Đánh giá hiệu quả và đề xuất sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI NGUYỄN TRUNG KIÊN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ ĐỀ XUẤT SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: Quản lý Đất đai Mã số : 60.62.16 Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN QUANG HỌC HÀ NỘI - 2009 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từ

doc109 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 1481 | Lượt tải: 6download
Tóm tắt tài liệu Đánh giá hiệu quả và đề xuất sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác. Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./. Tác giả luận văn Nguyễn Trung Kiên LỜI CẢM ƠN Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quý báu của các thầy giáo, cô giáo trong Viện đ ào tạo sau đại học, Khoa Tài nguyên và Môi trường, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của TS. Nguyễn Quang Học là người hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và viết luận văn. Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của UBND huyện Duy Tiên, Phòng Nông nghiệp, Phòng Thống kê, Phòng Tài nguyên và Môi Trường huyện Duy Tiên, các phòng ban và nhân dân các xã của huyện, các anh chị em và bạn bè đồng nghiệp, sự động viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình và người thân. Với tấm lòng biết ơn, tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó ! Tác giả luận văn Nguyễn Trung Kiên MỤC LỤC PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ 1 ĐBSH Đồng Bằng Sông Hồng 2 CPTG Chi phí trung gian 3 FAO Tổ chức nông lương thế giới 4 GDP Tổng sản phẩm quốc nội 6 GTGT Giá trị gia tăng 7 GTSX Giá trị sản xuất 8 IRRI Viện nghiên cứu lúa quốc tế 9 LĐ Lao động 10 LUT Loại hình sử dụng đất (Land Use Type) 11 USD Đơn vị tiền tệ của Mỹ DANH MỤC CÁC BẢNG STT Tên bảng Trang 4.1. Các cấp địa hình tương đối của đất canh tác huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam 44 4.2. Kết quả phân loại đất huyện Duy Tiên 46 4.3. Cơ cấu kinh tế huyện Duy Tiên từ năm 2004 -2008 49 4.4. Hiện trạng sử dụng đất huyện Duy Tiên năm 2008 58 4.5. Thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp huyện Duy Tiên 60 4.6. Hiện trạng các loại hình sử dụng đất vùng 1 63 4.7. Hiện trạng các loại hình sử dụng đất vùng 2 64 4.8. Hiện trạng các loại hình sử dụng đất vùng 3 65 4.9. Một số cây trồng hàng hoá chính của huyện 66 4.10. Hiệu kinh tế của các loại hình sử dụng đất vùng 1 68 4.11. Hiệu kinh tế của các loại hình sử dụng đất vùng 2 69 4.12. Hiệu kinh tế của các loại hình sử dụng đất vùng 3 71 4.13. Tổng hợp hiệu kinh tế của các loại hình sử dụng đất 73 4.14. Hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất vùng 1 75 4.15. Hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất vùng 2 76 4.16. Hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất vùng 3 77 4.17. Tổng hợp mức độ sử dụng phân bón của các cây trồng 79 4.18. Định hướng sử dụng đất vùng 1 87 4.19. Định hướng sử dụng đất vùng 2 88 4.20. Định hướng sử dụng đất vùng 3 89 4.21. So sánh một số chỉ tiêu cơ bản trước và sau định hướng 90 1. MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố của các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng [21]. Chúng ta biết rằng không có đất thì không có quá trình sản xuất, cũng như không có sự tồn tại của con người và đất có vai trò đặc biệt quan trọng với sản xuất nông nghiệp. Nông nghiệp là một hoạt động có từ xa xưa của loài người và hầu hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp cho việc phát triển của các ngành khác. Vì vậy việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả là nhiệm vụ quan trọng đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững [31]. Hơn 20 năm qua, nông nghiệp nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nông nghiệp cơ bản đã chuyển sang sản xuất hàng hoá, phát triển tương đối toàn diện, tốc độ tăng trưởng bình quân (5,5% giai đoạn 2002-2007) và đạt 3,79% năm 2008 [40]. Sản xuất nông nghiệp không những đảm bảo an toàn lương thực quốc gia mà còn mang lại nguồn thu cho nền kinh tế với việc tăng hàng hóa nông sản xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu năm 2008 đạt khoảng 16 tỷ USD gấp 3,8 lần năm 2000, trong đó tăng trưởng trung bình của các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu giai đoạn 2000 - 2008 là: gạo 13,6%, cà phê 19,4%; cao su 32,5%; điều 27,8%; hải sản 19,1% [24]. Tuy nhiên, nền nông nghiệp nước ta vẫn mang dáng dấp của nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, hiệu quả kinh tế thấp không còn phù hợp với kinh tế thị trường đã mở cửa. Trong điều kiện các nguồn tài nguyên để sản xuất có hạn, mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng hàng hoá trong cả nước nói chung và huyện Duy Tiên nói riêng là hết sức cần thiết, tạo ra giá trị lớn về kinh tế đồng thời tạo đà cho phát triển nông nghiệp bền vững. Duy Tiên là một huyện thuộc tỉnh Hà Nam, nằm trong vùng đồng bằng Sông Hồng. Sản phẩm nông nghiệp là nguồn thu chủ yếu của nhân dân trong huyện. Hiện nay, sản xuất nông nghiệp của huyện không còn độc canh cây lúa mà từng bước chuyển sang sản xuất các sản phẩm cung cấp cho thị trường. Chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng diễn ra ở hầu hết các xã trong huyện. Từ đó đã tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá góp phần hình thành một nền kinh tế mới - kinh tế hàng hoá. Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá mới chỉ dừng lại ở sản xuất hàng hoá nhỏ, mang tính tự phát. Từ những vấn đề khoa học và thực tiễn sản xuất đang diễn ra ở huyện Duy Tiên như đã trình bày ở trên, để góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển nông nghiệp của huyện đến năm 2020 và mục tiêu lâu dài nhằm khai thác tốt nhất phát triển nền nông nghiệp hàng hoá. Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá hiệu quả và đề xuất sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam" 1.2 Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở các điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của huyện nhằm giúp người dân sử dụng đất hợp lý, hiệu quả, phù hợp trong điều kiện cụ thể của huyện. - Định hướng và đề xuất các giải pháp hợp lý nhằm sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả theo hướng sản xuất hàng hoá. 1.3 Yêu cầu - Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội đầy đủ và chính xác, các chỉ tiêu phải đảm bảo tính thống nhất và hệ thống. - Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp thông qua một số chỉ tiêu phù hợp với điều kiện cụ thể của huyện Duy Tiên. - Các giải pháp đề xuất phải hợp lý về mặt khoa học và phải có tính thực thi. 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp 2.1.1 Khái quát về đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp Đất nông nghiệp là đất được sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Theo Luật đất đai năm 2003, đất nông nghiệp được chia ra làm các nhóm đất chính sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác [21]. Trong giai đoạn kinh tế - xã hội phát triển, mức sống cầu con người còn thấp, công năng của đất là tập trung vào sản xuất vật chất, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu là sản xuất nhỏ lẻ, tự cung tự cấp để phục vụ nhu cầu thiết yếu: ăn, mặc, ở… Khi con người biết sử dụng đất đai vào cuộc sống cũng như sản xuất thì đất đóng vai trò quan trọng trong hiện tại và tương lai. Cùng với việc phát triển mạnh mẽ công nghệ và khoa học, kỹ thuật đã đem lại thành tựu kỳ diệu làm thay đổi bộ mặt trái đất và cuộc sống nhân loại. Nhưng do chạy theo lợi nhuận tối đa cục bộ không có 1 chiến lược phát triển chung nên đã gây ra những hậu quả tiêu cực: ô nhiễm môi trường, thoái hoá đất… Hàng năm gần 12 triệu ha rừng nhiệt đới bị tán phá ở Châu Mỹ La Tinh và Châu á. Cân bằng sinh thái bị phá vỡ, hàng triệu ha đất đai bị hoang mạc hoá. Theo kết quả điều tra của trung tâm thông tin nghiên cứu đất quốc tế (ISRIC) đã cho thấy thế giới có khoảng 13,4 tỷ ha đất thì đã có 2 tỷ ha đất bị hoang hoá ở các mức độ khác nhau trong đó Châu á và Châu Phi là 1,2 tỷ ha chiếm 62% tổng diện tích bị thoái hoá [15]. Số liệu trên cho thấy phần lớn đất đai bị thoái hoá tập trung ở các nước đang phát triển. Trong lịch sử phát triển của thế giới bất kỳ nước nào dù phát triển hay đang phát triển thì việc sản xuất nông nghiệp đều có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, tạo ra sự ổn định xã hội và mức an toàn lương thực quốc gia. Sản phẩm nông nghiệp là nguồn tạo ra thu nhập ngoại tệ, tuỳ theo lợi thế của mình mà mỗi nước có thể xuất khẩu thu ngoại tệ hay trao đổi lấy sản phẩm công nghiệp để đầu tư lại cho nông nghiệp và các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân. Theo báo của Worlk Bank, hàng năm mức sản xuất so với yêu cầu sử dụng lương thực vẫn thiếu hụt từ 150 - 200 triệu tấn, trong khi đó vẫn có 6 - 7 triệu ha đất canh tác bị mất khả năng sản xuất, bị xói mòn. Trong 1200 triệu ha đất bị thoái hoá có tới 544 triệu ha đất canh tác bị mất khả năng sản xuất do sử dụng không hợp lý [52]. Năm 2008, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.115 nghìn ha, dân số là 86210,6 nghìn người, mật độ dân số 260 người/km2. Bình quân diện tích đất tự nhiên là 3889 m2/người đứng thứ 9 trong khu vực. Trong đó đất nông nghiệp chỉ có 24997,2 nghìn ha, bình quân diện tích đất nông nghiệp là 2899,55 m2/người [40]. Năm 2008, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 156681,9 tỷ đồng, trong đó trồng trọt là 122,37 tỷ đồng, chăn nuôi đạt 30938,6 tỷ đồng và nuôi trồng thủy sản là 3367,6 tỷ đồng. Trong trồng trọt, cây lương thực đạt giá trị sản xuất là 70059,8 tỷ đồng; cây rau đậu đạt 10560,4 tỷ đồng; cây công nghiệp là 31015,4 tỷ đồng và cây ăn quả đạt 9083,7 tỷ đồng. Trong năm 2008, diện tích cây lương thực có hạt là 8542 nghìn ha, cây công nghiệp hàng năm là 805,8 nghìn ha, cây công nghiệp lâu năm là 1886,1 nghìn ha và cây ăn quả là 775,3 nghìn ha [40]. