Tổ chức và hoạt động Công đoàn cơ sở khu vực ngoài quốc doanh ở Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hoá (96tr)

Phần mở đầu 1.Tính cấp thiết của đề tài: Sau gần 20 năm đổi mới, từ cơ chế quản lý kinh tế quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế-xã hội của đất nước ta ngày càng phát triển. Trong đó phải kể đến vai trò đóng góp không nhỏ của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Cùng với sự đóng góp của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong cả nước, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của tỉnh Thanh Hoá t

doc96 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1298 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Tổ chức và hoạt động Công đoàn cơ sở khu vực ngoài quốc doanh ở Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hoá (96tr), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
rong những năm vừa qua đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của địa phương, đồng thời ngày càng phát triển mạnh mẽ. Sự phát triển đa dạng, phong phú và nhanh chóng của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong tỉnh đặt ra cho Liên đoàn lao động tỉnh Thanh Hoá một nhiệm vụ quan trọng đó là: Phải nhanh chóng tập hợp và đưa lực lượng đông đảo công nhân lao động vào tổ chức Công đoàn để giáo dục, động viên người lao động thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, góp phần làm cho kinh tế-chính trị-xã hội của tỉnh Thanh Hoá ngày càng ổn định và phát triển. Thực hiện chính sách đổi mới kinh tế của Đảng, Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hoá đã có nhiều cố gắng trong việc vận động, phát triển và đưa Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh vào hoạt động. Tuy vậy, so với yêu cầu thực tế thì kết quả còn khiêm tốn. Vì vậy, việc phát triển tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh trong thời kỳ mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hoá. Đây là nhiệm vụ mới mẽ, nặng nề và khó khăn đối với tổ chức Công đoàn. Điều này đòi hỏi sự nghiên cứu của các chuyên gia Công đoàn, sự đầu tư của Công đoàn các cấp và sự năng động của đội ngũ cán bộ Công đoàn, nhất là cán bộ Công đoàn cơ sở đối với hoạt động Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh ở Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hoá. Nhận thức vấn đề trên, cho nên em mạnh dạn chọn đề tài: “Tổ chức và hoạt động Công đoàn cơ sở khu vực ngoài quốc doanh ở Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hoá” làm Khoá luận tốt nghiệp, với mong muốn được đóng góp công sức, trí tuệ của mình với tổ chức Công đoàn để tìm ra một hướng đi chung cho các Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh. 2. Mục đích nghiên cứu: - Làm rõ những cơ sở lý luận của tổ chức Công đoàn ngoài quốc doanh trong hệ thống Công đoàn. - Phân tích thực trạng tổ chức, hoạt động Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh ở Liên đoàn lao động tỉnh Thanh Hoá trong thời gian qua. - Đề xuất một số giải pháp xây dựng tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh . 3. Đối tượng nghiên cứu: 3.1. Chủ thể nghiên cứu: Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh 3.2. Khách thể nghiên cứu: Chủ doanh nghiệp, Công nhân, lao động thuộc các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. 4. Phạm vi nghiên cứu: 4.1. Không gian nghiên cứu: Các Công đoàn cơ sở khu vực kinh tế Liên doanh với nước ngoài, khu vực kinh tế tư nhân, Công ty cổ phần, Công ty TNHH, khu vực kinh tế hợp tác xã ở tỉnh Thanh Hoá. 4.2. Thời gian nghiên cứu: Từ năm 1998 đến nay. 5. Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận sử dụng phương pháp luận biện chứng Mác-LêNin kết hợp với khảo sát thực tế, phân tích, tổng hợp, so sánh và đối chiếu số liệu trong các giai đoạn khác nhau và khảo cứu tài liệu. Từ đó đưa ra giải pháp để thực hiện trong thời gian tới. 6. Kết cấu đề tài: Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, nội dung của khoá luận gồm 3 phần: Phần thứ nhất: Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh. Phần thứ hai: Tổ chức và hoạt động Công đoàn cơ sở khu vực ngoài quốc doanh ở Liên đoàn Lao động Thanh Hoá. Phần thứ ba: Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm xây dựng tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh ở Liên đoàn Lao động Thanh Hoá trong thời kỳ mới. Phần thứ nhất Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động công đoàn cơ sở khu vực ngoài quốc doanh I. Quan điểm của đảng cộng sản Việt Nam về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. 1. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần: Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là một trong những chủ trương lớn, rất quan trọng của Đảng ta trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Thực tế đã chứng tỏ đây là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn. Trong những năm vừa qua, nhờ các thành phần kinh tế phát triển, đất nước ta đã huy động được nhiều nguồn lực trong nước và ngoài nước, tạo ra động lực phát triển kinh tế mạnh mẽ. Nhưng hiện nay, trước những yêu cầu mới, phải đẩy nhanh nhịp độ phát triển đất nước, bảo đảm sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế-xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế và thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đang đặt ra nhiều vấn đề mới cả về lý luận và thực tiễn. Như chúng ta đều biết, sự tồn tại khách quan của nhiều thành phần kinh tế trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội đã được V.I. Lê Nin đề cập từ những ngày đầu của chính quyền Xô viết. Vào năm 1918, V.I.Lê Nin đã chỉ ra rằng, trong nền kinh tế của thời kỳ quá độ có sự đan xen của những yếu tố, những bộ phận, những mảnh của cả chủ nghĩa tư bản lẫn chủ nghĩa xã hội, nghĩa là những yếu tố của năm thành phần kinh tế-xã hội khác nhau ở Nga lúc bấy giờ (Kinh tế gia trưởng, tiểu sản xuất hàng hóa, chủ nghĩa tư bản tư nhân, chủ nghĩa tư bản Nhà nước, chủ nghĩa xã hội). Những tư tưởng của V.I. Lê Nin đã được triển khai trong công cuộc xây dựng đất nước Xô viết và đã đem lại thành tựu quan trọng, nhất là ở thời kỳ thực hiện chính sách kinh tế mới. Đây là thời kỳ về sau này được đánh giá rằng, chính V.I. Lê Nin đã thực hiện một bước ngoặt cách mạng vĩ đại đối với nền kinh tế Xô viết, hình thành lý luận về một mô hình kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ những nước lạc hậu, sản xuất nhỏ còn là phổ biến. Ngay sau khi giành được độc lập dân tộc, Nhà nước non trẻ của chúng ta vừa phải kháng chiến, chống thù trong giặc ngoài, vừa tiến hành kiến quốc, nhưng ngay từ năm 1953, trong tác phẩm Thường thức chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến sự tồn tại của năm loại kinh tế khác nhau trong chế độ mới: “A - Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân). B - Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội). C - Kinh tế cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội). D - Tư bản tư nhân. E - Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh). Trong năm loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản” (Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, t7, tr 247-248) Tuy nhiên, sau Đại thắng Mùa xuân năm 1975, miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, chúng ta chưa quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh do mắc phải bệnh chủ quan, nóng vội, duy ý chí trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, nên đã muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế “phi xã hội chủ nghĩa”, nhanh chóng biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh, muốn hoàn thành trong thời gian ngắn cải tạo xã hội chủ nghĩa. Kết quả là những thành phần kinh tế thuộc sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất cơ bản đã bị triệt tiêu, kinh tế phát triển chậm dần, từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng. Đúng như văn kiện Đại hội VI của Đảng khẳng định: “Trong nhận thức cũng như hành động, chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài, chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất”(Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật, Hà Nội, 1987, trang 23). Khắc phục sai lầm trên, từ Đại hội VI của Đảng-Đại hội khởi đầu sự nghiệp đổi mới-chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần được nhận thức lại và thực hiện nhất quán. Đảng ta đã xác định, nền kinh tế có cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ, phát triển kinh tế nhiều thành phần là một chủ trương chiến lược, lâu dài trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Từ đó các thành phần kinh tế tư bản tư nhân, tiểu thủ, kinh tế hộ gia đình mới có điều kiện hình thành và phát triển trở lại một cách công khai, hợp pháp. Một trong những nội dung quan trọng của tư duy kinh tế mới lúc đó là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó thừa nhận sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu và các loại hình tổ chức kinh tế gắn liền với các hình thức sở hữu đó do lịch sử để lại, chừng nào chúng còn phát huy tác dụng đối với tiến bộ xã hội, tức là chừng nào chúng còn chưa bị một hình thức kinh tế có năng suất và hiệu quả cao hơn hẳn thay thế chúng trong nền kinh tế-xã hội. Qua thực tiễn những năm đổi mới, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế nhiều thành phần đã từng bước được tổng kết và làm rõ: - Phát triển kinh tế nhiều thành phần là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế, là phương thức giải phóng sức sản xuất và huy động tối đa, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. - Phát triển kinh tế nhiều thành phần là phương thức thực hiện dân chủ hoá đời sống kinh tế, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, huy động sức mạnh tổng hợp để phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa. - Phát triển kinh tế nhiều thành phần cũng là con đường xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất cho phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong suốt thời kỳ quá độ. Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (gọi tắt là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa). Khẳng định sự tồn tại lâu dài của nhiều thành phần kinh tế trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, coi các thành phần kinh tế đều là những bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn đã khẳng định động lực to lớn mà chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần đem lại. Nó không những góp phần quyết định làm cho đất nước vượt qua được khủng hoảng kinh tế-xã hội vào những năm 80 của thế kỷ XX, mà còn tạo điều kiện để duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế nhanh và tương đối ổn định trong nhiều năm qua; hạn chế được ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ trong khu vực và thế giới vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX; nền kinh tế đã huy động được nhiều nguồn lực cho sự phát triển kinh tế-xã hội; đã làm nảy nở nhiều nhân tố mới trong giải phóng sức sản xuất và phát huy nội lực thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Từ sau đại hội IX, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra nhiều nghị quyết về phát triển kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân. Điều đó thể hiện sự quan tâm của Đảng đối với việc tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, không ngừng giải phóng sức sản xuất, phát huy mọi nguồn lực, đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khoá IX) là một sự kiện rất quan trọng trong toàn bộ chương trình tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước. Lần đầu tiên Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành một nghị quyết nhằm tạo ra một diện mạo mới, cũng như khẳng định đúng vị trí, vai trò của doanh nghiệp Nhà nước trong toàn bộ khu vực kinh tế Nhà nước. Nhiều chuyên gia cho rằng, đây thực sự là một “Cương lĩnh” về đổi mới doanh nghiệp Nhà nước. Hội nghị Trung ương 5 (khoá IX), đã ban hành hai nghị quyết quan trọng: Về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể và Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chủ trương khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân. Và mới đây, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 (khoá IX) Về một số chủ trương, chính sách, giải pháp lớn nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, đã đưa ra những chủ trương, chính sách, giải pháp quan trọng về phát triển các thành phần kinh tế. Có thể nói, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có những chủ trương, chính sách kịp thời đối với từng thành phần kinh tế, nhằm đánh giá đúng thực trạng tình hình phát triển, tổng kết những mặt được và chưa được, để từ đó đề ra các giải pháp thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển. 2. Chủ trương của Đảng đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh: Dựa trên Cương lĩnh và Hiến pháp, đồng thời trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ: “Từ các hình thức sở hữu cơ bản: Sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân hình thành nhiều thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp”.(Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, trang 96). Theo đó, Đại hội IX đã xác định các thành phần kinh tế: Kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Chủ trương của Đảng ta đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh cụ thể trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010 là: ...“Đối với kinh tế tập thể: Phát triễn kinh tế tập thể với các hình thức hợp tác đa dạng. Chuyển đổi hợp tác xã cũ theo Luật hợp tác xã đạt hiệu quả thiết thực. Phát triễn hợp tác xã kinh doanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên ngành để sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ, tạo điều kiện mở rộng qui mô sản xuất, kinh doanh phù hợp quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong nông nghiệp, trên cơ sở phát huy tính tự chủ của hộ gia đình, chú trọng phát triển các hình thức hợp tác và hợp tác xã cung cấp dịnh vụ vật tư và tiêu thụ sản phẩm cho kinh tế hộ gia đình và trang trại. Mở rộng các hình thức kinh tế hỗn hợp, liên kết, liên doanh giữa các hợp tác xã với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Nhà nước giúp hợp tác xã đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật, quản lý, mở rộng thị trường, ứng dụng công nghệ mới, phát triển vốn tập thể, giải quyết sự tồn đọng của hợp tác xã cũ. Đối với kinh tế cá thể và tiểu thủ: ở nông thôn và thành thị được Nhà nước tạo điều kiện phát triển. Đối với kinh tế tư bản tư nhân: Được khuyến khích phát triển không hạn chế về quy mô trong những ngành, nghề, lĩnh vực và địa bàn mà pháp luật không cấm. Khuyến khích, hợp tác liên doanh với doanh nghiệp Nhà nước, chuyển thành doanh nghiệp cổ phần và bán cổ phần cho người lao động. Đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Là một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam, được khuyến khích phát triển, hướng mạnh vào sản xuất, kinh doanh hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu, hàng hoá và dịch vụ có công nghệ cao, xây dựng kết cấu hạ tầng”... (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, trang 190, 191). Kiểm điểm giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, tại hội nghị lần thứ IX của BCH Trung ương Đảng đã đánh giá: “Việc thực hiện chính sách phát triển các thành phần kinh tế , tuy đã có tiến bộ nhưng vẫn còn thiếu nhất quán, chưa khai thác tốt nguồn lực ở trong dân...”(Văn kiện hội nghị lần thứ IX Ban chấp hành trung ương khoá IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, trang 29). Chính vì vậy những chủ trương, chính sách của Đảng ta về phát triển kinh tế ngoài quốc doanh trong thời gian tới là: “...Phát triển mạnh hơn kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam... ...Hỗ trợ, tạo điều kiện để phát triển hơn kinh tế tập thể; tổng kết nhân tố mới, các mô hình kinh tế làm ăn có hiệu quả để phổ biến nhân rộng phù hợp với điều kiện từng ngành nghề, từng địa phương; hỗ trợ tốt hơn việc đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ tài chính, kế toán hợp tác xã; giải quyết dứt điểm việc xoá nợ cũ; tạo điều kiện để các hợp tác xã tiếp cận các nguồn cho vay của các tổ chức tín dụng. Phát huy cao độ các nguồn lực trong nhân dân, phát triển mạnh và có hiệu quả hơn nữa kinh tế tư nhân, không hạn chế về quy mô. Tạo điều kiện và môi trường thuận lợi hơn nữa cho sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn. Tạo chuyển biến cơ bản trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, hướng mạnh hơn vào những ngành, lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế, nhất là những ngành, lĩnh vực chúng ta tự làm chưa có hiệu quả, kể cả trong lĩnh vực bất động sản, phát triển công nghệ cao và các dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Thực sự coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hữu cơ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta...”.(Văn kiện hội nghị lần thứ IX Ban chấp hành trung ương khoá IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, trang 83,84). Tóm lại: Chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là giải pháp phát triển kinh tế-xã hội, tạo đà cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng phát triển, thời nâng cao trình độ và đời sống cho người lao động. Do đó các cấp Công đoàn cần nhận thức đúng đắn về quan điểm và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Từ đó xây dựng và phát triển tổ chức Công đoàn cơ sở, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động Công đoàn và bảo vệ được lợi ích hợp pháp, chính đáng cho công nhân lao động nói chung và công nhân lao động khu vực ngoài quốc doanh nói riêng. II. Chính sách, pháp luật của Nhà nước điều chỉnh các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh Từ khi đổi mới nền kinh tế (1986) đến nay, hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước từng bước được hoàn chỉnh, nhằm quản lý điều tiết kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có các chính sách, pháp luật điều chỉnh các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh . Điển hình như một số chính sách, pháp luật sau: 1. Luật doanh nghiệp: Luật doanh nghiệp được Quốc hội thông qua ngày 12/6/1999 đã tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế bình đẳng trong sản xuất kinh doanh và phát triển. Các loại hình doanh nghiệp được tổ chức thành lập, đăng ký và hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật. Qua đó đã động viên các nguồn lực xã hội, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế đất nước. Tính đến tháng 9 năm 2003 (sau khi Luật doanh nghiệp ra đời) cả nước đã thành lập mới 72.600 doanh nghiệp (trong khi từ năm 1991-1999 chỉ được 45.000 doanh nghiệp), đưa tổng số doanh nghiệp của khu vực tư nhân lên hơn 127.600 doanh nghiệp tạo việc làm mới cho gần 2 triệu lao động. Tổng số vốn đăng ký mới và đăng ký bổ sung của doanh nghiệp trong 4 năm đạt 9,5 tỷ USD (Gấp 4 lần năm 1991-1999 và cao hơn số vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đăng ký tại Việt Nam trong cùng thời kỳ). Mức vốn đăng ký bình quân của một doanh nghiệp trong năm 2003 đạt 2,1 tỷ đồng (gấp 2 lần bình quân năm 2000 và gấp 4 lần 10 năm trước đó). Ngoài ra, còn có hơn 15.000 chi nhánh, văn phòng đại diện và khoảng 800.000 hộ kinh doanh cá thể có đăng ký kinh doanh, đưa tổng số hộ kinh doanh cá thể lên 2,5 triệu hộ. Tuy mức đóng góp vào ngân sách Trung ương của các doanh nghịêp mới chiếm 7% nhưng mức đóng góp vào ngân sách địa phương chiếm tới 15% (Cá biệt Bình Định đạt 33%). Tỷ trọng đầu tư của thành phần kinh tế tư nhân trong tổng đầu tư của toàn xã hội tăng từ 20% (2000) lên 23% (2001), 25,3% (2002) và 27% (2003) (Báo nhân dân số ra ngày7/3/2004). Tuy nhiên sau 4 năm hoạt động vẫn còn những cản trở như: Bộ máy hành chính chậm thay đổi, pháp luật thiếu đồng bộ, một số địa phương còn ban hành chính sách trái luật và một số thủ tục tỏ ra bất hợp lý. 2. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: Luật đầu tư nước ngoài được ban hành 29/12/1997. Từ khi có hiệu lực sau 4 lần sửa đổi bổ sung (1990, 1992, 1996, 2000) cơ bản đã khắc phục những hạn chế của khung pháp luật hiện hành và đưa ra nhiều quy định pháp luật mới nhằm tiếp tục tạo dựng môi trường đầu tư có sức cạnh tranh cao. Các điều khoản của luật tập trung tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc về cơ chế chính sách của Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tạo khung pháp lý tương đối bình đẳng và mở quyền tự chủ kinh doanh cho khu vực kinh tế này. Vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế ở Việt Nam. Theo báo cáo của Bộ KH và ĐT sau 16 năm thực hiện Luật đầu tư nước ngoài, đến hết năm 2003, cả nước đã cấp phép đầu tư cho hơn 5400 dự án đầu tư nước ngoài, trong đó có 4376 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 41 tỷ USD. Những năm qua, đầu tư nước ngoài đã bổ xung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, góp phần khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước. Từ năm 1996 đến nay vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Năm 2003, khu vực đầu tư nước ngoài có kim ngạch xuất khẩu chiếm 31,4% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước, 36,2% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước, đóng góp 14,3% GDP(Báo nhân dân số ra ngày 30/3/2004). Tuy nhiên ở mức độ nào đó, có thể nói hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách của Việt Nam còn chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của khu vực kinh tế này, đặc biệt là hành lang pháp lý chưa hoàn thiện, vẫn còn thiếu một hệ thống văn bản, pháp luật hoàn chỉnh để quản lý khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nên đã làm hạn chế đến hiệu quả kinh doanh cũng như hiệu quả quản lý nhà nước đối với khu vực này. 3. Luật hợp tác xã: Hợp tác xã ra đời từ rất sớm ở nước ta, sau đó phong trào hợp tác xã phát triển mạnh mẽ vào thời điểm cao nhất (1988) cả nước có tới 100.000 hợp tác xã. Hoạt động của các hợp tác xã có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cuộc kháng chiến chống Mĩ, giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước. Nhưng trong thời kỳ đó vẫn chưa có luật hợp tác xã. Mãi đến năm 1996 luật hợp tác xã mới được ban hành và đến năm 2003 luật hợp tác xã được sửa đổi, bổ xung. Hiện nay, cả nước có gần 300 cơ sở kinh tế hợp tác xã giản đơn, hơn 15.000 hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã với nhiều hình thức hoạt động đa dạng, linh hoạt tuỳ theo yêu cầu và đòi hỏi của các hộ thành viên. Trong đó, có khoảng 15-20% số tổ, hợp tác huy động được vốn góp chung, tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh như một hợp tác xã thu hút các hộ xã viên tham gia và có đăng ký kinh doanh với Uỷ ban nhân dân xã, phường. Theo phân loại của 36 tỉnh, thành phố, năm 2003 có 40% số hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đạt loại khá giỏi, 41% trung bình và 19% yếu kém (Báo nhân dân số ra ngày 28/3/2004). Các hợp tác xã tiếp tục khẳng định vai trò kinh tế quan trọng của mình trong hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh của các hộ thành viên, giải quyết việc làm và thu nhập cho xã viên và người lao động. Đồng thời, các hợp tác xã là nơi đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao tay nghề cho lao động nông thôn, tạo tiền đề phát triển ngành nghề mới, là cầu nối chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật, triển khai các chương trình hỗ trợ nông dân, tổ chức quản lý các công trình hạ tầng kỹ thuật nông thôn, thu hút lao động nữ, lao động không có vốn. Nhiều hợp tác xã còn tham gia thực hiện tích cực các chính sách của Nhà nước về xoá đói, giảm nghèo, hỗ trợ các hộ nghèo tham gia hợp tác xã, đề cao các giá trị văn hóa, đạo đức lối sống vì cộng đồng... 4. Các văn bản khác: - Bộ luật Lao động có hiệu lực từ ngày 01/01/1995 được bổ sung sửa đổi và có hiệu lực 01/01/2003 cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của đất nước. Đây là một thể chế luật pháp của Nhà nước hết sức quan trọng nhằm điều chỉnh mối quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nội dung cơ bản của Luật Lao động là các quy định về quyền và nghĩa vụ người lao động, người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, nguyên tắc sử dụng lao động và quản lý lao động, bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của người lao động, đồng thời cũng bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hoà và ổn định. - Nghị định 28/NĐ-CP (07/05/1996) và Nghị định 44/NĐ-CP (29/06/1996) của Chính phủ về việc chuyển đổi hình thức kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần, với mục tiêu làm thay đổi hình thức sở hữu thông qua việc bán cổ phần cho công nhân lao động, từ đó công nhân lao động được làm chủ trên phần vốn góp của mình, nâng cao ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng tăng. Mặt khác huy động được nguồn vốn lớn trong công nhân lao động tập trung vào sản xuất kinh doanh góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và nâng cao đời sống của người lao động.Theo số liệu thống kê của Ban tổ chức Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho biết đến tháng 10/2003 cả nước đã cổ phần hoá được 1261 doanh nghiệp. Hầu hết các doanh nghiệp cổ phần hoá sau một thời gian hoạt động đã có lãi, tăng vốn điều lệ, nâng cao đời sống công nhân lao động, nhiều doanh nghiệp tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất lại thêm nhiều việc làm cho người lao động. Tóm lại: Cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước là hành lang pháp lý để tổ chức Công đoàn hoạt động và bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho công nhân lao động. Thực hiện quyền đại diện của mình, Công đoàn cần nắm vững cơ chế chính sách, pháp luật của Nhà nước từ đó có các biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức Công đoàn và bảo vệ lợi ích công nhân như: Tiền lương, Bảo hiểm xã hội, Điều kiện lao động, Hợp đồng lao động, Thoả ước lao động tập thể. Giải quyết cơ bản tranh chấp lao động, không để xảy ra lãn công, đình công... để người lao động tin tưởng vào tổ chức Công đoàn và xây dựng tổ chức Công đoàn ngày càng vững mạnh trong tình hình mới. III. Tình hình công nhân, viên chức, lao động cả nước trong nền kinh tế nhiều thành phần: Đổi mới quản lý kinh tế-xã hội đã tạo ra bước phát triển mới của đội ngũ công nhân lao động trong các thành phần kinh tế. Cùng với việc chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế và quá trình xây dựng, phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá, đội ngũ công nhân, viên chức, lao động nước ta đã có sự phát triển về số lượng, nâng cao về chất lượng và chuyển dịch về cơ cấu. 1. Về số lượng công nhân, viên chức, lao động: Theo báo cáo của BCH Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khoá VIII tại Đại hội IX Công đoàn Việt Nam thì đến tháng 6/2003 cả nước có khoảng 10,8 triệu công nhân viên chức lao động. Trong đó, số làm việc trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc tất cả các thành phần kinh tế là hơn 8,2 triệu người, còn lại là gần 2,6 triệu người làm việc trong các cơ quan Nhà nước, Đảng, đoàn thể, các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp từ Trung ương đến phường, xã. Do yêu cầu sắp xếp, đổi mới nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước, số lượng công nhân, viên chức, lao động ở các doanh nghiệp Nhà nước có nhiều biến động, chuyển dịch sang các thành phần kinh tế khác. Hiện có hơn 1,8 triệu người, trong đó công nhân lâu năm, công nhân có tay nghề cao trong một số ngành nghề truyền thống có xu hướng giảm. Trong các cơ sở sản xuất kinh doanh tư nhân, Hợp tác xã, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần số lượng công nhân lao động đang tăng nhanh, hiện nay có gần 1,4 triệu người. Trong các cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể hiện có hơn 4,3 triệu lao động. Trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có gần 60 vạn lao động và đang tiếp tục thu hút ngày càng nhiều công nhân lao động trẻ, trong đó có một bộ phận được đào tạo cơ bản, có trình độ khá về chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề và phần lớn tập trung ở các tỉnh, thành phố lớn, các khu công nghiệp tập trung. Ngoài ra số lao động làm việc theo hợp đồng có thời hạn ở ngoài có tới hàng chục vạn người và có xu hướng sẽ ngày càng tăng thêm. 2. Về chất lượng công nhân, viên chức, lao động: Chất lượng đội ngũ công nhân, viên chức, lao động nước ta được nâng lên nhiều mặt nhìn chung có tuổi đời trẻ, lao động dưới 30 tuổi chiếm hơn 36%. Trình độ học vấn đã khá hơn trước. Có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường, tiếp cận nhanh với khoa học và công nghệ tiên tiến hiện đại. Số lao động nông nghiệp chuyển dịch sang khu công nghiệp dịch vụ ngày càng tăng và đã từng bước hoà nhập môi trường công nghiệp. ở một số ngành kinh tế như dầu khí, hàng không, điện, điện tử, tin học, bưu chính-viễn thông, xây dựng cầu, thuỷ điện lắp máy... đã hình thành đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề, có trình độ cao. Công nhân, viên chức lao động trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng đã phát huy truyền thống, nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, tiếp thu khoa học, công nghệ mới, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đại đa số công nhân, viên chức, lao động có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất tốt, luôn tin tưởng, ủng hộ và quyết tâm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo; có tinh thần yêu nước, đoàn kết tương thân tương ái, có ý chí tự lực tự cường, năng động, sáng tạo, vươn lên khắc phục khó khăn, thử thách; chủ động trong tìm kiếm việc làm và lựa chọn nơi làm việc, cố gắng học tập nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, không trông chờ vào sự bao cấp của Nhà nước, nhận thức rõ hơn về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xu thế cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh những ưu điểm nỗi bật đó, đội ngũ công nhân viên chức lao động cũng còn những bộc lộ yếu kém. Đó là nhìn chung chất lượng công nhân lao động trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh còn nhiều bất cập mặc dù tuổi đời còn rất trẻ, tính cộng đồng và ý thức tổ chức còn non kém. Họ không có tư tưởng gắn bó lâu dài với doanh nghiệp, sẵn sàng di chuyển tới nơi nào có thu nhập cao hơn. Do đó, tạo ra một khó khăn cho công tác điều hành, quản lý phát triển tổ chức Công đoàn. Do vậy, Công đoàn cần chú trọng trong việc tổ chức và hoạt động sao cho phù hợp với đặc điểm chung. Tóm lại: Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã thu hút lực lượng lao động đáng kể, có thu nhập cao, cải thiện phần nào đời sống công nhân lao động, góp phần ổn định trật tự an ninh xã hội, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Phần lớn công nhân lao động tự rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn, khả năng tiếp thu khoa học công nghệ cao. Đồng thời họ tự rèn luyện để có tác phong công nghiệp thích ứng với công nghệ hiện đại, có ý thức tổ chức kỷ luật lao động. Mặt khác do mặt trái của cơ chế thị trường hình thành trong công nhân lao động lối sống vừa cam phận, vừa cam chịu, họ ít thông tin, thờ ơ với thời sự, chính trị xã hội. IV. hệ thống tổ chức, nhiệm vụ, Nội dung cơ bản hoạt động và mối quan hệ của Công đoàn cơ sở khu v._.ực kinh tế ngoài quốc doanh. 1. Hệ thống tổ chức Công đoàn cơ sở: Sơ đồ hệ thống tổ chức Công đoàn cơ sở: Công đoàn cấp trên cơ sở Công đoàn cơ sở Công đoàn cơ sở thành viên Công đoàn bộ phận Tổ Công đoàn Công đoàn bộ phận Công đoàn bộ phận Tổ Công đoàn Tổ Công đoàn Công đoàn cơ sở được tổ chức theo 4 loại hình: - Công đoàn cơ sở không có tổ Công đoàn. - Công đoàn cơ sở có tổ Công đoàn. - Công đoàn cơ sở có Công đoàn bộ phận, tổ Công đoàn. - Công đoàn cơ sở có Công đoàn cơ sở thành viên, sau đó là Công đoàn bộ phận và tổ Công đoàn. 2. Nhiệm vụ của Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh: - Đại diện, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân lao động. - Đại diện và tổ chức cho công nhân, lao động tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế độ chính sách đối với công nhân, lao động. - Công đoàn cơ sở giáo dục công nhân, lao động, nâng cao năng lực làm chủ của tập thể người lao động. - Phát triển đoàn viên, kiện toàn tổ chức, bồi dưỡng cán bộ, đổi mới nội dung và phương pháp hoạt động Công đoàn phù hợp với từng cơ sở. 3. Nội dung cơ bản hoạt động Công đoàn cơ sở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. 