Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý trong ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYẾN VĂN HƢƠNG VAI TRÒ CỦA HƯ TỪ TRONG VIỆC HÌNH THÀNH HÀM Ý TRONG NGÔN NGỮ NGUYỄN CÔNG HOAN CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC Mã số: 5 – 04 – 08 LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Người hướng dẫn GS – TS. Nguyễn Đức Dân PTS. Nguyễn Thị Hai TP. Hồ Chí Minh – 1997 ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYẾN VĂN HƢƠNG VAI TRÒ CỦA HƯ TỪ TRONG VIỆC HÌNH THÀNH HÀM Ý TRONG NGÔN NGỮ NGUYỄN CÔNG HOAN

pdf126 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 3179 | Lượt tải: 5download
Tóm tắt tài liệu Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý trong ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC Mã số: 5 – 04 – 08 LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Người hướng dẫn GS – TS. Nguyễn Đức Dân PTS. Nguyễn Thị Hai TP. Hồ Chí Minh – 1997 Đề tài "Vai trò của từ hƣ trong việc hình thành hàm ý trong ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan" đƣợc chúng tôi chọn để làm luận án tốt nghiệp thạc sĩ của mình. Trong quá trình nghiên cứu, bản thân đã đƣợc GS.TS Nguyễn Đức Dân - Trƣờng ĐHKHXH - NV Thành phố Hồ Chí Minh, PTS Nguyễn Thị Hai - Trƣờng ĐHSP Thành Phố Hồ Chí Minh, tạo mọi điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ. Chúng tôi xin bày tỏ lòng bết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu đó. Chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến PGS Cao Xuân Hạo, PGS.TS Trần Ngọc Thêm, PTS Dƣ Ngọc Ngân, PTS Trịnh Sâm, các thầy giáo, cô giáo khoa Ngữ Văn, Phòng NCKH Trƣờng ĐHSP thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và các đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận án này. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 1 DẪN LUẬN I. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu Một cách khái quát, xét ở mức độ miêu tả ngữ nghĩa, có thể có hai lớp từ đối lập nhau: lớp từ mang ý nghĩa từ vựng cụ thể, xác thực gọi là thực từ và lớp từ không mang ý nghĩa từ vựng chân thực gọi là hƣ từ. Vai trò ý nghĩa của thực từ đã rõ ràng, còn đối với hƣ từ là những vấn đề còn nhiều bàn luận. Trong thực tế sử dụng, nhất là trong giao tiếp, hƣ từ đóng một vai trò quan trọng. Mức độ quan trọng của hƣ từ đƣợc thể hiện ở chỗ: Nếu không có nó thì khó có thể thực hiện giao tiếp một cách dễ dàng chƣa nói đến là không thể thực hiện đƣợc. - Từ trƣớc đến giờ, ngƣời ta chủ yếu chỉ đề cập nghĩa của thực từ còn hƣ từ thì cho rằng, chỉ có ý nghĩa ngữ pháp chứ không có ý nghĩa từ vựng. Nói nhƣ vậy, chúng ta sẽ khó lòng giải thích đƣợc sự khác nhau giữa các hiện tƣợng ngôn ngữ kiểu nhƣ: l(a) Những cái bút. 1(b) Một quyển sách. 2(a) Quyển sách này giá 5 đồng. 2(b) Quyển sách này giá chỉ 5 đồng. 2 (c) Quyển sách này giá những 5 đồng. Sự khác nhau giữa các câu trên là do các từ "những", "một", "chỉ" gây nên. Nhƣ vậy giữa những câu có hƣ từ và những câu không có hƣ từ có chứa đựng những thông tin khác nhau. Có đƣợc những thông tin khác nhau đó là do các nét nghĩa của hƣ từ tạo nên. Rõ ràng hƣ từ ngoài chức năng biểu thị ý nghĩa ngữ pháp, phạm trù ngữ pháp nó còn có chức năng biểu thị ý nghĩa tự thân của nó. Vấn đề là phải vạch ra đƣợc ranh giới khác nhau do hƣ từ đem lại. - Để góp phần trả lời vấn đề đặt ra, chúng tôi nghĩ rằng không thể tập hợp và miêu tả các hƣ từ cụ thể để vạch ra ranh giới ý nghĩa mà bản thân các hƣ từ đó thể hiện. Hƣớng chủ yếu là phải tập hợp những câu, đoản ngữ có sử dụng các hƣ từ để khảo sát và vạch ra vai trò, tác dụng của các hƣ từ đó. Đó chính là mục đích của luận án này. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 2 II: Lịch sử nghiên cứu vấn đề Cuối những năm 70 đầu 80, giới nghiên cứu ngữ học đã nhận thấy hƣ từ có vai trò quan trọng trong việc hình thành hàm ý. Từ đó các nhà ngôn ngữ học đã có những bài nghiên cứu về hƣ từ. 1.1. GS Hoàng Phê, năm 1975 có bài " Phân tích ngữ nghĩa" [58].Trong bài viết này, tác giả đã nêu lên hai tiền đề lý luận quan trọng trong việc phân tích ngữ nghĩa: - Cần nghiên cứu ngữ nghĩa không chỉ các đơn vị của ngôn ngữ mà còn cả của các đơn vị lời nói. - Nghĩa từ phải đƣợc nghiên cứu trong mối quan hệ nhiều mặt: từ với hiện thực, trong cấu trúc nội bộ, trong quan hệ hệ thống và quan hệ tổ hợp với những nghĩa từ khác. Từ hai tiền đề lý luận này, tác giả đã đƣa ra quan niệm của mình về phân tích nghĩa của từ một cách toàn diện trong những quan hệ ngữ nghĩa sinh động và phức tạp trong tổ hợp từ, trong câu cụ thể. Có thể coi đó là "một số ý kiến coi nhƣ là một thí nghiệm giải quyết vấn đề phân tích ngữ nghĩa, một vấn đề trung tâm của ngữ nghĩa học" [11]. Ở đây GS Hoàng Phê đã đƣa ra một hƣớng phân tích mới mẻ so với phƣơng thức truyền thống - từ góc độ logich ngữ nghĩa. 1.2. Năm 1981, Hoàng Phê lại có bài "Ngữ nghĩa của lời" [59] đặt vấn đề lời nói hàng ngày có hai phần: hiển ngôn (trực tiếp nói ra một cái gì đó) và hàm ngôn (gián tiếp nói ra một cái gì đó). Tác giả khẳng định nhiệm vụ của ngôn ngữ học, nghĩa học là tìm hiểu ngôn ngữ của lời, phải xuất phát từ ngữ nghĩa của lời để cuối cùng quay về ngữ nghĩa của lời (và của văn bản). Từ các kết luận của C.J. Fillmore, của O.Ducrot, của Grice, tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa tiền giả định - hiển ngôn - hàm ngôn - hàm ý - ngụ ý để xác định câu trúc ngữ nghĩa của lời. Đặc biệt ông đã đƣa ra phƣơng pháp phân tích ngữ nghĩa của lời, của câu và có thể áp dụng phƣơng pháp giải nhƣ giải một bài toán: tiền đề, qui tắc, định lý. Tác giả đã vận dụng phƣơng pháp này để phân tích những lời có hàm ngôn trong tác phẩm "Sống mòn" của Nam Cao. Rõ ràng tác giả đã cố gắng "công thức hóa" trong việc phân tích ngữ nghĩa của lời. 1.3. Trong bài "Tiền giả định và hàm ý, trong ngữ nghĩa của từ" [61], GS Hoàng Phê đã phân tích ngữ nghĩa của các câu để xác định vai trò của các hƣ từ trong việc tạo ra tiền giả định và hàm ý của câu. Từ các phân tích cụ thể tác giả đã đi đến kết luận: Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 3 - Có những từ ngữ không thể tách rời ngữ nghĩa của câu, vì vậy phải xuất phát từ ngữ nghĩa của câu mới có thể hiểu đƣợc cụ thể và đầy đủ nghĩa của từ. - Có những từ mà chức năng ngữ nghĩa là thực tại hóa một tiền giả định hoặc tạo nên một hàm ý của câu. - Những từ thông thƣờng gọi là hƣ từ nhƣng thƣờng có một hàm lƣợng nghĩa rất lớn và nghĩa của nó có một vai trò rất quan trọng trong cấu trúc ngữ nghĩa của câu. 2. GS Nguyễn Đức Dân đã có nhiều công trình nghiên cứu và nhiều bài viết có hệ thông về Logich ngữ nghĩa - một vấn đề lý thú và hóc búa của ngôn ngữ học. 2.1. Năm 1977, giáo trình "Những mô hình ngôn ngữ" của GS Nguyễn Đức Dân - Đại học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh - có giới thiệu về khái niệm tiền giả định và xác định nghĩa của từ có 2 phần: Hiển ngôn và hàm ngôn. 2.2. Năm 1984, bài "Ngữ nghĩa của hƣ từ: Định hƣớng nghĩa của từ" [16] GS Nguyễn Đức Dân đã đặt vấn đề về ý nghĩa của hƣ từ. Do nhu cầu giao tiếp, hƣ từ đã hình thành hàng loạt kiểu định hƣớng nghĩa khác nhau. Bài này đã nghiên cứu các định hƣớng nghĩa theo lý thuyết các hành vị ngôn ngữ. Từ phân tích những ví dụ cụ thể, tác giả đã xác định những định hƣớng nghĩa về sự đánh giá; những định hƣớng về sự khẳng định, chấp nhận, đồng tình, bác bỏ ; những định hƣớng về sự bày tỏ thái độ. Mỗi định hƣớng nghĩa đều đƣợc tác giả phân tích một cách Logich, chặt chẽ, rõ ràng mạch lạc và đã khái quát đƣợc những mô hình tổng quát. 2.3. Bài viết "Ngữ nghĩa các hƣ từ: Nghĩa của cặp từ" [17], Nguyễn Đức Dân đã dùng phƣơng pháp phân tích, chứng minh, khái quát hóa để đi đến xác định ý nghĩa của các từ hƣ trong các kiểu câu trúc, các kiểu quan hệ giữa hai vế (X và Y), (nhân quả hay nghịch nhân quả). Chính nhờ xác định đƣợc nghĩa của những cặp từ mà chúng ta dễ dàng định hƣớng đƣợc nghĩa của những bộ phận trong câu trúc câu phức chứa đựng các cặp từ đó. Nhƣ vậy, chúng ta có thể giả thích nghĩa của câu chính xác hơn, chặt chẽ hơn và "thấy đƣợc bản chất nhiều hiện tƣợng ngôn ngữ thú vị". 2.4. Trong một bài khác, Nguyễn Đức Dân - Trần Thị Chung Toàn đã tìm hiểu chức năng luận cứ của các từ "cũng - chính - cả - ngay" [25]. Bài báo này đề cập hai vấn đề: Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 4 - "cũng" là một từ dùng để đối chiếu. - Con đƣờng hƣ hóa và những nét khác biệt về sắc thái nhấn mạnh của các từ: Cả - ngay - chính. Qua phân tích các ví dụ cụ thể, vấn đề thứ nhất đã khái quát đƣợc cấu trúc dùng "cũng" để đối chiếu, vấn đề thứ hai đƣợc chứng minh bằng cách so sánh các câu có chứa các từ: " Chính - cả - ngay" với các câu không chứa các hƣ từ đó để vạch ra con đƣờng hƣ hóa của các hƣ từ đó và vai trò nhấn mạnh của nó. Những vấn đề đƣợc đặt ra và giải quyết trong bài viết đã giúp chúng ta giải thích đƣợc các hiện tƣợng phong phú của ngôn ngữ. 2.5. Toán học ngày càng thâm nhập vào tất cả các ngành khoa học, trong đó có ngôn ngữ học. Cuốn giáo trình " logich ngữ nghĩa cú pháp " của GS Nguyễn Đức Dần [19] đã trình bày những kiến thức cơ bản về logich học và một số phƣơng pháp mô tả ngôn ngữ tự nhiên nhằm cung cấp cho ngƣời đọc những kiến thức cơ bản để tiếp cận và nắm bắt đƣợc các công trình ngôn ngữ học hiện đại. Có thể đây là cuốn sách đầu tiên của giới Việt ngữ học đã trình bày một cách có hệ thống các khái niệm cơ bản về logich học và mối quan hệ của nó với ngôn ngữ. Đó là những tri thức cần thiết cho những ngƣời nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung và ngữ nghĩa cú pháp nói riêng. Trong giáo trình này, tác giả đã vận dụng các qui luật của Logich học để nghiên cứu về lĩnh vực ngữ nghĩa cú pháp. 2.6. Trong bài " Logich các từ nối" [22], Giáo sƣ Nguyễn Đức Dân đã đi sâu tìm hiểu cơ sở logich của sự hình thành nghĩa của các từ " trên, dƣới, trong, ngoài, trƣớc, sau" theo hai hƣớng phƣơng thức cơ bản: Theo quan hệ không gian giữa hai đối tƣợng và theo quan điểm nhìn trong khi nói, những yếu tố ảnh hƣởng đến quan hệ không gian, con đƣờng tạo nên sự chuyển nghĩa của các từ này. Thông qua phân tích các ví dụ cụ thể, tác giả rút ra cơ chế hay có thể nói là qui luật sử dụng các từ đó. Cách giải quyết các vấn đề rõ ràng, khúc chiết có sức thuyết phục cao. 2.7. Trong cuốn sách "tiếng cƣời thế giới" [24], khi phân tích các phƣơng pháp gây cƣời, tác giả Nguyễn Đức Dân đặc biệt chú ý đến cơ sở logich và vai trò của ngôn ngữ trong việc gây nên tiếng cƣời trong các truyện cƣời của thế giới.Theo tác giả "Có những truyện cƣời dựa trên cơ sở logich, ở đó ngƣời ta cƣời vì những tình huống, sự kiện thể hiện sự mâu thuẫn, một bản chất tức cƣời nào đó... Có những truyện cƣời vai trò của ngôn ngữ trở nên đặc biệt quan trọng, ngƣời ta nhận ra các tình huống, sự kiện tức cƣời nhờ có công cụ của ngôn ngữ". Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 5 Bàn về vai trò của ngôn ngữ trong nghệ thuật gây cƣời, tác giả đặc biệt chú ý đến vai trò của các cấu trúc ngữ pháp, nghệ thuật biểu hiện hàm ý và xây dựng các lối nói mơ hồ. 2.8. Cuốn "logich và Tiếng Việt" [23], xuất bản năm 1996. Đây là cuốn sách đề cập một cách có hệ thống những kiến thức cơ bản của logich cổ điển và logich hiện đại, mối quan hệ giữa logich với ngôn ngữ. Đặc biệt GS Nguyễn Đức Dân đã vận dụng quan điểm của Logich học để khảo sát và giải thích các hiện tƣợng tiếng Việt. Ở đây, nhiều hiện tƣợng về ngôn ngữ và logich đƣợc tác giả phân tích lý giải và phân định một cách khá rạch ròi làm cơ sở cho việc vận dụng để nghiên cứu tiếng Việt. Chúng tôi cho rằng cuốn sách là một tài liệu quí giá cho những ai đang có nhu cầu học tập và nghiên cứu tiếng Việt nói riêng và ngôn ngữ nói chung, đặc biệt là lĩnh vực logich ngữ nghĩa. 