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho xã hội về nông sản phẩm đang trở thành một trong các mối quan tâm lớn nhất của người quản lý và sử dụng đất. 2.1.2 Nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới Nông nghiệp nhiệt đới chiếm khoảng 1/3 diện tích lục địa với diện tích đất nông nghiệp có ích khoảng 1,4 tỷ ha. Điều kiện khí hậu - đất đai đặc biệt với hoàn cảnh kinh tế xói hội tạo cho nông nghiệp nhiệt đới có những nét riêng biểu hiện trên các hệ thống cây trồng, vật nuôi. Vùng nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều và tập trung gây dòng chảy và xói mòn nghiêm trọng. Đất đai so với vùng ôn đới thì không tốt bằngvà ít chất mùn và bị khoáng hoá mạnh. Khí hậu và đất nhiệt đới phần lớn thích hợp cho việc trồng cây lâu năm, cà phê, chè, ca cao và các loại cây ăn quả nhiệt đới. Đối với những vùng đất trũng, đất phù sa, đất giàu chất hữu cơ… rất thích hợp cho việc gieo trồng các giống cây ngắn ngày, cây lương thực. Hiện nay, tại các vùng nhiệt đới, việc sử dụng đất nông nghiệp theo đó hướng vào thâm canh cao, tăng năng suất, tăng vụ. Áp dụng mạnh mẽ các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Đây là những nguyên nhân gây tình trạng thoái hoá đất, đất bị mất khả năng sản xuất. Điều đó đặt ra vấn đề là phát triển sản xuất nông nghiệp đi đôi với bảo vệ cải tạo đất, xây dựng nông nghiệp bền vững [53]. Khi nghiên cứu sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp của một số nước Đông Nam Á cho thấy [39]: - Các nước đang chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế và cơ cấu nông nghiệp theo hướng tập trung phát triển ngành hàng dựa vào lợi thế và cải tổ để đương đầu với những thách thức mới của thế kỷ XXI. + Thái Lan: phát huy thế mạnh sẵn có, phát triển mạnh sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu nông sản theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, giảm bớt rủi ro thị trường và tăng cường đầu tư công nghệ chế biến. + Malaixia: Tập trung sản xuất hàng hoá có lợi thế cạnh tranh cao để xuất khẩu, phát triển nông nghiệp thành một lĩnh vực hiện đại và thương mại hoá cao. Tăng cường phát triển ngành chế biến gắn với sản xuất nông nghiệp dựa vào tài nguyên của từng địa phương. + Inđônêxia: hướng mạnh vào sản xuất hàng hoá các mặt hàng có lợi thế như: hạt tiêu, hoa quả, gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tôm đông lạnh và cá ngừ. + Philipin: Phát huy thế mạnh sẵn có xây dựng các vùng chuyên canh gắn với công nghiệp chế biến, hệ thống thông tin, ứng dụng và tiếp thị. Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu chuyển giao, áp dụng công nghệ và khuyến nông. Thay đổi chiến lược chính sách nông nghiệp từ bảo trợ sản xuất sang tăng cường cạnh tranh. 2.1.3 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu của con người về các sản phẩm được lấy từ đất ngày càng tăng. Mặt khác đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do bị trưng dụng sang các mục đích khác. Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta cần hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu. Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên đất đai. Do đó đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ và hợp lý”. Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” được dựa trên các quan điểm sau: - Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất. - Giảm thiểu mức rủi ro trong sản xuất. - Bảo vệ tài nguyên tự nhiên và ngăn chặn sự thoái đất và nước. - Có hiệu quả lâu bền. - Được xã hội chấp nhận [25]. Năm nguyên tắc trên là cốt lõi của việc sử dụng đất đai bền vững, nếu sử dụng đất đai đảm bảo các nguyên tắc trên thì đất đai được bảo vệ cho phát triển nông nghiệp bền vững. Để duy trì sự sống còn của con người, nhân loại đang phải đương đầu với nhiều vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn, sự bùng nổ dân số, nạn ô nhiễm và suy thoái môi trường, mất cân bằng sinh thái,... Nhiều nước trên thế giới đã xây dựng và phát triển nông nghiệp theo quan điểm nông nghiệp bền vững. Nông nghiệp bền vững là tiền đề và điều kiện cho định cư lâu dài. Một trong những cơ sở quan trọng bậc nhất của nông nghiệp bền vững là thiết lập được các hệ thống sử dụng đất hợp lý. Về vấn đề này Altieri và cộng sự là Susanna B.H. 1990 cho rằng: nền tảng của nông nghiệp bền vững là chế độ đa canh cây trồng với các lợi thế cơ bản là: tăng sản lượng, tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm tác hại của sâu bệnh và cỏ dại, giảm nguy cơ rủi ro,... Quan điểm đa canh và đa dạng hoá nhằm nâng cao sản lượng và tính ổn định này được ngân hàng thế giới đặc biệt khuyến khích ở các nước nghèo [51]. Phát triển nông nghiệp bền vững sẽ vừa đáp ứng nhu cầu của hiện tại, vừa đảm bảo nhu cầu của các thế hệ tương lai [10]. Một quan niệm khác cho rằng: Phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn sự thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cả cho hiện tại và mai sau [50]. Để phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta cần nắm vững mục tiêu về tác dụng lâu bền của từng mô hình, để duy trì và phát triển đa dạng sinh học. 2.2 Những vấn đề về hiệu quả và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 2.2.1 Khái quát hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả. Khi nhận thức của con người còn hạn chế, người ta thường quan niệm kết quả và hiệu quả là một. Sau này khi nhận thức của con người phát triển cao hơn, người ta thấy rõ sự khác nhau giữa kết quả và hiệu quả. Theo từ điển ngôn ngữ hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại [43]. Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới; nó có những nội dung khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất. Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận. Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian [53]. Kết quả, mà là kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định. Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu ngày càng tăng của con người mà người ta phải xem xét kết quả được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó. Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung đánh giá hiệu quả [31]. Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề được quan tâm hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn của cả nhà nông - những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp [48]. Căn cứ vào nhu cầu thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao, là một trong những điều tiên quyết để phát triển nền nông nghiệp hướng về xuất khẩu có tính ổn định và bền vững [31]. Ngày nay các nhà nghiên cứu cho rằng: việc xác định đúng khái niệm, bản chất của hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những lý luận của lý thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường [39]. 2.2.1.1 Hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là một phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá và với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác. Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề [36]: - Một là, mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”. - Hai là, hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý luận hệ thống. - Ba là, hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người. Hiệu quả kinh tế phải được tính bằng tổng giá trị trong một giai đoạn, phải trên mức bình quân của vùng, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi xuất tiền cho vay vốn ngân hàng. Chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ trong, ngoài nước, hệ thống phải giảm mức thấp nhất thiệt hại (rủi ro) do thiên tai, sâu bệnh... Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa 2 đại lượng đó. Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Nếu đạt được một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật hay hiệu qủa nghiệp phân bổ mới có điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ cho đạt hiệu quả kinh tế. Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó mới đạt hiệu quả kinh tế. Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là: với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động tiết kiệm nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội [36]. 2.2.1.2 Hiệu quả xã hội Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra [36], [48]. Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất. Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất hiện nay là phải thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nội lực và nguồn lực của địa phương được phát huy; đáp ứng nhu cầu của hộ nông dân về ăn, mặc, và nhu cầu sống khác. Sử dụng đất phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc sử dụng đó bền vững hơn, ngược lại sẽ không được người dân ủng hộ. Theo Nguyễn Duy Tính (1995), hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp [38]. 2.2.1.3 Hiệu quả về môi trường Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ mầu mỡ của đất đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường sinh thái. Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%). Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài [5]. Trong thực tế tác động của môi trường diễn ra rất phức tạp và theo chiều hướng khác nhau. Cây trồng được phát triển tốt khi phát triển phù hợp với đặc tính, tính chất của đất. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản xuất, quản lý của con người hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường. Hiệu quả môi trường được phân theo nguyên nhân gây nên gồm: hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh học môi trường [15]. Trong sản xuất nông nghiệp hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá thông qua mức độ hoá học hoá trong nông nghiệp. Đó là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất cho cây trồng sinh trưởng tốt, cho năng suất cao mà không gây ô nhiễm môi trường đất. Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại trong các loại hình sử dụng đất nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đặt ra. Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào. 2.2.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp - Cơ sở để lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp: + Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. + Nhu cầu của địa phương về phát triển hoặc thay đổi loại hình sử dụng đất nông nghiệp. - Nguyên tắc khi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp: + Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ thống. Các chỉ tiêu phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có thang bậc [19], [34]. + Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu cơ bản biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn theo quan điểm và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu cơ bản, làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn [17]. + Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu [36]. + Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học [36] và phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển. - Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp: Bản chất của hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả và chi phí. Mối quan hệ này có thể là quan hệ hiệu số hoặc quan hệ thương số [17],[36],[38] nên dạng tổng quát của hệ thống chỉ tiêu hiệu quả: K- C C K1-K0 C1- C0 H = K - C H = K/C H= H = Trong đó: H: hiệu quả; K: Kết quả; C: Chi phí; 1 và 0 là chỉ số về thời gian. * Hiệu quả kinh tế: - Hiệu quả tính trên 1 ha đất nông nghiệp + Giá trị sản xuất (GTSX): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một kỳ nhất định (thường là một năm). + Chi phí trung gian (CPTG) là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất. + Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa GTSX và chi phí trung gian (CPTG), là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó. GTGT= GTSX - CPTG - Hiệu quả kinh tế tính trên một đồng CPTG, bao gồm GTSX/CPTG và GTGT/CPTG đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả. Nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ. - Hiệu quả kinh tế trên một ngày công lao động (LĐ) quy đổi, bao gồm: GTSX/LĐ và GTGT/LĐ. Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng, làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao động. Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị tuyệt đối) bằng tiền theo thời giá hiện hành, định tính (giá trị tương đối) được tính bằng mức độ cao, thấp. Các chỉ tiêu đạt được mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn. * Hiệu quả xã hội Theo hội khoa học đất Việt Nam (2000) [18], hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu sau: - Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân. - Đáp ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng. - Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân. - Góp phần định canh, định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật... - Tăng cường sản phẩm hàng hoá, đặc biệt là hàng xuất khẩu. * Hiệu quả môi trường Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong thời gian dài. Vì vậy, đề tài của chúng tôi chỉ dừng lại ở việc đánh giá ảnh hưởng của sản xuất cây trồng tới đất đai, việc đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho các loại hình sử dụng đất hiện tại. 2.3 Xu hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 2.3.1 Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới Theo Đường Hồng Dật (1995) [8], trên con đường phát triển nông nghiệp, mỗi nước đều chịu ảnh hưởng của các điều kiện khác nhau, nhưng phải giải quyết vấn đề chung sau: - Không ngừng nâng cao chất lượng nông sản, năng suất lao động trong nông nghiệp, nâng cao hiệu quả đầu tư; - Mức độ và phương thức đầu tư vốn, lao động, khoa học và quá trình phát triển nông nghiệp. Theo chiều hướng chung nhất là phấn đấu giảm lao động chân tay, đầu tư nhiều lao động trí óc, tăng cường hiệu quả của lao động quản lý và tổ chức; - Mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và môi trường. Từ những vấn đề chung trên, mỗi nước lại có chiến lược phát triển nông nghiệp khác nhau và có thể chia làm hai xu hướng: * Nông nghiệp công nghiệp hoá: sử dụng nhiều thành tựu và kết quả của công nghiệp, sử dụng nhiều vật tư kỹ thuật, dùng trang thiết bị máy móc, sản xuất theo quy trình kỹ thuật chặt chẽ gần như công nghiệp, đạt năng suất cây trồng vật nuôi và năng suất lao động cao. Khoảng 10% lao động xã hội trực tiếp làm nông nghiệp những vẫn đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Nông nghiệp công nghiệp hoá gây nên nhiều hậu quả sinh thái nghiêm trọng, gây ô nhiễm môi trường làm giảm tính đa dạng sinh học, làm hao hụt nguồn gen thiên nhiên [53]. Theo cách hiểu gần đây nhất được đưa ra: Nông nghiệp công nghiệp hoá là một nền nông nghiệp được công nghiệp hoá khi áp dụng đầy đủ các thành tựu của một xã hội công nghiệp vào nông nghiệp. Các thành tựu đó thể hiện trên nhiều mặt: thông tin, điện tử, sinh học, hoá học, cơ khí… Thực tế cho thấy nhiều nước công nghiệp phát triển, nền nông nghiệp công nghiệp hoá thể hiện theo cách thể hiện này đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, nhược điểm của nền nông nghiệp này là không chú ý đầy đủ đến các tác động của hoạt động sản xuất nông nghiệp lên môi trường tự nhiên [8]. * Nông nghiệp sinh thái: nhấn mạnh các yếu tố sinh học, các yếu tố tự nhiên, có chú ý hơn đến các quy luật sinh học, quy luật tự nhiên. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp nông nghiệp sinh thái không đảm bảo hiệu quả cao. Gần đây nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu nền nông nghiệp bền vững. Đó là một dạng nông nghiệp sinh thái với mục tiêu là sản xuất nông nghiệp đi đôi với giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững, lâu dài. Trong thực tế phát triển theo những dạng tổng hợp, đan xen các xu hướng vào nhau ở nhiều mức độ khác nhau. Cụ thể như : - “Cách mạng xanh’’ đã được thực hiện ở các nước đang phát triển ở Châu Á, Mỹ La Tinh và đã đem lại những bước phát triển lớn ở những nước đó vào những năm của thập kỷ 60. Thực chất cuộc cách mạng này dựa chủ yếu vào việc áp dụng các giống cây lương thực có năng suất lúa cao (lúa nước, lúa mì, ngô...), xây dựng hệ thống thuỷ lợi, sử dụng nhiều loại phân hoá học. “Cách mạng xanh” đã dựa vào cả một số yếu tố sinh học, một số yếu tố hoá học và cả thành tựu của công nghiệp. - “Cách mạng trắng’’ được thực hiện dựa vào việc tạo ra các giống gia súc có tiềm năng cho sữa cao, vào những tiến bộ khoa học đạt được trong việc tăng năng suất và chất lượng các loại gia súc, trong các phương thức chăn nuôi mang ít nhiều tính chất công nghiệp. Cuộc cách mạng này đã tạo được những bước phát triển lớn trong chăn nuôi ở một số nước và được thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với “cách mạng xanh”. - “Cách mạng nâu’’ diễn ra trên cơ sở giải quyết mối quan hệ của nông dân với ruộng đất. Trên cơ sở khơi dậy lòng yêu quý của nông dân đối với đất đai, khuyến khích tính cần cù của họ để tăng năng suất và sản lượng trong nông nghiệp [8]. Cả ba cuộc cách mạng này mới chỉ dừng lại ở việc, tháo gỡ những khó khăn trước mắt, chứ chưa thể là cơ sở cho một chiến lược phát triển nông nghiệp lâu dài và bền vững. Từ những bài học của lịch sử phát triển nông nghiệp, những thành tựu đạt được của khoa học công nghệ, ở giai đoạn hiện nay muốn đưa nông nghiệp đi lên phải xây dựng và thực hiện một nền nông nghiệp trí tuệ. Bởi vì, tính phong phú đa dạng v._.à đầy biến động của nông nghiệp đòi hỏi những hiểu biết và những xử lý đầy trí tuệ và rất biện chứng. Nông nghiệp trí tuệ thể hiện ở việc phát hiện, nắm bắt và vận dụng các quy luật tự nhiên và xã hội trong mọi mặt hoạt động của hệ thống nông nghiệp phong phú, biểu hiện ở việc áp dụng các giải pháp phù hợp, hợp lý. Nông nghiệp trí tuệ là bước phát triển ở mức cao, là sự kết hợp ở đỉnh cao của các thành tựu sinh học, công nghiệp, kinh tế, quản lý được vận dụng phù hợp với điều kiện của mỗi nước, mỗi vùng [8]. Theo trung tâm thông tin chuyên đề nông nghiệp và phát triển nông thôn: Trong những năm qua, cùng với sự phát triển thành công về sản xuất nông nghiệp và tăng trưởng về mức sống, nhiều nước đã đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đa dạng hoá sản xuất. Như: Philipin năm 1987-1992 chính phủ đã có chiến lược chuyển đổi cơ cấu, đa dạng hoá cây trồng nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển; Thái Lan những năm 1982-1996 đã có những chính sách đầu tư phát triển nông nghiệp; Ấn Độ kể từ thập kỷ 80, khi sản xuất lương thực đã đủ đảm bảo an ninh lương thực thì các chính sách phát triển nông nghiệp của chính phủ chuyển sang đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá sản xuất, phát triển nhiều cây trồng ngoài lương thực... 2.3.2 Định hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam trong tương lai Trong 10 năm qua, sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn tiếp tục phát triển, đạt nhiều thành công lớn. * Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng trưởng nhanh Từ năm 2000 đến nay, tăng trưởng giá trị sản xuất của nông nghiệp bình quân đạt gần 5,5%/năm. Trong giai đoạn gần đây, mặc dù trung bình mỗi năm giảm đi khoảng 70.000 ha đất nông nghiệp, trên 100 nghìn lao động, tỷ trọng trong đầu tư xã hội giảm, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp nhưng nông, lâm, thủy sản vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng GDP 3,8%/năm [24]. * Cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển dịch tích cực Cơ cấu sản xuất nông, lâm, thuỷ sản chuyển dịch tích cực theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả gắn với nhu cầu thị trường. Tỷ trọng nông nghiệp (bao gồm cả nông, lâm, diêm nghiệp và thuỷ sản) trong tổng GDP cả nước giảm từ 24,5% năm 2000 xuống còn 20,3% năm 2007 và tăng trở lại 22,1% năm 2008 [24]. * Đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Sản xuất nông nghiệp phát triển từng bước đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường trong nước. Mức tiêu dùng lương thực giảm xuống (tiêu dùng gạo giảm từ 12 kg/người/tháng năm 2002 xuống 11,4 kg/người/tháng năm 2006). Tổng cục Thống kê, Điều tra mức sống dân cư 2002, 2004, 2006, Nxb Thống kê. 0 năm qua, vượt qua biến động thị trường, thiên tai, dịch bệnh, sản xuất lương thực thực phẩm tiếp tục phát triển, nhờ đó bình quân lương thực đầu người tăng từ 445 kg năm 2000 lên 501 kg năm 2008, Việt Nam đảm bảo đủ nhu cầu lương thực trong nước và xuất khẩu trung bình hơn 4 triệu tấn gạo/năm [24]. * Xuất khẩu tăng nhanh, một số mặt hàng có vị thế trên thị trường quốc tế Kim ngạch xuất khẩu năm 2008 đạt khoảng 16 tỷ USD gấp 3,8 lần năm 2000, trong đó tăng trưởng trung bình của các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu giai đoạn 2000 - 2008 là: gạo 13,6%, cà phê 19,4%; cao su 32,5%; điều 27,8%; hải sản 19,1%. Nhờ những thành tựu trên, nông nghiệp phát triển, nông thôn đổi mới đã góp phần quan trọng tạo ổn định chính trị, kinh tế và xã hội, mở đường thành công và làm nền tảng vững chắc cho quá trình đổi mới đất nước. Trong những giai đoạn khó khăn nhất của quá trình đổi mới và phát triển kinh tế, nông nghiệp, nông thôn luôn là lĩnh vực tạo ra sự ổn định cho nền kinh tế đất nước [24]. * Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn cải thiện rõ rệt Về cơ bản, Việt Nam đã xóa được đói. Công tác giảm nghèo được tập trung đẩy mạnh, hướng vào các đối tượng khó khăn vùng sâu vùng xa, đồng bào dân tộc. Nhờ đó, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo cũ giảm nhanh từ 19% năm 2000 (3,1 triệu hộ) xuống còn 7% năm 2005 (1,2 triệu hộ), trung bình mỗi năm giảm 2 - 2,5%. Tuy vậy, nếu so với chuẩn mới, số hộ nghèo vẫn còn cao, khoảng 12% năm 2008 trong đó khu vực nông thôn là 16,2% [24]. Thu nhập bình quân đầu người hộ nông dân tăng từ 2,7 triệu đồng/người năm 1999 lên khoảng 7,8 triệu đồng/người năm 2007 tính theo giá hiện hành. Từ năm 2001 đến 2006, tích lũy để dành của hộ nông thôn tăng lên gấp 2,1 lần, bình quân từ 3,2 triệu đồng/hộ lên 6,7 triệu đồng/hộ [24]. Những năm gần đây cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta bước đầu đã gắn phương thức truyền thống với phương thức công nghiệp hoá và đang từng bước giảm bớt tính tự cấp, tự túc, chuyển dần sang sản xuất hàng hoá và hướng mạnh ra xuất khẩu * Mục tiêu phát triển nông nghiệp giai đoạn 2011-2015: phục hồi tăng trưởng, tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp; phát huy dân chủ cơ sở, huy động sức mạnh cộng đồng để phát triển nông thôn; tăng thu nhập và giảm đáng kể tỷ lệ nghèo, bảo vệ môi trường - Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ổn định 3,3-3,8%. Tạo chuyển biến rõ rệt về mở rộng quy mô sản xuất bình quân của hộ và ứng dụng khoa học công nghệ. - Tạo bước đột phá trong đào tạo nhân lực. Nâng cao cả kiến thức, kỹ năng sản xuất kinh doanh nông lâm ngư nghiệp và phi nông nghiệp cho lao động nông thôn. - Tạo chuyển biến rõ rệt phát triển kinh tế hợp tác, hiệp hội, phát triển liên kết dọc theo ngành hàng, kết nối giữa sản xuất - chế biến - kinh doanh. Phát triển doanh nghiệp nông thôn. - Hình thành kết cấu hạ tầng căn bản phục vụ hiệu quả sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn. Cải thiện căn bản môi trường và sinh thái nông thôn tập trung vào đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh cho cây trồng và vật nuôi, phòng