3.1. Nội dung hoạt động Công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần: - Giúp người lao động giao kết Hợp đồng lao động cá nhân với chủ doanh nghiệp hoặc người sử dụng lao động. - Tham gia xây dựng nội quy, quy chế lao động trong doanh nghiệp và đại diện công nhân lao động thương lượng và ký kết Thoả ước lao động tập thể với chủ doanh nghiệp, giám sát việc thực hiện những điều đã ký kết. Tổ chức đối thoại, hoà giải, đại diện tham gia giải quyết tranh chấp lao động theo pháp luật. - Thuyết phục thương lượng với chủ doanh nghiệp thực hiện quyền lợi của công nhân lao động từ đó chăm lo được đời sống, tinh thần cho người lao động. - Thực hiện tốt việc thăm hỏi đoàn viên khi ốm đau, hoạn nạn, hiếu hỷ... Vận động công nhân lao động thực hiện tốt các hoạt động xã hội. - Phổ biến, giải thích cho người lao động những chế độ chính sách của Nhà nước như: Bộ luật Lao động, Luật Công đoàn, Điều lệ Công đoàn Việt Nam, đồng thời giám sát việc thi hành pháp luật trong doanh nghiệp. - Kết nạp đoàn viên mới, xây dựng Công đoàn cơ sở vững mạnh, thu chi đoàn phí, kinh phí hoạt động Công đoàn. 3.2. Nội dung hoạt động Công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Liên doanh, 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện). - Giúp đỡ người lao động và tham gia với người đứng đầu doanh nghiệp bảo đảm 100% công nhân lao động được ký Hợp đồng lao động. - Đại diện công nhân lao động ký Thoả ước lao động tập thể và giám sát việc thực hiện Thoả ước lao động tập thể. Phát hiện, tham gia với người đứng đầu doanh nghiệp, giải quyết kịp thời các tranh chấp lao động theo đúng pháp luật hiện hành. - Thuyết phục, thương lượng, kiến nghị với người đứng đầu doanh nghiệp thực hiện quyền lợi của người lao động đã được quy định, có chế độ nâng cao đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người lao động. Đối với công nhân, lao động giúp đỡ nhau trong công việc và đời sống - Tham gia xây dựng nội quy lao động, động viên công nhân, lao động giữ gìn kỷ luật sản xuất, an toàn vệ sinh lao động, quy chế doanh nghiệp, học hỏi kinh nghiệm quản lý công nghệ tiên tiến của các nước phát triển. - Tuyên truyền, giáo dục công nhân, lao động về pháp luật và các chế độ, chính sách có liên quan tới người lao động như: Bộ luật Lao động, Luật Công đoàn, Điều lệ Công đoàn Việt Nam; giáo dục truyền thống dân tộc, giám sát việc thi hành pháp luật của Nhà nước trong doanh nghiệp. - Phát triển đoàn viên, xây dựng Công đoàn cơ sở vững mạnh. Thu chi đoàn phí, kinh phí Công đoàn đúng quy định pháp luật hiện hành. 3.3. Nội dung hoạt động Công đoàn cơ sở trong Hợp tác xã: - Phối hợp với Ban quản trị hợp tác xã chuẩn bị và tổ chức tốt nội dung Đại hội xã viên, phương hướng sản xuất kinh doanh, bố trí sắp xếp lao động giải quyết việc làm, cải thiện điều kiện làm việc, chăm lo đời sống xã viên. - Cùng với Ban quản trị tổ chức các phong trào thi đua yêu nước nhằm nâng cao năng xuất lao động, chất lượng sản phẩm, thực hiện bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho xã viên, tham gia các mặt hoạt động trên địa bàn. - Cùng với Ban quản trị xây dựng các nội quy, quy chế hoạt động, quản lý hợp tác xã, lên phương án chia lương, chia thưởng, sử dụng quỹ phúc lợi hợp tác xã, tiến tới thực hiện các chính sách Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế..., tổ chức nghĩ ngơi, tham quan du lịch, các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao, thực hiện tốt việc thăm hỏi đoàn viên, xã viên. - Tuyên truyền giáo dục pháp lệnh pháp luật, các chế độ chính sách có liên quan đến người lao động như: Luật Lao động, Luật Công đoàn, Điều lệ Công đoàn Việt Nam. - Kết nạp đoàn viên mới, xây dựng Công đoàn cơ sở vững mạnh, thu, chi đoàn phí, kinh phí Công đoàn theo đúng quy định. 4. Mối quan hệ của Công đoàn cơ sở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. 4.1. Đối với cấp uỷ Đảng: ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nếu có tổ chức Đảng thì Công đoàn cơ sở dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng, là cầu nối giữa Đảng với công nhân, lao động. Với chức năng nhiệm vụ của mình, mọi hoạt động của Công đoàn cơ sở đều nhằm tập hợp giáo dục, thu hút công nhân, lao động thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, chỉ thị, nghị quyết của cấp uỷ đảng cơ sở và tham gia xây dựng Đảng. 4.2. Đối với chủ doanh nghiệp: Công đoàn cơ sở vừa là chỗ dựa vững chắc, vừa là người giám sát chuyên môn trong việc thực hiện pháp luật, chính sách của Nhà nước với công nhân, lao động. Bản chất của mối quan hệ này sự bình đẳng, tôn trọng và sự phối hợp. Đó là trách nhiệm của đôi bên. 4.3. Trong hệ thống tổ chức Công đoàn Việt Nam: Công đoàn cơ sở dưới sự lãnh đạo của Công đoàn cơ sở cấp trên trực tiếp. Công đoàn cơ sở giúp đỡ Công đoàn bộ phận và tổ công đoàn xây dựng tổ công đoàn, công đoàn bộ phận vững mạnh. 4.4. Đối với tổ chức quần chúng khác ở cơ sở: Công đoàn cơ sở luôn luôn giữ mối quan hệ bình đẳng, tôn trọng hợp tác, giúp đỡ cùng hoạt thành nhiệm vụ chung. 4.5. Đối với công nhân, lao động: Công đoàn cơ sở luôn liên hệ mật thiết để nắm tâm tư nguyện vọng, thực sự là người đại diện bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, công nhân, lao động. V. tổ chức và hoạt động Công đoàn cơ sở khu vực ngoài quốc doanh trong cả nước (từ 1998 đến tháng 6/2003): Thời gian qua, công tác phát triển đoàn viên, xây dựng tổ chức Công đoàn trong các thành phần kinh tế đã đạt được kết quả quan trọng. Số lượng đoàn viên và số Công đoàn cơ sở tăng hơn trước. Cơ cấu đoàn viên và Công đoàn cơ sở có sự thay đổi đáng kể. Tỷ trọng đoàn viên và Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh và có vốn đầu tư nước ngoài tăng lên nhiều. Trong 5 năm qua (1998-6/2003), khu vực ngoài quốc doanh và có vốn đầu tư nước ngoài trên cả nước đã phát triển được gần 40 vạn đoàn viên và thành lập được 4737 Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn, nâng tổng số đoàn viên khu vực này tăng lên 85 vạn người với hơn 10.400 Công đoàn cơ sở, chiếm hơn 20% tổng số đoàn viên và gần 17% tổng số Công đoàn cơ sở trong cả nước. Đặc biệt ở một vài tỉnh, thành phố công nghiệp tập trung, tỷ lệ đó lên tới trên 50%. Với kết quả phát triển 5 năm qua, đến nay tổng số Công đoàn cơ sở trong cả nước đã lên tới trên 61 ngàn với tổng số đoàn viên hơn 4,25 triệu. Bảng 1: Công tác tổ chức Công đoàn cơ sở khu vực ngoài quốc doanh STT Nội dung Đơn vị tính 1998 6/2003 1 - Tổng số đoàn viên - Tỷ lệ Người % 458.000 12,4 854.520 20,09 22 - Số Công đoàn cơ sở - Tỷ lệ Cơ sở % 5694 12,07 10431 16,98 33 - Phân loại Công đoàn cơ sở vững mạnh, xuất sắc % 27,5 30 (Nguồn: Ban tổ chức TLĐ) Từ khi thành lập được Công đoàn cơ sở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nhìn chung tình hình thực hiện chế độ chính sách, pháp luật của Nhà nước ngày càng được cải thiện dần. Nhiều doanh nghiệp đã tổ chức thương lượng, ký kết Thoả ước lao động tập thể, Công đoàn đã đề nghị với Giám đốc, chủ doanh nghiệp ký Hợp đồng cá nhân cho công nhân lao động theo các nội dung qui định của pháp luật về lao động. ở nhiều doanh nghiệp các chính sách Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế được thực hiện, giảm hẳn việc kéo dài thời gian lao động, các tranh chấp lao động cá nhân được giải quyết theo thẩm quyền, giảm hẳn các cuộc đình công trái luật. Có Công đoàn cơ sở ngoài việc hoàn thành nhiệm vụ theo chức năng của mình còn đảm nhiệm thêm việc kiểm tra chất lượng sản phẩm, kiểm tra chất lượng máy móc thiết bị do giám đốc doanh nghiệp trực tiếp đứng ra đề nghị. Một số doanh nghiệp đề nghị Công đoàn chăm lo hẳn mặt xã hội để họ yên tâm đầu tư thời gian lo sản xuất kinh doanh. ở các hợp tác xã, Công đoàn phối hợp với Ban quản trị tổ chức các phong trào thi đua, tổ chức đại hội xã viên, tham gia xây dựng nội qui, qui chế hợp tác xã bảo đảm hài hoà giữa hợp tác xã và xã viên. Công đoàn tham gia thay đổi công nghệ tìm kiếm các hợp đồng để phát triển sản xuất kinh doanh. Phần thứ hai Tổ chức, Hoạt động công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh ở liên đoàn lao động tỉnh Thanh Hoá I.Tình hình phát triển kinh tế ngoài quốc doanh ở tỉnh thanh hóa. Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế ngoài quốc doanh phát triển nhanh và toàn diện. Hiện nay, tỉnh Thanh Hóa có gần 600 doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Các doanh nghiệp này đã thu hút, giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động, tăng thu nhập, góp phần xoá đói, giảm nghèo, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Nhiều doanh nghiệp hoạt động hiệu quả như: Công ty TNHH Cơ khí Nhật Minh vừa duy trì sản xuất, vừa mở lớp dạy nghề tại doanh nghiệp đã đầu tư thêm 2 tỷ đồng xây dựng văn phòng làm việc và kinh doanh khách sạn. Công ty TNHH Tiên Sơn (Bỉm Sơn) đầu tư hàng chục tỷ đồng, xây dựng thêm cơ sở sản xuất hàng gỗ nội thất, thu hút thêm 400 lao động... Thực hiện chủ trương xây dựng các cụm công nghiệp tại các địa phương, đến nay tỉnh Thanh Hóa đã hình thành 20 cụm công nghiệp vừa và nhỏ. Trong đó nhiều cụm công nghiệp ở các huyện Nga Sơn, Hoằng Hoá, Hà Trung, Vĩnh Lộc... đã đi vào hoạt động có hiệu quả. Việc khôi phục và phát triển ngành nghề truyền thống được các địa phương quan tâm. Nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa đang được duy trì và phát triển ở các huyện: Thiệu Hoá, Thọ Xuân, Yên Định, Vĩnh Lộc, Triệu Sơn, Quảng Xương, Hoằng Hoá, Hậu Lộc... và hiện có 4.200 hộ tham gia trồng dâu, nuôi tằm, 400 hộ ươm tơ. Nghề tiểu-thủ công nghiệp được duy trì và phát triển ở các huyện: Thọ Xuân, Nông Cống, Hoằng Hoá, Hậu Lộc, Thiệu Hoá, Thành phố Thanh Hoá... và đã đào tạo được hơn 2.000 thợ thêu đưa vào sản xuất. Các làng nghề truyền thống mây tre đan xuất khẩu, nghề mộc dân dụng, nghề thảm ren, chiếu cói phát triển mạnh ở nhiều địa phương. Trong lĩnh vực giao thông-vận tải, khối kinh tế tập thể và tư nhân đang chiếm ưu thế về tổng khối lượng vận tải hàng hóa và khách hàng, đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa phục vụ sản xuất, kinh doanh và đi lại của nhân dân. Các HTX vận tải Hợp Lực và Tấn Thành (Thành phố Thanh Hoá) vẫn phát huy giữ vững lá cờ đầu trong khối vận tải ngoài quốc doanh. ở lĩnh vực xây dựng, kinh tế ngoài quốc doanh tiếp tục phát triển ở các loại hình khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng và thi công xây lắp. Huyện Hà Trung quy hoạch khu công nghiệp, thu hút 9 cơ sở xẻ đá xuất khẩu; Triệu Sơn xây dựng làng nghề chế tác đá xuất khẩu ở xã Đồng Thắng, thu hút 1 HTX, 3 công ty và 25 hộ tham gia... Các HTX xây dựng đã năng động tìm kiếm công trình và huy động các nguồn vốn nên giữ vững được sản xuất, chất lượng các công trình được bảo đảm, nhiều công trình xây dựng đạt chất lượng cao. Năm 2003, giá trị sản xuất của khối công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 18% so với năm trước. Một số sản phẩm có tốc độ tăng cao, đó là: đá mài bóng, đá xẻ thô tăng 37,3%. Tổng sản lượng hàng hóa vận chuyển tăng 71,6%; vận chuyển hành khách tăng 13% và bốc xếp hàng hóa tăng 53,2%. Khối kinh doanh ngoài quốc doanh đóng góp cho ngân sách Nhà nước đạt 81.000 triệu đồng năm 2003, tăng 27,1% so với năm trước. Trong những tháng đầu năm 2004, hệ thống kinh tế ngoài quốc doanh tỉnh Thanh Hóa đang tập trung củng cố những tổ hợp và HTX hiện có, phát triển rộng rãi kinh tế hợp tác với nhiều hình thức, quy mô trong các ngành, lĩnh vực, địa bàn có điều kiện. Các HTX dịch vụ đầu vào, đầu ra phục vụ sản xuất, kinh doanh của các hộ thành viên, từng bước mở rộng ngành nghề, sản xuất, kinh doanh tổng hợp vươn lên kinh doanh đa ngành, đa nghề. Tổ chức tốt việc thu mua, chế biến, tiêu thụ nông sản cho hộ nông dân, phát triển những cánh đồng đạt giá trị 50 triệu đồng/ ha/ năm, tạo điều kiện cho các hộ phát triển kinh tế trang trại, gia trại. Trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản, các tổ chức kinh tế đang huy động nguồn lực, vốn liếng đưa nhanh các dự án nuôi trồng thuỷ sản vào hoạt động. Tổ chức tốt hơn các khâu cung ứng giống, thức ăn, phòng chống dịch bệnh. Tập trung xây dựng các cơ sở HTX ở các khu, cụm công nghiệp, làng nghề mới để tăng năng lực sản xuất nội tại, tăng nhanh giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của khối tập thể, kinh tế tư nhân. Đẩy mạnh phát triển ngành nghề, tiểu thủ công nghiệp theo các nhóm và kế hoạch phát triển toàn diện theo tinh thần Nghị quyết 03 của Tỉnh uỷ. Theo hướng phát triển, năm 2004 sẽ tiếp tục củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX quỹ tín dụng hiện có, phát triển thêm quỹ mới ở những nơi có điều kiện. Mở rộng địa bàn huy động vốn, cho vay phát triển sản xuất thuộc mọi lĩnh vực của kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân trong khối kinh tế ngoài quốc doanh nhằm thúc đẩy nhanh hơn nữa trong năm và các năm tiếp theo. II. Tình hình công nhân, viên chức, lao động ở tỉnh Thanh Hoá. 1. Về số lượng công nhân, viên chức, lao động: Tính đến tháng 5/2003 công nhân, viên chức, lao động, do Liên đoàn Lao động tỉnh quản lý có 81.691 người. Trong đó nữ: 38.395 người chiếm 47% tổng số lao động. Trong các doanh nghiệp Nhà nước, sau khi tổ chức sắp xếp lại đội ngũ công nhân lao động ở khu vực sản xuất kinh doanh năm 2002 có 32.571 lao động so với năm 1998 giảm 2.303 lao động, đội ngũ cán bộ viên chức khu vực hành chính sự nghiệp năm 1998 có 47.183 người đến năm 2002 số lượng đã tăng lên 49.120 người (chủ yếu tăng ở lĩnh vực sự nghiệp giáo dục) từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và sự phát triển kinh tế của tỉnh. Cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế, công nhân lao động ở các đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh phát triển mạnh, từ 39.218 lao động (năm 1998) lên 100.125 lao động (năm 2003) 2. Về chất lượng công nhân, viên chức, lao động: Về chất lượng có 450 người trình độ trên đại học, chiếm 0,56%; 21.985 người có trình độ đại học, chiếm 26,91%; 10.600 người có trình độ cao đẳng, chiếm 12,9%; 26.390 người có trình độ trung cấp chiếm 32,24% còn lại là sơ cấp và công nhân kỹ thuật. Về bậc thợ, số lượng công nhân có tay nghề từ bậc 6 đến bậc 7 chiếm 5,9%; từ bậc 4 đến bậc 5 chiếm 51,5%; số công nhân trong nghề bậc 1 đến bậc 3 chiếm 39%. Từ kết quả thực tế của công nhân, viên chức, lao động, có thể khẳng định: Trong thời gian qua đội ngũ cán bộ, công nhân, viên chức trong tỉnh Thanh Hoá luôn vững vàng về chính trị, tư tưởng, khắc phục mọi khó khăn thử thách, học tập nghiên cứu, nâng cao trình độ, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế xã hội của tỉnh Đảng bộ đề ra. Với sự cố gắng nỗ lực của phong trào công nhân, viên chức, lao động, trong 5 năm gần đây cán bộ, công nhân, viên chức, lao động tỉnh Thanh Hoá được Nhà nước tặng 10 đơn vị và cá nhân danh hiệu Anh hùng lao động và Anh hùng lực lượng vũ trang ND, Chính phủ tặng thưởng 108 Huân chương các hạng, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng 14 cờ và 125 bằng khen cho những tập thể và cá nhân có thành ích xuất sắc. Đặc biệt năm 1999 Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hoá được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng ba. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, đội ngũ công nhân, viên chức, lao động vẫn còn bộc lộ những khuyết điểm cần được khắc phục đó là: Trình độ văn hoá, tác phong công nghiệp của công nhân trực tiếp sản xuất còn thấp; một bộ phận công nhân viên chức lao động nhất là ở khu vực ngoài kinh tế ngoài quốc doanh và có vốn đầu tư nước ngoài, những đơn vị làm việc phân tán điều kiện sinh hoạt chính trị bị hạn chế, một bộ phận cán bộ công nhân viên chức lao động bị tha hoá về phẩm chất giai cấp, vi phạm pháp luật, tham ô, tham nhũng, mắc vào các tệ nạn xã hội. III. hệ thống tổ chức ở liên đoàn lao động tỉnh Thanh Hoá. Mô hình tổ chức ở Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hoá:  LĐLĐ tỉnh Thanh Hoá LĐLĐ huyện, thị CĐ cơ sở trường học Công đoàn cơ sở Công đoàn cơ sở CĐ ngành địa phương CĐ giáo dục huyện ( thị) CĐ cơ sở trực thuộc Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hoá có 7 Ban chuyên đề, 3 đơn vị sự nghiệp, 27 Liên đoàn Lao động huyện, thị, thành phố, 8 Công đoàn ngành, 44 Công đoàn cơ sở trực thuộc. Tổng số Công đoàn cơ sở do Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hoá quản lý trực tiếp là:2060 Công đoàn cơ sở. 2. Hệ thống tổ chức cơ quan LĐLĐ Thanh Hoá. Văn phòng Ban Tài chính Uỷ ban Kiểm tra CĐ Ban C. sách Kinh tế Xã hội Cơ quan LĐLĐ tỉnh Thanh Hoá Ban Tuyên giáo Ban Tổ chức Ban Nữ công Thường trực Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hoá hiện nay gồm 4 đồng chí (một Chủ tịch, ba phó Chủ tịch). - Văn phòng gồm 11 người - Ban Tổ chức gồm 4 người. - Ban Tuyên giáo gồm 3 người. - Ban Nữ công gồm 3 người. - Ban Chính sách-kinh tế-xã hội gồm 6 người. - Ban Tài chính gồm 4 người. - Uỷ ban kiểm tra có 4 người. - Tổng số cán bộ nhân viên trong Liên đoàn Lao động Thanh Hoá là: 39 người. Trong những năm qua do sự tác động của cơ chế thị trường, cùng với sự đổi mới của công tác tổ chức, thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước về cải cách hành chính, Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hoá đã sắp xếp lại tổ chức cho phù hợp đúng với quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Do đó hệ thống tổ chức Liên đoàn Lao động tỉnh có những thay đổi cho phù hợp với tình hình mới. 3. Sơ đồ chỉ đạo Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh ở Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hoá. CĐ CS ngoài quốc doanh Tổ Công đoàn Ban Vận động XD Công đoàn ngoài QD huyện, thị, thành phố Ban Vận động XD Công đoàn ngoài QD Công đoàn ngành Ban vận động xây dưng Công đoàn NQD Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hoá Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hoá đã thành lập Ban vận động xây dựng Công đoàn ngoài quốc doanh từ tỉnh xuống đến các huyện, thị, thành phố và Công đoàn ngành địa phương. Việc chỉ đạo Ban vận động xây dựng Công đoàn ngoài quốc doanh của Liên đoàn Lao động tỉnh do Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động trực tiếp chỉ đạo. Việc chỉ đạo Ban vận động xây dựng Công đoàn ngoài quốc doanh các huyện , thị, thành phố, Công đoàn ngành địa phương do Ban vận động xây dựng Công đoàn ngoài quốc doanh Liên đoàn Lao động tỉnh và các Công đoàn ngành địa phương, Liên đoàn Lao động huyện, thị, thành phố trực tiếp chỉ đạo. Về tổ chức, Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh theo số liệu của Liên đoàn lao động Thanh Hoá cho đến hết tháng 12 năm 2003, trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá đã thành lập được 48 Công đoàn cơ sở với: 2215 đoàn viên. Hàng năm các Ban vận động xây dựng Công đoàn ngoài quốc doanh lên kế hoạch thành lập Công đoàn cơ sở khối ngoài quốc doanh với mục tiêu hàng năm mỗi Công đoàn ngành địa phương, Liên đoàn Lao động huyện, thị, thành phố ( những huyện có đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh) thành lập từ 3 đến 5 Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh để tiến tới hết năm 2008 toàn tỉnh phải thành lập khoảng 306 Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh và kết nạp 10.000 công nhân lao động vào tổ chức Công đoàn. IV. Tổ chức và hoạt động công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh ở Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hoá. 1. Tổ chức và hoạt động của Công đoàn cơ sở khu vực liên doanh với nước ngoài. 1.1. Thực tế hoạt động của Công đoàn Công ty đường mía Việt Nam - Đài Loan. 1.1.1. Đặc điểm Công ty đường mía Việt Nam - Đài Loan. Công ty đường mía Việt Nam - Đài Loan có trụ sở chính đóng tại thị trấn Vân Du, Thạch Thành, Thanh Hoá. Công ty có tổng số công nhân lao động là 270 người, trong đó lao động nữ là 31 người. Vào đầu các vụ ép công ty thường tuyển thêm lao động thời vụ để phục vụ kịp tiến độ sản xuất kinh doanh. Năm1996 Công đoàn công ty cũng được thành lập và là cơ sở trực thuộc Liên đoàn lao động tỉnh Thanh Hoá. Ngay sau khi thành lập, Công đoàn công ty đã có quy chế phối hợp hoạt động giữa Ban chấp hành Công đoàn cơ sở với Giám đốc doanh nghiệp đó là bình đẳng, tôn trọng, hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty theo đúng chức năng, nhiệm vụ của mỗi bên nhằm đảm bảo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, quản lý doanh nghiệp bằng pháp luật, chính sách, nội quy và quy chế của công ty. Tổ chức cho người lao động tham gia quản lý công ty và tổ chức có hiệu quả các phong trào thi đua nhằm làm cho công ty phát triển vững mạnh. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân lao động trên cơ sở pháp luật, chính sách và sự thoả thuận của hai phía, đảm bảo quyền và lợi ích các bên. Quá trình hoạt động của Công đoàn công ty trong thời gian qua cũng đã thực hiện vận dụng theo quy chế và nguyên tắc chung là: “Hoạt động theo nguyên tắc dân chủ, bình đẳng, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho người lao động, từ đó tạo ra niềm tin cho người lao động, giúp đỡ lẫn nhau để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, đồng thời chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đoàn viên và người lao động. Công đoàn cũng hoạt động đảm bảo tính tự nguyện, không bắt buộc đối với người lao động” 1.1.2. Hoạt động của Công đoàn Công ty đường mía Việt Nam - Đài Loan trong những năm qua: - Công tác tuyên truyền giáo dục: Trong những năm qua Công đoàn công ty đã hướng cho đoàn viên tìm hiểu, học tập, quán triệt các chính sách pháp luật, thông tin kinh tế. Cụ thể năm 2003 Công đoàn công ty đã vận động tất cả công nhân lao động trong công ty tham gia cuộc thi tìm hiểu về Bộ Luật Lao động được sửa đổi, bổ sung, với kết quả 64% công nhân viên lao động tham gia với chất lượng bài viết cao. Tìm hiểu, học tập, quán triệt chính sách, pháp luật, thông tin kinh tế-xã hội thông qua báo, đài thường nhật. Tuyên truyền và động viên đoàn viên tích cực học tập về chuyên môn, nhất là học ngoại ngữ, trao đổi giúp đỡ nhau để đáp ứng yêu cầu và hiệu quả trong công tác. Một số đoàn viên tự phấn đấu học tập, bổ sung kiến thức nâng cao trình độ chuyên môn để hỗ trợ công việc, hoặc cơ quan mời chuyên gia về tập huấn tại tại chỗ, tập huấn chuyên đề hoặc cử đoàn viên đi tập huấn ở nước ngoài. - Tổ chức các phong trào thi đua: Hàng năm Công đoàn công ty đều tổ chức các phong trào thi đua. Phổ biến chương trình phong trào thi đua và động viên đoàn viên tích cực hưởng ứng tham gia các phong trào thi đua. Trọng tâm là phong trào thi đua trong lao động, sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanhnhư phong trào “Phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật”, phong trào “Xanh, sạch, đẹp trong nhà máy”, phong trào thi đua “ Các tổ Công đoàn và cá nhân lập thành tích trong vụ ép”… Thông qua các phong trào thi đua, công nhân lao động của công ty đã từng bước nâng cao được ý thức trách nhiệm, kỷ luật trong sản xuất và hiệu quả sản xuất của công ty ngày được nâng lên. - Chăm lo đời sống, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho công nhân lao động: Trong quá trình hoạt động, Công đoàn công ty luôn phối hợp chặt chẽ, trao đổi, bàn bạc với lãnh đạo công ty trong điều hành công việc để đảm bảo sản xuất được liên tục, thông suốt, có hiệu quả. Tuyên truyền và phổ biến cho công nhân lao động và người sử dụng lao động từ đó đã đảm bảo 100% công nhân lao động được ký Hợp đồng lao động sau khi kết thúc thời gian thử việc. Tổ chức cho công nhân lao động tham gia đóng góp vào dự thảo Thoả ước lao động tập thể và thương lượng với người sử dụng lao động ký được Thoả ước lao động tập thể đúng pháp luật quy định, trong đó có những điều có lợi hơn cho người lao động như chế độ ăn ca. Chế độ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế và Bảo hiểm thân thể cho người lao động được thực hiện đầy đủ đúng quy định. Trang bị phòng hộ lao động cho công nhân lao động được cấp tương đối đầy đủ... Hàng tháng Công đoàn cùng với chuyên môn có chấm điểm vệ sinh môi trường và kiểm tra việc thực hiện công tác Bảo hộ lao động đối với người lao động, nhắc nhở người lao động phải luôn thực hiện nghiêm ngặt nội quy, quy định về an toàn lao động. Hội đồng Bảo hộ lao động trong đó có Công đoàn tham gia đã hoạt động tốt, đã kiến nghị với người sử dụng lao động cải thiện điều kiện làm việc tại những vị trí chưa thích hợp, kiểm định lại tất cả các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động. Mạng lưới an toàn vệ sinh viên của toàn công ty gồm 24 người, những thành viên này đều có khả năng, trình độ, tay nghề khá nên hoạt động có hiệu quả cao. Việc cải điều kiện làm việc cho người lao động luôn được chú trọng. Hàng năm trước khi vào vụ ép đều tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động, huấn luyện nghiệp vụ về an toàn lao động, an toàn vệ sinh thực phẩm cho công nhân kể cả chính thức lẫn thời vụ. Về đời sống của công nhân lao động sau giờ làm việc luôn được Công đoàn công ty chú trọng. Khu tập thể công ty có trung tâm văn hoá để hoạt động, chơi các môn thể thao, có sân chơi bóng, môi trường sinh hoạt ăn ở đảm bảo hợp vệ sinh. Bếp ăn tập thể đối với những người phục vụ luôn được nhắc nhở để bữa ăn cho cán bộ, công nhân lao động ngày càng tốt hơn. Nhờ tổ chức tốt sản xuất kinh doanh của công ty nên thu nhập của người lao động đảm bảo. Năm 2003 tiền lương của công nhân chính thức như sau: từ 500.000đ đến 700.000đ/tháng có 14 người, chiếm 6%. Từ 700.000đ đến 900.000đ/tháng có 43 người, chiếm 18,5%. Từ 900.000đ đến 1.000.000đ/tháng có 63 người, chiếm 27%. Từ 1.000.000đ đến 1.500.000đ/tháng trở lên có 46 ngưòi, chiếm 34,5%. - Xây dựng, tổ chức Công đoàn cơ sở vững mạnh: Ban chấp hành cơ sở triển khai chương trình công tác và nội dung hoạt động, ra được quy chế phối hợp giữa Ban chấp hành và chủ doanh nghiệp, ra được quy chế hoạt động của Công đoàn, quy định quyền và nghĩa vụ của đoàn viên, các tổ Công đoàn. Các tổ Công đoàn hoạt động theo từng bộ phận, thành phần, chức năng chuyên môn, từ đó đã tạo điều kiện thuận lợi trong sinh hoạt và hoạt động Công đoàn. Hàng năm các tổ Công đoàn đều tiến hành kiện toàn tổ chức, đánh giá kết quả hoạt động của tổ Công đoàn, xây dựng phương hướng tới, đưa ra những kiến nghị để Công đoàn cơ sở và lãnh đạo công ty giải quyết. Trong năm 2003 Công đoàn cơ sở đã giới thiệu cho Đảng bộ 10 quần chúng ưu tú đi học lớp đối tượng Đảng do huyện uỷ Thạch Thành tổ chức, đồng thời trong năm 2003 có 5 đoàn viên Công đoàn ưu tú được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. - Về hoạt động của Ban chấp hành Công đoàn công ty: Trong những năm qua, Ban chấp hành Công đoàn công ty đã phát huy vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của mình trong quá trình hoạt động Công đoàn. Sự phối hợp khá nhịp nhàng, chặt chẽ, kịp thời, đúng quy định trên cơ sở chế độ, chính sách, pháp luật Việt Nam. Thường xuyên chỉ đạo đến các tổ trưởng, đến các hoạt động của tổ cho phù hợp với tình hình thực tế, cân nhắc và xử lý những vấn đề có liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần của đoàn viên, do đó đã tác động trực tiếp đến tâm lý nhận thức của đoàn viên, người lao động, từng bước tạo cho đoàn viên, người lao động niềm tin vào tổ chức Công đoàn, động viên đoàn viên và người lao động tích cực lao động sản xuất hoàn thành nhiệm vụ được giao. * Qua khảo sát thực tế Công đoàn công ty đường mía Việt Nam - Đài Loan còn thấy một số tồn tại sau: - Việc tham gia với chủ doanh nghiệp về công tác Bảo hộ lao động còn hạn chế do đó việc cấp trang bị Bảo hộ lao động cá nhân chưa đủ, còn thiếu giày; về tai nạn lao động vẫn còn xảy ra. Cụ thể vào năm 2003 đã xảy ra 4 vụ tai nạn lao động nhẹ, trong đó 1 vụ do tai nạn giao thông những được tính là tai nạn lao động. - Hoạt động của Uỷ ban kiểm tra Công đoàn còn yếu. 1.1.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Công đoàn công ty: - Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ Công đoàn nhất là đội ngũ tổ trưởng tổ Công đoàn để thông qua các đồng chí tổ trưởng nhằm tuyên truyền giáo dục nâng cao năng lực làm chủ cho người lao động. - Chú trọng đến công tác hoạt động của tổ Công đoàn. - Sửa đổi, bổ sung quy chế hoạt động của Ban chấp hành, Uỷ ban kiểm tra cho phù hợp với tình hình thực tế. - Sửa đổi bổ sung các điều khoản của Thoả ước lao động tập thể cho lãnh đạo công ty xem xét, tiến hành thương lượng để có thể đi đến ký kết lại Thoả ước lao động tập thể. - Phân công công việc cụ thể đối với từng uỷ viên Ban chấp hành để gắn công việc Công đoàn với nhiệm vụ của công ty giao. - Sơ kết, tổng kết các phong trào thi đua đã phát động. Duy trì tốt hơn nữa các hoạt động phong trào đã có sẵn, phát động thêm các phong trào nếu thấy có lợi hơn. 1.2. Đánh giá về tổ chức, hoạt động của Công đoàn cơ sở khu vực liên doanh với nước ngoài ở Liên đoàn Lao động Thanh Hoá: 1.2.1. Kết quả đạt được: * Về tổ chức: Liên đoàn Lao động tỉnh, cán bộ phụ trách công tác phát triển Công đoàn ngoài quốc doanh đã tiến hành kiểm tra, khảo sát, xác định đối tượng người lao động cần tập hợp vào tổ chức Công đoàn, tiến hành chỉ đạo đại hội Công đoàn cơ sở cuối mỗi nhiệm kỳ, giúp Ban chấp hành Công đoàn cơ sở hoạt động, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn từ tổ trở lên, sơ kết, rút kinh nghiệm, xây dựng nội dung, phương hướng hoạt động phối hợp với thực tế của doanh nghiệp. Từ khi đổi mới nền kinh tế đến nay trên địa bàn Thanh Hoá thành lập được 1 Công đoàn cơ sở khu vực liên doanh với nước ngoài và thu hút 270 đoàn viên tham gia Công đoàn. * Về hoạt động: Mặc dù mới thành lập được 1 Công đoàn cơ sở khu vực liên doanh với nước ngoài nhưng nội dung hoạt động đã thực hiện được một số nhiệm vụ chủ yếu sau: - Tuyên truyền, phổ biến một số chính sách, pháp luật đến công nhân lao động. - Hướng dẫn công nhân lao động giao kết Hợp đồng lao động, thương lượng ký kết Thoả ước lao động tập thể phù hợp với thực tế của doanh nghiệp và quyền lợi của người lao động. - Tham gia hoà giải khi tranh chấp lao động xảy ra. - Th._.ật Lao động), tuyên truyền cho người lao động thấy được sự cần thiết ra nhập tổ chức Công đoàn để được chăm lo bảo vệ hợp pháp, chính đáng của mình và nâng cao nhận thức chính trị của bản thân. - Cần phải đổi mới về nội dung phương pháp hoạt động của tổ chức Công đoàn khối ngoài quốc doanh. Nội dung và phương pháp hoạt động là những vấn đề quan trọng trong hoạt động Công đoàn ngoài quốc doanh. Nó quyết định vị trí của tổ chức Công đoàn trong doanh nghiệp. Vì vậy vấn đề này cần được quan tâm sâu sắc để hoạt động Công đoàn đạt được kết quả như mong muốn. Về nội dung hoạt động cần cụ thể rõ ràng, xoay quanh 3 chức năng cơ bản của tổ chức Công đoàn và tiêu chuẩn xây dựng Công đoàn cơ sở vững mạnh khối ngoài quốc doanh theo Thông tư 02/TT-TLĐ ngày 27/01/2000 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Những vấn đề cần đặt ra cho tổ chức Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh khi tổ chức một hoạt động đó là nội dung, vấn đề mà Công đoàn cần truyền tới công nhân, lao động, thông qua hoạt động tổ chức. Qua hoạt động đó người lao động sẽ thu hoạch được những gì? Điều kiện tốt nhất để người lao động tham gia hoạt động do Công đoàn tổ chức. - Cần tăng cường hơn nữa vấn đề nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, chức năng của tổ chức Công đoàn trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Làm cho công nhân, lao động có nhận thức đúng đắn về tổ chức Công đoàn. Muốn vậy, tổ chức Công đoàn cần thường xuyên tuyên truyền giáo dục cho công nhân lao động với giới chủ doanh nghiệp những kiến thức cơ bản về vị trí, vai trò chức năng của tổ chức Công đoàn bằng các hình thức thông tin khác nhau như phát thanh, phát hành tờ rơi, tài liệu, khẩu hiệu, tổ chức tọa đàm, trao đổi... để từ đó làm cho họ thấy được sự cần thiết