Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội theo triết học Mác - LêNin và thực tiễn xây dựng lối sống mới của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh An Giang từ năm 2002 đến nay

Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Cho đến nay, xây dựng lối sống mới trở thành một trong những mục tiêu của xây dựng xã hội mới ở nước ta. Trước bối cảnh hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập kinh tế thế giới, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá, những tác động tích cực rất nhiều, nhưng đã bộc lộ những mặt trái của nó, trong đó có ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng, đạ

pdf52 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 12/11/2013 | Lượt xem: 5228 | Lượt tải: 15download
Tóm tắt tài liệu Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội theo triết học Mác - LêNin và thực tiễn xây dựng lối sống mới của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh An Giang từ năm 2002 đến nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
o đức, lối sống của nhân dân ta, nhất là đối với lối sống của thanh niên. Bởi thanh niên là lớp người có phản ứng nhanh, nhạy bén với cái lạ, cái mới. Những năm gần đây, một bộ phận thanh niên có nhiều biểu hiện nghiêng về tự do cá nhân, bất chấp lợi ích công đồng. Xét về triết lý sống, bởi họ thiếu nhân sinh quan đúng đắn trong giải quyết quan hệ giữa cá nhân và xã hội. Thanh niên là lực lượng rường cột của nước nhà, góp phần tạo nên cục diện mới cho đất nước. Vấn đề thanh niên và lối sống thanh niên luôn có tầm quan trọng đặc biệt trong mỗi thời đại. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư, khoá VII của Đảng đã chỉ rõ: “Sự nghiệp đổi mới có thành hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước trên con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn phụ thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng” [5, tr. 82]. Để thanh niên xứng đáng và phát huy vị trí, vai trò của mình trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cần xây dựng lối sống mới cho đối tượng này. Hiện nay các lực lượng chống phá chủ nghĩa xã hội đang tiến hành chiến lược “Diễn biến hoà bình”, nhắm trọng tâm vào chuyển biến các thế hệ thanh niên, làm chuyển đổi hệ giá trị tư tưởng, nhân sinh quan của thanh niên. Đây là chiến lược được chủ nghĩa đế quốc xác định là lâu dài, có thể 20 năm, 30 năm hoặc lâu hơn nữa để chuyển hoá các nước xã hội chủ nghĩa theo hướng tự do tư bản chủ nghĩa. Do vậy, xây dựng lối sống mới cho thanh niên không những là yêu cầu khách quan của xã hội mà còn để chúng ta phòng chống chiến lược “Diễn biến hoà bình”. Thanh niên Việt Nam đang hướng tới những hệ giá trị mới mang tính toàn cầu, đồng thời mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Họ đang cần định hướng - 1 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy các giá trị để xây dựng nhân sinh quan mới, từ đó làm cơ sở xây dựng lối sống mới – đó là nhân sinh quan cách mạng của triết học Mácxít. Trong đó quan điểm rất quan trọng là “Mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và xã hội”. Hiểu đúng mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và xã hội cho chúng ta thế giới quan, nhân sinh quan cách mạng để xây dựng những nội dung mới làm chuẩn mực xây dựng lối sống mới. Trong quá trình xây dựng lối sống mới này, tổ chức Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức của thanh niên, có vai trò quan trọng đối với công tác này. Cho nên, việc xây dựng lối sống mới của Đoàn TNCS HCM là một vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn cấp bách. Bản thân tôi trưởng thành phần lớn nhờ sự giáo dục của Đoàn TNCS HCM ở tỉnh An Giang, với ước mong Đoàn TNCS HCM được phát triển là một niềm hạnh phúc to lớn của tôi. Hơn nữa, cuộc sống sau này của tôi gắn bó lâu dài với nghề dạy học Giáo dục công dân, đem lại những giá trị mới cho lối sống mới của lớp thanh niên học trò của mình. Từ những điều đó, tôi quyết định chọn đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình là “Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội theo triết học Mác – Lênin và thực tiễn xây dựng lối sống mới của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh An Giang từ năm 2002 đến nay”. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục đích nghiên cứu - Làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và xã hội theo quan điểm triết học Mác – Lênin với tư cách là thế giới quan, nhân sinh quan cách mạng, là cơ sở lý luận cho lối sống mới của người thanh niên hiện nay. - Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong thực tiễn xây dựng lối sống mới của tổ chức Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang. - Góp vào thực tiễn những giải pháp nhằm phát huy hơn nữa hiệu quả xây dựng lối sống mới của Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang trong những năm sắp tới. 2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu - Quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội. - Những chuẩn mực của lối sống mới được Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang hướng tới để xây dựng. - 2 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy - Những phong trào hành động thiết thực trong thực tiễn xây dựng lối sống mới của Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang từ năm 2002 đến nay. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội theo quan điểm triết học Mác – Lênin. 3.2 Khóa luận nghiên cứu những chuẩn mực thuộc nội dung xây dựng lối sống mới chủ yếu ở góc cạnh thể hiện quan hệ giữa cá nhân trong quan hệ với xã hội, tổng hợp các quan hệ ứng xử của cá nhân trong xã hội. 3.3 Chương trình hành động và hiệu quả xây dựng lối sống mới của Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang từ năm 2002 đến nay. 4. Phương pháp nghiên cứu Vận dụng các nguyên tắc của logíc biện chứng như: nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc lịch sử - cụ thể, nguyên tắc thực tiễn…để xem xét giải quyết vấn đề trên cơ sở các tài liệu khoa học và thông tin mới nhất. 5. Đóng góp của khóa luận Kết quả nghiên cứu của khóa luận sẽ góp phần: 5.1 Làm rõ vai trò thế giới quan, nhân sinh quan cách mạng đối với việc định hướng hệ giá trị mới nhằm xây dựng lối sống mới. 5.2 Nắm được thực trạng và nêu lên một số giải pháp đóng góp cho tổ chức Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang để công tác xây dựng lối sống mới cho thanh niên đạt hiệu quả hơn nữa. 6. Dàn ý của khóa luận Khóa luận bao gồm phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và phần nội dung khóa luận gồm hai chương: CHƯƠNG 1 QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ Xà HỘI – MỘT CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐÚNG ĐẮN CỦA LỐI SỐNG MỚI 1.1 Khái niệm lối sống 1.2 Những quan điểm khác nhau về quan hệ giữa cá nhân và xã hội 1.2.1 Những quan điểm triết học trước Mác 1.2.2 Những quan điểm của triết học phương Tây hiện đại - 3 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy 1.3 Quan điểm của triết học Mác – Lênin về quan hệ giữa cá nhân và xã hội 1.3.1 Khái niệm cá nhân 1.3.2 Quan hệ giữa cá nhân và xã hội 1.4 Nội dung xây dựng lối sống mới của Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang 1.4.1 Lối sống mới kết tinh từ lối sống truyền thống của người Việt Nam 1.4.2 Lối sống mới dưới ánh sáng của Nghị quyết Trung ương năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam 1.4.3 Lối sống mới phù hợp với mục tiêu, phương hướng của Nghị quyết Đoàn TNCS HCM từ năm 2002 đến nay CHƯƠNG 2 THỰC TIỂN XÂY DỰNG LỐI SỐNG MỚI CỦA ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH TỈNH AN GIANG TỪ NĂM 2002 ĐẾN NAY 2.1 Thực tiễn xây dựng lối sống mới của Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang từ năm 2002 đến 2007 2.1.1 Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn 2.1.2 Những chương trình hành động của Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang 2.1.3 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế 2.2 Thực tiễn xây dựng lối sống mới của Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang từ năm 2007 đến nay 2.2.1 Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn 2.2.2 Những chương trình hành động của Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang 2.2.3 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế 2.3 Giải pháp thực hiện việc xây dựng lối sống mới của Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang - 4 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ Xà HỘI – MỘT CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐÚNG ĐẮN CỦA LỐI SỐNG MỚI 1.1 KHÁI NIỆM LỐI SỐNG Khi giải thích phạm trù lối sống, các nhà xã hội học Mácxít thường nhắc đến luận điểm nổi tiếng trong “Hệ tư tưởng Đức” của C.Mác và Ph.