chống thiên tai [24]. * Mục tiêu phát triển nông nghiệp giai đoạn 2016-2020: phát triển nông nghiệp theo hướng toàn diện, hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn, vững bền; phát triển nông thôn gắn với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước, tăng thu nhập và cải thiện căn bản điều kiện sống của cư dân nông thôn, bảo vệ môi trường - Đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ở mức bình quân 3,5-4%/năm. Hình thành một số ngành sản xuất kinh doanh mũi nhọn của Việt Nam trên thị trường quốc tế. - Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển đổi theo nhu cầu thị trường. Phát triển chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp. Công nghiệp, dịch vụ và kinh tế đô thị phối hợp hiệu quả với sản xuất và kinh doanh nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn. - Chuyển phần lớn lao động nông thôn ra khỏi nông nghiệp, lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội. Hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, có kỹ năng sản xuất và quản lý, gắn kết trong các loại hình kinh tế hợp tác và kết nối với thị trường. - Phong trào xây dựng nông thôn mới phát triển mạnh với ít nhất 50% số xã đạt tiêu chuẩn. Nâng cao thu nhập của cư dân nông thôn lên 2,5 lần so với hiện nay. Quy hoạch dân cư, quy hoạch lãnh thổ nông thôn gắn với phát triển đô thị, công nghiệp. - Phát triển lâm nghiệp tăng độ che phủ của rừng lên 43- 45%, bảo vệ đa dạng sinh học, đảm bảo đánh bắt thủy sản nội địa và gần bờ trong khả năng tái tạo và phát triển, khắc phục tình trạng ô nhiễm trong sản xuất nông nghiệp, khắc phục và giảm thiểu thiệt hại thiên tai, dịch bệnh và các tác động xấu của biến đổi khí hậu [24]. 2.4 Xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá 2.4.1 Sự cần thiết phải xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá Sản xuất hàng hoá ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, đưa loài người thoát khỏi tình trạng "mông muội", xoá bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế của xã hội. Sản xuất hàng hoá khác với kinh tế tự cấp tự túc, do sự phát triển của phân công lao động xã hội làm cho sản xuất được chuyên môn hoá ngày càng cao, thị trường ngày càng mở rộng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng chặt chẽ. Sự phát triển của sản xuất hàng hoá đã xoá bỏ tính bảo thủ, trì trệ của nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình xã hội hoá sản xuất. Sản xuất hàng hoá có đặc trưng và ưu thế như sau : - Do mục đích của sản xuất hàng hoá không phải để thoả mãn nhu cầu của bản thân người sản xuất mà để thoả mãn nhu cầu của người khác, của thị trường. Sự gia tăng không hạn chế nhu cầu của thị trường là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. - Cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc mỗi người sản xuất hàng hoá phải năng động trong sản xuất - kinh doanh, phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, nhằm tiêu thụ được hàng hoá và thu được lợi nhuận ngày càng nhiều hơn. Cạnh tranh đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ. - Sự phát triển của sản xuất xã hội với tính chất "mở" của các quan hệ hàng hoá tiền tệ làm cho giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các địa phương trong nước và quốc tế ngày càng phát triển. Từ đó tạo điều kiện ngày càng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân [54]. Nông nghiệp là một hoạt động sản xuất mang tính chất cơ bản của mỗi quốc gia [19]. Nhiều nước trên thế giới có nền kinh tế phát triển, tỉ trọng của sản xuất công nghiệp và dịch vụ trong thu nhập quốc dân chiếm phần lớn, nông nghiệp chỉ chiếm một phần nhỏ, nhưng những khó khăn, trở ngại trong nông nghiệp đã gây ra không ít những xáo động trong đời sống xã hội và ảnh hưởng sâu sắc đến tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế nói chung [7]. Để nông nghiệp có thể thực hiện vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế quốc dân đòi hỏi nông nghiệp phát triển toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc. Hai mươi năm nay, hàng nông sản Việt Nam đã được xuất khẩu đi nhiều nước, nhiều mặt hàng nằm trong tốp đứng đầu thế giới như gạo mỗi năm xuất khẩu 4,5-5 triệu tấn, cà phê 6000 tấn, hồ tiêu 10.000 ngàn tấn, hạt điều chế biến 50.000 tấn,... Gia nhập WTO, Việt Nam có một sân chơi khổng lồ cho nông nghiệp phát triển. Do đó phải tuân thủ ‘‘luật chơi’’. Vào WTO, trong vòng 5-7 năm, thuế nhập khẩu bình quân giảm từ 17,4% xuống còn 13,4%; riêng hàng nông sản trong 5 năm tới thuế nhập khẩu giảm từ 23,5% hiện xuống còn 20,9% [39]. Hiện nay chúng ta trồng cây gì, nuôi con gì cũng nhỏ lẻ thiếu tập trung. Vậy chúng ta phải nhanh chóng đổi mới nền nông nghiệp để đáp ứng được nhu cầu của thị trường, đảm bảo chất lượng. Con đường tất yếu để phát triển nông nghiệp nước ta hiện nay là phải chuyển từ sản xuất nhỏ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá. Kim ngạch xuất khẩu nông lâm sản năm 1995 của Việt Nam là 1,3 tỉ USD, năm 2005 đã đạt 5,7 tỉ USD. So với Thái Lan, Malaixia, Philipin - các nước có tiềm năng tương tự Việt Nam, họ đã đạt và vượt mức này từ lâu. Mailaixia đạt kim ngạch xuất khẩu 14 tỉ USD từ năm 1986, Thái Lan đạt 10 tỉ USD năm 1987, Philipin năm 1992. Hiện nay kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan, Malaixia, Philipin đều lớn hơn Việt Nam [32]. Ở Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu nông sản đã chiếm tới 30-40% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Một số mặt hàng tăng trưởng cả về số lượng và kim ngạch xuất khẩu như cà phê 7% về lượng và 56% về kim ngạch xuất khẩu, cao su tăng lần lượt là 45% và 121%,... [30]. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, diện tích trồng rau trên đất nông nghiệp cả năm 2006 của Việt Nam là 644,0 nghìn ha, tăng 29,5% so với năm 2000. Năng suất cao nhất từ trước tới nay (149,9 tạ/ha). Tổng sản lượng rau cả nước đạt 9,65 triệu tấn, đạt 144 nghìn tỷ đồng, chiếm 9% GDP của ngành nông nghiệp, trong khi diện tích chỉ chiếm 6% [39]. Tuy có những đóng góp tương đối lớn trong kim ngạch xuất khẩu nhưng nhìn chung, năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Điều đó làm cho nông sản hàng hoá khó tiêu thụ, ảnh hưởng bất lợi đến thu nhập của người sản xuất. Lượng nông sản đã xuất khẩu được năm 2005 cao hơn năm 2004, nhưng hầu như đều bị giảm giá. Mặc dù đạt kết quả khả quan song bước tăng trưởng chưa bền vững, sâu bệnh hại lúa và mạ như rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá lúa, bệnh đạo ôn vẫn có xu hướng tăng nhanh. Dịch bệnh cúm gia cầm vẫn có nguy cơ tái phát trở lại, việc nâng cao chất lượng nông sản phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được đặc biệt chú trọng. Diện tích đất canh tác hiện vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ, đặc biệt công tác dồn ô, đổi thửa gặp phải nhiều khó khăn đã hạn chế, phát triển nông nghiệp hàng hoá. Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất gieo trồng chưa được phổ biến rộng rãi. Đặc biệt, khả năng đầu tư số vốn lớn để phát triển các mô hình có quy mô lớn còn hạn chế,... một trong những nguyên nhân của việc xuất khẩu hàng hoá sụt giảm là “Vì chúng ta chưa có tập quán sản xuất nông nghiệp chất lượng cao để cạnh tranh với thị trường thế giới’’. Mặt khác, số đông nông dân còn thiếu những hiểu biết về thị trường, thiếu năng lực, bản lĩnh và trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp hàng hoá. Do đó, sản xuất hàng hoá phần nhiều mang tính tự phát, thiếu ổn định và thiếu định hướng thị trường [32]. Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với phát triển nông nghiệp hiện nay là phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có định hướng và thị trường ổn định. Muốn vậy chúng ta cần phải có hệ thống sản xuất đồng bộ, đạt tiêu chuẩn [23]. Sản xuất hàng hoá phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố kinh tế xã hội, tự nhiên, môi trường, do đó khả năng rủi ro trong sản xuất là không thể tránh khỏi. Mặt khác chúng ta chưa hình thành một nền nông nghiệp hàng hoá theo đúng nghĩa cũng như chưa có công nghệ để giải quyết vấn đề này. Chuyển sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá là sự tiến hoá hợp quy luật, đó là quá trình chuyển nông nghiệp truyền thống, manh mún, lạc hậu thành nền nông nghiệp hiện đại. Sản xuất hàng hoá là quy luật khách quan của mọi hình thái kinh tế xã hội, nó phản ánh trình độ phát triển sản xuất của xã hội đó [41]. Theo V.I Lênin thì nguồn gốc của sản xuất hàng hoá là sự phân công lao động xã hội [36]. Vì thế phân công lao động xã hội càng sâu sắc thì sản xuất hàng hoá càng phát triển. Nền sản xuất hàng hoá có đặc trưng là dựa trên cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ văn hoá của người lao động cao. Đó là nền sản xuất nông nghiệp có cơ cấu sản xuất hợp lý, được hình thành trên cơ sở khai thác tối đa thế mạnh sản xuất nông nghiệp từng vùng. Vì thế nó là nền nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao, khối lượng hàng hoá nhiều với nhiều chủng loại phong phú và có chất lượng cao. Đưa nông nghiệp sang phát triển hàng hoá là quá trình lâu dài và đầy những khó khăn phức tạp, cần phải gắn liền với việc hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên canh và thâm canh ngày càng cao và phải gắn nông nghiệp với lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp chế biến và được thực hiện thông qua việc phân công lại lao động, xã hội hoá sản xuất, ứng dụng các công nghệ tiến bộ mới vào sản xuất. Vậy sản xuất hàng hoá là gì? - Đối với hộ nông dân, những sản phẩm được đưa bán ra ngoài thì gọi là sản phẩm hàng hoá [32]. - Đối với hệ thống trồng trọt, nếu mức hàng hoá sản xuất được bán ra thị trường dưới 50% thì gọi là hệ thống trồng trọt thương mại hoá một phần, nếu trên 50% thì gọi là hệ thống trồng trọt thương mại hoá (sản xuất theo hướng hàng hoá) [2]. - Hàng hoá là sản phẩm của lao động dùng để trao đổi [36]. Sản xuất hàng hoá là sản xuất ra sản phẩm đem bán để thu về giá trị của nó trong đó có phần giá trị thặng dư để tái sản xuất và mở rộng quy mô [41]. Hàng hoá là sản phẩm do lao động tạo ra, dùng để trao đổi, sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển dựa trên cơ sở phát triển các phương thức sản xuất và sự phân công lao động xã hội. Sự phân công ấy ngày càng cao, càng sâu sắc, trình độ chuyên môn hoá cao thì sản xuất hàng hoá càng phát triển, đời sống người dân ngày một tăng lên. Điều đó lại làm cho quá trình trao đổi diễn ra mạnh hơn, sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển đa dạng hơn [31]. Nền kinh tế thị trường ra đời làm nảy sinh mối quan hệ cung cầu trên thị trường. Đối với sản xuất nông nghiệp thì khả năng “cung” cho thị trường là các loại nông sản phẩm, còn “cầu” cho nông nghiệp là các yếu tố đầu vào như phân bón, thuốc trừ sâu,... Hiện nay, nếu chủ hộ không chuyên môn hoá cao trong việc sản xuất kinh doanh, không thay đổi cơ cấu giống và thâm canh tăng vụ thì kết quả sản xuất cũng chỉ để thoả mãn nhu cầu của mình mà không có sản phẩm đem ra bán ở thị trường, hoặc sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu của thị trường và sẽ không có tích luỹ để đề phòng rủi ro. Trong sản xuất hàng hoá rủi ro về thị trường luôn là mối lo ngại nhất của người sản xuất. Hàng hóa là sản phẩm của lao động, thoả mãn được nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán. Hàng hóa có hai thuộc tính không phải là do có hai thứ lao động khác nhau kết tinh trong nó, mà là do lao động của người sản xuất hàng hóa có tính chất hai mặt: vừa mang tính chất cụ thể (lao động cụ thể), lại vừa mang tính chất trừu tượng (lao động trừu tượng). C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt đó [56]: * Lao động cụ thể Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi một lao động cụ thể có mục đích, phương pháp, công cụ lao động, đối tượng lao động và kết quả lao động riêng. Chính những cái riêng đó phân biệt các loại lao động cụ thể khác nhau. Điều đó có nghĩa là: lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa. Trong xã hội có nhiều loại hàng hóa với những giá trị sử dụng khác nhau là do có nhiều loại lao động cụ thể khác nhau. Nếu phân công lao động xã hội càng phát triển thì càng có nhiều giá trị sử dụng khác nhau để đáp ứng nhu cầu của xã hội [56]. * Lao động trừu tượng Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa khi đã gạt bỏ những hình thức cụ thể của nó, hay nói cách khác, đó chính là sự tiêu hao sức lao động (tiêu hao sức bắp thịt, thần kinh) của người sản xuất hàng hóa nói chung. Chính lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa mới tạo ra giá trị của hàng hóa. Như vậy, có thể nói, giá trị của hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Đó cũng chính là mặt chất của giá trị hàng hóa [56]. Theo Nguyễn Duy Bột (2001) [6], thị trường và hoạt động tiêu thụ nông sản phẩm ở nước ta nổi lên một số vấn đề sau: - Hầu hết các sản phẩm nông nghiệp thường bị tồn đọng, nhất là vào thời vụ thu hoạch. - Trong tất cả các kênh phân phối liên quan đến sản xuất nông nghiệp đều có sự tham gia rất phổ biến của tư thương. Phân phối qua nhiều khâu trung gian đã làm chậm quá trình lưu thông sản phẩm, thậm chí gây ách tắc dẫn đến tồn đọng giả tạo. - Hệ thống kinh doanh thương mại Nhà nước đang lâm vào thế lúng túng. Thị trường đầu ra không ổn định gây khó khăn thường xuyên cho nông nghiệp trong việc bao tiêu sản phẩm và bao cung vật tư sản xuất. - Đối với nông dân, trong sản xuất nông nghiệp vẫn phổ biến là “bán cái mình có chứ không phải bán cái thị trường cần”, hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu sử dụng cái sẵn có chứ chưa chủ động khai thác các yếu tố của nền kinh tế thị trường. Từ những vấn đề trên cho thấy: xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá là hướng đi đúng, là sự vận động phát triển phù hợp quy luật. Vì vậy, tìm kiếm thị trường và những giải pháp sản xuất và đầu tư hợp lý để sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá có hiệu quả cao, ổn định là rất cần thiết. Hiện nay, nông nghiệp đã hình thành nhiều trang trại sản xuất với quy mô từ nhỏ đến lớn. Theo thống kê năm 2008, tổng số trang trại cả nước là 120699 trang trại, trong đó trang trại trồng cây hàng năm là 34361 trang trại, trang trại trồng cây lâu năm là 24215 trang trại, trang trại chăn nuôi là 17635 trang trại và trang trại nuôi trồng thủy sản là 34989 trang trại [39]. Đây chính là những cơ sở phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa. Để hỗ trợ cho sản xuất hàng hóa thì vai trò của các hợp tác xã là rất lớn. Theo thống kê, tổng số hợp tác xã trong cả nước là 7592 hợp tác xã, trong đó hợp tác xã nông nghiệp với 7277 hợp tác xã và hợp tác giả thủy sản là 273 hợp tác xã [40]. 2.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hoá 2.4.2.1 Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết...) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Bởi vì, các yếu tố của điều kiện tự nhiên là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối. Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng. Theo Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I. Theo N.Borlang - người được giải Noben về giải quyết lương thực cho các nước phát triển cho rằng: yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây trồng ở tầm cỡ thế giới của các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì của đất [32]. Điều kiện về đất đai, khí hậu thời tiết có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, các hộ nông dân có thể lợi dụng những yếu tố đầu vào không kinh tế thuận lợi để tạo ra nông sản hàng hoá với giá rẻ. Sản xuất nông nghiệp là ngành kinh doanh năng lượng ánh sáng mặt trời dựa trên các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác. 2.4.2.2 Nhóm các yếu tố kỹ thuật canh tác Biện pháp kỹ thuật canh tác là tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi, nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế. Đây là những vấn đề thể hiện sự hiểu biết về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh của người sản xuất. Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt được các mục tiêu đề ra là cơ sở để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá. Theo Frank Ellí và Douglass C.North, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất. Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh dựa trên việc chuyển đổi sử dụng đất. Cho đến giữa thế kỷ 21, trong nông nghiệp nước ta, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế. Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp [32]. 2.4.2.3 Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức - Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất Thực hiện phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa trên cơ sở phân tích, dự báo và đánh giá nhu cầu thị trường, gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến, kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và thể chế luật pháp về bảo vệ tài nguyên, môi trường sẽ tạo tiền đề vững chắc cho phát triển nông nghiệp hàng hoá. Đó là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi và khai thác đất một cách đầy đủ, hợp lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển sản xuất hàng hoá. - Hình thức tổ chức sản xuất Các hình thức tổ chức sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Vì vậy, cần phải thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất, kinh doanh phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa sản xuất - dịch vụ và tiêu thụ nông sản hàng hoá. Tổ chức có tác động lớn đến hàng hoá của hộ nông dân là: Tổ chức dịch vụ đầu vào và đầu ra. - Dịch vụ kỹ thuật: Sản xuất hàng hoá của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất. Vì sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng nông sản và hạ giá thành nông sản phẩm. 2.4.2.4 Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá cũng giống như ngành sản xuất vật chất khác của xã hội, nó chịu sự chi phối của quy luật cung cầu chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố đầu vào, quy mô các nguồn lực như: đất, lao động, vốn sản xuất, thị trường, kiến thức và kinh nghiệm trong sản xuất và tiêu thụ nông sản [3]. Thị trường là nhân tố quan trọng, dựa vào nhu cầu của thị trường nông dân lựa chọn hàng hoá để sản xuất. Theo Nguyễn Duy Tính (1995) [38], 3 yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là: năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất và thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ đầu ra. Trong cơ chế thị trường, các nông hộ hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hoá họ có khả năng sản xuất, đồng thời họ có xu hướng hợp tác, liên doanh, liên kết để sản xuất ra những nông sản hàng hoá mà nhu cầu thị trường cần với chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng. Muốn mở rộng thị trường trước hết phải phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin, dự báo, mở rộng các dịch vụ tư vấn,... quy hoạch các vùng trọng điểm sản xuất hàng hoá để người sản xuất biết nên sản xuất cái gì, bán ở đâu, mua tư liệu sản xuất và áp dụng khoa học công nghệ gì. Sản phẩm hàng hoá của Việt Nam cũng sẽ rất đa dạng, phong phú về chủng loại chất lượng cao và giá rẻ và đang được lưu thông trên thị trường, thương mại đang trong quá trình hội nhập là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có hiệu quả. Hệ thống chính sách về đất đai, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, hỗ trợ,... có ảnh hưởng lớn đến sản xuất hàng hoá của nông dân. Đó là công cụ để nhà nước can thiệp vào sản xuất nhằm khuyến khích hoặc hạn chế sản xuất các loại nông sản hàng hoá. Từ khi có chính sách đổi mới về cơ chế quản lý, nhất là từ khi có Nghị quyết 10 của Đảng (ngày 5/4/1988) đến nay, việc giao quyền sử dụng đất lâu dài cho các nông hộ và hàng loạt các chính sách kinh tế được ban hành như: chính sách tự do thương mại hoá trên phạm vi cả nước, chính sách một giá, chính sách cho nông dân vay vốn với lãi suất ưu đãi, chính sách thuế với nông dân... [41] và các chính sách trong nông nghiệp đã tác động có lợi lớn đến sản xuất nông nghiệp. Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực triền miên trong vài thập kỷ, năm 1989 đã xuất khẩu được được 1,4 triệu tấn gạo hàng hoá và đến nay đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo [36]. Chính sách đất đai của nước ta đã được thể hiện trong Hiến pháp, Luật đất đai năm 1993 sửa đổi, 1998, 2003 và hệ thống các văn bản dưới luật có liên quan đến khai thác và sử dụng đất đai được quy định một cách thích hợp cho những đối tượng, những vùng khác nhau; các Nghị định 80/CP, 87/CP của Chính phủ về phương pháp tính thuế sử dụng đất nông nghiệp và khung giá của các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi. Thuế sử dụng đất nông nghiệp là một bộ phận của chính sách đất đai đã thúc đẩy việc sử dụng một cách hợp lý hơn. Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển nông nghiệp của Nhà nước. Cùng với những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông nghiệp, trình độ năng lực của các chủ thể kinh doanh, là những động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hàng hoá. Cuộc hội thảo “Tác động của việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đối với nông dân Việt Nam”, diễn ra trong hai ngày 23-24/7, tại Hà Nội do Hội Nông dân Việt Nam và tổ chức Oxfam (Bỉ) phối hợp tổ chức.Tại đây, các đại biểu thảo luận về WTO và các chính sách nông nghiệp của Việt Nam hiện nay; kinh nghiệm của một số nước về nông nghiệp sau một thời gian gia nhập WTO; tác động của việc gia nhập WTO đến nông nghiệp và đời sống của nông dân Việt Nam; vai trò của Hội Nông dân trong tiến trình Việt Nam gia nhập WTO [55]. Cùng với việc mở rộng đào tạo nghề cho nông dân về kỹ thuật, Hội cũng sẽ là nòng cốt trong việc phát triển mạng lưới khuyến nông; phối hợp 4 “nhà” (nhà nông, nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà nước) trong việc tổ chức tiêu thụ nông sản cho nông dân; trở thành đầu mối thông tin về thị trường cho bà con [55]. 