phải có tổ chức Công đoàn và phải thành lập tổ chức Công đoàn trong doanh nghiệp. - Chỉ đạo Công đoàn cơ sở tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước, nhất là phong trào thi đua “Lao động giỏi”. Tham gia quản lý doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh từ đó được lòng tin đối với chủ doanh nghiệp, làm cho họ yên tâm, tạo điều kiện cho tổ chức Công đoàn có hiệu quả hơn. - Xây dựng mô hình điểm về thành lập và hoạt động Công đoàn ngoài cơ sở quốc doanh để rút kinh nghiệm chỉ đạo và phục vụ công tác tuyên truyền. Cung cấp đầy đủ tài liệu, thông tin về tổ chức Công đoàn cho giới chủ, người lao động để họ tự tìm hiểu và đến với tổ chức Công đoàn khi có đủ điều kiện. 2. Về phương pháp hoạt động: - Đây là một trong những vấn đề quan trọng trong công tác Công đoàn, đòi hỏi cán bộ cần linh hoạt, không cứng nhắc để hoạt động có sức lôi cuốn, phát hiện những yếu tố mới để đưa vào hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức Công đoàn hình thức hoạt động phù hợp thì hiệu quả hoạt động sẽ cao. Không có điều kiện để sinh hoạt đoàn thể, xã hội trong giờ, do giới chủ quản lý chặt chẽ, vì vậy trước khi tổ chức một hoạt động nào đó, cán bộ Công đoàn cần cân nhắc, xem nên tổ chức vào thời gian nào là thích hợp và hình thức tổ chức như thế nào là tối ưu và đạt hiệu quả cao nhất, cần chuẩn bị những gì, có cần kết hợp với các hoạt động khác như văn hoá, thể dục, thể thao, hay không? Ngoài ra còn phải quan tâm đến đối tượng tham gia hoạt động là những ai (đại diện giới chủ, đại diện Công đoàn cấp trên...); kinh phí bao nhiêu là hợp lý, địa điểm tổ chức ở đâu là phù hợp nhất, tránh được sự rườm rà và không cần thiết, tiết kiệm thời gian mà hiệu quả cao. - Cán bộ Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh cần coi trọng phương pháp thuyết phục gắn với khen thưởng hoặc nhắc nhở kịp thời. Thường xuyên tổ chức cho công nhân lao động hoạt động với việc lựa chọn nội dung hoạt động cho phù hợp với điều kiện mới. Cần mở rộng các hình thức tổ chức theo nghề nghiệp, theo nhu cầu đời sống và sinh hoạt văn hoá để thu hút đông đảo đoàn viên vào hoạt động Công đoàn. - Các Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh cần xây dựng hệ thống quy chế và tổ chức hoạt động theo quy chế, như Quy chế hoạt động nội bộ của Công đoàn cơ sở; Quy chế phối hợp hoạt động giữa Ban chấp hành Công đoàn cơ sở với chuyên môn, chủ doanh nghiệp; Quy chế quản lý doanh nghiệp... 3. Về tổ chức thực hiện: Đây là vấn đề quyết định sự thành công hay thất bại của hoạt động Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh. Để đạt được hiệu quả cao đối với mọi hoạt động của Công đoàn cơ sở khối ngoài quốc doanh cần tiến hành những bước sau: - Xin ý kiến của chỉ đạo của cấp uỷ Đảng (nếu có) hoặc thông báo, trao đổi trước với chủ doanh nghiệp về những vấn đề mình dự kiến sẽ tổ chức thực hiện trong doanh nghiệp. Nếu giới chủ đồng tình thì đó là điều kiện thuận lợi. Trường hợp giới chủ không đồng tình thì tìm cách thuyết phục bằng lý lẽ hoặc những biện pháp tổ chức khác phù hợp hơn, từ đó để giới chủ thấy được việc tổ chức hoạt động đó của Công đoàn không làm ảnh hưởng hoạt động của doanh nghiệp, mà có lợi cho cả giới chủ và người lao động (điểm này cần phân tích rất kỹ lưỡng, khéo léo thì mới có sức thuyết phục và đạt kết quả tốt). - Sau khi lấy ý kiến chỉ đạo của cấp uỷ Đảng (nếu có) hoặc đạt được sự thống nhất với giới chủ, BCH Công đoàn cơ sở cần xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai với tất cả các cán bộ, đoàn viên Công đoàn và công nhân, lao động trong đơn vị để mọi người đều biết, tham gia thực hiện tốt kế hoạch đó. - Kết thúc mỗi hoạt động cần tiến hành sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm cho những hoạt động tiếp theo. Có biểu dương, khen thưởng kịp thời những tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc. III. Một số khuyến nghị 1-Với Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Thanh Hoá: - Để giúp Liên đoàn Lao động các huyện, thị, thành phố và Công đoàn ngành vận động, phát triển và đưa Công đoàn khối ngoài quốc doanh vào hoạt động có hiệu quả làm cơ sở để phát triển tổ chức cơ sở Đảng trong khối ngoài quốc doanh, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Thanh Hoá cần có chỉ thị, nghị quyết chương trình cụ thể chỉ đạo các huyện, thị, thành phố, các ngành về công tác xây dựng và phát triển Công đoàn ngoài quốc doanh ở đơn vị mình - Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Thanh Hoá cần chỉ đạo các ngành chức năng trong tỉnh thường xuyên có sự phối hợp, giúp đỡ tạo điều kiện cho Liên đoàn Lao động tỉnh, huyện, thị, thành phố làm tốt công tác vận động phát triển Công đoàn ngoài quốc doanh như hỗ trợ một phần kinh phí, cử cán bộ tham gia ban chỉ đạo tổ chức điều tra cơ bản nắm tình hình công nhân, lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện, thị, thành phố để xây dựng kế hoạch phát triển Công đoàn cho từng đối tượng. Tăng cường các biện pháp quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nhất là trong việc kiểm tra giám sát việc thực hiện Bộ luật Lao động. 2.Với LĐLĐ tỉnh, LĐLĐ huyện, thị, Công đoàn ngành địa phương: - LĐLĐ tỉnh cần có cán bộ chuyên trách theo dõi việc xây dựng tổ chức và hoạt động Công đoàn cơ sở khu vực ngoài quốc doanh để tham mưu cho Ban vận động xây dựng Công đoàn cơ sở khu vực ngoài quốc doanh của tỉnh trong việc chỉ đạo. - Ban vận động xây dựng Công đoàn cơ sở khu vực ngoài quốc doanh của các LĐLĐ huyện, thị, Công đoàn ngành địa phương cần xây dựng kế hoạch phát triển tổ chức Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh đúng với thực tế ở cơ sở mình, thường xuyên hướng dẫn nội dung và phương pháp hoạt động cho Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh, tránh vì phấn đấu đạt chỉ tiêu mà không chú ý đến chất lượng hoạt động của Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh 3. Với Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh: - Cán bộ Công đoàn cơ sở cần nắm chắc chế độ, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vì mối quan hệ lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là chủ-thợ. Điều chỉnh mối quan hệ này là bằng Luật. - Vận động công nhân, lao động chuyển quyền sử dụng cổ phiếu cho đại diện Công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp để đại diện Công đoàn cơ sở được tham gia trong Hội đồng quản trị doanh nghiệp, từ đó tổ chức Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh thuận lợi hơn trong việc tham gia quản lý và chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động. 4. Với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam: - Cần nghiên cứu và kiến nghị với Nhà nước có chính sách, biện pháp để các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nghiêm túc việc trích nộp kinh phí Công đoàn 2% trên tổng quỹ lương theo quy định để Công đoàn có kinh phí họat động. - Cần đầu tư nghiên cứu mô hình hoạt động phù hợp với Công đoàn khối ngoài quốc doanh và chính sách hỗ trợ kinh phí cho công tác phát triển và hoạt động Công đoàn khối ngoài quốc doanh. - Việc quản lý chỉ đạo hoạt động Công đoàn ngoài quốc doanh nên thống nhất quy về một mối tốt nhất là nên giao cho Liên đoàn lao động huyện, thị, thành phố, Công đoàn ngành, để trách sự chồng chéo không rõ ràng. Đối với những Công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, cần gộp lại thành Công đoàn cơ sở cấp phường, xã có cán bộ chuyên trách do tổ chức Công đoàn cử ra phụ trách và trả lương trực tiếp cho cán bộ chuyên trách này. Giải pháp này có ưu điểm nổi bật là: Phát triển được về mặt tổ chức do tập hợp được người lao động để vận động phát triển đoàn viên, thành lập được Công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Do hiện nay, Công ty tư nhân, Công ty TNHH, các Hợp tác xã hoạt động có nhiều vấn đề có liên quan và gắn bó với cấp phường, xã nên cấp phường, xã có điều kiện nắm bắt được tình hình hoạt động của các doanh nghiệp, điều này thuận lợi cho thành lập, hoạt động Công đoàn. Mặt khác khi gộp Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh trên địa bàn phường, xã vào một Công đoàn cấp phường như vậy (gọi là Công đoàn phường, xã), số lượng đoàn viên của Công đoàn phường, xã tăng lên lại có cán bộ chuyên trách có nghiệp vụ do đó dễ dàng hoạt động và tổ chức các phong trào hơn. Giải pháp này có những nhược điểm là: Hoạt động Công đoàn dễ bị hành chính hoá. Mặt khác do tính chất ngành nghề trong một Công đoàn phường, xã rất khác nhau nên hoạt động có nhiều khó khăn. Đòi hỏi cán bộ chuyên trách cần có trình độ nhất định như về văn hoá, chuyên môn, lý luận chính trị và nghiệp vụ công tác Công đoàn và điều quan trọng hơn là phải có trụ sở làm việc, có kinh phí để trả lương cho cán bộ này. 5. Với Đảng, Chính phủ: - Chỉ đạo cơ quan chức năng nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật lao động, kiên quyết xử lý các vi phạm nhằm ngăn chặn những tranh chấp lao động và đình công. Bổ sung quy định về trách nhiệm của thanh tra viên về kết quả thanh kiểm tra. - Tăng thêm số cán bộ Công đoàn chuyên trách để đảm bảo cho cán bộ Công đoàn có đủ năng lực, trình độ đáp ứng với phát triển nhanh của khối kinh tế ngoài quốc doanh hiện nay. Nghiên cứu và ban hành các chính sách đãi ngộ và cơ chế bảo vệ cán bộ làm công tác Công đoàn khối ngoài quốc doanh. - Đề nghị Chính phủ tiếp tục hỗ trợ kinh phí cho Công đoàn để tuyên truyền phát triển đoàn viên, thành lập Công đoàn cơ sở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. kết luận Trong những năm qua, thực hiện công tác đổi mới của đất nước các thành phần kinh tế không ngừng phát triển, nhất là thành phần kinh tế ngoài quốc doanh phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng với cơ cấu ngành nghề đa dạng đã thu hút một lực lượng lao động vào làm trong doanh nghiệp ngày một đông. Quyền và nghĩa vụ của người lao động một phần nào đã được các chủ doanh nghiệp thực hiện theo đúng chính sách pháp luật của Nhà nước. Song cũng còn nhiều vấn đề mà pháp luật hoặc các văn bản dưới luật đã quy định chủ doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện nửa vời và do đó quyền và nghĩa vụ của người lao động chưa được thực hiện tốt. Mặc dù còn nhiều hạn chế nhất định, nhưng hoạt động của Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh ở Liên đoàn lao động tỉnh Thanh Hóa trong những năm qua đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, tạo được niềm tin và là chỗ dựa vững chắc cho người lao động trong việc chăm lo, bảo vệ quyền và nghĩa vụ của người lao động trong các doanh nghiệp, bảo đảm lợi ích hài hòa giữa người sử dụng lao động và người lao động một cách tốt nhất, tạo điều kiện phát triển kinh tế và giữ vững an ninh chính trị của Tỉnh Thanh Hóa. Chính vì