3. GS Đỗ Hữu Châu là một trong những nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã vận dụng khái niệm tiền giả định trong địa hạt ngữ nghĩa" ( Nguyễn Đức Dân) và dụng học. Có thể đề cập một số công trình nghiên cứu của ông về vấn đề này: 3.1. Bài "Các yếu tố dụng học của tiếng Việt" [8] đã đƣa yếu tố dụng học vào tọa độ thứ 4 trong hệ qui chiếu ba tọa độ để xem xét các sự kiện ngôn ngữ. Trên cơ sở khái niệm dụng học đã đƣợc xác định, dựa vào ý kiến của Fill more [Tổng quát một câu thƣờng có hai thành phần nghĩa M - p (M là thành phần hình thái, p là lõi miêu tả ], tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng trong P cũng chứa các yếu tố dụng học xuất hiện trong giao tiếp, nhƣng chính các tín hiệu dụng học mới tạo nên các M của ngữ nghĩa của câu. Phân tích M để vạch ra các loại tín hiệu dụng học, bƣớc đầu tác giả nêu lên 4 loại tín hiệu. Đó là các tín hiệu định vị chức năng, biểu thị thái độ trí tuệ , biểu hiện các hành vi ngôn ngữ và các động từ ngữ vi. Có thể nói chức năng dụng học là một hƣớng nghiên cứu mới mẻ của nghĩa học tiếng Việt so với truyền thống. 3.2 Cuốn giáo trình "Đại cƣơng về ngôn ngữ học tập II".[12] phần V. GS Đỗ Hữu Châu đã tập trung giới thiệu về dụng học (chƣơng I), phân tích các hành vi ngôn ngữ (chƣơng IV) và ý nghĩa hàm ẩn và ý nghĩa tƣờng minh (hiển ngôn) (chƣơng V). Có thể coi đây là một trong những công trình vận dụng lý thuyết ngữ dụng học của các nhà ngôn ngữ học thế giới để nghiên cứu dụng học của tiếng Việt một cách tƣơng đối hệ thống. Chƣơng I, tác giả giới thiệu một cách khái quát về dụng học, một vấn đề khá mới mẻ và lý thú. Chƣơng II phân tích các hành vi ngôn ngữ. Bản thân các đơn vị ngôn ngữ có tính trừu tƣợng, không hiện thực. Nó chỉ trở thành hiện thực khi ta nói (viết), tức là khi phát ngôn.Tìm ra bản chất hành Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 6 động của ngôn ngữ, AuStin đã mở ra một hƣớng nghiên cứu mới cho ngôn ngữ - hành vi ngôn ngữ. Lý thuyết lập luận (chƣơng III) là một lĩnh vực mới trong ngôn ngữ học thế giới. Đối với Việt Nam nó lại càng mới mẻ hơn. Đi vào lý thuyết lập luận đã mở ra một hƣớng nghiên cứu mới không chỉ đối với lĩnh vực ngữ dụng mà còn góp phần phát hiện ra những đặc trƣng mới trong cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ Việt Nam. Mặc dù chƣa có điều kiện để nghiên cứu một cách toàn diện về lý thuyết hội thoại, nhƣng những điều mà tác giả nêu ra trong chƣơng IV đã giới thiệu cho chúng ta những tri thức cơ bản về cấu trúc và chức năng hội thoại của Tiếng Việt. Đó là cơ sở để đi sâu vào lĩnh vực mới mẻ này. Chƣơng V tác giả đã giới thiệu về bản chất của một phát ngôn gồm 2 phần: Phần ý nghĩa nói ra trực tiếp nhờ các yếu tố ngôn ngữ gọi là ý nghĩa tƣờng minh và phần ý nghĩa đƣợc suy ra từ các yếu tố ngoài ngôn ngữ gọi là ý nghĩa hàm ẩn. bẳn chất của vấn đề phải đƣợc hiểu bắt đầu từ khái niệm ý nghĩa không tự nhiên, khái niệm tiền giả định và hàm ngôn. 4.1. Tác giả Lê Đông cũng có nhiều bài nghiên cứu về hƣ từ đăng trên tạp chí ngôn ngữ. Bài " Ngữ nghĩa - ngữ dụng của hƣ từ tiếng Việt: Ý nghĩa đánh giá của các hƣ từ" [27], tác giả đã đề cập đến thuộc tính đánh giá của hƣ từ, đƣợc cụ thể hóa qua phẩm chất ngữ nghĩa - ngữ dụng của các thành phần mà nó dạng thức hóa và chế định trong cấu trúc. Với ý nghĩa đánh giá của chúng, hƣ từ là phƣơng tiện để đƣa vào câu vào văn bản những nội dung hàm ẩn khác nhau, tham gia vào việc tạo nên chiều sâu của văn bản và tổ chức, liên kết các nội dung hiển ngôn. Tác giả đã vạch ra các kiểu nghĩa đánh giá (6 kiểu). Theo tác giả các kiểu ý nghĩa đánh giá của hƣ từ nhiều khi không tồn tại một cách tách rời mà có thể đan bện vào nhau nhiều kiểu ý nghĩa đánh giá. Nhƣ vậy, theo quan điểm ngữ nghĩa - ngữ dụng, tác giả đã miêu tả và xác định khá rõ ý nghĩa đánh giá của hƣ từ và vai trò của nó trong việc hình thành các hàm ẩn. 4.2. Với hƣớng nghiên cứu đó,bài "Ngữ dụng - ngữ nghĩa của hƣ từ: Siêu ngôn ngữ và hƣ từ tiếng Việt" [28], tác giả Lê Đông đã sử dụng khái niệm siêu ngôn ngữ để miêu tả ngữ dụng, ngữ nghĩa của hƣ từ và các cấu trúc khác có chứa nó trong hệ thống tiếng Việt. Tác giả đã chứng minh hƣ từ có thể đóng vai trò tác tử mang thông tin siêu ngôn ngữ, nói cách khác hƣ từ đóng vai trò một tác tử cấu tạo nên kiểu phát ngôn siêu ngôn ngữ. Ở đây tác giả có sự phân biệt các loại siêu ngôn ngữ: Siêu ngôn ngữ nội hƣớng - ngoại hƣớng, siêu ngôn ngữ hiện thực và siêu ngôn ngữ tiềm tàng. Theo tác giả, hƣ từ ngoài việc tham gia tạo nên các phát ngôn siêu ngôn ngữ đồng thời còn góp phần chế định luôn vị trí, vai trò tƣơng đối Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 7 của phát ngôn trong văn bản, tham gia vào việc chỉ ra quan hệ logich - ngữ nghĩa - ngữ dụng của các phát ngôn, chỉ ra dòng vận động của đối thoại" (trang 50 - ngôn ngữ số 2 -92). Chỉ ra chức năng siêu ngôn ngữ của hƣ từ đã giúp chúng ta chủ động hơn trong việc sử dụng từ ngữ, trong việc miêu tả các câu và mối quan hệ của nó trong đối thoại. 5.1. Nguyễn Anh Quế là một trong những nhà ngôn ngữ học có những đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu hƣ từ của tiếng Việt. Bài "Về vấn đề phân định hƣ từ trong tiếng Việt" [67], tác giả đã đề xuất cách phân định căn cứ vào khả năng của từ tham gia vào việc hình thành câu, hình thành đoản ngữ để phân chia vốn từ theo trật tự hai bƣớc sau đây: - Bƣớc 1: Căn cứ vào khả năng tham gia tổ chức đoản ngữ để phân thành hai loại: (a). Loại có khả năng làm thành tố đoản ngữ . (b). Loại không có kha năng làm thành tố đoản ngữ. - Bƣớc 2: Chuyển từ đoản ngữ lên câu có 2 loại: (a) Những từ làm trung tâm đoản ngữ, làm thành phần câu bao gồm các thực từ. (b) Những từ không làm trung tâm đoản ngữ, không làm thành phần câu đó là những từ hƣ. Gặp những từ tùy thuộc vào bối cảnh mới xác định nó là hƣ từ hay không thì phải xem xét cụ thể. Hƣớng phân định hƣ từ trong tiếng Việt của Nguyễn Anh Quế đã khắc phục đựơc những hạn chế của cách phân loại trên cơ sở ý nghĩa ngữ pháp - ý nghĩa từ vựng. 5.2. "Một số vấn đề hƣ từ trong tiếng Việt hiện đại" [68] là luận án Phó tiến sĩ nghiên cứu có hệ thống về hƣ từ tiếng Việt. Cái mới của luận án, về lý luận, tác giả đã đề xuất một quan niệm về hƣ từ dựa trên những nguyên tắc, tiêu chí nhất quán, chặt chẽ và hợp lý hơn. Về thực tiễn tác giả đã phát hiện đƣợc những nét nghĩa, mô tả các nét nghĩa một cách chi tiết. Xu hƣớng nghiên cứu của Nguyễn Anh Quế là mở rộng phạm vi nghiên cứu hƣ từ ra cả lĩnh vực lời nói, kết hợp giữa ý nghĩa và chức năng, ngôn ngữ và lời nói. Bản luận án đã đi sâu vào các vấn đề sau: a. Khái quát về hƣ từ và hƣ từ về tiếng Việt. b. Phân định và phân loại hƣ từ tiếng Việt. c. Ý nghĩa chức năng của hƣ từ và vấn đề hƣ hóa. d. Một số kết quả khảo sát hƣ từ với chức năng là một tín hiệu ngôn ngữ. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 8 Có thể nói rằng: Nhờ tiếp thu quan điểm của những ngƣời đi trƣớc, đồng thời điều chỉnh hƣớng nghiên cứu nên bản luận án đã khái quát đƣợc tất cả các hƣ từ. Ở đây, tác giả không chỉ phân tích ý nghĩa và chức năng của hƣ từ trong các kết cấu mà còn xem xét cả hoạt động của chúng trong giao tiếp, đề xuất những tiêu chí nhận diện hƣ từ, khảo sát kỹ vấn đề hƣ hóa và tìm hiểu mối liên hệ có tính qui luật giữa chức năng và ý nghĩa của hƣ từ. Bản luận án có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong công tác nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt. 6.l.Tác giả Lê Xuân Thai với bài "Về việc hiện thực hóa tiền giả định tổ hợp của động từ và tính từ (trên cứ liệu tiếng Việt" [74] đã chủ yếu đề cập việc hiện thực hóa tiền giả định tổ hợp. Tiền giả định tổ hợp của động từ, tính từ có hai loại: Tiền giả định khái quát và tiền giả định đơn loại. Tiền giả định tổ hợp đƣợc hiện thực hóa theo hai hình thức: hiển minh và không hiển minh. Nói chung, khi hiện thực hóa, tiền giả định tổ hợp đơn loại thƣờng mang hình thức hiển minh còn tiền giả định khái quát thƣờng mang hình thức phi hiển minh. Vấn đề đặt ra là tại sao tiền giả định tổ hợp lại cần phải hiện thực hóa trong câu. Theo tác giả, việc hiện thực hóa tiền giả định là do nguyên nhân về ngữ nghĩa, về ngữ pháp và về sự phân đoạn thực tại của câu (nguyên nhân về thông báo). Mục đích của hiện thực hóa là để đáp ứng đòi hỏi của sự phân đoạn thực tại. Nó đƣợc dùng trong những hoàn cảnh giao tiếp nhất định. Sự hiện thực hóa tiền giả định tổ hợp do nguyên nhân thông báo có thể tạo ra những câu đồng nghĩa với câu không có hiện thực hóa đó. Rõ ràng việc nghiên cứu tiền giả định của động từ - tính từ nhằm hiểu sâu hơn, đúng nghĩa hơn động từ - tính từ. Đó là cơ sở để hiểu rõ ngữ nghĩa của câu. 6.2. Bài "Mấy nhận xét về các phƣơng tiện tổ hợp cú pháp trong tiếng Việt" [ 75], Lê Xuân Thai đã nêu ra một số nhận xét về khả năng hành chức của trật tự từ, hƣ từ và ngữ điệu trong tiếng Việt và mối quan hệ tƣơng tác giữa chúng với tƣ cách là những phƣơng tiện tổ hợp cú pháp. Qua phân tích các sự kiện ngôn ngữ cụ thể, tác giả đã đi đến kết luận: "Trong tiếng Việt có một sự phân công giữa các phƣơng tiện tổ hợp cú pháp: trật tự từ giữ vai trò chính yếu biểu thị các phạm trù thuần tuy chức năng, còn hƣ từ thì phụ trợ trong việc biểu thị các phạm trù ngữ pháp, cú pháp" (trang 38 - Ngôn ngữ số 1 - 85). Nhƣ vậy, mặc dù mỗi phƣơng tiện cú pháp tổ hợp có chức năng riêng nhƣng giữa chúng có mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau. Chẳng hạn, trật tự từ với tƣ cách giữ vai trò chính yếu trong các phƣơng tiện cú pháp tổ hợp nhƣng tự thân nó cũng không đảm bảo đƣợc trọn vẹn chức năng chính yếu của nó mà cần có sự "giúp sức" của các phƣơng tiện khác. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 9 7. GS Hoàng Tuệ qua bài viết " Hiển ngôn với hàm ngôn, một vấn đề thú vị trong chƣơng trình lớp 11 PTTH hiện nay" [85] đã giúp cho các giáo viên cũng nhƣ học sinh nhận thức đƣợc rằng đây là một vấn đề đang hấp dẫn các nhà ngôn ngữ và lần đầu đƣợc đƣa vào giảng dạy ở bậc phổ thông, vấn đề thì thú vị nhƣng không đơn giản. Để hiểu đƣợc bản chất vấn đề, chúng ta dựa vào phƣơng pháp lƣờng phân của Ducrot để chia đôi nghĩa phát ngôn thành nghĩa hiển ngôn và hàm ngôn. Muốn hiểu một phát ngôn, văn bản, ngƣời đọc (nghe) phải hiểu đƣợc hiển ngôn, hàm ngôn, ẩn ý, tiền giả định và những yếu tố ngoài ngôn ngữ. Có thể nói rằng, nếu qua giáo viên học sinh đƣợc trang bị đầy đủ khái niệm hiển ngôn, hàm ngôn thì bản thân họ sẽ đễ dàng hơn trong việc tiếp nhận văn bản và cảm thụ văn chƣơng. 