2.4.3 Một số định hướng phát triển nền nông nghiệp phát triển sản xuất hàng hoá Theo Đặng Kim Sơn và Trần Công Thắng (2001) [29], khi nghiên cứu sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp của một số nước Đông Nam Á cho thấy: - Các nước đang chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế và cơ cấu nông nghiệp theo hướng tập trung phát triển ngành hàng dựa vào lợi thế và cải tổ để đương đầu với những thách thức mới của thế kỷ XXI. + Thái Lan: Phát huy thế mạnh sẵn có, phát triển mạnh sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu nông sản theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, giảm bớt rủi ro thị trường và tăng cường đầu tư công nghệ chế biến. + Malaixia: Tập trung sản xuất hàng hoá có lợi thế cạnh tranh cao để xuất khẩu, phát triển nông nghiệp thành một lĩnh vực hiện đại và thương mại hoá cao. Tăng cường phát triển ngành chế biến gắn với sản xuất nông nghiệp dựa vào tài nguyên của từng địa phương. + Inđônêxia: Hướng mạnh vào sản xuất hàng hoá các mặt hàng có lợi thế như: hạt tiêu, hoa quả, gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tôm đông lạnh và cá ngừ. + Philipin: Phát huy thế mạnh sẵn có xây dựng các vùng chuyên canh gắn với công nghiệp chế biến, hệ thống thông tin, ứng dụng và tiếp thị. Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu chuyển giao, áp dụng công nghệ và khuyến nông. Thay đổi chiến lược chính sách nông nghiệp từ bảo trợ sản xuất sang tăng cường cạnh tranh. Ở Việt Nam, chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã góp phần làm tăng trưởng kinh tế trong nông nghiệp: năm 1990-1992 tăng 4,21%, GTSX nông nghiệp tăng 5,83%, trong đó trồng trọt tăng 5,88%, chăn nuôi tăng 5,98%. Năm 1999, cơ cấu GTSX ngành nông nghiệp tính theo giá hiện hành cho thấy: ngành trồng trọt chiếm 79,39%, chăn nuôi chiếm 18,22%, dịch vụ chiếm 2,39%. Cơ cấu GTSX ngành trồng trọt năm 1999 (tính theo giá cố định 1994) cây lương thực chiếm 63,7%, cây rau đậu chiếm 7,3%, cây công nghiệp chiếm 20,5% và cây ăn quả chiếm 7,5%. Mặt khác, cơ cấu mùa vụ ở nhiều vùng đã có sự chuyển đổi, đã hình thành một số vùng chuyên canh tập trung sản xuất các sản phẩm nông nghiệp có chất lượng đáp ứng yêu cầu cho xuất khẩu [32]. Phan Sỹ Mẫn và Nguyễn Việt Anh (2001) [22], đã đưa ra địn._.ong danh mục cho phép. Đây là nguyên nhân gây ô nhiễm thực phẩm, môi trường xung quanh. Việc phun thuốc không theo hướng dẫn sẽ dẫn đến tình trạng quen thuốc nhờn thuốc. Chính vì vậy, phòng nông nghiệp huyện cùng với cán bộ kỹ thuật có những chủ trương chính sách và biện pháp trong việc kiểm soát thuốc bảo vệ thực vất, công tác phòng chống sâu bệnh tại địa phương. 4.2.2.4 Đánh giá tổng hợp Kết quả nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Duy tiên cho thấy: - Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất tương đối cao. Một số LUT điển hình không những cho hiệu quả kinh tế cao mà còn tạo ra nhiều việc làm với giá trị ngày công lao động lớn, đó là: LUT chuyên rau màu, LUT lúa - màu. - Hiện nay một số cây trồng, kiểu sử dụng đất cho giá trị sản xuất lớn, tỷ suất hàng cao và thu hút nhiều lao động như: kiểu sử dụng đất lạc - lạc - khoai tây, lạc - lúa mùa - bí xanh ở vùng 1 ; kiểu sử dụng đất chuyên rau, khoai tây - lúa màu - khoai tây ở vùng 2 ; kiểu sử dụng đất lạc - ngô - ngô, cà chua - lúa mùa - cà chua ở vùng 1. Hiện nay một số cây trồng là sản phẩm xuất khẩu như đậu tương, lạc, khoai tây (đặc biệt là lạc), đây là những cây trồng có thị trường tiêu thụ lớn và giá trị kinh tế cao. Hiện nay, công thức luân canh của nông dân đa dạng hơn, cơ cấu mùa vụ thay đổi. Diện tích trồng 3 - 4 vụ ngày càng tăng góp phần nâng cao mức thu nhập và mức sống của nhân dân. Nông nghiệp Duy Tiên bắt đầu phát triển theo hình thành vùng sản xuất tập trung như diện tích ngô xã Trác Văn. - Việc sử dụng phân bón mất cân đối; việc sử dụng thuốc BVTV nằm ngoài danh mục và liều lượng vượt tiêu chuẩn cho phép là đã ảnh hưởng đến môi trường, sự phát triển của cây trồng, năng suất và chất lượng nông sản. - Qua kết quả điều tra và những khó khăn trong sản xuất của hộ gia đình, cùng ý kiến của lãnh đạo địa phương đã xác định những yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp Duy Tiên: * Nhóm các yếu tố về kinh tế xã hội Vấn đề tiêu thụ sản phẩm, giá cả nông sản đầu ra và giá vật tư đầu vào đang là vấn đề mà nông dân quan tâm. Giá vật tư đầu vào liên tục tăng. Giá cả và thị trường tiêu thụ nông sản không ổn định làm ảnh hưởng đến tâm lý sản xuất của người dân. Chính vì vậy để phát triển sản xuất nông nghiệp thì yếu tố thị trường là yếu tố quan trọng nhất và có tính chất quyết định đến việc lựa chọn các LUT với cây trồng hàng hóa của hộ nông dân. Cùng với đó, các thể chế chính sách (kinh tế, đất đai, các chính sách hỗ trợ…) cũng góp phần không nhỏ trong sự thành công của sản xuất nông nghiệp hàng hóa có hiệu quả cao. Ngoài ra, cơ sở hạ tầng cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa (quan trọng nhất là hệ thống thủy lợi, giao thông, các trung tâm dịch vụ thương mại). * Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên Hiệu quả kinh tế của cây trồng ở các vùng khác nhau thì có hiểu quả kinh tế khác nhau. Hầu hết các cây trồng trong huyện đều có hiệu quả kinh tế khác nhau giữa các vùng. Điều đó chứng tỏ điều kiện tự nhiên mối quan hệ mật thiết đến sự sinh trưởng phát triển của cây trồng. Việc bố trí cây trồng phù hợp trên mỗi chân đất, mỗi vùng nhằm phát huy lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên là rất quan trọng, nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng nông sản hàng hóa. Mặt khác, việc bố trí phù hợp cây trồng với điều kiện tự nhiên sẽ không gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đất và môi trường. * Nhóm yếu tố về tổ chức sản xuất kỹ thuật Theo kết quả đánh giá hiệu quả môi trường, với một số cây trồng sử dụng phân bón không cân đối; sử dụng thuốc trừ sâu tràn lan không có sự kiểm soát… có thể gây khó khăn cho phát triển sản xuất hàng hoá, vì: Việc sử dụng phân bón không cân đối, gây thoái hoá đất, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng nông sản. Sử dụng thuốc BVTV vượt tiêu chuẩn cho phép ảnh hưởng đến môi trường và chất lượng nông sản. Khi nông sản có chất lượng kém ảnh hưởng đến giá cả, thị trường và thương hiệu của sản phẩm 4.3. Định hướng và các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 4.3.1 Quan điểm về sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Duy Tiên dựa trên những quan điểm chủ yếu sau: Phát triển chuyên môn hóa đi đôi với kinh doanh tổng hợp phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện. Chuyên môn hóa sản xuất đến từng nông hộ, từng vùng là điều kiện để sản xuất hàng hóa phát triển nhằm khai thác lợi thế từng vùng. Phát triển nông nghiệp trước tiên đáp nhu cầu phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện và một phần phục vụ các vùng lân cận. Để nâng cao được hiệu quả sử dụng đất cần phát triển cây trồng có giá trị kinh tế cao kết hợp đa dạng hóa cây trồng theo định hướng chung là hướng đi đúng cần phát triển. - Sử dụng đất triệt để trên cơ sở phát huy tối đa các lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi vùng đất. - Áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp. Đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất, hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa tập trung với khối lượng lớn. Mở rộng diện tích cây rau màu có thị trường tiêu thụ ổn định, có khả năng xuất khẩu và làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến . - Quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa tạo mô hình sản xuất lớn tập trung nhằm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, nâng cao giá trị thu nhập. Vùng sản xuất hàng hóa tập trung có thể xây dưới dạng: vùng chuyên canh, vùng đa canh hoặc kết hợp chuyên canh một loại cây trồng chủ lực với đa canh nhiều loại cây trồng khác. - Xây dựng tốt mối liên kết giữa doanh nghiệp, nông dân, nhà khoa học và nhà quản lý trong một mô hình sản xuất nhằm đảm bảo thị trường tiêu thụ ổn định, tránh rủi ro trong sản xuất. Để liên kết này đạt hiệu quả cao thì cần: + Một là, xây dựng mô hình sản xuất. Mô hình sản xuất phổ biến hiện nay là hợp tác xã và trang trại. Có hai mô hình này thì doanh nghiệp mới có thể ký kết các hợp đồng với chủ nhiệm hợp tác xã hoặc chủ trang trại, doanh nghiệp không thể ký hợp đồng với tất cả nông dân. Sau đó, hợp tác xã sẽ phổ biến sản xuất trực tiếp người dân. + Hai là, phải xác định sản phẩm trước khi ký kết hợp đồng, chứ không phải bất kỳ sản phẩm nào cũng ký. - Sử dụng đất nông nghiệp đi đối với bảo vệ môi trường sinh thái. Môi trường sinh thái là yếu tố bên ngoài tác động đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Đó là các yếu tố thời tiết, khí tượng, thủy văn, đất đai. Vì vậy trong quá trình sử dụng đất phải bảo vệ được môi trường đất, bố trí thời vụ phù hợp với các điều kiện khí tượng, thời tiết, thủy văn nhưng khai thác tối ưu các điều kiện đó mà không làm ảnh hưởng đến môi trường. Vấn đề quan trọng trong bảo vệ môi trường là phải phát triển một nền nông nghiệp bền vững. Nông nghiệp bền vững đòi hỏi một hệ thống canh tác ổn định, kết hợp hài hòa giữa trồng trọt, chăn nuôi, chế biến. Đó chính là vấn đề quan trọng nhất. 4.3.2 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá * Căn cứ để lựa chọn Duy Tiên là huyện trọng điểm của tỉnh Hà Nam với việc phát triển mạnh các điểm công nghiệp (khu công nghiệp Đồng Văn). Bên cạnh đó, nông nghiệp là lĩnh vực được huyện quan tâm chú trọng phát triển bên cạnh sự phát triển công nghiệp. Mục tiêu về phát triển nông nghiệp - nông thôn chuyển mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp; sớm hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung, vùng xung quanh đô thị; đưa tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, áp dụng rộng rãi công nghệ sinh học, công nghệ bảo quản và chế biến, nông nghiệp sinh thái sạch tạo ra giá trị cao trên đơn vị diện tích; phục vụ nhu cầu đô thị, các khu công nghiệp và xuất khẩu. + Đẩy mạnh phát triển nghề nuôi thuỷ sản nước ngọt trên diện tích ruộng trũng năng suất thấp; có chính sách đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ và hoàn chỉnh như đầu tư cho công nghiệp để phát triển thành một trong những mũi nhọn, hướng quan trọng giải quyết việc làm, cải thiện nhanh đời sống nhân dân. + Đặc biệt quan tâm phát triển tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề truyền thống, phát triển thêm làng có nghề theo mô hình phát triển bền vững. + Quy hoạch xây dựng nông thôn mới có cơ cấu kinh tế nông, công nghiệp và dịch vụ tiến bộ, kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh, từng bước hiện đại, hình thành các điểm dân cư tập trung theo mô hình đô thị làm hạt nhân chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ thuần nông sang phát triển ngành nghề phi nông nghiệp. * Định hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa dựa trên những căn cứ sau: - Tiềm năng nguồn lực của huyện; - Định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện, của tỉnh trong thời gian tới; Đặc biệt huyện chú trọng phát triển một số nông sản xuất khẩu như lạc, đậu tương, khoai tây... - Điều kiện áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp; - Khả năng đầu tư vốn, lao động và khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản hàng hóa; - Những cây trồng, kiểu sử dụng đất lựa chọn là những cây được trồng cho hiệu quả kinh tế cao ở huyện hoặc ở những vùng có điều kiện tương tự. Trong giai đoạn tới, diện tích đất nông nghiệp giảm do chuyển sang đất công nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng, đáp ứng nhu cầu đất ở của nhân dân. * Định hướng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Duy Tiên Sản xuất hàng hoá là một quy luật khách quan của một hình thái kinh tế -xã hội. Nó phản ánh trình độ phát triển sản xuất của xã hội đó. Muốn có nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá thì thì huyện Duy Tiên phải trả lời câu hỏi: sản xuất cái gì? bao nhiêu? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai?. Khai thác sử dụng đất phải dựa trên cơ sơ nguồn lực tự nhiên, cơ sơ vật chất, vốn và tổ chức thành vùng sản xuất hàng hoá, thực hiện thâm canh kết hợp với tăng vụ. Trong giai đoan tới, nông nghiệp được đánh giá là ngành có ý nghĩa quan trọng đối sự phát triển ổn định bền vững của huyện. Nông nghiệp phát triển với việc mở rộng diện tích cây rau màu, hình thành các vùng tập trung. Trên cơ sở đó, chúng tôi định hướng việc bố trí cây trồng theo sản xuất tập trung được trình bày trong bảng 4.18, 4.19, 4.20. Bảng 4.18. Định hướng sử dụng đất vùng 1 Loại hình sử dụng đất Diện tích (ha) Kiểu sử dụng đất 1.Chuyên lúa 875,00 1. Lúa xuân - Lúa mùa 2.Lúa - màu 1411,91 778,84 2. Lúa xuân - Lúa mùa - rau vụ đông 50,56 3. Đỗ tương - Lúa mùa - Đỗ tương 150,89 4. Lạc - Lúa mùa - Cà chua 120,25 5. Lạc - Lúa mùa - Bí xanh 150,26 6. Lạc - Lúa mùa - Lạc 65,25 7. Ngô - Lúa mùa - Rau các loại 95,86 8. Ngô - Lúa mùa - Dưa chuột 3. Chuyên rau màu 519,33 115,64 10. Lạc - Lạc - Khoai tây 92,56 11. Ngô - Lạc - Đỗ tương 150,35 12.Lạc - Dưa chuột - rau màu các loại 50,28 13. Chuyên ngô 110,50 14. Chuyên trồng lạc, đậu tương Theo đó, vùng 1 vẫn là vùng sản xuất tập trung của huyện với diện tích cây rau màu và lúa lớn. Đây là vùng chủ yếu tập trung phát triển nông nghiệp nên vùng này hình thành các khu sản xuất tập trung với mục tiêu đa dạng hoá sản phẩm và nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Diện tích lúa giữ mức diện tích ổn định và phát triển theo lúa hàng hoá. Bảng 4.19. Định hướng sử dụng đất vùng 2 Loại hình sử dụng đất Diện tích (ha) Kiểu sử dụng đất 1.Chuyên lúa 735,00 1. Lúa xuân - Lúa mùa 2. Lúa - màu 985,36 435,40 2. Lúa xuân - Lúa mùa - Rau vụ đông 50,60 3. Lúa xuân - Lúa mùa - Ngô 100,86 4. Lúa xuân - Luá mùa - Khoai Tây 298,00 5. Lúa xuân - Luá mùa - Đỗ tương 100,50 6. Khoai tây - Lúa mùa - Khoai tây 3. Chuyên rau màu 172,12 100,96 7.Chuyên rau 20,60 8. Chuyên Ngô 50,56 9. Ngô - Rau các loại - Lạc Vùng 2,3 là hai vùng nằm dọc theo tuyến quốc lộ 1 A và ven khu công nghiệp Đồng Văn mục tiêu phát triển công nghiệp là chủ yếu tuy nhiên vẫn chú trọng vào nông nghiệp để đảm bảo an sinh xã hội. Nông nghiệp phát triển hướng duy trì nhất định diện tích trồng lúa. Những diện tích có điều kiện phát triển rau màu sẽ chuyển đổi theo hướng đa dạng hoá cây trồng đáp ứng cho nhu cầu của địa phương. Diện tích lúa giữ mức diện tích ổn định và phát triển theo lúa hàng hoá. Bảng 4.20. Định hướng sử dụng đất vùng 3 Loại hình sử dụng đất Diện tích (ha) Kiểu sử dụng đất 1.Chuyên lúa 660,26 1. Lúa xuân - Lúa mùa 2.Lúa - màu 1331,07 460,20 2. Lúa xuân - Lúa mùa - rau vụ đông 302,50 3. Lúa xuân - Lúa mùa - Đậu tương 90,56 4. Lúa xuân - Luá mùa - Dưa chuột 90,32 5. Lúa xuân - Luá mùa - Cà chua 78,69 6. Lúa xuân - Luá mùa - Cải các loại 88,40 7. Dưa chuột - Lúa màu - Dưa chuột 90,00 8. Cà chua - Lúa màu -Cà chua 87,50 9. Ngô - Lúa màu - Đỗ tương 42,90 10. Ngô - Lúa màu - Rau màu 3. Chuyên rau màu 358,45 71,60 11. Rau màu - Đậu các loại - Ngô 90,89 12. Lạc - Đậu các loại - rau màu 90,36 13. Lạc - Đậu các loại - Đỗ tương 84,40 14. Lạc - Đỗ tương - Ngô 21,20 15. Lạc - Ngô - rau màu * Một số kết quả đạt được sau định hướng Để có thể dự kiến được kết quả sau định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, chúng tôi tổng hợp và đưa ra một số chỉ tiêu cơ bản để so sánh. Kết quả trình bày trong bảng 4.21. Kết quả nghiên cứu cho thấy: - Về mặt kinh tế: tổng giá trị sản xuất ngành trồng trọt tăng 828,82 tỷ đồng, GTSX/ha tăng 40,61triệu đồng. GTGT/LĐ tăng thêm 10,78 nghìn đồng. Đầu tư lao động cho 1 ha canh tác tăng từ 628,77 công lên 856 công. Bảng 4.21. So sánh một số chỉ tiêu cơ bản trước và sau định hướng TT Hạng mục ĐVT Hiện trạng Định hướng (2020) So sánh 1 GTSX trồng trọt Tỉ đồng 827,14 1655,96 + 828,82 2 GTGT trồng trọt Tỉ đồng 599,53 1299,53 + 700,00 3 Tổng lao động 1000 công 11229,00 12360,00 + 1131,00 4 GTSX/CPTG Lần 3,00 3,80 + 0,80 5 GTGT/CPTG Lần 2,00 2,80 + 0,80 6 GTGT/LĐ 1000 đồng 79,61 90,39 + 10,78 7 GTSX/ha Triệu đồng 75,03 115,64 + 40,61 8 LĐ/ha Công 628,77 856,00 + 227,23 - Các loại hình sử dụng đất được bố trí trên quan điểm phát triển bền vững. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu sẽ giúp người dân có định hướng sử dụng phân bón cân đối và hợp lý, tránh ô nhiễm môi trường và thoái hóa đất. - Với việc định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp trên sẽ giải quyết việc làm mỗi năm tăng thêm 2030 lao động trực tiếp tham gia sản xuất. Khi sản xuất hàng hoá phát triển, ngành dịch vụ trong nông nghiệp được mở rộng và thu hút một lực lượng lao động lớn tham gia gián tiếp vào sản xuất nông nghiệp. Như vậy việc tạo ra nhiều việc làm cho người lao động góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao mức thu nhập và mức sống cho người dân. Nâng cao năng suất lao động xã hội, nâng cao hiệu quả kinh tế trên 1 ha đất, góp phần tăng tổng giá trị sản lượng nông nghiệp từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển. 4.3.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Từ thực trạng sản xuất trên địa bàn huyện cũng như các địa phương khác trong tỉnh Hà Nam và trên cả nước, sản xuất nông nghiệp vẫn mang tính tự phát ở quy mô nhỏ. Xu hướng phát triển nông nghiệp trong thời gian tới là phát triển nông nghiệp bền vững theo hướng sản xuất hàng hóa. Chính vì vậy, Nhà nước đề ra chương trình liên kết 4 nhà: nhà quản lý, nhà khoa học, nhà nông và nhà doanh nghiệp nhằm tạo ra mối liên kết mật thiết nhằm giúp nông dân tạo ra các sản phẩm nông nghiệp đảm bảo cả chất và lượng, để phục vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Hơn nữa, chương trình này còn thúc đẩy việc sản xuất và tiêu thụ nông sản thông qua các hợp đồng kinh tế, cam kết tiêu thụ hàng hóa nông sản giữa nông dân và doanh nghiệp. 4.3.3.1Giải pháp về thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Khó khăn lớn nhất đặt ra với người dân chính là nông sản hàng hóa sản xuất ra tiêu thụ ở đâu? Khi mà sản xuất nông nghiệp đang dần chuyển sang sản xuất hàng hóa. Xét trong điều kiện của Duy Tiên, là vùng có nhiều thuận lợi. Để xây dựng được hệ thống thị trường tiêu thụ ổn, theo chúng tôi cần: - Quy hoạch vùng sản xuất tập trung; - Hình thành các tổ chức tiêu thụ trong nông thôn theo nguyên tắc tự nguyện; - Phát triển các hộ nông dân làm dịch vụ tiêu thụ hàng hóa nông sản; - Hình thành các trung tâm thương mại ở khu trung tâm xã, thị trấn (đặc biệt, hoàn thành chợ đầu mối nông sản) tạo ra môi trường giao lưu hàng hóa thuận lợi tập trung. - Khuyến khích phát triển sản xuất theo diện ký kết hợp đồng qua hợp tác xã. Việc tổ chức sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng là giải pháp cơ bản để đưa sản xuất nông nghiệp hàng hóa của nước ta đi đúng theo quỹ đạo của nền kinh tế thị trường, vừa đảm bảo được lợi ích của nông dân, vừa hạn chế được rủi ro. 4.3.3.2 Giải pháp về nguồn lực và khoa học - công nghệ Sản xuất hàng hóa đòi hỏi không ngừng nâng cao trình độ ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất cũng như thông tin kinh tế - xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh thâm canh với việc đầu tư thêm các yếu tố đầu vào một cách hợp lý, đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng và kỹ thuật sử dụng đầu vào là vấn đề cần thiết. Để nâng cao trình độ sản xuất của người dân thì việc mở các lớp khuyến nông, buổi tập huấn khoa học kỹ thuật là rất quan trọng mà huyện Duy Tiên đang tiến hành ở hầu hết các xã. Xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa người dân với các nhà khoa học. Thông qua mối quan hệ này, người dân được tiếp cận nhanh nhất với các tiến bộ kỹ thuật mới như: giống mới, công thức canh tác,… để nâng cao hiệu quả sản xuất. Vấn đề hiện nay mà các nhà khoa học cần quan tâm là nghiên cứu ra các giống chống chụi sâu bệnh, thời tiết khí hậu để có cơ cấu thời vụ hợp lý nhằm năng cao hiệu quả của các cây trồng. Đưa những giống cây trồng mới có năng suất đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu. Đặc biệt đưa nhưng kỹ thuật mới vào sản xuất để nâng cao chất lượng nông sản, vì có nâng cao chất lượng nông sản mới nâng cao giá trị cây trồng mở rộng thị trường hướng ra xuất khẩu. 4.3.3.3 Hoàn thiện hệ thống chính sách tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Huyện cần có chính sách phát triển các hợp tác xã dịch vụ tự nguyên tại các điểm sản xuất; tạo cơ hội đưa sản xuất nông nghiệp theo các hợp đồng ký kết; nhằm tạo ra thị trường ổn định, tránh rủi ro. Để phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa, vấn đề quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa là nhu cầu bức xúc hiện nay mà huyện cần quan tâm. Vùng sản xuất hàng hóa tập trung có thể xây dưới dạng: vùng chuyên canh, vùng đa canh hoặc kết hợp chuyên canh một loại cây trồng chủ lực với đa canh nhiều loại cây trồng khác. Các địa phương trên cơ sở đặc điểm kinh tế, đất đai mà xây dựng vùng sản xuất hàng hóa cho phù hợp với tình hình thực tiễn, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Để thực hiện được và khắc phục hạn chế của quá trình chuyển đổi cần nhanh chóng thực hiện việc dồn điền đổi thửa. Để sản xuất hàng hoá phát triển bền vững cần có giải quyết đồng bộ các vấn đề: thị trường, cơ sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật. Từng bước xây dựng thương hiệu cho từng loại sản phẩm. Ngoài ra, cần hoàn thiện chính sách đất đai, tổ chức lại việc sử dụng đất của nhân dân. Xây dựng các chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp: hỗ trợ vốn, kỹ thuật cho nông dân… 4.3.3.4 Một số giải pháp khác - Phát triển hệ thống luân canh tiến bộ chính là việc xác định tốt các hệ thống phụ gồm hệ thống giống cây trồng, phân bón, hệ thống các biện pháp khác như thời vụ, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh… điều đó có quan hệ chặt chễ với đầu tư thâm canh và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Các nội dung cụ thể là: Tăng cường sử dụng giống cây mới, tăng cường bón phân hợp lý, cân đối và phòng trừ sâu bệnh đúng cách, đúng quy trình… - Xây dựng hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp như thủy lợi, giao thông… Thủy lợi là biện pháp hàng đầu ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất và nâng cao hiệu quả các loại hình sử dụng đất. Hướng chủ yếu của huyện Duy Tiên là cứng hóa hệ thống mương tưới tiêu đảm bảo việc cung cấp nhu cầu nước cho sản xuất. Bên cạnh đó, nhanh chóng mở rộng, tu bổ hệ thống giao thông (đặc biệt giao thông nội đồng) đáp ứng nhu cầu vận chuyển nông sản hàng hóa và vật tư nông nghiệp. - Tăng cường nguồn vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp hàng hoá với việc: đa dạng hoá các hình thức vay vốn, cải tiến thủ tục cho vay, có chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất. 