Ăngghen nói về mối quan hệ giữa phương thức sản xuất và lối sống. Trong tác phẩm đó, C.Mác đã khẳng định, sản xuất là yếu tố quyết định sự tồn tại của cá nhân và phương thức sản xuất là hình thức hoạt động cơ bản của con người, là phương thức sinh sống cơ bản của con người, là mặt cơ bản của lối sống. Theo quan điểm của triết học Mácxit, lối sống là tổng hợp các hoạt động sống của con người chịu sự quyết định của phương thức sản xuất. Tuy nhiên, lối sống không phải là sản phẩm thụ động của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và những điều kiện sống khác. Ngoài những hoạt động vật chất, con người còn có các hoạt động chính trị, xã hội, nghệ thuật… Lối sống phản ánh các hoạt động sống của chủ thể bao gồm: nhận thức, tình cảm, động cơ, hành vi, ứng xử…và cả những mối liên hệ giữa chúng. C.Mác cho rằng, ở những hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, sẽ có lối sống khác nhau. Đặc biệt, trong những hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp, lối sống mang tính giai cấp. Ở Việt Nam, “lối sống” là một danh từ ghép. Lối là lề lối, thể thức, kiểu cách, phương thức. Sống là sinh hoạt, là quá trình hoạt động sinh vật của con người và xã hội. Hiện nay, khái niệm lối sống được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau: triết học, xã hội học, tâm lý học… - 5 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy Có thể nói, chưa bao giờ vấn đề lối sống được Đảng Cộng sản Việt Nam quan tâm sâu sắc như hiện nay. Tháng 7 năm 2004, Hội nghị lần thứ mười, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX họp để tổng kết, đánh giá tình hình 5 năm thực hiện Nghị quyết năm, khóa VIII, Đảng ta đã 17 lần đề cập khái niệm lối sống. Trong các Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, khái niệm “lối sống” được đề cập lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ IV, các Đại hội sau đó, Đảng ta đều đề cập vấn đề lối sống, quan tâm sâu sắc đến vấn đề lối sống. Hiện nay, vấn đề lối sống được nhiều nhà nghiên cứu ở nước ta quan tâm nhiều hơn và nghiên cứu sâu hơn. Trên cơ sở tiếp cận quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về lối sống, GS. Vũ Khiêu trong tác phẩm “Văn hóa Việt Nam, xã hội và con người” đã quan niệm lối sống theo nghĩa rất rộng: Lối sống là phạm trù khái quát toàn bộ hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa [25, tr. 514]. Xét lối sống gắn liền với hoạt động của con người trong một hình thái kinh tế - xã hội, GS. Thanh Lê quan niệm: “Lối sống là một hệ thống những nét căn bản nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các tập đoàn xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định” [27, tr. 24]. Ở góc độ xem xét tổng hòa các mặt cơ bản, khắc họa những đặc điểm cá nhân, tập thể, giai cấp và cộng đồng, GS.TS.Nguyễn Văn Huyên cho rằng: Lối sống là tổ hợp toàn bộ các mô hình, cách thức và phong thái sống của con người thể hiện trong mọi phương thức cũng như lĩnh vực hoạt động, từ sản xuất, tiêu dùng, sinh hoạt đến thái độ hành vi, cách tư duy, lối ứng xử giữa con người với con người, giữa chủ thể với đối tượng, giữa điều kiện với phương tiện và mục đích sống [ 24, tr. 29]. GS.TS. Đỗ Huy khẳng định: “Lối sống là tổng hòa những dạng hoạt động sống điển hình của con người trong điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định” [23, tr. 353]. Như vậy, điểm giống nhau cơ bản của các tác giả khi định nghĩa về lối sống là ở chỗ cho rằng, lối sống bao gồm tất cả các lĩnh vực hoạt động sống cơ - 6 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy bản của con người như: lao động, sinh hoạt, hoạt động xã hội – chính trị, giải trí… Có thể nêu khái quát một số đặc điểm cơ bản của lối sống sau đây: Thứ nhất, nói đến lối sống là nói đến tổng hòa các hoạt động sống ổn định của con người gắn liền với dân tộc, giai cấp, nhóm xã hội và các cá nhân trong cộng đồng. Vì vậy, có thể phân loại lối sống theo ba cấp độ: lối sống của dân tộc (hay quốc gia), lối sống của giai cấp (hay nhóm xã hội), lối sống của cá nhân. Thứ hai, lối sống chịu sự quy định của phương thức sản xuất và các điều kiện sống của con người. Thứ ba, đặc trưng bản chất của lối sống trong toàn bộ hoạt động sống là hoạt động lao động sản xuất, bởi nó là hoạt động có tính chất nền tảng, có tính người trong việc sáng tạo các giá trị vật chất cũng như các giá trị tinh thần. Thứ tư, lối sống cá nhân và lối sống cộng đồng được thể hiện là sự tổng hợp các khuôn mẫu ứng xử được vận hành theo một hệ giá trị xã hội, với những thể chế nhất định. Thứ năm, theo khuynh hướng phát triển của thế giới, lối sống có tính văn hóa, bởi vì trong các hoạt động xã hội, các quan hệ xã hội, thể chế xã hội, các khuôn mẫu