vậy việc xây dựng tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của công nhân lao động càng trở lên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết đòi hỏi các cấp, các ngành phải quan tâm chỉ đạo hơn nữa. Hy vọng khóa luận với đề tài: “Tổ chức và hoạt động Công đoàn cơ sở khu vực ngoài quốc doanh ở Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hoá" sẽ giúp một phần nào cho công tác hoạt động Công đoàn ngoài quốc doanh ở Liên đoàn Lao động Tỉnh Thanh Hóa nói riêng và cả nước nói chung ngày một nâng cao, đáp ứng với yêu cầu trong giai đoạn hiện nay. Đề tài được viết với sự giúp đỡ của Lãnh đạo Liên đoàn Lao động Thanh Hoá, Ban tổ chức Liên đoàn Lao động, Ban thường vụ Công đoàn ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Công đoàn ngành Giao thông vận tải tỉnh Thanh Hoá. Đặc biệt là sự hướng dẫn trực tiếp của PGS-TS Nguyễn Viết Vượng- Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hiệu trưởng trường Đại học Công đoàn, đồng chí Ngô Tôn Tẩn - Uỷ viên Thường vụ, trưởng Ban tổ chức Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hoá, đồng chí Hà Văn Minh chuyên viên Ban tổ chức Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hoá. Mặc dù được sự giúp đỡ của các cơ quan, đơn vị, tập thể, cá nhân và sự cố gắng của bản thân, song do nội dung của đề tài còn mới mẻ đối với bản thân, đề cập vấn đề quá lớn, phạm vi rộng, trong khi đó trình độ, năng lực bản thân người viết còn hạn chế, thời gian nghiên cứu tìm hiểu chưa đáp ứng yêu cầu cần của đề tài, do đó không thể tránh được những thiếu sót nhất định. Rất mong được sự đóng góp ý kiến, chỉ dẫn của các thầy giáo, cô giáo, các đồng chí làm công tác Công đoàn, những người quan tâm về đề tài này và các đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn! Sinh viên thực hiện Nguyễn Thành Văn Tài liệu tham khảo 1. Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động Công đoàn ngoài khu vực quốc doanh - NXB Lao động năm 1997. 2. Bộ luật Lao động NXB Chính trị quốc gia 2002. 3.Trường Đại học Công đoàn: Lý luận nghiệp vụ Công đoàn(Tập 1,2,3). 4. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII, IX - NXB Chính trị quốc gia. 5. Văn kiện Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ IX - NXB Lao động năm 2003. 6. Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội - NXB Sự thật Hà Nội. 7. Luật doanh nghiệp - NXB Chính trị quốc gia 2002. 8. Luật đầu tư nước ngoài- NXB Chính trị quốc gia 2000. 9. Hệ thống các văn bản về công tác tổ chức và cán bộ Công đoàn - Nhà xuất bản Lao động 2001. 10. Văn kiện Đại hội Công đoàn tỉnh Thanh Hóa lần thứ XV. 11. PGS- TS Nguyễn Viết Vượng (chủ biên): Công đoàn tham gia quản lý doanh nghiệp. 12. PGS- TS Nguyễn Viết Vượng (chủ biên): Giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 13. Tài liệu tập huấn cán bộ Công đoàn cơ sở - NXB Lao động 2000. 14. Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Lao động và Công đoàn, Báo Lao động, Báo Nhân dân, Báo Thanh Hóa. Nhận xét của LĐLĐ tỉnh Thanh Hoá .............................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................. ..................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................... nhận xét của giáo viên hướng dẫn .............................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................. .......................................................................................................................................................................................................................................................... Mục lục TT Nội dung Trang Phần mở đầu 1 1 Tính cấp thiết của đề tài 1 2 Mục đích nghiên cứu 2 3 Đối tượng nghiên cứu 2 4 Phạm vi nghiên cứu 2 5 Phương pháp nghiên cứu 2 6 Kết cấu đề tài 3 Phần thứ nhất: Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh 4 I Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt nam về nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần 4 1 Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt nam về phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần 4 2 Chủ trương của Đảng đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh 8 II Chính sách, pháp luật của Nhà nước điều chỉnh nền kinh tế nhiều thành phần 11 1 Luật doanh nghiệp 11 2 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 12 3 Luật hợp tác xã 13 4 Các văn bản khác 14 III Tình hình công nhân, viên chức, lao động cả nước trong nền kinh tế nhiền thành phần 15 1 Về số lượng công nhân, viên chức, lao động 16 2 Về chất lượng công nhân, viên chức, lao động 16 IV Hệ thống tổ chức, nhiệm vụ, nội dung cơ bản hoạt động và mối quan hệ của Công đoàn cơ sở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 18 1 Hệ thống tổ chức Công đoàn cơ sở 18 2 Nhiệm vụ của Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh 19 3 Nội dung cơ bản hoạt động Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh 19 3.1 Nội dung hoạt động Công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần. 19 3.2 Nội dung hoạt động Công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Liên doanh, 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện) 20 3.3 Nội dung hoạt động Công đoàn cơ sở trong các Hợp tác xã 21 4 Mối quan hệ của Công đoàn cơ sở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 21 4.1 Đối với cấp uỷ Đảng 21 4.2 Đối với chủ doanh nghiệp 22 4.3 Trong hệ thống tổ chức Công đoàn Việt Nam 22 4.4 Đối với các tổ chức quần chúng khác ở cơ sở 22 4.5 Đối với công nhân, lao động 22 V Tổ chức và hoạt động Công đoàn cơ sở khu vực ngoài quốc doanh trong cả nước (từ 1998 đến tháng 6/2003) 22 Phần thứ hai Tổ chức, hoạt động Công đoàn cơ sở khu vực ngoài quốc doanh ở Liên đoàn lao động tỉnh Thanh Hóa 25 I Tình hình phát triển kinh tế ngoài quốc doanh ở tỉnh Thanh Hóa 25 II Tình hình công nhân, viên chức, lao động ở tỉnh Thanh Hoá 27 1 Về số lựơng công nhân, viên chức, lao động 27 2 Về chất lượng công nhân, viên chức, lao động 28 III Hệ thống tổ chức ở Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hóa 29 1 Mô hình tổ chức ở Liên đoàn lao động tỉnh Thanh Hóa 29 2 Hệ thống tổ chức cơ quan Liên đoàn lao động tỉnh Thanh Hóa 30 3 Sơ đồ chỉ đạo Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh ở Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hóa 31 IV Tổ chức hoạt động Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh của Liên đoàn lao động tỉnh Thanh Hóa 32 1 Tổ chức và hoạt động của Công đoàn cơ sở khu vực liên doanh với nước ngoài 32 1.1 Thực tế hoạt động của Công đoàn công ty đường mía Việt Nam- Đài Loan 32 1.1.1 Đặc điểm Công ty đường mía Việt Nam- Đài Loan 32 1.1.2 Hoạt động của Công đoàn Công ty đường mía Việt Nam-Đài Loan trong những năm qua 33 1.1.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Công đoàn công ty. 36 1.2 Đánh giá về tổ chức, hoạt động của Công đoàn cơ sở khu vực liên doanh với nước ngoài ở Liên đoàn lao động Thanh Hóa 37 1.2.1 Kết quả đạt được 37 1.2.1 Những tồn tại 38 2 Tổ chức, hoạt động của Công đoàn cơ sở khu vực kinh tế tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần 40 2.1 Thực tế hoạt động của công ty cổ phần xây dựng thủy lợi- giao thông Lam Kinh- Thanh Hóa 40 2.1.1 Đặc điểm Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi- giao thông Lam Kinh- Thanh Hóa 40 2.1.2 Hoạt động của Công đoàn Công ty cổ phần xây dựng thủy lợi- giao thông Lam Kinh- Thanh Hóa trong thời gian qua. 41 2.1.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Công đoàn công ty cổ phần xây dựng thủy lợi- giao thông Lam Kinh- Thanh Hóa 44 2.2 Thực tế hoạt động của Công đoàn công ty TNHH Tân Thành- Thanh Hóa 45 2.2.1 Đặc điểm Công ty TNHH Tân Thành- Thanh Hóa 45 2.2.2 Hoạt động của Công đoàn Công ty TNHH Tân Thành- Thanh Hóa trong thời gian qua. 46 2.2.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Công đoàn công ty TNHH Tân Thành- Thanh Hóa 49 2.3 Đánh giá chung về tổ chức hoạt động của Công đoàn cơ sở khu vực kinh tế tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần ở Liên đoàn lao động tỉnh Thanh Hóa 49 2.3.1 Kết quả đạt được 49 2.3.2 Những tồn tại 51 2.3.3 Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức Công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần 52 3 Tổ chức, hoạt động của Công đoàn cơ sở trong các Hợp tác xã 52 3.1 Thực tế hoạt động của Công đoàn cơ sở Hợp tác xã Tấn Thành - Thanh Hóa 53 3.1.1 Đặc điểm hợp tác xã Tấn Thành- Thanh Hóa 53 3.1.2 Hoạt động của Công đoàn hợp tác xã Tấn Thành trong những năm qua 54 3.2 Đánh giá chung về tổ chức, hoạt động của Công đoàn cơ sở trong các Hợp tác xã ở Liên đoàn lao động tỉnh Thanh Hóa 56 3.2.1 Kết quả đạt được 56 3.2.2 Những tồn tại 58 3.2.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động Công đoàn cơ sở trong Hợp tác xã 58 IV Đánh giá chung về tổ chức, hoạt động của Công đoàn cơ sở khu vực ngoài quốc doanh ở Liên đoàn Lao độnh tỉnh Thanh Hóa 59 1 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình hoạt động 59 1.1 Những thuận lợi 59 1.2 Những khó khăn 60 2 Kết quả đạt được và nguyên nhân 62 2.1 Kết quả đạt được 62 2.1.1 Công tác tổ chức 62 2.1.2 Hoạt động của các Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh ở LĐLĐ tỉnh Thanh Hoá 64 2.2 Nguyên nhân đạt được 67 3 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 68 3.1 Về tồn tại, hạn chế 68 3.2 Nguyên nhân tồn tại, hạn chế 69 4 Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tế nhằm phát triển tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh của LĐLĐ tỉnh Thanh Hoá 72 Phần thứ ba: Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm xây dựng tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh ở Liên đoàn Lao độnh tỉnh Thanh Hóa trong thời kỳ mới 74 I Phương hướng xây dựng tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh ở tỉnh Thanh Hoá trong nhiệm kỳ 2003-2008 74 II Một số giải pháp xây dựng tổ chức Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh ở Liên đoàn Lao độnh tỉnh Thanh Hóa 75 1 Về tổ chức 75 2 Về cán bộ 76 III Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh ở Liên đoàn Lao độnh tỉnh Thanh Hóa trong thời kỳ mới 79 1 Về nội dung hoạt động 79 2 Về phương pháp hoạt động 81 3 Về tổ chức thực hiện 82 IV Một số khuyến nghị 83 1 Với Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh . 83 2 Với Liên đoàn Lao động tỉnh, huyện, thị, thành phố, Công đoàn ngành địa phương 83 3 Với Công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh 84 2 Với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam 84 3 Với Đảng và Chính phủ 85 Kết luận 86 Tài liệu tham khảo 88 Nhận xét của lđlđ tỉnh thanh hoá 89 Nhận xét của giảng viên hướng dẫn 90 ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNKT331.doc
Tài liệu liên quan