toàn bộ hàng hoá và dịch vụ cuối cùng tính theo giá hiện hành của thị trường , được tạo ra trên phạm vi lãnh thổ quốc gia hàng năm GDP tiêu dùng = C + I + G + (X - M) C: chi tiêu của hộ gia đình I: tổng đầu tư cho sản xuất G: chi tiêu của Chính phủ X: giá trị xuất khẩu M: giá trị nhập khẩu Do tính GDP theo giá hiện hành của thị trường, do vậy trong đây bao gồm thuế gián thu (Te). GDP sản xuất = GDP tiêu dùng - Te + Xác định GDP theo phương diện thu nhập thì GDP là toàn bộ giá trị mà các hộ gia đình, các doanh nghiệp và các tổ chức nhà nước thu được từ giá trị gia tăng đem lại. GDP thu nhập = Cp + Ip + T Cp: Thu nhập của hộ gia đình Ip: đầu tư của doanh nghiệp T: nguồn thu thuế của nhà nước Về mặt nguyên tắc, thì các phương pháp tiếp cận GDP đó đều đưa lại kết quả bằng nhau. Nhưng trên thực tế thì nó chỉ xấp xỉ hoặc có những chênh lệch nhất định do những sai lệch về giá cả sử dụng để tính hoặc sai sót do thống kê, tính toán. (3) Chỉ tiêu số lao động có việc làm do thực hiện dự án và số lao động có việc làm tính trên một đơn vị giá trị vốn đầu tư. Số lao động có việc làm bao gồm số lao động có việc làm trực tiếp và số lao động có việc làm ở các dự án liên đới. Các dự án liên đới là các dự án khác được thực hiện do sự đòi hỏi của dự án được xem xét. Toàn bộ số lao động (trực tiếp và gián tiếp) tính trên 1 đơn vị vốn đầu tư (It). LT IT = Ivt LT: Toàn bộ số lao động có việc làm IVT: số vốn đầu tư của dự án đang xem xét mà các dự án liên đới. (4) Chỉ tiêu mức giá trị gia tăng của mỗi nhóm dân cư hoặc vùng lãnh thổ. Chỉ tiêu này phản ánh tác động điều tiết thu nhập giữa các nhóm dân cư hoặc vùng lãnh thổ . Chỉ tiêu tiết kiệm ngoại tệ Những tác động khác của dự án + Những ảnh hưởng đến kết cấu hạ tầng + Tác động đến môi trường. + Nâng cao trình độ kỹ thuật sản xuất , trình độ nghề nghiệp của người lao động, trình độ quản lý của các nhà quản lý. + Những tác động về xã hội chính trị và kinh tế khác. IV. Vai trò của ngành nông nghiệp đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Từ thời phong kiến Nguyễn Trãi người anh hùng dân tộc đã khẳng định: “phi thương bất phú, phi công bất đạt, phi nông bất ổn”. Đất nước ta với dân số gần 80 triệu người trong đó 75% lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp,vì vậy nông nghiệp giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Không thể phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ khi nông nghiệp còn lạc hậu. Nhận thức được điều này trong chiến lược phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá , hiện đại hoá Đảng ta luôn luôn xác định nông nghiệp là nền tảng để nền kinh tế cất cánh. Do được đầu tư quan tâm đúng mức trong những năm gần đây nền nông nghiệp nước ta luôn tăng trưởng với tốc độ khá cao (4- 5%). Năm 1998 ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng 32% trong tổng sản phẩm quốc nội. Trong 10 mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn ngành nông nghiệp chiếm tới 6 mặt hàng là: gạo , cà phê, chè, hạt điều, thuỷ sản, tơ sợi. Từ một nước phải nhập khẩu gạo đến nay nước ta đã trở thành nước xuất khẩu gạo đạt 700 triệu USD đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan, đứng thứ 4 trên thế giới về giá trị kim ngạch xuất khẩu sau dầu khí , dệt may và da giày.. các sản phẩm cây công nghiệp cũng liên tục tăng về giá trị xuất khẩu: năm 1998 cà phê đạt 428 triệu USD, thuỷ sản đạt 200 triệu USD, chè đạt 112 triệu USD... Mặc dù giá trị xuất khẩu tăng liên tục qua các năm nhưng các sản phẩm xuất khẩu vẫn ở dạng thô, sơ chế do đó sản phẩm xuất khẩu vẫn ở giá rẻ và bị nước ngoài cạnh tranh ép giá. Chẳng hạn gạo xuất khẩu của Việt Nam giá xuất khẩu thấp hơn giá gạo xuất khẩu của Thái Lan 10 USD/ tấn mặc dù chất lượng gạo như nhau. Điều này đòi hỏi nhà nước phải có một chính sách đầu tư hợp lý trong khâu thu mua, chế biến và bảo quản, tránh tình trạng tranh mua tranh bán như hiện nay, đồng thời phải có những ưu tiên đúng mức trong cơ cấu đầu