ứng xử…lối sống có ý nghĩa văn hóa, nó hướng đến cái chân - thiện - mỹ. Lối sống được xây dựng trên cơ sở một hệ giá trị xã hội, hướng tới chân - thiện - mỹ. Hệ giá trị xã hội được hình thành và phát triển có nguồn gốc từ đời sống vật chất của xã hội, nhưng đồng thời hệ giá trị xã hội cũng được định hướng bởi các quan điểm triết học, vì triết học có vai trò thế giới quan và phương pháp luận cho con người trong nhận thức và hành động. Do vậy, quan điểm triết học về “Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội” trở thành thế giới quan và nhân sinh quan cho con người xác định lối sống của mình trong quan hệ với người khác và xã hội. Thực tiễn cho thấy, con người bị chi phối một cách tự phát hoặc tự giác bởi nhiều quan điểm triết học khác nhau trong quá trình hình thành lối sống. Quan điểm duy vật biện chứng về thế giới và về xã hội đem lại cho con người thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn trong quá trình nhận thức và giải quyết các mối quan hệ, giúp con người đạt được những thành quả tích cực trong thực tiễn, giúp họ tránh được những sai lầm của chủ nghĩa duy tâm, siêu hình, của chủ quan duy ý chí…Từ thế giới quan và nhân sinh quan đó định hướng đúng đắn việc lựa chọn các hệ chuẩn mực giá trị phù hợp đưa vào nhân sinh quan - 7 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy và lý tưởng của cuộc đời. Hệ chuẩn mực xã hội được cá nhân thừa nhận và trở thành tư tưởng đúng đắn chỉ đạo mọi hoạt động của lối sống. Có thể nói, quan hệ giữa cá nhân và xã hội là một loại quan hệ xã hội một khi được con người nhận thức đúng đắn sẽ trở thành nhân sinh quan đúng đắn trong quá trình xây dựng lối sống. Với thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn, các tổ chức xã hội lấy đó làm một cơ sở lý luận cho tư tưởng xã hội và xây dựng những thể chế xã hội, ở đó lối sống con người được hình thành. 1.2 NHỮNG QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU VỀ QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ Xà HỘI 1.2.1 Những quan điểm triết học trước Mác Vấn đề quan hệ giữa cá nhân và xã hội từ lâu vẫn tồn tại như một câu đố lịch sử. Trước C.Mác, có rất nhiều câu trả lời nhưng nhìn chung các đáp án đều có xu hướng tuyệt đối hóa một mặt nào đó: hoặc thủ tiêu cá nhân hoặc quá đề cao cá nhân. Khi bàn về tự do cá nhân, tựu trung có hai khuynh hướng chính: chủ nghĩa duy tâm thần bí dưới mọi hình thức quan niệm rằng tự do cac nhân là tự do tuân thủ mệnh lệnh siêu nhiên, tự do là tự do tinh thần, tự do duy ý chí, tự do là trạng thái nội tâm của cá thể tách biệt mọi quan hệ hiện thực… Đối lập với chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật thừa nhận tự do cá nhân có thực ở trần gian. Con người có được tự do khi thoát khỏi niềm tin thần thánh. Tự do gắn liền với dân chủ và bình đẳng xã hội. Đây là những quan điểm tiến bộ. Tuy nhiên, chưa ai xác định đúng đắn con đường khắc phục tôn giáo và xây dựng xã hội bình đẳng. Nhìn chung do những hạn chế về lịch sử, văn hóa, khoa học và hạn chế về lập trường, giai cấp của triết gia nên vấn đề tự do cá nhân chưa được phản ánh đúng đắn. Nguyên nhân của những sai lầm đó được C.Mác chỉ ra như sau: Một là, chưa giải quyết đúng đắn vấn đề bản chất con người, mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội. Chủ nghĩa duy tâm cho rằng, con người là sản phẩm của thượng đế với một số phận nhất định. Con người là con người tôn giáo và thế giới được thần thánh hóa. C.Mác viết: “…Con người chính trị, con người pháp luật và con người đạo đức, xét cho cùng là “con người” thì được coi là con người tôn giáo” [34, tr. 265]. Ngay cả đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật thời kỳ ấy cũng chỉ nhìn thấy con người như một thực thể tự nhiên, là “loài”, sự gắn bó cá nhân với nhau chỉ là sự gắn bó tự nhiên mang tính “chủng loại”. Cả với Lútvích Phoiơbắc, con người được hiểu một cách chung chung trừu tượng với bản chất - 8 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy tôn giáo mà tôn giáo ấy là tình yêu giữa người với người. Lútvích Phoiơbắc không thấy quá trình lịch sử chi phối con người và Ông đã ấn cho con người cái bản chất tôn giáo như cái gì tự thân, đồng thời coi con người như là một cá nhân trừu tượng, cô lập. Lútvích Phoiơbắc không thấy rằng bản thân “tình cảm tôn giáo” cũng là một sản phẩm xã hội và trên thực tế cá nhân trừu tượng mà Lútvích Phoiơbắc phân tích cũng là một hình thức xã hội nhất định. Hai là, không đánh giá đúng mức vai trò của hoạt động thực