8. Bài "Ngữ nghĩa và chức năng của các từ: đƣợc, bị, phải trong tiếng Việt hiện đại" [73] của Tác giả Vũ Thế Thạch đã trình bày một kiến giải về đặc điểm ngữ nghĩa - chức năng của chúng. Ba từ "đƣợc, bị, phải" đã có nhiều nhà nghiên cứu đề cập nhƣng chƣa có ý kiến thống nhất. Trong bài này, Vũ Thế Thạch từ góc độ phân tích cấu trúc - ngữ nghĩa - chức năng đã rút ra nhận xét: " Đƣợc, bị, phải là những từ chỉ thuộc tính. Khi đứng trƣớc và sau các từ chỉ thuộc tính khác nghĩa của chúng bị hƣ hóa. Khi đứng trƣớc các từ chỉ thuộc tính nét nghĩa "tiếp nhận" mang tính khái quát cao. Khi đi sau các từ chỉ thuộc tính nét nghĩa này bị lƣợc bỏ. Với mức độ hƣ hóa khác nhau trong những trƣờng hợp khác nhau chúng có thể coi là hƣ từ hay không phải hƣ từ nhƣng nghĩa của chúng vẫn nằm trong môi quan hệ chặt chẽ" 9. Trong lĩnh vực văn học, Lê Thị Đức Hạnh là ngƣời có nhiều bài nghiên cứu về nhà văn Nguyễn Công Hoan, trong đó có những bài đi sâu tìm hiểu nghệ thuật viết truyện ngắn của ông. Chẳng hạn: 9.1. Bài " Nghệ thuật viết truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan" [37]. Bài viết này trình bày qua nghệ thuật hiện thực, những nét đặc sắc trong nghệ thuật viết truyện ngắn, nghiên cứu nghệ thuật trào phúng, sở trƣờng của nhà văn. Nói về ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan, tác giả cho rằng: "Ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan là ngôn ngữ của quần chúng , có chọn lọc và nâng cao nên có đậm hƣơng của Ca dao, tục ngữ... Những chữ dùng của ông thƣờng giản dị, giàu hình ảnh cụ thể hay so sánh, ví von làm cho ngƣời đọc dễ có những liên tƣởng thú vị". Nhìn chung ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan trong sáng, chính xác... có đƣợc bản sắc tốt đẹp của tiếng nói dân tộc. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 10 9.2. "Nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan" [36]. Trong bài viết này tác giả gần nhƣ đã thống kê đƣợc những nét đặc sắc của nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan. Qua hàng loạt nét đặc sắc đƣợc tác giả nêu lên, chúng ta nhận thấy Nguyễn Công Hoan đã vận dụng sáng tạo các phƣơng pháp gây cƣời độc đáo của truyện cƣời dân gian Việt Nam và thế giới [dựa trên cơ sở logich, khai thác ngôn ngữ nhân vật, các biện pháp tu từ...]. Nhờ vậy nghệ thuật trào phúng của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan mang nhiều cung bậc: mức khôn hài với nụ cƣời thỏa mái → nụ cƣời ngộ nghĩnh → trào phúng mỉa mai, châm chích, diễu cợt, tố cáo → đả kích sâu độc gây cho ngƣời đọc thái độ căm phẫn khinh miệt hơn là hài hƣớc → có lúc nụ cƣời lắng đọng, thấm sâu vào bên trong nhƣng mà cay đắng xót xa. 10. Nguyễn Thanh Tú có bài: Lời văn mỉa mai trong "Đồng hào có ma" của Nguyễn Công Hoan in trên báo Giáo dục và Thời đại [85]. Bài vết này, tác giả đã phân tích quan niệm nghệ thuật độc đáo, tài sử dụng thứ ngôn ngữ suồng sã để "lật ngửa", "lộn trái" đối tƣợng, tài sử dụng nguyên tắc tổ chức lời văn nhằm mục đích mỉa mai, phê phán đối tƣợng trong truyện ngắn "Đồng hào có ma". Âm hƣởng chủ đạo của câu chuyện là giọng điệu mỉa mai, "đan bện" với các "sắc điệu chỉ trích", "sắc điệu phê phán tố cáo". Tất cả các bài viết thuộc lĩnh vực nghiên cứu văn học, các tác giả chủ yếu tập trung phân tích về tài sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan chứ không đi sâu phân tích, khảo sát hiện tƣợng ngôn ngữ cụ thể trong truyện ngắn của nhà văn 11. Cơ sở lý luận cho việc phân tích Tiếng Việt về những vấn đề trên đây đều bắt nguồn từ những thành tựu của giới ngôn ngữ học thế giới, tiêu biểu nhƣ C.J.Fill More, O. Ducrot, Austin, Krice, Kerbrat Orecchioni... Từ cuối những năm 70, một số nhà ngôn ngữ học Việt nam đã tập trung nghiên cứu ngữ nghĩa - ngữ dụng tiếng Việt và bƣớc đầu đã đạt đƣợc những thành tựu đánh kể. Những thành tựu đó đã mở ra một hƣớng mới đầy triển vọng trong việc nghiên cứu tiếng Việt. Là vấn đề mới mẻ và phức tạp nên nhiều nội dung, phƣơng pháp cần phải đƣợc tiếp tục nghiên cứu, bàn bạc để làm sáng tỏ. Trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi chủ yếu tập trung tìm hiểu vai trò của hƣ từ trong việc hình thành hàm ý trong ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 11 III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Giới thuyết khái niệm. 1.1 Khái niệm về hư từ 1.1.1 Định nghĩa: "Hƣ từ là từ không có khả năng độc lập làm thành phần câu, đƣợc dùng để biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các thực từ"(1). - "Hƣ từ là một tập hợp không lớn về số lƣợng các từ, bản chất của ý nghĩa hƣ từ là tính chất ngữ pháp, là phƣơng tiện biểu đạt mối quan hệ giữa các khái niệm trong tƣ duy theo cách thức phản ánh bằng ngôn ngữ của ngƣời bản ngữ. Bản chất đó qui định các hƣ từ không làm trung tâm đoản ngữ, chỉ làm thành phần phụ một cách hạn hữu, còn đa số hƣ từ đƣợc làm yếu tố liên kết và "xúc tác" của các đơn vị cấu trúc ngữ pháp"(2). Nêu lên hai trong số nhiều định nghĩa về hƣ từ của tiếng Việt, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy: mặc dù còn có những tiểu dị nhƣng trên đại thể đều gặp nhau ở những điểm sau đây: - Không có khả năng độc lập làm thành phần trung tâm của đoản ngữ, không làm thành phần chính của câu. - Dùng làm yếu tố liên kết biểu thị mối quan hệ ngữ pháp giữa các thực từ. - Hƣ từ không có ý nghĩa từ vựng mà chỉ có ý nghĩa ngữ pháp. Hƣ từ là từ loại đối lập với thực từ. 1.1.2. Phân loại. Hƣ từ tiếng Việt bao gồm hai tập hợp: hƣ từ từ pháp (từ phụ diễn các ý nghĩa ngữ pháp của thực từ ) và hƣ từ cú pháp (chức năng liên kết) gọi là quan hệ từ (liên từ - giới từ). Hƣ từ từ pháp có chức năng diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp của thực từ. Trong quan hệ cấu trúc chúng chuyên dùng làm thành tố phụ trong các đoản ngữ. Các hƣ từ cú pháp không đƣợc dùng để diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp của thực từ này hay thực từ khác mà dùng để diễn đạt mối quan hệ giữa thực từ với thực tƣ. Vì vậy hƣ từ cú pháp là công cụ diễn đạt các quan hệ logich, các quan hệ trong cách thức phản ánh của ngƣời bản ngữ. Các hƣ từ chỉ là phƣơng tiện liên kết chứ không làm trung tâm, không làm thành tố phụ của đoản ngữ. Hƣ từ cú pháp là liên từ và giới từ. (1) Từ điển Tiếng Việt - Viện ngôn ngữ học - 1992 (2) Đinh Văn Đức [32], tr. 43 Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 12 Ngoài ra, trong tiếng Việt còn có những nhóm từ vừa mang tính chất quan hệ từ, vừa mang tính chất từ loại. Có thể nêu hai nhóm tiêu biểu. - Nhóm từ chỉ hƣớng: ra, vào, lên, xuống... - Nhóm từ chỉ vị trí: trƣớc, sau, trong, ngoài, giữa... Đối với nhóm này việc xác định phải căn cứ vào hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Đây là một vấn đề lý thú nhƣng còn nhiều ý kiến chƣa thống nhất. Việc phân chia quan hệ từ theo ngữ pháp truyền thống đƣợc chia thành: liên từ và giới từ. Tuy nhiên để xác định ranh giới liên từ và giới từ một cách triệt để là một vấn đề hết sức khó do tính chất đa chức năng của các yếu tố. Do vậy giải pháp thỏa đáng là tất cả các hƣ từ cú pháp tập hợp trong một phạm trù chung gọi là kết từ hay từ nối. Quan hệ từ có thể chia thành: Các liên từ thuần tuy và các liên giới từ. Trên đây là quan niệm truyền thống về hƣ từ. Quan niệm đó chỉ mới đề cập đến quan hệ ngữ pháp thuần tuy mà chƣa đả động đến ngữ nghĩa của hƣ từ với tƣ cách là những yếu tố phát ngôn. Hƣớng nghiên cứu hƣ từ trong quan hệ với ngữ nghĩa của câu sẽ khắc phục đƣợc tình trạng phiếm khuyết của ngữ pháp truyền thống. 1.2. Khái niệm về hàm ý. 12.1. Định nghĩa. Nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích hàm ý nhƣng để đi đến một định nghĩa trọn vẹn thì thật không đơn giản. - Từ điển tiếng Việt - Viện ngôn ngữ học - 1992) định nghĩa: "Hàm ý” (1) Có chứa đựng một ý nào đó bên trong. (2) Ý đƣợc chứa đựng ở bên trong, không diễn đạt ra trực tiếp”(1) - Đỗ Hữu Châu quan niệm:"Hàm ý là những ý nghĩa hàm ẩn nằm trong ý định truyền báo của ngƣời nói"(2). - Về thuật ngữ: Theo Đỗ Hữu Châu "Hàm ngôn không tự nhiên và tiền giả định không tự nhiên đƣợc gọi chung là các hàm ý của phát ngôn"(3). 1-2.2. Phân loại. Grice đã chia hàm ý (hàm ẩn) thành 2 loại: Hàm ý ngôn ngữ (qui ƣớc) và hàm ý hội thoại. (a) Hàm ý ngôn ngữ có nhiều phƣơng tiện ngôn ngữ tạo ra hàm ý, nghĩa là cứ dùng phƣơng tiện ngôn ngữ nhất định sẽ tạo ra một hàm ý nhất định. (1) Từ điển Tiếng Việt - Viện ngôn ngữ học - Hà nội - 1992 (2) (3) Đỗ Hữu Châu - Bùi Minh Toán [12], tr. 370. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thàn._.h hàm ý….”. Trang 13 Chẳng hạn: Cấu trúc câu "A nhƣng B" thì "từ A làm ta có khuynh hƣớng rút ra kết luận K. Tuy nhiên sẽ không có kết luận ấy vì B cũng đúng, mà từ B làm ta có khuynh hƣớng rút ra kết luận ngƣợc lại "không K", cả hai vế ngƣời ta nói có hàm ý chấp nhận khuynh hƣớng toàn cục sẽ rút ra kết luận của B"(1) A không kém gì B → hàm ý đánh giá cao A A không hơn gì B → hàm ý đánh giá thấp A Nhƣ vậy để có những hàm ý khác nhau phải có những cơ chế ngôn ngữ khác nhau. Hàm ý ngôn ngữ đƣợc hình thành từ các hàm ý hội thoại: Lúc đầu đầu đƣợc xác định trong một tình huống hội thoại, khi nó độc lập với cảnh huống sẽ trở thành cơ chế ngôn ngữ để biểu thị một hàm ý ngôn ngữ. (b) Hàm ý hội thoại. Hàm ý hội thoại không đƣợc gợi ra do các yếu tố qui ƣớc (yếu tố ngôn ngữ) mà do cách vận dụng phƣơng châm cộng tác hội thoại và các nguyên tắc trong phƣơng châm này, Grice chia hàm ẩn hội thoại thành hai kiểu: Hàm ẩn khái quát (hàm ẩn chuẩn) và hàm ẩn đặc thù. - Hàm ẩn khái quát: Cuộc hội thoại đƣợc xây dựng trên cơ sở 4 phƣơng châm: + Phƣơng châm lƣợng: đóng góp đúng, cần và đủ thông tin + Phƣơng châm chất: đóng góp những điều xác thực. + Phƣơng châm quan hệ: Nói những điều liên quan đến vấn đề, không lạc đề. + Phƣơng châm tình thái: Không nói mơ hồ, tối nghĩa, nói mạch lạc, rõ ràng và gọn. - Hàm ẩn đặc thù: Đây là loại hàm ẩn vi phạm cố ý nguyên tắc hội thoại để khai thác chúng nhằm tạo ra hàm ý. Grice đặt tên cho cách dùng này là sự xúc phạm hay là sự khai thác các nguyên tắc cộng tác hội thoại. Cơ chế nhƣ sau: Khi phát ngôn chệch ra khỏi một nguyên tắc nào đó mà ngƣời nghe vẫn tiếp tục lý giải nó sao cho phù hợp với sự cộng tác trong hội thoại. 1.3. Vấn đề hư từ tiếng Việt Hƣ từ tiếng Việt có số lƣợng không lớn nhƣng việc xác định bản chất của nó không phải đơn giản. Từ những năm 70 về trƣớc, nhiều bài viết, nhiều chuyên luận nghiên cứu tiếng Việt đã miêu tả cặn kẽ và sâu sắc về hƣ từ. Với quan điểm ngữ pháp truyền thống, các nhà ngôn ngữ học cơ bản thống nhất: Hƣ từ chỉ có nghĩa ngữ pháp chứ không có nghĩa từ vựng. Nếu chấp nhận hƣ từ không có nghĩa từ vựng thì sẽ khó lòng giải thích đƣợc vô số hiện tƣợng kiểu sau đây: (1) Nguyễn Đức Dân – [19], tr. 114. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 14 (1) Nam mua 5 lạng thịt. (2) Nam mua những 5 lạng thịt. (3) Chị Hằng ốm. (4) Chị Hằng bị ốm. (5) Chị Hằng còn bị ốm. (6) Chị Hằng hãy còn ốm lắm. Các câu (1), (2) thông báo Nam mua 5 lạng thịt nhƣng do từ "những" chi phối nên câu (2) có ý nghĩa khác câu (1). Tƣơng tự các câu 3, 4, 5, 6 đều có lối thông báo "Chị Hằng ốm" nhƣng do các từ "bị","còn bị" "hãy còn" chi phối nên giữa các câu đó có mức độ ý nghĩa khác nhau. Điều đó chứng tỏ rằng: hƣ từ ngoài nghĩa ngữ pháp còn chứa đựng ngữ nghĩa khác. Để trả lời vấn đề đó, các nhà ngôn ngữ học đã chuyển hƣớng nghiên cứu khác so với ngữ pháp truyền thống. Đó là hƣớng nghiên cứu hƣ từ trong quan hệ của câu (cấu trúc ngữ nghĩa của lời). Khuynh hƣớng này đã hấp dẫn các nhà nghiên cứu từ cuối những năm 70 đến nay. 2. Phạm vi nghiên cứu Hƣ từ về phƣơng diện lý thuyết đã đƣợc các nhà ngữ pháp, các nhà Logich ngữ nghĩa dày công nghiên cứu và đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng. Vì là một đối tƣợng nghiên cứu phức tạp nên vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, nhất là về ý nghĩa từ vựng của hƣ từ . Từ thực tế đó, luận án này chúng tôi không đi vào tìm hiểu hƣ từ về phƣơng diện lý thuyết mà chủ yếu thông qua khảo sát tập truyện ngắn "Ngựa ngƣời và ngƣời ngựa" để xác định vai trò của hƣ từ trong việc hình thành hàm ý trong ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan. Từ thực tế mô tả ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan, chúng ta sẽ xác định cụ thể vai trò của hƣ từ trong việc hình thành hàm ý. Qua đó góp phần chứng minh tính đúng đắn của quan niệm cho rằng hƣ từ cũng mang ý nghĩa tự thân, ý nghĩa đánh giá... 3. Nhiệm vụ cụ thể 3.1. Thế nào là hàm ngôn, các loại hàm ngôn (qua một số ví dụ cụ thể) 3.2. Phƣơng pháp dùng tiền giả định để xây dựng hàm ý của Nguyễn Công Hoan - Khái niệm tiền giả định. - Những cơ chế sử dụng các từ: có, những, thôi, kia, mà... 3.3. Hành vi ngôn ngữ và hàm ý trong ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan: - Khái niệm hành vi ngôn ngữ - Khái niệm hàm ý ? - Hành vi ngôn ngữ và việc hình thành hàm ý đƣợc sử dụng trong ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan nhƣ thế nào? Câu hỏi, phủ định, chất vấn... Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 15 3.4. Hàm ý hội thoại (tình huống hội thoại) trong ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan. 3.5. Vai trò của thứ tự và điểm nhấn (liên quan đến hƣ từ đặt trƣớc, đặt sau từ "nhƣng") đƣợc sử dụng trong ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan. 4. Kết luận chung. IV. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 1. Phương pháp nghiên cứu. Để hoàn thành đề tài nghiên cứu, trong quá trình tiếp cận và phân tích đối tƣợng, chúng tôi sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu khoa học phù hợp, đặc biệt là các phƣơng pháp nghiên cứu ngôn ngữ học. Các phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng linh hoạt để hỗ trợ, tác động lẫn nhau khó có thể tách bạch rạch ròi, trong đó có thể nêu lên mấy phƣơng pháp chủ yếu đƣợc sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu nhƣ sau: - Đọc và tiếp cận về lý luận làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài. - Tìm đọc những công trình nghiên cứu, vận dụng vào từng tác giả, tác phẩm cụ thể. Phƣơng pháp này giúp chúng tôi nắm đƣợc tình hình, bao quát thống kê, phân loại tài liệu và tích lũy các sự kiện. - Tìm đọc những bài nghiên cứu ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan - Nhìn nhận, phân tích lại những điều đã viết ra về Nguyễn Công Hoan và bổ sung những nhận định mới dƣới góc độ logich - ngữ nghĩa - ngữ dụng. - Đọc, thống kê phân loại, tiến hành phân tích, khảo sát các hiện tƣợng ngôn ngữ cụ thể trong tập truyện ngắn "Ngựa ngƣời và ngƣời ngựa" của Nguyễn Công Hoan. 2. Nguồn tài liệu tham khảo. - Tài liệu tham khảo chủ yếu là các công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trong nƣớc và một số tài liệu dịch của nƣớc ngoài. - Sự kiện ngôn ngữ đƣợc trích dẫn từ 36 truyện ngắn chọn lọc của Nguyễn Công Hoan in trong tập "Ngựa ngƣời và ngƣời ngựa" (NXB Văn học - Hà nội -1988). - Tìm đọc những công trình, bài viết về Nguyễn Công Hoan. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 16 V. Đóng góp của luận án 1. Về mặt lý luận. - Qua miêu tả, phân tích cách sử dụng từ hƣ trong một số truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, luận án góp phần xác định rõ hơn vai trò, tác dụng của hƣ từ trong việc hình thành hàm ý. - Nêu lên một số cơ chế sử dụng hƣ từ để hình thành hàm ý mà Nguyễn Công Hoan đã thể hiện trong các tác phẩm của mình. Qua đó góp phần nhận định về phong cách ngôn ngữ của nhà văn Nguyễn Công Hoan. - Có thể hình thành một số phƣơng pháp, nói đúng hơn là thao tác phân tích "hƣ từ" dƣới góc độ ngữ nghĩa cú pháp, ngữ nghĩa - ngữ dụng. 2.Về thực tiễn. - Giúp bản thân và một số đồng nghiệp dễ dàng hơn trong việc giảng dạy chƣơng trình tiếng Việt ở bậc phổ thông về phần ngữ nghĩa - ngữ dụng. VI. Cấu trúc của luận án Luận án gồm 3 phần Phần I: DẪN LUẬN Phần II: NỘI DUNG LUẬN ÁN Phần III: KẾT LUẬN. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 17 CHƢƠNG I: THẾ NÀO LÀ HÀM NGÔN, CÁC LOẠI HÀM NGÔN I- Thế nào là hàm ngôn? 1. Khái niệm: Nếu nhƣ tiền giả định đã đƣợc các nhà nghiên cứu quan tâm giải quyết thì hàm ngôn lại chƣa đƣợc chú ý bao nhiêu. Vài chục năm gần đây, một số nhà nghiên cứu đã bắt đầu chú ý đến lĩnh vực này. Tiêu biểu nhƣ O.Ducrot, H.P.Grice. - O. Ducrot cho rằng: hàm ngôn là nói mà coi nhƣ không nói: "nói một cái gì đó, mà không vì thế nhận trách nhiệm là đã có nói. Có nghĩa là có thể vừa có đƣợc hiệu lực của nói năng, vừa có đƣợc sự vô can của im lặng"(1). Nhƣ vậy theo Ducrot, nghĩa của hàm ngôn không đƣợc hiện rõ từ bề mặt của phát ngôn (bao hàm, hàm súc, hàm ẩn...), nó tƣơng đƣơng với yếu tố im (tức là in = "vào trong") của tiếng Anh. Ducrot quan niệm coi tiền giả định là hàm ngôn và là một hình thức hàm ngôn quan trọng nằm ngay trực tiếp trong bản thân " nghĩa từ ngữ" của lời. Vì vậy, ông đã xếp tiền giả trong nghĩa phát ngôn của hàm ngôn. Quan điểm này của ông đƣợc thể hiện ở lƣợc đồ lƣỡng phân Hiển ngôn Nghĩa phát ngôn Tiền giả định (presup pose') Hàm ngôn (im plicite) Ẩn ý (Sous-entendus) Cái không nói ra (tiền giả định) Phát ngôn Nói ra trực tiếp (hiển ngôn) Cái nói ra Nói ra gián tiếp (hàm ngôn) Ví dụ 1: A (nói): Nóng quá! B (nói tiếp): Ừ, nóng nhƣ lửa | Không có hàm ngôn Ví dụ 2: A (nói): Nóng quá B (nói): Có chai bia đây. Có hàm ngôn(2) A (Khen): Cậu thông minh thật (1) Dẫn theo Hoàng Phê [57] (2) Ví dụ của Hoàng Tuệ [84]. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 18 - Paul Grice đã phân biệt giữa hiển ngôn và hàm ngôn. Nói một cách hiển ngôn là "nói điều gì đó" (to get some one to think Some thing). Nhƣ vậy theo Grice, hàm ngôn là khi nói một điều này nhƣng thực ra là muốn nói đến một điều khác. Quá trình đó tuân theo "Nguyên tắc cộng tác hội thoại" và một loạt "phƣơng châm": lƣợng, chất, quan hệ và cách thức. - Catherine Kerbrat - Orecchioni - Bà đã thiên về định nghĩa của Drucrot: "Hiển ngôn là cái ngƣời ta nói ra" và hàm ngôn là "Cái ngƣời ta muốn nói mà không nói ra" - C.J.Fill more đồng nhất tiền giả định và hàm ngôn. Ở Việt Nam, nhiều nhà ngôn ngữ học mà tiêu biểu là Hoàng Phê, Nguyên Đức Dân, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Tuệ... đã phát triển các lý thuyết của Ducrot, Grice và đã có nhiều đóng góp trên địa hạt này. Các tác giả đã vạch ra mối quan hệ, cơ chế hình thành hàm ý trên cứ liệu Tiếng Việt. - Hoàng Phê cho rằng: "Ngôn ngữ cũng là bất lực, nếu hiểu ngôn ngữ chỉ là hiển ngôn. Nhƣng cái kỳ diệu của ngôn ngữ là cho phép ngƣời ta không chỉ nói bằng hiển ngôn, mà còn có thể nói bằng hàm ngôn, tức là bằng cách để cho ngƣời nghe tự nói với mình"(1). Con đƣờng để hình thành hàm ngôn là quá trình suy ý của hoạt động tƣ duy con ngƣời. Quá trình đó có thể khái lƣợc nhƣ sau: Từ tiền giả định và hiển ngôn suy ý để hiểu hàm ngôn. - Nguyễn Đức Dân cũng tán thành quan niệm về hàm ngôn của Hoàng Phê và cho rằng: hàm ngôn là "Khi chúng ta nói điều này nhƣng muốn ngƣời nghe hiểu ra một điều khác hoặc hiểu thêm một điều khác"(2). Tác giả cho rằng thuật ngữ hàm ngôn cốt để đối lập với thuật ngữ hiển ngôn và để hiểu hàm ngôn cần phải hiểu tiền giả định, hiển ngôn và những khái niệm có liên quan (hàm ý, suy ý, ngụ ý, hiểu ngầm, ám chỉ...). Trong mối quan hệ giữa hàm ngôn và tiền giả định, Nguyễn Đức Dân quan niệm tiền giả định nằm trong hàm ngôn: hàm ngôn: TGĐ và hàm ngôn: hàm ý ngôn ngữ. - Đỗ Hữu Châu cho rằng: "Hàm ngôn là tất cả những nội dung có thể suy ra từ một phát ngôn cụ thể nào đó, từ ý nghĩa tƣờng minh cùng với tiền giả định của nó"(3). Về mối quan hệ giữa tiền giả định với hàm ngôn, Đỗ Hữu Châu lại quan niệm cả hai cùng đều nằm trong một phạm trù đó là phạm trù hàm ẩn. Tóm lại: Mặc dù chƣa hoàn toàn thống nhất về khái niệm thế nào là hàm ngôn nhƣng giữa các tác giả đều nhất trí rằng: giữa tiền giả định, hiển ngôn và (1) Hoàng Phê [57]. (2) Xem trang 110 - [19]. (3) Xem Đỗ Hữu Châu - Bùi Minh Toán [12], tr. 322 – 328. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 19 hàm ngôn có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau để tạo nên ngữ nghĩa của lời." Tiền giả định là cơ sở cho hiển ngôn và cùng hiển ngôn là cơ sở cho hàm ngôn" (Hoàng Phê) và vì lẽ đó giữa chúng có một sự thống nhất. Nhƣ vậy hàm ngôn là cái không đƣợc trực tiếp nói ra mà nó đƣợc suy ý từ tiền giả định và hiển ngôn. 2. Thuật ngữ hàm ngôn cốt để đối lập với thuật ngữ hiển ngôn. Sự phân biệt giữa hàm ngôn với hiển ngôn khá rõ ràng, ít có sự tranh cãi. Nghĩa hiển ngôn (nghĩa tƣờng minh) và nghĩa hàm ngôn khác nhau ở cách thức thể hiện và cách thức lĩnh hội. Cách thức thể hiện của nghĩa hiển ngôn là trực tiếp mẫu câu và từ ngữ, vì thế khi xác định nghĩa hiển ngôn chúng ta phải dựa vào nghĩa của mẫu câu và nghĩa của từ ngữ trong phát ngôn. Ví dụ 3: Thôi, nhƣng mà chốc nữa chúng mày phải gội đầu bằng xà phòng nhé! (NCH). Nghĩa hiển ngôn ở đây là câu cảm thán có chứa động từ "Thôi" và cụm từ đối lập "nhƣng mà" của Thầy giáo nhằm ra lệnh cho học sinh. Đó là cơ sở để suy ra sự tha thứ, sự nhƣợng bộ đối với một quyết định không tha thứ, không nhƣợng bộ trƣớc đó. Cách thức thể hiện của nghĩa hàm ngôn là gián tiếp không lộ ra nguyên văn trên mẫu câu và từ ngữ và vì thế cách thức lĩnh hội của ngƣời tiếp nhận phải suy ra từ mẫu câu và từ ngữ. Ví dụ 4: Thôi thì ba hào thì ba (NCH) Nghĩa hiển ngôn là "Thôi thì A thì A" là căn cứ để suy ra nghĩa hàm ngôn là: đồng ý bán đứa con với giá rất rẻ. Hiển ngôn phải đƣợc đánh giá bởi các dấu hiệu ngôn ngữ còn hàm ngôn không tất yếu phải nhƣ vậy, bởi vì, "Quan hệ giữa ý nghĩa tƣờng minh và hàm ngôn là quan hệ giữa luận cứ và kết luận, hoặc giữa kết luận và luận cứ là một "lẽ thƣờng" mà giữa luận cứ và kết luận thƣờng khác nhau về hình thức ngôn ngữ diễn đạt cho nên trong phát ngồn diễn đạt ý nghĩa tƣờng minh không chứa sẵn những dấu hiệu ngôn ngữ báo hiệu hàm ngôn"(1) Ví dụ 5: Đọc đoạn văn nói về ngƣời con trong ngày đƣa tang mẹ: "... Mấy hôm nay, vì thương mẹ quá thành ra ốm yếu, họ hàng sợ người ấy lăn ra, cho nên phải cử người đi kèm, vừa che ô, vừa ôm chặt lấy ngang lưng cho đỡ khịu. (1) Đỗ Hữu Châu - Bùi Minh Toán [12], tr. 330 Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 20 Người ta sợ hiếu chủ thương mẹ quá mà đập đầu vào quan tài lỡ chết thì hoài, vì lúc trong bụng bối rối hay sinh liều, nên phải bện cho cái nồi rơm để chít quanh đầu. Thì có đập mạnh đến đâu cũng không đến nỗi sợ vỡ sọ" (Nguyễn Công Hoan). Ý nghĩa tƣờng minh (hiển ngôn): Ca ngợi ngƣời con thƣơng mẹ, nhƣng đặt trong hoàn cảnh giao tiếp "ngƣời con đã hắt hủi và đuổi mẹ ra khỏi nhà trong đêm tối" thì câu 5 có ý nghĩa hàm ngôn là: mỉa mai sự giả dối của kẻ bất hiếu. Ví dụ 6: Anh ta đã cai thuốc lá rồi. Hiển ngôn: Thông tin về một sự kiện "Anh ta đã cai thuốc lá". Câu 6 có thể có nhiều ý nghĩa hàm ngôn khác nhau. Vì rằng có nhiều tình huống dẫn tới câu nói ấy: . Anh ta thƣờng bị ho, ăn ít, ngủ ít, ngƣời gầy gò, ốm yếu, bác sĩ chỉ rõ nguyên nhân là do hút nhiều thuốc lá và khuyên nên bỏ thuốc để giữ gìn sức khỏe. Tình huống này, câu 6 có thể có hàm ngôn: " Anh ta khỏe ra" vì anh ta đã cai thuốc lá rồi. . Anh ta nghiện thuốc, mỗi ngày hút 2-3 gói. Nhiều lần chƣa đến kỳ lƣơng nhƣng anh ta đã phải vay mƣợn tiền để mua thuốc. Vợ anh thƣờng xuyên phàn nàn sự tốn kém về khoản thuốc lá. Trong tình huống này, câu 6 có thể có hàm ngôn: "Hiện nay anh ta không túng tiền nữa" . Sau nhiều lần bị các cô gái chê về tội hút thuốc lá [Anh ta cạch đến già]. Anh ta đã cai thuốc rồi → có hàm ngôn "Anh ta có hy vọng lấy đƣợc vợ" Nhƣ vậy những dấu hiệu hình thức định hƣớng cho ta rút ra hàm ngôn là cái "lẽ thƣờng”, các chủ đề, hƣớng lập luận, các hành vi ở lời... * Tóm lại: Sự phân biệt giữa hiển ngôn và hàm ngôn là sự phân biệt giữa cái nói ra trực tiếp (hiển ngôn) với cái nói ra gián tiếp (hàm ngôn). Hàm ngôn đƣợc suy ra từ hiển ngôn. Không có hiển ngôn thì không có hàm ngôn và khi một lời có hàm ngôn thì ý hàm ngôn là quan trọng, là ý chính, còn hiển ngôn chỉ là phƣơng tiện. Tuy nhiên cần lƣu ý trong một số trƣờng hợp tiền giả định có thể trở thành hàm ngôn. 3. Hàm ngôn có sự khác biệt với tiền giả định. Hàm ngôn và tiền giả định có điểm tƣơng đồng là chúng không đƣợc nói ra một cách tƣờng minh và chỉ có thể nắm bắt đƣợc nhờ quá trình suy ý. Chính điểm này cho nên nhiều ngƣời đã đồng nhất tiền giả định với hàm ngôn, tiền giả định chính là hàm ngôn. Để dễ phân biệt, từ đây chúng ta dùng thuật ngữ Tiền giả định và thuật ngữ hàm ngôn với nghĩa là hàm ý. Chúng ta có thể phân biệt giữa hàm ý và tiền giả định ở một số điểm sau đây: Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 21 - Tiền giả định là những điều đã biết rồi, bất tất phải bàn, không có chức năng và giá trị thông báo. Hàm ngôn là cái nói ra gián tiếp và phải vận dụng nhiều yếu tố (kiến thức, kinh nghiệm, tâm lý, trình độ, tƣ duy...) mới rút ra đƣợc những điều ngƣời ta cần nói. Hàm ngôn có thể gây nên sự bàn cãi vì nó mang thông tin mới, có chức năng và giá trị thông báo. Đây chính là sự phân biệt giữa hai cấp độ: cái không nói ra với cái nói ra gián tiếp. Ví dụ 7: Từ nay, Ông lại có phép đi giày vào quan nhƣ thƣờng (NCH) Tiền giả định: trƣớc đó Ông đã bị cấm đi cả giày vào hầu quan. Câu 7 có thể có những hàm ngôn sau: . Tâm trạng hả hê của ông Nghị khi đƣợc quan cho phép đi giày vào huyện đƣờng. . Mỉa mai chua chát những ông Nghị hữu danh vô thực, là ngƣời mang danh đại biểu của dân nhƣng lại nhu nhƣợc, đớn hèn. - Hàm ngôn có tính năng động hội thoại cao hơn tiền giả định cho nên có tác dụng thúc đẩy cuộc thoại tiến lên đạt mục đích. Còn tiền giả định có tính năng động hội thoại thấp, thậm chí cản trở cuộc hội thoại tiến lên. Ví dụ 8 (1): Anh ta đã cai thuốc rồi → giả định đây là một tham thoại của A, cuộc thoại đƣợc tiếp tục: B: Thế à ? Bây giờ hẳn anh ta không phải đi vay từng đồng nhƣ trƣớc nữa nhỉ. A: Cũng chẳng khá lên đƣợc, bỏ đƣợc thuốc thì lại nghiện Cà fê. Ba đấm bằng một đạp. Nhƣ thế cuộc thoại tiến lên dựa vào hàm ngôn "anh ta có thể tiết kiệm đƣợc tiền". Tiền giả định thì ngƣợc lại. A: Anh ta đã cai thuốc lá B: Anh ta có hút thuốc lá bao giờ đâu mà cai. A: Có chứ, gần đây anh ta hút nhiều lắm. B: Thế mà tôi không biết. Cuộc thoại diễn biến trên tiền giả định "Anh ta có hút thuốc lá" và câu chuyện anh ta cai thuốc lá đã dừng lại, hoặc phải chuyển sang hƣớng khác, chẳng hạn "Anh ta cai có vất vả lắm không?" - Hàm ngôn, hàm ý đặc biệt là hàm ý hội thoại phụ thuộc tình huống giao tiếp nên một câu có thể có nhiều tình huống khác nhau. Ngƣợc lại tiền giả định không thay đổi. Chẳng hạn nhƣ câu 8, ngoài các hàm ngôn [Anh ta khỏe ra] hoặc (1) Đỗ Hữu Châu – Bùi Minh Toán [12], tr. 332. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 22 [Hiện nay, anh ta không túng tiền nữa], luôn luôn có thể tạo ra các tình huống khác nhau để tạo ra những hàm ngôn khác. Ví dụ 8: Anh ta đã cai thuốc lá rồi. Tiền giả định A: [trƣớc đây] anh ta đã nghiện (hút) thuốc lá. Bây giờ chúng ta hãy tạo một câu dạng "nguyên nhân - kết quả": "Vì A nên B" 8(a) Vì anh ta hút thuốc nhiều nên anh ta bi các cô gái chê. A B 8(b) Vì anh ta hút thuốc nhiều nên phòng anh ấy luôn luôn nồng nặc hơi thuốc, A còn trong nhà chỗ nào cũng thấy mẫu thuốc lá B Thế thì câu 8, nếu đặt sau câu 8(a) sẽ có một hàm ngôn khác với hàm ngôn cũng của câu (8) nếu đặt nó sau câu 8(b) và cả hai đều khác với hàm ngôn (1) : Anh ta đã khỏe ra (2) : Anh ta không túng tiền nữa. Tiếp tục ta có: 8(a) + Nhƣng anh ta đã cai thuốc rồi (8) Trong ngữ cảnh này, câu(8) có hàm ngôn là "Anh ta có hy vọng lấy đƣợc vợ” 8(b) + Nhƣng anh ta đã cai thuốc rồi (8) Trong ngữ cảnh này câu (8) lại có hàm ngôn là "Bây giờ phòng của anh ấy rất sạch và thoáng" Lại nữa: 8(c) (Thấy) rất nhiều ngƣời bị (bênh) ung thƣ phổi vì hút thuốc lá (nên) anh ta X đã cai thuốc lá rồi. A Vậy trong ngữ cảnh này, câu (8) lại có thể có hàm ngôn là: "Anh ta sợ bị ung thƣ phổi" Ở ví dụ 8(a) và 8(b), vì tiền giả định A của câu (8) là tiền đề của loại câu "Vì A nên B" mà câu 8 có hàm ngôn là B. Ở 8(c) thì do cấu trúc "Thấy X nên (8) [Anh ta đã cai thuốc rồi] mà hình thành hàm ngôn "Anh ta sợ (bệnh) ung thƣ phổi" + Cần lƣu ý điều sau: Qua các ví dụ (8a), (8b) ta thấy: tiền giả định có thể là nguyên nhân tạo ra hàm ngôn, ví dụ: TGĐ (9) "Con anh chị hết bệnh chƣa?” Anh (ta) đã có con Chị Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 23 Nếu câu (9) này đặt trong tình huống một ngƣời muốn giấu "lý lịch" của mình đi thì tiền giả định "đã có con" lại tạo ra hàm ngôn. Chẳng hạn: - Với một thanh niên đang tán các cô gái ở một nơi xa lạ: (Với các cô gái): Anh ta đã có con rồi đấy các cô liệu mà... Hàm ngôn (Với chàng thanh niên nọ): Nhắc nhở sự đứng đắn - Với một cô gái muốn (nhận lời) dự thi hoa hậu ở nơi xa mà mình mới chuyển về công tác. (Với ban tổ chức): Cô ta đã có con rồi đấy đừng mời dự thi nữa Hàm ngôn (Với cô gái): Nhắc nhở sự trung thực, chân thành. Nhƣ vậy, cần phân biệt hàm ý hội thoại và hàm ý ngôn ngữ. Hàm ý hội thoại phụ thuộc vào tình huống giao tiếp, còn hàm ý ngôn ngữ là do cơ cấu (kết cấu) ngôn ngữ đƣa lại. Hàm ngôn không giữ nguyên khi phát ngôn từ khẳng định sang phủ định. Hàm ngôn có thể đúng và cũng có thể sai, khi ý nghĩa tƣờng minh chuyển từ sai sang đúng hoặc ngƣớc lại. Tiền giả định thì ngƣợc lại không thay đổi và giữ nguyên giá trị. - Tiếp tục ví dụ (8) " Anh ta đã cai thuốc" → hàm ngôn "Anh ta khỏe ra" Hàm ngôn "Anh ta khỏe ra" có thể sai khi nói " Anh ta không cai thuốc lá nhƣng anh ta vẫn khỏe ra". Tiền giả định [Anh ta đã nghiện (hút) thuốc lá] không thay đổi ; - Hàm ngôn cũng không giữ nguyên khi hành vi ngôn ngữ thay đổi đối với ý nghĩa tƣờng minh còn tiền giả định vẫn giữ nguyên: (8) "Anh ta đã cai thuốc lá" - Hàm ngôn 1 .Anh ta khỏe ra 2. Anh ta không túng tiền nữa 3. Anh ta có hy vọng lấy đƣợc vợ. 10. "Anh ta có cai thuốc lá không ?" → hàm ngôn thay đổi so với (8) 10(a) "Hãy cai thuốc lá đi !" → hàm ngôn thay đổi so với (8) và 10 Tiền giả định ở các câu 8,10,10a không thay đổi "Anh ta nghiện thuốc lá" - Hàm ngôn có thể khử một cách dể dàng nhờ kết tử đối nghịch còn tiền giả định thì không. 11. Tuy Anh ta đã cai thuốc lá nhƣng anh ta không khỏe ra. 12. Mặc dù anh ta đã cai thuốc lá nhƣng anh vẫn túng tiền. 13. Tuy anh ta đã cai thuốc lá nhƣng các cô gái vẫn từ chối anh ta. Các câu 11,12,13 vẫn đƣợc chấp nhận nhờ các kết tử và kết tố "Tuy... nhƣng", "mặc dù... nhƣng" để khử các hàm ngôn của câu 8: Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 24 1. Anh ta khỏe ra 2. Anh ta không lúng túng về tiền nữa 3. Các cô gái không từ chối anh ấy . Hiển ngôn và tiền giả định chỉ nảy sinh hàm ngôn khi đặt trong những ngữ cảnh cụ thể. 14. Anh ta lại đến Tiền giả định: Trƣớc đó, anh ta đã (nhiều lần) đến. Hiển ngôn: bây giờ anh ta lại đến. 1 .là cô gái đang bị anh ta "tấn công" a.Không bằng lòng với việc anh ta đến b.Anh ta đến là điều bất lợi cho cô ta Hàm c.Anh ta đến làm cho cô ta khó chịu... ngôn 2.là cô gái đang chờ anh ta đến[anh ta lại đến (rồi)]→ (c) vui mừng khi anh ta đến 3.Bà mẹ (hoặc bạn gái) đang trao đổi với cô ta, hoặc đang trao đổi với nhau về sự kiện cô ta có ngƣời yêu thƣờng xuyên đến chơi và rất nhiệt tình với cô ta [con ngƣời này thật đáng khen. Hiếm thấy ngƣời kiên trì, bền bỉ nhƣ vậy !] Vậy câu 11 lúc này có hàm ngôn là: khen ngợi anh ta. Từ ví dụ trên đây, chúng ta có thể nói rằng: "Hiển ngôn và Tiền giả định là cơ sở căn bản cho ta suy luận (biện luận hoặc liên tƣởng) ra hàm ngôn. Khi nói hàm ngôn đƣợc suy ra từ ý nghĩa tƣờng minh và tiền giả định, chúng ta không loại trừ trƣờng hợp hàm ngôn đƣợc suy ra từ hàm ngôn do ý nghĩa tƣờng minh của tiền giả định mà có. 15. Đoạn đối thoại giữa cụ Cử bố với cậu học trò Hoàng Quý (Sóng Vũ Môn -NCH). A (cụ Cử): Anh có quen thằng Tƣ nhà tôi không? → không có hàm ngôn B (Hoàng Quý): Lạy cụ lớn, không. A Sao lại không? Nó vẫn tập văn với anh một trƣờng, thƣờng nó vẫn nói chuyện với tôi rằng anh kỳ nào cũng đƣợc bình kia mà? → không có hàm ngôn. B Lạy cụ lớn, cậu chúng con cao xa, con là hàn sĩ, vậy chúng con không dám làm quen → không có hàm ngôn. A. Anh không quen nhƣng cũng biết nó đấy chứ ? B. Bẩm ban nãy con mới biết, vì cậu lính bảo con. → Không có hàm ngôn A. Sao? nó nói chuyện gì, mà nó bảo anh những gì ? Phát ngôn của A là một loạt những câu hỏi chất vấn → bộc lộ thái độ lo lắng có phần hốt hoảng của ngƣời nói trƣớc câu trả của B (cậu học trò). Từ đó có thể có hàm ngôn: Cụ Cử đang có một việc làm thiếu trong sáng và rất lo sợ sự việc bị bại lộ.(1) Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 25 B. Bẩm cậu ta nói, nghe đâu vì chuyện văn bài thế nào ở trƣờng thầy Cử con, mà cậu Tƣ con với con sinh sự cãi nhau, nên cụ lớn đòi vào. Nay con mới biết Tƣ Công tử là lệnh lang cụ lớn. Ở đây B đã thực hiện một hành vi nói dối. Hàm ngôn: B đã lỡ lời vì vậy phải nói dối để tránh hậu quả khôn lƣờng (2) Trong trƣờng hợp này hàm ngôn (2) đƣợc suy ra từ hàm ngôn (1). Hàm ngôn chẳng những phụ thuộc sâu sắc vào hoàn cảnh giao tiếp mà còn dựa vào các lẽ thƣờng, còn tiền giả định thì không. (16) Ví dụ có một phát ngôn: "Thƣa bà, xe ngày tết vẫn thế, vả lại bây giờ còn ai kéo nữa mà bà giả rẻ thế". Phát ngôn này đi sau tiền ngôn: "Sao anh lấy đắt thế? hai hào!" (NCH) Hàm ngôn: Giá nhƣ vậy là vừa, vì hoàn cảnh lúc này là ngày tết, gần giờ giao thừa. Giá cả ngày tết thƣờng là cao, đó chính là lẽ thƣờng của phát ngôn (16). Tiền giả định (16) luôn luôn là "Giá cả nhƣ vậy là không đắt, là phù hợp". Đó là cơ sở để có phát ngôn (16). Sự phân biệt giữa hàm ngôn và Tiền giả định (16) là hoàn cảnh, là hành vi sử dụng của phát ngôn. Nhƣ vậy, để hiểu đầy đủ hàm ngôn, chúng ta phải vạch ra đƣợc ranh giới của hàm ngôn trong mối quan hệ với tiền giả định và hiển ngôn. Vì đó là ba yếu tố có quan hệ cấu trúc chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau để tạo nên ngữ nghĩa của lời: "Tiền giả định là cơ sở cho hiển ngôn và cùng với hiển ngôn là cơ sở cho hàm ngôn"(1). Theo quan niệm của Hoàng Phê có thể sơ đồ hoa cấu trúc ngữ nghĩa của lời nhƣ sau: Tiền giả định: Không có giá trị thông báo Cấu trúc nghĩa Xét về giá Hiển ngôn Cái đã biết: Không có giá tri thông báo của lời trị thông báo Cái mới: Có giá trị thông báo Hàm ý Hàm ngôn: Có giá trị thông báo (Trọng tâm) Ngụ ý : có thông báo (1) Hoàng Phê – [57]. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 26 II- Các loại hàm ngôn Có nhiều nhà nghiên cứu đã phân loại hàm ngôn và cơ bản thống nhất chia hàm ngôn thành hai loại: Tiền giả định và hàm ý. 1.Tiền giả định (phần này chúng tôi dựa vào cách giải quyết của Nguyễn Đức Dân). 1.1. Lịch sử vấn đề. Khái niệm Tiền giả định đƣợc các nhà Logich học nêu lên từ lâu (G.Frege. 1892). Mấy chục năm lại đây, ở các nƣớc Âu - Mỹ, nhiều công trình nghiên cứu tiền giả định và vận dụng nó vào địa hạt nghiên cứu ngữ nghĩa - cú pháp. Năm 1975, một số nhà ngôn ngữ học Việt nam đã vận dụng khái niệm tiền giả định để nghiên cứu các vấn đề về ngôn ngữ, đặc biệt là lĩnh vực ngữ nghĩa - cú pháp. Theo Frege, các điều kiện tiền giả định của một mệnh đề là các điều kiện cần để xác định đƣợc giá trị chân lý (đúng hoặc sai) của mệnh đề đó. (trong phép kéo theo A → B thì A là điều kiện đủ của B. Phép kéo theo này tƣơng ứng với B A , nghĩa là nếu không có B (= xảy ra không B) thì sẽ không có A, vì thế phép kéo theo A B thì B đƣợc gọi là điều kiện cần của A) 1.2. Định nghĩa Tiền giả định. Có hai loại tiền giả định, tiền giả định ngữ nghĩa và tiền giả định ngữ dụng. a.Tiền giả định ngữ nghĩa. a1.Định nghĩa ngữ nghĩa. Quan hệ về giá trị chân lý giữa một câu A và tiền giả định B của nó nhƣ sau Dù A có giá trị đúng hay sai thì tiền giả định B của nó vẫn luôn có giá trị đúng. A → B đ đ s đ Theo lối phát biểu của Frege, Nguyễn Đức Dân đã định nghĩa: " Câu A có TGĐ là B, nếu giá trị đúng của B là điều kiện cần cho A có giá trị chân lý, đúng hoặc sai"(1). (1) Nguyễn Đức Dân – [19], tr. 66. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 27 Ví dụ 17: (a) Ba học giỏi (b) " Ba học giỏi" là một câu đúng ngữ pháp. (c) " Ba học giỏi" là một câu khẳng định. Qua ví dụ trên dù Ba có học giỏi hay không thì các câu 14b, c luôn luôn đúng. Nhƣng câu 17b, c không coi là TGĐ của câu 17a vì câu 17b, c thuộc về siêu ngôn ngữ. a2. Định nghĩa logich. B có giá trị đúng, dù A có giá trị đúng hay sai. Nhƣng khi B có giá trị sai thì A nhận giá trị trung hòa (zêrô hay rỗng) kí hiệu (#) lúc này ngƣời ta nói A vô nghĩa (theo logich đa trị). A → B đ đ s đ # s Ví dụ: The king of France is bald ( Ông Vua nước Pháp hói trán) Câu trên đƣợc Russell phát biểu năm 1905, lúc này nƣớc Pháp không còn Vua. Theo Logich đa trị, câu này vô nghĩa, còn lôgich hai trị thì câu này sai và câu phủ định của nó mơ hồ. a3. Định nghĩa của Keenan: Một câu hỏi Q sẽ có một tiền giả định logich là một câu tƣờng thuật B, nếu A (câu trả lời chân thực của Q) có một tiền giả định là B. a4. Các định nghĩa khác của Martin (1976). Hausser (1976). b. Tiền giả định ngữ dụng. b1. Tính chuẩn xác của một câu. Một câu nói ngoài giá trị chân lý đúng hay sai còn là tính chuẩn xác. Đó là tiêu chuẩn để phân biệt câu với câu nói: "Sự miêu tả ngữ nghĩa một câu sẽ cho ta nghĩa của nó, còn sự miêu tả ngữ nghĩa của câu nói sẽ cho ta ý nghĩa của câu đó. Nghĩa của một câu đƣợc xác định qua hệ thống ngôn ngữ nhƣng ý nghĩa của một câu còn đƣợc xác định thông qua các chỉ dẫn ngữ dụng của câu đó"(1). So sánh hai đoạn văn sau đây: (18) "Chửi, Kêu, Đấm, Đá, Thụi, Bịch, cẳng chân, cẳng tay” (NCH) (19) "Vẫn chửi. Vẫn kêu. Vẫn đấm. Vẫn đá. Vẫn thụi. Vẫn bịch. Vẫn cẳng chân. Vẫn cẳng tay..." (NCH) Giá trị chân lý của các câu (18),(19) hoàn toàn giống nhau vì chúng đều miêu tả một loạt hành động, nhƣng giữa chúng có sự khác nhau về ý nghĩa sử dụng. Yếu tố để tạo nên sự khác nhau giữa chúng là do các câu 19 có sử dụng từ "Vẫn". (1) Nguyễn Đức Dân – [19], tr. 69. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 28 - yếu tố chỉ dẫn ngữ dụng. Từ "vẫn" đƣợc dùng để xác định những hành động này là sự tiếp tục của những ._.nghĩa của từ "nhƣng" cơ bản không có gì thay đổi so với từ "nhƣng" bình thƣờng, biểu thị nét nghĩa đối lập so với trƣớc đó. Tuy nhiên nét nghĩa cụ thể của từng phát ngôn lại có sự khác nhau so với các phát ngôn không có hƣ từ sau "nhƣng" hoặc có các hƣ từ khác không phải là "cũng". Nét nghĩa cụ thể và khác nhau này là do từ "cũng" tạo nên. Cách lý giải tƣơng tự nhƣ từ "vẫn" trên đây. Từ "cũng" trong các câu 42 - 45 có chức năng nhấn mạnh và hàm chứa tiền giả định tạo nên nét nghĩa [ đánh giá, so sánh, đối chiếu ] của đối tƣợng trong câu đối với các đối tƣợng khác. Cụ thể: Câu 42 từ "cũng" có nét nghĩa là nhận định chủ quan của ngƣời nói nhằm so sánh với các trƣờng hợp khác. Đó là sự cố tình bắt buộc một ngƣời nào đó phải thực hiện một công việc trong một hoàn cảnh và điều kiện khác thƣờng mà biết trƣớc khả năng không thực hiện đƣợc và nếu có thực hiện đƣợc thì rất khó khăn. Câu 43 từ "cũng" mang nét nghĩa so sánh kết quả lúc đèn sáng với lúc chƣa có đèn để nói lên, trong hoàn cảnh thuận lợi, bà mẹ đã cố gắng hết sức mà Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 110 vẫn không nhận ra nhà của con mình. Qua đó, hàm ý phê phán những ngƣời con đối xử bất hiếu với mẹ. Câu 44, từ "cũng" mang nét nghĩa so sách tình huống khó khăn phức tạp với tình huống thuận lợi. Đó là sự bắt buộc đồng thời phải giải quyết hai yêu cầu trái ngƣợc nhau xảy ra trong cùng một hoàn cảnh. Qua đó, chúng ta rút ra đƣợc hàm ý của câu "thái độ khó xử của một con ngƣời nào đó đối với những ngƣời xung quanh". Câu 45, từ "cũng" lại mang nét nghĩa so sánh trƣờng hợp cụ thể này với những trƣờng hợp khác có tính thông lệ trƣớc đây. Nghĩa là ở đây ngƣời cần việc đã không phải chờ lâu thì sếp đã xuất hiện. Hàm ý là khoảng thời gian chờ đợi rất ít thì điều anh cần đã đƣợc thực hiện ngay. Các câu 42 - 45 là những câu tƣờng thuật có chứa từ "cũng" dùng trong tình huống đối chiếu, so sánh nên có một đặc điểm chung là dễ dàng thêm các yếu tố " à, ƣ, sao, phải không..." để trở thành câu nghi vấn. 2.2.6. Nhƣng đã. Trong các phát ngôn có chứa " nhƣng đã", điểm nhấn của câu rơi vào từ " đã" ( cách phân tích nhƣ tƣơng tự nhƣ hợp từ " vẫn" ) nên sắc thái biểu cảm của thông tin chủ yếu là do sự tác động của từ "đã" tạo nên, còn từ "nhƣng" vẫn là từ biểu thị nét nghĩa đối lập. Ví dụ: 46. Nhƣng đã một tháng nay, anh ta không diễn đâu cả. 47. Nhƣng đã mua xe, anh đành phải kéo để kiếm tiền cho khỏi lỗ vốn vậy 48. Bà sai con gánh nƣớc, nhƣng đã có lúc nào đi đƣợc đâu. Từ "đã" trong các câu trên đây là trợ từ có chức năng nhấn mạnh đối tƣợng sau nó, đồng thời góp phần tạo nên nét nghĩa mới trong câu. Đó là nét nghĩa khẳng định về một khoảng thời gian trôi qua đã lâu (46), hoặc về một hành động đã rồi không thể thay đổi đƣợc nữa ( 47), hoặc nhấn mạnh về khoảng thời gian ít ỏi mà công việc quá nhiều nên mặc dù đã cố gắng vẫn không thực hiện đƣợc (48). Nếu ta lƣợc bỏ từ "đã" thì chức năng nhấn mạng trong câu không còn và do đó sắc thái ý nghĩa của các phát ngôn theo đó cũng có sự thay đổi. So sánh các câu sau đây: 49. Nhƣng hơn một tháng nay, anh đã không diễn đâu cả. 50. Nhƣng mua xe, anh đành phải kéo để kiếm tiền cho khỏi lỗ vốn. 51. Bà sai con gánh nƣớc, nhƣng có lúc nào đi đƣợc đâu. Đó là những câu thông báo bình thƣờng, không còn sắc thái nhấn mạnh, nét nghĩa đánh giá, khẳng định trong câu mờ nhạt hơn so với các câu có chứa từ "đã". Điều đó, phần nào chứng tỏ từ "đã "có mang sắc thái nghĩa. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 111 2.2.7. Nhưng bỗng. Khảo sát các câu sau: 52. Nhƣng bỗng vẳng nghe ở đâu kêu cƣớp, rồi trống đánh liên thanh, tiếng khóc nhƣ ri... 53. Nhƣng bỗng một hồi chuông rung mạnh. 54. Nhƣng bỗng chiếc quan tài đứng sững lại không xuống đƣợc nữa. 55. Nhƣng bỗng ngƣời ta lại nói. Phụ từ "bỗng" trong các câu trên mang nét nghĩa biểu thị một hành động, một quá trình xẩy ra một cách tự nhiên và bất ngờ không lƣờng trƣớc đƣợc. Đó cũng chính là nét nghĩa chủ yếu mà các câu 52 → 55 muốn thể hiện. Tiền giả định của từ "bỗng" sẽ dễ dàng giúp ta xác định nét nghĩa đó. Nếu dùng phƣơng pháp so sánh bằng cách lƣợc bỏ từ "bỗng" trong các câu trên thì sẽ làm mất đi nét nghĩa[ bất ngờ, không lƣờng trƣớc ] và do đó nó chỉ là những thông tin về các hành động, quá trình xảy ra bình thƣờng, không có gì đặc biệt. 2.2.8. Nhưng rồi. 56. Nhƣng rồi ngƣời ta lắc đầu với nhau. 57. Nhƣng rồi Sinh cũng ngủ đƣợc, mà ngủ một giấc thiếp đi đến tận hai giờ rƣỡi. 58. Cho nó ra tiếp các quan cũng không làm sao, nhƣng rồi sợ nó quen đi quan ạ. Trong các câu trên, trợ từ "rồi" đi kèm sau "nhƣng" mang nét nghĩa biểu thị ý nhấn mạnh về điều coi nhƣ đã có thể khẳng định dứt khoát, đồng thời nó cũng biểu thị mối quan hệ kéo theo: nghĩa là điều vừa nói đến có thể dẫn đến điều sắp nói ra sẽ có nội dung đối lập. Đó chính là tiền giả định của "rồi" chi phối tạo nên Logich ngữ nghĩa của phát ngôn. Tƣơng tự, qua khảo sát tập truyện ngắn "Ngựa Ngƣời và Ngƣời Ngựa" của Nguyễn Công Hoan, chúng ta còn tìm thấy nhiều câu có chứa các hƣ từ khác đi kèm sau từ "nhƣng", mặc dù tần số xuất hiện của mỗi loại rất ít, chỉ có một đến hai lần. Chẳng hạn: Nhƣng những, nhƣng chỉ, nhƣng còn, nhƣng đến, nhƣng thôi, nhƣng nào, nhƣng cứ, nhƣng hễ, nhƣng vì, nhƣng chắc, nhƣng liền, nhƣng cả, nhƣng thề, nhƣng rất, nhƣng chƣa, nhƣng may, nhƣng chính, nhƣng bao nhiêu, nhƣng lại, nhƣng chợt, nhƣng nếu, nhƣng cùng. Qua phân tích một số cấu trúc các câu chứa từ hƣ đứng trƣớc và sau từ "nhƣng", chúng tôi rút ra một số kết luận sau đây: Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 112 1. Nghĩa của từ "nhƣng" là kết từ biểu thị điều sắp nêu ra là một sự thật trái ngƣợc với điều vừa nói đến có thể gợi ra, và nét nghĩa này không có gì thay đổi khi có các từ hƣ đi kèm. 2. Những câu có từ hƣ đi kèm sau từ "nhƣng" thì điểm nhấn sẽ rơi vào từ hƣ và do vậy ý nghĩa của phát ngôn chủ yếu là do từ hƣ chi phối. 3. Khi lƣợc bỏ các từ hƣ đi kèm sau từ "nhƣng" thì phần nội dung thông báo của phát ngôn cơ bản không thay đổi nhƣng ý nghĩa của thông báo,sắc thái nghĩa, sắc thái nhấn mạnh của phát ngôn sẽ có sự thay đổi. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 113 KẾT LUẬN 1. Điều kiện cần để xác định giá trị chân lý (đúng hoặc sai) của một phát ngôn chính là tiền giả định của phát ngôn đó. Tuy nhiên cùng một câu nói nhƣng trong những hoàn cảnh (tình huống giao tiếp ) khác nhau có thể có những ý nghĩa rất khác nhau. Vì vậy, để hiểu đầy đủ và chuẩn xác một phát ngôn, chúng ta phải xem xét tiền giả định dƣới góc độ ngữ dụng, nghĩa là xem xét những điều kiện dùng của câu nói. Bình thƣờng ngƣời đọc (ngƣời nghe) cũng có thể hiểu đƣợc một phát ngôn nhƣng độ chuẩn xác có thể không cao vì ý nghĩa của câu nói mà ta rút ra chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân và phần nào có cảm tính, hoặc chỉ đƣợc xác định thông qua hệ thống ngôn ngữ mà không đƣợc xác định thông qua các chỉ dẫn ngữ dụng của câu nói đó. Bản thân các từ hƣ khi tách ra khỏi các cấu trúc ngôn ngữ (lời nói) thì khó lòng xác định đƣợc ý nghĩa của nó về phƣơng diện ngữ dụng. Ngƣợc lại, khi xét các từ hƣ trong các cấu trúc ngôn ngữ cụ thể, chúng ta dễ dàng vạch ra đƣợc các nét nghĩa của nó. Việc mô tả tiền giả định ngữ dụng của các từ hƣ: Có, những, thôi, kia, mà, trong các cấu trúc ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan sẽ giúp chúng ta vạch ra đƣợc các định hƣớng nghĩa do các từ hƣ đó tạo nên. Từ các định hƣớng nghĩa (nét nghĩa) đã đƣợc xác định, ngƣời đọc (ngƣời nghe) sẽ hiểu đƣợc đầy đủ và chuẩn xác các phát ngôn. 2. Ngôn ngữ và lời nói có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Ngôn ngữ tồn tại và phát triển thông qua lời nói, "Nếu không quên rằng chỉ trong lời nói ngôn ngữ mới có ý nghĩa và giá trị thực tiễn, rằng ở ngoài lời nói, các phƣơng tiện ngôn ngữ không hơn gì một mớ ký hiệu chết thì vấn đề trở nên hiển nhiên là cần phải nghiên cứu các phƣơng tiện của ngôn ngữ trong mối liên hệ khăng khít với việc sử dụng ngôn ngữ, với lời nói". (Lvốp ). Lời nói là phƣơng tiện tồn tại của ngôn ngữ, lời nói là cái cần thiết để cho ngôn ngữ xác lập và phát triển. Tính đa dạng, tính tự do sáng tạo của lời nói làm cho ngôn ngữ trở thành một công cụ tinh vi, tế nhị để diễn đạt mọi tƣ tƣởng, tình cảm của con ngƣời trong những hoàn cảnh rất khác nhau. Các nhà văn sử dụng ngôn ngữ trong các sáng tác văn học là điển hình của mối quan hệ đó. Nghiên cứu hành vi ngôn ngữ chính là nghiên cứu hiệu quả vận dụng của mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói. Thông qua việc mô tả, phân tích một số hành vi ngôn ngữ nhƣ câu hỏi, phủ định, chất vấn trong các sáng tác của Nguyễn Công Hoan, chúng ta vạch ra đƣợc cơ chế hình thành hàm ý từ các hành vi ngôn ngữ đó. Các hành vi ngôn ngữ tại lời là câu hỏi, phủ định, chất vấn chứng tỏ tính đa dạng, phong phú của ngôn ngữ trong hoạt động nói năng. Chính tính đa dạng, phong phú của các hành vi ngôn ngữ đã góp phần tạo nên tính đa dạng, phong phú và tính sâu sắc trong nội dung diễn đạt của ngôn ngữ. Nắm vững cơ chế hình thành hàm ý từ các hành vi ngôn ngữ khác nhau sẽ giúp ngƣời đọc Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 114 (ngƣời nghe) hiểu đƣợc bản chất của các phát ngôn và do vậy hoạt động giao tiếp sẽ diễn ra dễ dàng, chính xác và hiệu quả cao. Mô tả một số hành vi ngôn ngữ (câu hỏi, phủ định, chất vấn) trong tập truyện ngắn "Ngựa ngƣời và Ngƣời ngựa" chúng ta có thể rút ra đƣợc rằng, việc Nguyễn Công Hoan khai thác các hành vi ngôn ngữ khác nhau trong các sáng tác của mình đã tạo nên ngôn ngữ của ông có đặc điểm nỗi bật là giản dị, giàu hình ảnh và mang tính quần chúng đậm nét. Nghĩa là về hình thức ngôn ngữ giản dị, cụ thể nhƣng nội dung của nó lại hàm chứa những ý tƣởng sâu sắc. 3. Bình thƣờng, trong các cuộc hội thoại, nếu các bên tham gia hội thoại có ý thức tôn trọng các nguyên tắc và phƣơng châm cộng tác hội thoại sẽ không hình thành hàm ý. Ngƣợc lại, nếu trong các bên tham gia hội thoại có ý thức (hay cố tình ) vi phạm các nguyên tắc và phƣơng châm cộng tác hội thoại thì sẽ tạo thành hàm ý. Đó là đặc điểm cơ bản tạo nên hàm ý hội thoai. Khảo sát tập truyện ngắn "Ngựa ngƣời và Ngƣời ngựa" của Nguyễn Công Hoan, chúng ta bắt gặp hàng loạt cuộc thoại mà ở đó một trong các bên hội thoai đã cố tình vi phạm các nguyên tắc và phƣơng châm cộng tác hội thoai. Chính qua các vi phạm cố tình đó mà ý đồ sáng tác của nhà văn đƣợc thực hiện. Đây cũng là một đăc điểm nỗi bật trong văn phong của nhà văn Nguyễn Công Hoan. Thực tế sáng tác của Nguyễn Công Hoan một mặt chứng tỏ sự đúng đắn và tính thiết thực của lý thuyết hội thoại trong hoạt động thực tiễn của ngôn ngữ, mặt khác nó đã gợi ra cho ngƣời đọc nói chung, đặc biệt là học sinh phƣơng pháp phân tích, tiếp cận tác phẩm của nhà văn cũng nhƣ các nhà văn khác. Đó là phƣơng pháp phát hiện các vi phạm cố ý về nguyên tắc và phƣơng châm cộng tác hội thoại trong các cuộc thoại để rút ra hàm ý (ý đồ, nội dung, tƣ tƣởng...) của tác phẩm, tác giả. 4. Hƣ từ với tƣ cách là một phƣơng tiện liên kết câu cho nên nó là dấu hiệu quan trọng để xác định một quan hệ ngữ pháp nhất định. Đồng thời, hƣ từ cũng là một phƣơng tiện quan trọng góp phần hình thành ý nghĩa của câu, biểu hiện điều kiện dùng, biểu hiện các hành vi ngôn ngữ và các hàm ý của câu. Sự tồn tại hay không tồn tại hoặc vị trí của hƣ từ trong câu có một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xác định kết cấu cũng nhƣ ý nghĩa của câu. Chẳng hạn, khi trả lời câu hỏi: Anh ăn gì ? a. Tôi ăn cơm b Tôi phải ăn cơm. c Tôi ăn cơm cũng đƣợc. Câu a là một câu miêu tả bình thƣờng. Câu b do sự xuất hiện của từ "phải" nên đã tạo ra nét nghĩa mới [Bắt buộc phải ăn cơm vì do đau dạy dày hoặc do đƣờng ruột yếu..], ở câu c, từ "cũng" đã góp phần xác định nét nghĩa [ sự chấp nhận ở mức độ thấp và với thái độ miễn cƣỡng của ngƣời nói]. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 115 Nhƣ vậy, việc mô tả vai trò thứ tự và điểm nhấn liên quan đến hƣ từ đặt trƣớc và sau từ "nhƣng" trong ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan đã giúp chúng ta xác lập đƣợc cơ chế hình thành hàm ý của các phát ngôn có liên quan đến các hƣ từ ấy. Từ đây gợi ý cho chúng ta đi sâu nghiên cứu các hƣ từ khác. 5. Qua khảo sát tập truyện ngắn "Ngựa ngƣời và Ngƣời ngựa" của nhà văn Nguyễn Công Hoan, chúng ta đã tập hợp khá đầy đủ và nhận thấy rằng tác giả đã sử dụng hầu hết vốn hƣ từ của Tiếng Việt để làm phƣơng tiện liên kết trong các cấu trúc ngôn ngữ. Trong "kho" hƣ từ phong phú của tiếng Việt, một số hƣ từ đƣợc tác giả sử dụng với tần số cao nhƣ: và, hay, hoặc, nếu...thì, vẫn, những, vì, nhƣng, có, vì...nên, cứ, vừa.,, vừa, càng... càng, lắm, chẳng, bèn, bỗng.., Do điều kiện thời gian và giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung miêu tả các cấu trúc ngôn ngữ có chứa hƣ từ: Có, những, thôi, kia, mà để rút ra phƣơng pháp dùng tiền giả định để xây dựng hàm ý, các hƣ từ tham gia cấu tạo các hành vi ngôn ngữ tại lời là hỏi, phủ định, chất vấn, nhƣng có hành vi ngôn ngữ gián tiếp lại hết sức phong phú mà không phải là hỏi, phủ định, chất vấn. Ở một khía cạnh khác của luận án chúng tôi còn tập trung mô tả vai trò của hƣ từ trong việc hình thành hàm ý hội thoại, thứ tự và điểm nhấn của hƣ từ đặt trƣớc và sau từ "nhƣng" để xác định cơ chế của hƣ từ trong việc hình thành hàm ý trong ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan. Từ những khảo sát cụ thể trong các sáng tác của Nguyễn Công Hoan, chúng ta có thể rút ra đƣợc đặc điểm phong cách ngôn ngữ của nhà văn là "Mức khôi hài với nụ cƣời thỏa mái → nụ cƣời ngộ nghĩnh → trào phúng mỉa mai, châm chích diễu cợt, tố cáo → đả kích sâu độc gây cho ngƣời đọc thái độ căm phẫn, khinh miệt hơn là hài hƣớc → có lúc nụ cƣời bóng gió, ngụ ngôn điểm huyệt hơn là công phá → có lúc tiếng cƣời lắng đọng, thấm sâu vào bên trong nhƣng mà cay đắng xót xa" ( Lê Thị Đức Hạnh ) Xác định vai trò của hƣ từ trong việc hình thành hàm ý trong ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan thông qua tập truyện ngắn "Ngựa ngƣời và Ngƣời ngựa" có thể chƣa bao quát hết toàn bộ sáng tác của ông nhƣng dù sao đó cũng là những bằng chứng sinh động về đặc điểm phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan. Đặc biệt qua mô tả ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan chúng ta càng khẳng định vai trò quan trọng của hƣ từ trong việc hình thành hàm ý trong ngôn ngữ nói chung. Từ đây đặt ra cho chúng ta hƣớng nghiên cứu toàn diện hơn về vai trò của hƣ từ trong việc hình thành hàm ý của ngôn ngữ. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 116 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.Glê - bô va - I.I. Về vấn đề phân định chức năng liên từ và giới từ của các chỉ tố quan hệ nguyên nhân, nhƣợng bộ và mục đích trong tiếng Việt. NGÔN NGỮ, s. 2, tr. 9-15; 1982. 2. So-ko-lov-ska Ja.N.K. Tiêu chuẩn thông báo trong việc phân ranh giới từ thực và từ hƣ (trên cứ liệu tiếng Việt ).NGÔN NGỮ, s 2, tr. 45-57; 1984 3. Stan-kie-vich. N.V. Về quá trình hình thành chức năng quan hệ từ của "cho nên". NGÔN NGỮ, s.2, tr. 31-33;1984. 4. Stan-kie-vich. N.V. Về sự diễn biến của những hƣ từ chỉ nguyên nhân. NGÔN NGỮ, s. 4;tr. 58-59 ;1985. 5. Nguyễn Tài Cẩn. Quá trình hình thành thế đối lập giữa 3 từ "đƣợc,bị, phải " NGÔN NGỮ, s. 2 ;tr. 19-27 ;1978. 6. Đỗ Hữu Châu. Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ nghĩa học hoạt động. NGÔN NGỮ,s 3 ;tr. 18-33;1982 . 7. Đỗ Hữu Châu. Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ nghĩa học hoạt động (tiếp theo). NGÔN NGỮ,s.l; tr. l2; 1983. 8. Đỗ Hữu Châu. Các yếu tố dụng học của Tiếng Việt. NGÔN NGỮ, s.4; tr. l4-16; 1985. 9. Đỗ Hữu Châu. Các nhân tố dụng học trong cấu trúc ngữ nghĩa của từ (trên cơ sở ngữ nghĩa của các từ đơn âm Tiếng Việt). tr. NHỮNG VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ HỌC VỀ CÁC NGÔN NGỮ PHƢƠNG ĐÔNG. H., Viện Ngôn ngữ học, tr 53-63 ;1986. 10. Đỗ Hữu Châu. Ngữ pháp chức năng dƣới ánh sáng của dụng học hiện nay .NGÔN NGỮ, s. 1 ,tr. 1 -12; 1992. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 117 11. Đỗ Hữu Châu. Ngữ pháp chức năng dƣới ánh sáng của dụng học hiện nay. NGÔN NGỮ, s2, tr. 6-13;1992. 12. Đỗ Hữu Châu - Bùi Minh Toán. ĐẠI CƢƠNG NGÔN NGỮ HỌC, T.2 Nxb GD, 371 tr;1993. 13. Hồng Dân. Bƣớc đầu tìm hiểu vấn đề hƣ từ trong Tiếng Việt. NGÔN NGỮ,s 1; tr. 65- 71;1970. 14. Hồng Dân.Vấn đề miêu tả từ hƣ trong việc biên soạn từ điển giải thích. NGÔN NGỮ, s.1,tr.55-63;1971. 15. Nguyễn Đức Dân. Logich và sắc thái liên từ Tiếng Việt (về các liên từ và, hay, hoặc, nếu...thì...) NGÔN NGỮ, s.4, tr 15-25;1976. l6. Nguyễn Đức Dân. Ngữ nghĩa các từ hƣ: Định hƣớng nghĩa của từ. NGỒN NGỮ, s.2, tr 21-30;1984. 17. Nguyễn Đức Dân. Ngữ nghĩa các từ hƣ: Nghĩa của cặp từ. NGÔN NGỮ, s.4; Tr. 37- 45;1984. 18. Nguyễn Đức Dân. Logich các từ phiếm định. NGÔN NGỮ, s. 4;Tr 35-37; 1985 19. Nguyễn Đức Dân. LOGICH NGỮ NGHĨA -CÚ PHÁP. H. Nxb ĐH và THCN, 319 tr; 1987. 20. Nguyễn Đức Dân. Logich và hàm ý trong câu trỏ quan hệ nhân quả. NGÔN NGỮ, s l, Tr.5-8 ; 1990. 21. Nguyễn Đức Dân.Tiền giả định tiêu điểm và câu mơ hồ trong các truyện cƣời. Trong NGÔN NGỮ VÀ ĐỜI SỐNG. H. Hội ngôn ngữ học, tr. 7 - 9; 1992. 22. Nguyễn Đức Dân. Logich và các từ nối. NHỮNG VẤN ĐỀ NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI. Nxb KHXH-HN; tr. l95-210;1994. 23. Nguyễn Đức Dân. LOGICH VÀ TIẾNG VIỆT. H. Nxb GD, 412 tr ;1996 24. Nguyễn Đức Dân (chủ biên). TlẾNG CƢỜI THẾ GIỚI. H, Nxb KHXH, 280tr ; 1994 Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 118 25. Nguyễn Đức Dân, Trần Thị Chung Toàn. Ngữ nghĩa một số từ hƣ: cũng, chính, cả, ngay... NGÔN NGỮ,s.2, Tr 60-67;1982. 26. Nguyễn Đức Dân, Lê Đông. Phƣơng thức liên kết của từ nối. NGÔN NGỮ,s.l, tr. 32-41; 1985. 27. Lê Đông. Ngữ nghĩa ngữ dụng của hƣ từ: Ý nghĩa đánh giá của các hƣ từ. NGÔN NGỮ,s 2, tr. l5-23;1991. 28. Lê Đông. Ngữ nghĩa ngữ dụng của hƣ từ: Siêu ngôn ngữ và hƣ từ Tiếng Việt. NGÔN NGỮ, s 2, tr. 45-51;1992. 29. Lê Đông. Ngôn ngữ - đời sống. Mối liên hệ Logich - Ngữ nghĩa trong mấy vần ca dao. Trg. NGÔN NGỮ VÀ ĐỜI SỐNG. H., Hội ngôn ngữ học, tr. 27-29;1992. 30. Đinh Văn Đức. Mấy suy nghĩ về cụm từ. THÔNG BÁO KHOA HỌC. ĐHTH Hà Nội, s.5,tr. l03-113;1972. 31. Đinh Văn Đức. Về một cách hiểu ý nghĩa các từ loại trong Tiếng Việt. NGÔN NGỮ, s 2, tr. 31-39; 1978. 32. Đinh Văn Đức. NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT - TỪ LOẠI. H. Nxb ĐH và THCN, 212 tr.1986. 33. Lê Thị Đức Hạnh. "Ông Chủ" một tác phẩm hay của Nguyễn Công Hoan về vấn đề nông dân trƣớc Cách mạng. TẠP CHÍ VĂN HỌC, s.2, tr 26-34;1969. 34. Lê Thị Đức Hạnh. Ảnh hƣởng của Đảng đối với sáng tác của Nguyễn Công Hoan trong thời kỳ mặt trận dân chủ. TẠP CHÍ VĂN HỌC, s l, tr. 49-60;1970. 35. Lê Thị Đức Hạnh. Sáng tác của Nguyễn Công Hoan sau Cách mạng. TẠP CHÍ VĂN HỌC, s 6. tr 28-40; 1971. 