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 5.1 Kết luận 1. Huyện Duy Tiên có vị trí địa lý thuận lợi, đất đai màu mỡ, cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, phân bố đều, chất lượng tốt tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nền kinh tế toàn diện công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 13765,80 ha trong đó phần lớn là đất nông nghiệp. Toàn huyện có 3 loại hình sử dụng đất chính là LUT chyên lúa; Lúa - màu và Chuyên rau màu với nhiều kiểu sử dụng đất phân bố trên 3 vùng. 2. Kết quả nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Duy Tiên cho thấy: + Về hiệu quả kinh tế: bình quân GTSX đất trồng trọt là 75,03 triệu đồng, GTGT/ha là 50,056 triệu đồng. + LUT cho hiệu quả kinh tế cao nhất là LUT lúa - màu, trong đó GTSX đạt 88,585 triệu đồng cao gấp 1,74 lần LUT chuyên lúa và 1,03 lần LUT lúa - màu. + Trên cùng đơn vị diện tích, vùng 2 cho hiệu quả kinh tế cao nhất. GTSX/ha đạt 79,704 triệu đồng gấp 1,15 lần vùng 3 và 1,04 lần vùng 1. + LUT điển hình cho hiệu quả kinh tế cao và thu hút nhiều lao động như LUT chuyên rau màu, LUT lúa - màu. + Việc sử dụng phân bón đối với các cây trồng của nông dân còn nhiều bất cập, mất cân đối so với tiêu chuẩn cho phép. 3. Định hướng phát triển nông nghiệp đến năm 2020 được xây dựng với cây trồng chủ lực là rau màu đồng thời xây dựng các vùng sản xuất tập trung và giữ ổn định diện tích trồng lúa đảm bảo an toàn lương thực. Kết quả góp phần nâng tổng GTSX ngành trồng trọt lên 1655,96 tỉ đồng, GTGT/công lao động tăng thêm 10,78 nghìn đồng. Đồng thời giải quyết việc làm mỗi năm tăng thêm 2030 lao động trực tiếp tham gia sản xuất và thu hút thêm một lực lượng lao động lớn phục vụ gián tiếp cho sản xuất nông nghiệp. 4. Để thực hiện tốt định hướng đã nêu trên cần phải thực hiện một số giải pháp chủ yếu về: thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; nguồn lực và khoa học công nghệ; hệ thống chính sách tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và các giải pháp khác. 5.2 Đề nghị - Nếu được nghiên cứu tiếp, có thể phân tích xử lý chi tiết, cụ thể hơn tác động của vấn đề sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích sinh trưởng đến môi trường đất nước, không khí và chất lượng nông sản. Từ đó sẽ có những kết luận chuẩn xác hơn về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. TÀI LIỆU THAM KHẢO A. Tiếng Việt 1. Lê Văn Bá (2001), “Tổ chức lại việc sử dụng ruộng đất nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hàng hoá”, Tạp chí Kinh tế dự báo, (6), tr. 8 - 10. 2. Hà Thị Thanh Bình (2000), Bài giảng hệ thống canh tác nhiệt đới, Trường ĐHNNI, Hà Nội. 3. Vũ Thị Bình (1993), "Hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên đất phù sa sông Hồng huyện Mỹ Văn - Hải Hưng", Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, (10), tr. 391 - 392. 4. Nguyễn Văn Bộ (2000), Bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. 5. Nguyễn Văn Bộ, Bùi Huy Hiền (2001), “Quy trình công nghệ và bảo vệ đất dốc nông - lâm nghiệp”, Hội nghị đào tạo nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ cho phát triển bền vững trên đất dốc Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. 6. Nguyễn Duy Bột (2001), Tiêu thụ nông sản - thực trạng và giải pháp, Tạp chí kinh tế và phát triển, số 1/2001. 7. Nguyễn Huy Cường (1997), Tổ chức sản xuất dưa chuột xuất khẩu vụ đông ở huyện Nam Thanh tỉnh Hải Hưng, Kết quả nghiên cứu khoa học, Kinh tế nông nghiệp (1995 - 1996), NXB Nông nghiệp, Hà Nội. 8. Đường Hồng Dật và các cộng sự (1994), Lịch sử nông nghiệp Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. 9. Nguyễn Điền (2001), “Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (275), tr. 50 - 54. 10. Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung và cộng sự (1998), Kinh tế nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. 11. Dự án quy hoạch tổng thể Đồng Bằng sông Hồng (1994), Báo cáo nền số 9, Hà Nội. 12. Vũ Năng Dũng (2001), “Quy hoạch nông nghiệp nông thôn Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21”, Nông dân nông thôn Việt Nam, trang 301 - 302. 13. Quyền Đình Hà (1993), Đánh giá kinh tế đất lúa vùng Đồng bằng sông Hồng, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội. 14. Lý Thị Thu Hà (2007), Giáo trình Ô nhiễm môi trường, Bộ môn Công nghệ môi trường, trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội. 15. Đỗ Nguyên Hải (1999), “Xác định các chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất đai bền vững cho sản xuất nông nghiệp”, Khoa học đất, số 11, tr. 120. 16. Đỗ Nguyên Hải (2001), Đánh giá đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội. 17. Vũ Khắc Hoà (1996), Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện Thuận Thành - tỉnh Hà Bắc, Luận văn thạc sĩ nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội. 18. Hội khoa học đất (2000), Đất Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. 19. Nguyễn Đình Hợi (1993), Kinh tế tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh nông nghiệp, NXB Thống kê, Hà Nội 21. Luật đất đai 2003, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 20. Cao Liêm, Đào Châu Thu, Trần Thị Tú Ngà (1990), Phân vùng sinh thái nông nghiệp Đồng bằng sông Hồng, Đề tài 52D.0202, Hà Nội. 22. Phan Sỹ Mẫn, Nguyễn Việt Anh (2001), "Định hướng và tổ chức phát triển nền nông nghiệp hàng hoá”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (273), tr. 21 - 29. 23. Hà Học Ngô và các cộng sự (1999), Đánh giá tiềm năng đất đai phục vụ định hướng quy hoạch sử dụng đất huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên, Đề tài 96-32-03-TĐ, Hà Nội. 24. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009), Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo công văn số: 3310/BNN-KH ngày 12/10/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hà Nội. 25. Thái Phiên (2000), Sử dụng, quản lý đất bền vững, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. 26. Trần An Phong và cộng sự (1996), "Các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam", Kết quả nghiên cứu thời kỳ 1986 - 1996, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. 27. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Duy Tiên, Số liệu thống kế đất đai năm 2008. 28. Phòng Thống kê huyện Duy Tiên (2008), Số liệu thống kê về tình hình kinh tế - xã hội các năm 1997 - 2008. 29. Phùng Văn Phúc (1996), "Quy hoạch sử dụng đất vùng ĐBSH", Kết quả nghiên cứu thời kỳ 1986 - 1996, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. 30. Đặng Kim Sơn, Trần Công Thắng (2001). “Chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở một số nước Đông Nam Á”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (274), tr. 60 - 69. 31. Đỗ Thị Tám (2001), Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá huyện Văn Giang - tỉnh Hưng Yên, Luận văn thạc sĩ nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội. 32. Vũ Thị Thanh Tâm (2007), Đánh giá hiệu quả sử dụng đất theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hoá của huyện Kiến Thuỵ - thành phố Hải Phòng, Luận văn thạc sĩ nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội. 33. Nguyễn Ích Tân (2000), Nghiên cứu tiềm năng đất đai, nguồn nước và xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác có hiệu quả kinh tế cao một số vùng úng trũng Đồng bằng sông Hồng, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, Đại học nông nghiệp I, Hà Nội. 34. Bùi Văn Ten (2000), “Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất, kinh doanh của các doanh nghệp nông nghiệp Nhà nước”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, (4), tr. 199 - 200. 35. Nguyễn Xuân Thành (2001), “ Một số kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến môi trường và sản xuất nông nghiệp”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, (4), tr. 199-200. 36. Vũ Thị Phương Thụy (2000), Thực trạng và giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác ở ngoại thành Hà Nội, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội. 37. Tô Dũng Tiến và cộng sự (1986), Một số nhận xét về tình hình phân bón và sử dụng lao động nông nghiệp thành phố Hà Nội, Tuyển tập công trình nghiên cứu KHKT Nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. 38. Nguyễn Duy Tính (1995), Nghiên cứu hệ thống cây trồng vùng ĐBSH và Bắc Trung Bộ, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. 39. Tổng cục Thống kê (2006), Xuất khẩu hàng hoá năm 2006, Hà Nội. 40. Tổng cục Thống kê (2009), Niên giám thống kê năm 2008, NXB Thống kê, Hà Nội. 41. Vũ Thị Ngọc Trân (1996), Phát triển kinh tế nông hộ sản xuất hàng hoá ở vùng ĐBSH, Kết quả nghiên cứu khoa học thời kỳ 1986 - 1996, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, trang 216 - 226. 42. Từ điển tiếng việt (1992), Trung tâm từ điển viện ngôn ngữ học, Hà Nội, tr 422. 43. Nguyễn Từ, Phí Văn Kỷ (2006), Thành tựu nông nghiệp Việt Nam sau 20 năm đổi mới, Tạp chí Nông nghiệp & PTNT, số 1/2006. 44. Đào Thế Tuấn và Pascal Bergeret (1998), Hệ thống nông nghiệp lưu vực sông Hồng, Hợp tác Pháp - Việt chương trình lưu vực sông Hồng, NXB Nông nghiệp Hà Nội. 45. Phạm Dương Ưng và Nguyễn Khang (1993), Kết quả bước đầu đánh giá tài nguyên đất đai Việt Nam, Hội thảo khoa học về quản lý và sử dụng đất bền vững, Hà Nội. 46. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 10 (2006), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 47. Hoàng Việt (2001), “Một số kiến nghị về định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn thập niên đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, (4), trang 12-13. 48. Nguyễn Thị Vòng và các cộng sự (2001), Nghiên cứu và xây dựng quy trình công nghệ đánh giá hiệu quả sử dụng đất thông qua chuyển đổi cơ cấu cây trồng, Đề tài nghiên cứu cấp Tổng cục, Hà Nội. B. Tiếng Anh 49. ESCAP/FAO/UNIDO (1993), Balanced Fertilizer Use It practical Importance and Guidelines for Agriculture in Asia Pacific Region, United Nation New York, page 11 - 13. 50. FAO, (1990), World Food Dry, Rome. 51. Khonkaen University (KKU) (1992), KKU - Food Copping Systems Project, An Agro-ecossystem Analysis of Northeast Thailand, Khonkaen 52. World Bank (1992), World Development Report, Washington D.C. C. Tài liệu trên INTERNET 53. Bách khoa toàn thư Việt Nam, vn/default.Aspx?param=15FeaWQ9MjENOTUmZ3JvdxBpZDOma2luZD1zdGFydCZrZxl3b3JkpXM=&page=2. 54. Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá, 55. Nông dân giúp nhau chuẩn bị gia nhập WTO, 56. Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLuận văn up.doc
Tài liệu liên quan