tiễn của con người trong cải tạo xã hội. Chủ nghĩa duy tâm xem sự phát triển của xã hội là sự phát triển của tự ý thức và con người tự do là con người hoàn thiện và phát triển tự ý thức. Vì vậy mà họ tin tuởng vào sự phê phán xã hội cũ sẽ mang lại nền dân chủ và tự do cho cá nhân. Cho nên, C.Mác chỉ ra: “Cần phải hiểu rằng đời sống xã hội, về thực chất có tính thực tiễn. Tất cả những sự thần bí đều được giải đáp một cách hợp lý trong thực tiễn của con người và trong sự hiểu biết thực tiễn ấy” [34, tr. 258]. Ba là, trong mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội quá đề cao vai trò lý trí trong quá trình phát triển của tự do cá nhân. Vì vậy, ngay cả các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng cũng phải nhờ đến lý trí để đặt nền móng cho xã hội tương lai. Trong khi vạch ra những hạn chế khách quan của chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII, XVIII và của chủ nghĩa xã hội không tưởng, Mác – Ăngghen đã kế thừa, chọn lọc chúng và luận giải mối quan hệ cá nhân và xã hội trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng về lịch sử. 1.2.2 Những quan điểm của triết học phương Tây hiện đại Trong xã hội tư bản, giai cấp tư sản nói nhiều đến cá nhân, cá tính, tự do cá nhân…thực chất là nói đến cá nhân của giai cấp tư sản. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ, trong lao động làm thuê người vô sản mất hết cá tính. Lợi ích của giai cấp công nhân và lợi ích cá nhân người công nhân. Các thành viên của giai cấp tư sản thống trị, là những con người có đặc quyền, đặc lợi được khẳng định với tư cách cá nhân và trở thành kiểu cá nhân đặc trưng của thời đại. Triết học tư sản hiện đại có rất nhiều quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội. Họ đề cập rất nhiều về tự do cá nhân trong quan hệ với xã hội. Nổi lên có những quan điểm của chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa thực dụng. Chủ nghĩa hiện sinh nêu nhiều luận giải về tự do cá nhân và chỉ ra những con đường để thực hiện tự do cá nhân đó. Có thể thấy có hai khuynh hướng hiện sinh chủ đạo: Theo chủ nghĩa hiện sinh, tôn giáo trong quan hệ với xã hội, con người đánh mất cái tôi “tha nhân chính là sự tranh chấp, người “giẫm chân” lên cái tôi - 9 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy chủ thể. Cho nên, chính “tha nhân là địa ngục”. Chủ nghĩa hiện sinh coi tha hóa là một hiện tượng vĩnh cửu, nó thuộc bản chất của con người. Bởi vì, tha hóa bắt nguồn từ cuộc sống có những tương quan hiện sinh giữa tôi và tha nhân. Tất cả mọi cái mà con người tiếp xúc trong cái “hiện thực phi lý” của cuộc đời, tức tha nhân đều đã làm cho con người tha hóa bằng cách chiếm đoạt tự do đích thực của nó. Mất tự do, con người không phải là mình nữa. Chủ nghĩa hiện sinh giải thích nguyên nhân làm con người mất tự do và con người đã xa lìa chúa con người trở thành tội lỗi. Do vậy, họ chủ trương để chấm dứt tội lỗi (tức sự tha hóa) tín hữu phải quay về chúa”. Một trường phái khác chủ nghĩa hiện sinh gọi là chủ nghĩa hiện sinh vô thần phản đối và phủ nhận sự tồn tại phổ biến của những nguyên tắc đạo đức. Họ cho rằng, tự do là bản chất của sự hiện sinh của cá nhân con người, nó không phục tùng thượng đế hoặc bất cứ quyền uy nào, cũng không chịu sự ràng buộc của bất cứ tính tất yếu khách quan nào, nó là tuyệt đối. Giá trị hiện sinh của cá nhân được thể hiện trong sự lựa chọn tự do của cá nhân. Chủ nghĩa hiện sinh còn đặt tự do của cá nhân không bị gò bó bởi người khác và bởi bất kỳ lực lượng xã hội nào. Chủ nghĩa hiện sinh xuất phát từ tự do cá nhân tuyệt đối, cho rằng chỉ có cá nhân mới là hiện sinh chân thực, xã hội chỉ là một phương thức hiện sinh của cá nhân, hơn nữa là phương thức hiện sinh không chân thực. Bởi vì cá nhân bị mất cá tính do bị ràng buộc với người khác và với xã hội, cá nhân bị tập thể, xã hội và người khác lấn át. Xã hội đã bóp chết hiện sinh chân chính của con người. Để khôi phục sự hiện sinh chân chính của mình, con người cần thoát khỏi sự ràng buộc của những người khác và của xã hội. Động lực phát triển của lịch sử tất nhiên cũng không nằm trong bản thân xã hội mà là do sự hiện sinh của cá nhân quyết định. Do đó cần tìm tiến trình và đặc điểm của lịch sử ở thế giới bên trong cá nhân con người: “Lịch sử chẳng qua chỉ là sự biểu hiện ra ngoài của tồn tại của con người, mà sự tồn tại của con người là không thể biết được. Cho nên, đối với con người thì lịch sử xã hội mãi mãi chỉ là một vùng đen tối. Lịch sử xã hội đã không thể