36. Lê Thị Đức Hạnh. Nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan. TẠP CHÍ VĂN HỌC, s.5, tr. l20-132; 1975. 37. Lê Thị Đức Hạnh. Nghệ thuật viết truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan. TẠP CHÍ VĂN HỌC, s 4, tr 83-93;1977. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 119 38. Cao Xuân Hạo. TIẾNG VIỆT - SƠ THẢO NGỮ PHÁP CHỨC NĂNG. t1, H., Nxb KHXH, 254tr ; 1991. 39. CHỨC NĂNG - TIẾNG VIỆT. q.l. CÂU TRONG TIẾNG VIỆT: CẤU TRÚC - NGHĨA - CÔNG DỤNG. H. Nxb GD, 134tr; 1992. 40. Nguyễn Chí Hòa. Phát ngôn ngữ cảnh. TẠP CHÍ KHOA HỌC, Trƣờng ĐHTH Hà Nội, s.6, tr 51-53; 1991. 41. Nguyễn Chí Hòa. Phát ngôn nhƣ là đơn vị giao tiếp trong Tiếng Việt hiện đại. LUẬN ÁN PHÓ TIẾN SĨ. H, ĐHTH Hà Nội; 1992. 42. Nguyễn Công Hoan. ĐỜI VIẾT VĂN CỦA TÔI. H., Văn học, 403tr ; 1971. 43. Nguyễn Công Hoan. HỎI CHUYỆN NHÀ VĂN. H.,Tác phẩm mới, 209 tr ;1977. 44. Nguyễn Công Hoan. NHỚ VÀ GHI. H.,Tác phẩm mới,132tr; 1978. 45. Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân. TUYỂN CHỌN VÀ TRÍCH DẪN NHỮNG BÀI PHÊ BÌNH BÌNH LUẬN VĂN HỌC CỦA CÁC NHÀ VĂN - NGHIÊN CỨU VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI. Khánh Hòa ;1992. 46. Đinh Thanh Huệ. Hƣ từ đa chức năng trong Tiếng Việt hiện đại. Trong: NHỮNG VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ HỌC VỀ CÁC NGÔN NGỮ PHƢƠNG ĐÔNG. H.,Viện Ngôn ngữ học, tr. 22-26;1986. 47. Nguyễn Lai. Thử tìm hiểu sự chuyển hóa nghĩa từ vựng theo hƣớng "hƣ hóa". (Thông qua từ chỉ hƣớng vận động "ra"). Trong GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT VỀ MẶT TỪ NGỮ. Tr 2, H., Nxb KHXH, tr 1959-1966;1981. 48. Lưu Văn Lăng. Về nguyên tắc phân định từ loại Tiếng Việt, Trong TIẾNG VIỆT VÀ CÁC NGÔN NGỮ ĐÔNG NAM Á. H., Nxb KHXH, tr 108-116;1988. 49. Hồ Lê. Vấn đề Logich ngữ nghĩa và tính thông tin trong lời nói. NGÔN NGỮ, s 2. Tr 26 -33;1979. 50. Hồ Lê. Dấu gạch nối giữa ngữ nghĩa và cú pháp. TẠP CHÍ KHXH, s.6,tr. 84-91;1990. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 120 51. Hồ Lê. Cơ chế Logich trong lời. TẠP CHÍ KHXH, s.8, tr. 76-83; 1991 52. Bùi Tuyết Mai. Vài dòng khi nhận xét nghĩa của một số cấu trúc ngữ pháp. NGÔN NGỮ, s4, tr .4-5;1985. 53. Lại Cao Nguyện. Thử bàn về mỗi, mọi, từng. Trg. GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT VỀ MẶT TỪ NGỮ. T.2, H., Nxb KHXH ; 1981. 54. Đỗ Kỳ Nhẫn. TỪ LOẠI VÀ PHÂN TÍCH TỪ LOẠI (Bậc Trung học ). S.G, Rạng Đông. 234 tr ; 1958. 55. Đái Xuân Ninh - HOẠT ĐỘNG CỦA TỪ TIẾNG VIỆT - Nxb KHXH, H.,1978 56. Hoàng Phê. Phân tích ngữ nghĩa. NGÔN NGỮ, s 2, tr 10-26; 1975. 57. Hoàng Phê. Ngữ nghĩa của lời. NGÔN NGỮ. s. 3+4, tr 3-24;1981. 58. Hoàng Phê. Logich của ngôn ngữ tự nhiên (qua ngữ nghĩa của một số từ thƣờng dùng). NGÔN NGỮ, s 2, tr 35-43;1982. 59. Hoàng Phê. Tiền giả định và hàm ý trong ngữ nghĩa của từ. NGÔN NGỮ, s 2, tr.45- 51;1982. 60. Hoàng Phê. Logich của ngôn ngữ tự nhiên: Toán tử Logich - tình thái (qua cứ liệu tiếng Việt). NGÔN NGỮ, s4; tr. 5-21;1984. 61. Hoàng Phê. Thử vận logich mờ nghiên cứu một số vấn đề ngữ nghĩa. NGÔN NGỮ, s l; tr. l7-26;1985. 62. Hoàng Phê. Logich ngôn ngữ học NGÔN NGỮ, s 2, tr. 28-39;1988. 63. Hoàng Phê. LOGICH - NGÔN NGỮ HỌC. H., Nxb KHXH,186 tr;1989. 64. Phan Văn Phức. Tìm hiểu thêm từ từ "Dầu". NGÔN NGỮ, s l. tr. 60-65;1983. 65. Nguyễn Anh Quế. Về vấn đề phân định hƣ từ trong tiếng Việt. Trg. MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ HỌC VIỆT NAM. Nxb ĐH và THCN, tr. 372-381,1981. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 121 66. Nguyễn Anh Quế. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HƢ TỪ TRONG TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI. LUẬN ÁN PHÓ TIẾN SĨ. H., ĐHTH Hà Nội, 189 trg ; 1990. 67. Nguyễn Xuân Sanh. Nhớ anh Hoan. TẠP CHÍ VĂN HỌC, S4. Tr 80-82;1977 68. Tạp chí Văn học. Nguyễn Công Hoan ( 1903-1977). TẠP CHÍ VĂN HỌC, S3.tr. l46- 147;1977. 69. Vũ Thế Thạch. Nghĩa của những từ nhƣ "ra - vào", "lên-xuống" trong các tổ hợp kiểu đi vào, đẹp lên. NGÔN NGỮ, s.3, tr 30-39;1978. 70. Vũ Thế Thạch. Nghĩa của các từ đƣợc, bị,phải, trong tiếng Việt hiện đại. trg. GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT VỀ MẶT TỪ NGỮ. T.2, H., Nxb KHXH, Tr 192-196 ; 1981. 71. Vũ Thế Thạch. Ngữ nghĩa và chức năng của các từ "đƣợc, bị, phải" trong tiếng Việt hiện đại. NGÔN NGỮ. s l. tr 54-59; 1988. 72. Lê Xuân Thai. Về việc hiện thực hóa tiền giả định tổ hợp của động từ và tính từ (trên cứ liệu tiếng Việt). NGÔN NGỮ, s 3, tr 9-14; 1984. 73. Lê Xuân Thai. Mấy nhận xét về các phƣơng tiện tổ hợp cú pháp trong tiếng Việt. NGÔN NGỮ, s l, tr. 36-40;1988. 74. Lê Xuân Thai. Về quan hệ từ trong tiếng Việt. TIẾNG VIỆT, s l. tr 10-12; 1988. 75. Trịnh Xuân Thành. Bàn thêm về các từ đã, sẽ, đang. Trg. GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT VỀ TỪ NGỮ. T.2. H., Nxb KHXH, tr. 186-191; 1981. 76. Lý Toàn Thắng, về một hƣớng nghiên cứu trật tự từ trong câu. NGÔN NGỮ, s 3+4, tr 25-32;1981. 77. Phạm Văn Thấu. Hiệu lực ở lời gián tiếp: Cơ chế và sự biểu hiện. NGÔN NGỮ, s1, tr 22-29;1997. 78. Hoàng Văn Thung. Đọc sách "Hƣ từ trong tiếng Việt hiện đại" (của Nguyễn Anh Quế). H., Nxb KHXH, 255 tr ; NGÔN NGỮ, s.4,tr. 57; 1988. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 122 79. Nguyễn Minh Thuyết. Thảo luận về vấn đề xác định hƣ từ trong tiếng Việt. NGÔN NGỮ, s.4, tr 37-38; 1985. 80. Nguyễn Minh Thuyết. Vai trò của từ "đƣợc", "bị" trong câu bị động tiếng Việt. trg .NHỮNG VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ HỌC VỀ CÁC NGÔN NGỮ PHƢƠNG ĐÔNG. H., Viện ngôn ngữ học, tr. 204-207;186. 81. Nguyễn Minh Thuyết. Thảo luận về vấn đề xác định hƣ từ trong tiếng Việt. NGÔN NGỮ, s3, tr. 39-43;1986. 82. Thanh Tịnh. Vài dòng kỷ niệm: anh Nguyễn Công Hoan một thầy giáo quí, một tâm hồn thơ. TẠP CHÍ VĂN HỌC, s.3. tr. 58-63;1978. 83. Nguyễn Thanh Tú. Lời văn mỉa mai trong "ĐỒNG HÀO CÓ MA" của Nguyễn Công Hoan. Báo Giáo dục và thời đại; ngày 15.9.1995. 84. Hoàng Tuệ. Hiển ngôn với hàm ngôn, một vấn đề thú vị trong chƣơng trình lớp 11 PTHH hiện nay. NGÔN NGỮ, s.3, tr. l-5; 1991. Luận án Thạc sĩ “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý….”. Trang 123 MỤC LỤC DẪN LUẬN ............................................................................................................................................. 1 I. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu ....................................................................................... 1 II: Lịch sử nghiên cứu vấn đề .............................................................................................................. 2 III. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................................... 11 1. Giới thuyết khái niệm. .............................................................................................................. 11 2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................................................. 14 3. Nhiệm vụ cụ thể ........................................................................................................................ 14 4. Kết luận chung. ......................................................................................................................... 15 IV. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu ................................................................................. 15 1. Phƣơng pháp nghiên cứu. ......................................................................................................... 15 2. Nguồn tài liệu tham khảo. ......................................................................................................... 15 V. Đóng góp của luận án .................................................................................................................. 16 VI. Cấu trúc của luận án .................................................................................................................... 16 CHƢƠNG I: THẾ NÀO LÀ HÀM NGÔN, CÁC LOẠI HÀM NGÔN ................................................ 17 I- Thế nào là hàm ngôn? .................................................................................................................... 17 II- Các loại hàm ngôn ........................................................................................................................ 26 CHƢƠNG II: PHƢƠNG PHÁP DÙNG TIỀN GIẢ ĐỊNH ĐỂ XÂY DỰNG HÀM Ý CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN. ..................................................................................................................................................... 34 l. Một số đặc điểm cơ bản của tiền giả định. ..................................................................................... 34 2. Phƣơng pháp dùng tiền giả định để xây dựng hàm ý của Nguyễn Công Hoan. ............................ 36 CHƢƠNG III: HÀNH VI NGÔN NGỮ VÀ HÀM Ý TRONG NGÔN NGỮ NGUYỄN CÔNG HOAN .............................................................................................................................................................................. 59 I. Sơ lƣợc khái niệm hành vi ngôn ngữ. ............................................................................................. 59 II. Hành vi ngôn ngữ trong các sáng tác của Nguyễn Công Hoan ..................................................... 67 1. Câu hỏi. ..................................................................................................................................... 67 2. Hành vi phủ định....................................................................................................................... 80 3. Hành vi chất vấn. ...................................................................................................................... 88 CHƢƠNG IV: HÀM Ý HỘI THOẠI (TÌNH HUỐNG HỘI THOẠI) TRONG NGÔN NGỮ NGUYỄN CÔNG HOAN ...................................................................................................................................................... 93 I. Sơ lƣợc khái niệm ......................................................................................................................... 93 II- Hàm ý hội thoại trong ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan ............................................................ 94 CHƢƠNG V: VAI TRÒ THỨ TỰ VÀ ĐIỂM NHẤN LIÊN QUAN ĐẾN HƢ TỪ ĐẶT TRƢỚC VÀ SAU TỪ "NHƢNG" ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG NGÔN NGỮ CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN. .................... 99 I-Sơ lƣợc về hƣ từ .............................................................................................................................. 99 II- Vai trò thứ tƣ và điểm nhấn liên quan đến từ hƣ đặt trƣớc và sau từ "NHƢNG" ....................... 102 KẾT LUẬN ......................................................................................................................................... 113 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................................. 116 MỤC LỤC ........................................................................................................................................... 123 ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLA5894.pdf