tư cho nông nghiệp và phát triển nông thôn. Đièu này cũng là yêu cầu cấp bách của Hà Tĩnh, một tỉnh miền trung với nông nghiệp chiếm 54% tổng GDP toàn tỉnh Chương II: Đánh giá hiệu quả đầu tư cho nông nghiệp và phát triển nông thôn từ 1994 - 1998 I/ Điều kiện tự nhiên- xã hội : 1. Vị trí địa lý: Hà Tĩnh là một tỉnh miền Trung (khu IV cũ) mới được tách ra từ tĩnh Nghệ Tĩnh (từ năm 1991), nằm ở từ 170 54’ độ vĩ Bắc đến 180 50’ độ vĩ Bắc và 1050 48’ đến 1080 kinh Đông. Tỉnh có diện tích tự nhiên 6054,85 km2, dân số 1276,9 nghìn người (năm 1997) chiếm 1,8 % diện tích tự nhiên, 1,7 % dân số cả nước. Phía Bắc giáp Nghệ An, phía Nam giáp Quảng Bình, Tây giáp Lào và Đông giáp biển Đông. Hà Tĩnh có 2 thị xã là Hà Tĩnh và Hồng Lĩnh, 10 thị trấn của 8 huyện, Hà Tĩnh có đường quốc lộ số 8 qua Lào (dài 100 km) và tương lai được nối với đường xuyên á qua Đông Bắc Thái Lan. Hà Tĩnh còn có cửa khẩu quốc tế Cầu Treo nằm ở huyện Hương Sơn giáp tỉnh Khon Kean (Lào). Bờ biển Hà Tĩnh dài 137 km, hiện chưa được khai thác triệt để các nguồn lợi ven bờ cũng như ngoài khơi. Hà Tĩnh có cả rừng, cả biển và đồng bằng, có thể tạo môi trường bổ sung cho nhau cùng phát triển. 2. Địa hình: Nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn, địa hình Hà Tĩnh hẹp và dốc nghiêng từ Tây sang Đông, độ dốc trung bình cứ 1km giảm 12 m. Phía Tây là núi cao (độ cao trung bình là 1500m), kế tiếp là đồi bát úp, dãy đồng bằng nhỏ hẹp (độ cao trung bình 5m) và cuối cùng là bãi cát ven biển. Độ dốc lớn đất bị rửa trôi, bào mòn mạnh. Đồng bằng nhỏ hẹp chạy dọc theo quốc lộ 1A và thường bị núi cắt ngang. Bãi cát chạy dọc suốt hơn 100 km ven biển với nhiều cửa lạch tạo thành những điểm du lịch (Thiên Cầm, Xuân Thành...) và nhiều ngư trường, đặc biệt là có 4 cửa sông đổ ra biển. Địa hình đồi núi chiếm 80% diện tích tự nhiên, phân hoá phức tạp và bị chia cắt mạnh, hình thành các vùng sinh thái khác nhau, trong mỗi vùng có biên độ bền chặt chẽ về kinh tế xã hội và môi trường sinh thái từ thượng nguồn tới ven biển. Địa hình đó đã tạo cho Hà Tĩnh những cảnh quan có giá trị đối với du lịch (rừng nguyên sinh Vũ Quang, Thái Vũ, Mông...) và việc phát triển ngành trồng rừng và khai thác chế biến gỗ . 3. Đất đai: Nhìn chung, đất Hà Tĩnh cũng như các tỉnh miền Trung không được màu mỡ lắm, chủ yếu là đất Feralit. Hạ lưu các con sông lớn, nhỏ là các cánh đồng nhỏ hẹp được bồi đắp bởi đất phù sa, thích hợp cho việc trồng các cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày. Trong tổng số trên hơn 610 nghìn ha đất (tính đến 10/ 1997) thì đất dành cho nông nghiệp trên 150 nghìn chiếm tỷ lệ 17%; lâm nghiệp 189 nghìn ha chiếm 31%; đất chuyên dùng 28 nghìn ha; thổ cư 7 nghìn ha, còn lại 277 nghìn ha đất chưa sử dụng là đồi núi, mặt nước, núi đá không có cây. Tuy nhiên còn có 50% đất có khả năng khai thác trong số 277 nghìn ha đất chưa sử dụng 4. Khí hậu: Hà Tĩnh cũng như các tỉnh phía Bắc Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam. Với đặc trưng của khí hậu nhiệt đới điển hình ở miền Nam và một mùa đông lạnh giá ở miền Bắc. Hàng năm Hà Tĩnh có 2 mùa rõ rệt: _ Mùa mưa có nhiều bão lụt kéo dài từ tháng 8 đến tháng 11, lượng mưa trung bình cao trên 2000 mm do vậy lũ lụt thường xảy ra hàng năm gây thiệt hại nhiêù về người và của. _ Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 7. Đây là mùa nắng gắt, có gió Tây (thổi từ Lào) nóng, lượng bốc hơi lớn gây hạn hán nghiêm trọng. Việc xây dựng các công trình thuỷ lợi lớn để giữ nước có một ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội cuả tỉnh. 5. Tài nguyên biển: Hà Tĩnh có 137 km bờ biển. Đây là một ngư trường có nhiều hải sản quý với trữ lượng khá cao như tôm hùm, sò huyết... chỉ mới khai thác 10- 15%. Từ đây Hà Tĩnh có thể phát triển mạnh đánh bắt, nuôi trồng và xây dựng công nghiệp chế biến hải sản xuất khẩu và xây dựng công nghiệp chế biến hải sản xuất khẩu (._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docB0073.doc