biết thì đứng trước xã hội con người tất nhiên cảm thấy yếu đuối, bất lực” [22, tr. 645]. Lịch sử loài người chỉ là một bi kịch không có kết thúc. Vậy con người làm thế nào để thoát khỏi sức mạnh tha hóa và bi kịch của họ? Chủ nghĩa hiện sinh nhận định rằng “Không thể dựa vào khoa học và lý tính hay bất cứ cái gì khác mà chỉ có thể tự cứu mình bằng những hành động tự phát, mạo hiểm hoặc - 10 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy chờ mong sự giải thoát ở các lực lượng tôn giáo thần bí. Đó là con đường bế tắc mà chủ nghĩa hiện sinh chỉ ra cho con người” [22, tr. 645]. Chủ nghĩa hiện sinh là sự phản ánh của con người trước tình trạng bất ổn về xã hội trong thời kỳ khủng hoảng toàn diện của chủ nghĩa tư bản như lo sợ chiến tranh, không tin vào khoa học, đau khổ, phiền não, tuyệt vọng…Vì thế nó có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành lối sống của xã hội phương Tây, nhất là ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển. Quan điểm về tự do của chủ nghĩa hiện sinh là quan điểm của chủ nghĩa cá nhân cực đoan. Một thời kỳ chủ nghĩa hiện sinh đã ảnh hưởng xấu đến một bộ phận thanh niên miền Nam sống trong chế độ cũ. Nhưng nay trong quá trình giao lưu với thế giới, tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh càng ảnh hưởng đến một bộ phận thanh niên muốn được tự do tuyệt đối, phản kháng lại những yêu cầu và trật tự xã hội. Cùng với chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa thực chứng đề cao hiệu quả thực tế, hiệu quả cảm tính của con người. Các nhà thực dụng cho rằng, trong mối quan hệ với hoàn cảnh xã hội, con người lấy lợi ích thực tế làm tiêu chuẩn của chân lý. Không có chân lý khách quan, chân lý phụ thuộc vào lợi ích thực tế của đời sống dựa trên cảm nhận của cá nhân. Một số cá nhân đã lợi dụng lý luận về chân lý của chủ nghĩa thực dụng để biện hộ cho mục đích vụ lợi tầm thường, nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân của mình. Do vậy, khi lợi ích cá nhân phù hợp với lơi ích xã hội thì hành động của con người đem lại giá trị chân thực. Ngược lại, khi lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích xã hội thì hành động của cá nhân trở thành điều ác. Từ đó lối sống thực dụng có đặc trưng là chạy theo lợi ích cụ thể của đời thường trên các lĩnh vực. Những lợi ích, giá trị thuộc về lý tưởng, niềm tin, hoài bão ít được chú ý. Một bộ phận của chủ nghĩa thực dụng cho rằng tôn giáo là lợi ích thiêng liêng. Qua đó có thể khẳng định rằng, chủ nghĩa thực dụng lấy hiệu quả thực tế của đời sống làm nguyên tắc bền vững để thỏa mãn nhu cầu của con người dựa trên phương châm sống của con người. 1.3 QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ Xà HỘI Quan hệ giữa cá nhân và xã hội là vấn đề có vị trí quan trọng đặc biệt trong các học thuyết về xã hội. Các tác phẩm của các nhà kinh điển Mác – Lênin đã đề cập đến vấn đề này một cách toàn diện, sâu sắc có hệ thống trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật lịch sử. C.Mác đã đúc kết lịch sử và tìm ra lời giải đáp đúng đắn cho mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội. 1.3.1 Khái niệm cá nhân - 11 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy Triết học Mác – Lênin đã chỉ ra rằng: con người là sự thống nhất biện chứng giữa mặt sinh học với mặt xã hội. C.Mác viết: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” [31, tr. 11]. Bản chất xã hội của con người đó không thể hiện một cách chung chung mà biểu hiện cụ thể trong từng cá nhân. Nói một cách khác con người tồn tại thông qua mỗi cá nhân. Với tư cách là một thực thể sinh học, mỗi cá nhân là cá thể người mang đặc điểm chung của giống loài “người”, nhưng lại khác nhau về cấu tạo cơ thể riêng của mỗi người. Sự khác nhau về phương diện sinh học ấy chủ yếu bị chi phối bởi “bộ gen” riêng ở mỗi người. Mỗi cá nhân có một thể chất riêng, hình dáng riêng, đặc điểm riêng về kiểu thần kinh, có sự nhạy cảm riêng đối với những yếu tố tác động của môi trường sống… Xét về mặt xã hội, cá nhân là một thực thể xã hội, cá nhân là cá thể người được hình thành và phát triển trong lịch sử, là chủ thể của lao động của mọi quan hệ xã hội và là chủ thể của nhận thức. Cá nhân là một con người hoàn chỉnh trong sự thống nhất của những khả năng riêng có của người đó với chức năng xã hội mà người đó thực hiện. Trong mối quan hệ với xã hội, cá nhân thể hiện là một chỉnh thể đơn nhất, độc đáo có vai trò chủ thể trong lịch sử. Với tư cách là một thực thể có tâm lý, ý thức, mỗi cá nhân có một bản sắc độc đáo riêng. Bản sắc độc đáo ấy thể hiện qua “nhân cách” của cá nhân. Nhân cách là toàn bộ những năng lực và phẩm chất của cá nhân tạo thành một chỉnh thể đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự đánh giá, tự khẳng định, tự điều chỉnh mọi hoạt động của mình. Nhân cách không phải là cái trời phú cho, cũng không phải là cái bẩm sinh của cơ thể sinh học. Nhân cách được hình thành và phát triển phụ thuộc vào các yếu tố như: Một là, yếu tố sinh học, ở đây tư chất di truyền có ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách. Hai là, yếu tố môi trường: đây là yếu tố bên ngoài có vai trò rất quan trọng tác động vào cá nhân như: yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, gia đình… C.Mác viết: “Những cá nhân nhất định, hoạt động sản xuất theo một phương thức nhất định, đều nằm trong những quan hệ xã hội và chính trị nhất định” [34, tr. 275]. Ba là, hoạt động của cá nhân: đây là yếu tố quyết định sự hình thành nhân cách vì cá nhân quan hệ với môi trường, với hoàn cảnh không phải chỉ chịu tác động thụ động của hoàn cảnh mà thông qua họat động tác động trở lại đối với hoàn cảnh. Thông qua hoạt động của mình ở nhiều lĩnh vực như: kinh tế, chính - 12 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy trị, văn hóa, xã hội, khoa học, mọi hoạt động ứng xử đạo đức…mỗi người hình thành cho mình một nhân cách riêng. Mỗi cá nhân có một thế giới quan riêng bao gồm những quan điểm, lý tưởng, niềm tin, định hướng giá trị chung của cá nhân. Thế giới quan riêng của cá nhân khi được hình thành nó trở lại chi phối hoạt động của cá nhân. Nói tóm lại, sự hình thành và phát triển nhân cách là sự thống nhất của ba chiều sinh học, tâm lý và xã hội trong quá trình xác lập “cái tôi”. Như vậy, ngoài những đặc điểm chung của “con người”, cá nhân rất khác nhau. Xét cho cùng, sự khác nhau đó từ đâu? C.Mác chỉ ra rằng sự khác nhau ấy là do phương thức sinh sống của họ quy định: “…Những cá nhân đúng y như trong hiện thực, nghĩa là đúng y như họ đang hành động, sản xuất một cách vật chất, tức là đúng y như họ đang hành động trong những giới hạn, tiền đề và điều kiện vật chất nhất định, không phụ thuộc vào ý chí của họ”. Đồng thời C.Mác chỉ rõ: “Những cá nhân biểu hiện đời sống của họ là như thế nào, điều đó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái mà họ sản xuất ra cũng như với cách mà họ sản xuất. Do đó, những cá nhân là thế nào, điều đó phụ thuộc vào những điều kiện vật chất của sự sản xuất của họ” [34, tr. 269]. 1.3.2 Quan hệ giữa cá nhân và xã hội Quan hệ giữa cá nhân và xã hội là vấn đề có ý nghĩa như một luận điểm xuất phát để luận giải những vấn đề khác của lịch sử ngay từ khi triết học Mác ra đời. Khái niệm xã hội được biểu hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, cao nhất là xã hội loài người (toàn thể nhân loại), thấp hơn là những hệ thống xã hội như quốc gia, dân tộc, giai cấp. Vậy, xã hội là gì? Xã hội là hình thái vận động cao nhất của vật chất. Hình thái vận động này lấy mối quan hệ của con người và sự tác động lẫn nhau giữa người với người làm nền tảng. “Xã hội không phải gồm các cá nhân, mà xã hội biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân đối với nhau” [33, tr. 355]. Theo C.Mác, “Xã hội – cho dù nó có hình thức gì đi nữa – là cái gì? Là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người” [32, tr. 657]. Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, trong bất cứ giai đoạn nào, cá nhân cũng không thể tách rời khỏi xã hội. Quan hệ cá nhân – xã hội luôn vận động, biến đổi và phát triển, trong đó sự thay đổi càng rõ khi có sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác. - 13 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy C.Mác viết: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” [31, tr. 11]. Điều đó cũng có nghĩa, trong sự tác qua lại giữa người với người sẽ tạo ra một hệ thống các mối giao lưu và quan hệ xã hội. Hệ thống quan hệ xã hội đó quy định cuộc sống đối với từng cá nhân. Trong toàn bộ quan hệ xã hội, quan hệ giữa người với người trong sản xuất là quan hệ quyết định xét đến cùng. Do đó, phương thức sinh sống và hoạt động của cá nhân sẽ hình thành lối sống của họ, mà lối sống đó phụ thuộc vào phương thức sản xuất của xã hội. Trong “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác vạch ra rằng phân công lao động xã hội chi phối các hình thức giao tiếp của con người, vì vậy mỗi._. thời kỳ lịch sử có một kiểu cá nhân với tính đặc thù của nó. Những cá nhân biểu hiện đời sống của họ như thế nào thì họ là như thế ấy; do đó họ là như thế nào, điều đó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái mà họ sản xuất ra cũng như với cách họ sản xuất. Do đó, những cá nhân là như thế nào, điều đó phụ thuộc vào những điều kiện vật chất của sự sản xuất của họ. Quan hệ giữa cá nhân và xã hội biến đổi trong sự phát triển của lịch sử. Điều đó không chỉ liên quan đến trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ văn hóa, văn minh mà liên quan tới sự thay đổi của phương thức sản xuất, của hình thái kinh tế - xã hội. Chỉ khi cách mạng làm thay đổi hình thái kinh tế - xã hội thì quan hệ cá nhân và xã hội mới có sự thay đổi căn bản. Trong chủ nghĩa tư bản, người công nhân gánh chịu mọi hậu quả nặng nề của sự tha hóa. Kết quả hoạt động của con người, của công nhân ngày càng biến thành một lực lượng thoát ra khỏi con người, xa lạ với con người, thống trị lại con người, thù địch với con người, lực lượng đó là tư bản. Các điều kiện lao động của người công nhân đối lập lại người công nhân. Trong những điều kiện đó, tự do của người lao động chỉ mang tính hình thức, cá nhân con người không thể có sự phát triển hài hòa và toàn diện. Điều kiện sống và làm việc của công nhân tồi tệ hơn khi họ mất việc làm; khi đó người lao động càng không thể khẳng định mình với tư cách cá nhân. Chỉ khi nào các đối kháng giai cấp trước toàn xã hội đã bị loại bỏ, khi người lao động thực sự làm chủ các điều kiện vật chất của người lao động, họ mới thực sự trở thành người lao động tự do. Và cá nhân người lao động, với tư cách con người mới được khẳng định. Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội có những nội dung thống nhất với quan hệ giữa cá nhân và tập thể, chúng đều dựa trên cơ sở lợi ích, biểu hiện mối quan hệ giữa cái bộ phận với cái toàn thể, giữa khách quan và chủ quan. Mặt khách quan biểu hiện ở trình độ phát triển của xã hội về nhiều mặt. Mặt chủ quan biểu hiện ở năng lực nhận thức và vận dụng quy luật xã hội phù - 14 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy hợp với mục đích của con người. Do vậy, việc tổ chức các hoạt động xã hội có vai trò to lớn trong việc kết hợp giữa mặt khách quan và mặt chủ quan sao cho xã hội được tiến bộ và mỗi cá nhân được tồn tại và phát triển nhân cách một cách hài hòa. Trong “Bút kí triết học”, Lênin đã chỉ rõ: “Thật ra mục đích của con người là do thế giới khách quan sản sinh ra và lấy thế giới khách quan làm tiền đề” [28, tr. 201]. Thật vậy, toàn bộ quan hệ xã hội hàng ngày kết hợp với những đặc điểm cá nhân tạo thành nhu cầu cá nhân (nhu cầu về vật chất và tinh thần). Những nhu cầu đó được cá nhân ý thức trở thành lợi ích và mục đích của họ. Một trong những lợi ích đó là được phát triển tự do và toàn diện, vì vậy nó trở thành yếu tố quan trọng của sự lựa chọn tự do. Mặt khác những điều kiện khách quan, những quan hệ xã hội của cá nhân cũng tạo khả năng thỏa mãn những nhu cầu đó. Khả năng ấy được cá nhân tiếp thu chuyển hóa thành cái chủ thể và sử dụng nó như một lực lượng riêng để đạt được mục đích riêng của họ. Trong những điều kiện nhất định thì nhu cầu, lợi ích, mục đích riêng của cá nhân phù hợp với nhu cầu, lợi ích và mục đích chung của xã hội. Trong quá trình thống nhất biện chứng giữa cá nhân và xã hội, vai trò quyết định thuộc về tính chất của các quan hệ xã hội. Tính chất của các quan hệ xã hội tạo điểu kiện cho cá nhân tiếp thu khả năng khách quan và chuyển hóa thành khả năng chủ quan trong việc thực hiện mục đích của mình, tạo điều kiện cho sự kết hợp giữa nhu cầu, lợi ích, mục đích của xã hội và cá nhân hài hòa hay ngăn trở nó. Bởi vậy, thực chất của việc tổ chức xã hội là giải quyết quan hệ lợi ích nhằm tạo khả năng cao nhất cho mỗi cá nhân tác động vào mọi quá trình kinh tế, xã hội cho sự phát triển được thực hiện. Xã hội ngày càng phát triển thì cá nhân ngày càng có điều kiện để tiếp nhận ngày càng nhiều những giá trị vật chất và tinh thần. Vì vậy, thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu và lợi ích chính đáng của cá nhân là một trong những mục tiêu và động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội. Dù ở phạm vi nhân loại hay cá nhân, dù trực tiếp hay gián tiếp, khi lợi ích cá nhân hài hòa với lợi ích xã hội thì ở đó bắt gặp mục đích và động lực của sự nỗ lực chung vì một tương lai tốt đẹp. Vấn đề chăm sóc và phát triển những nhu cầu và năng lực phong phú, đa dạng của mỗi cá nhân hoàn toàn không mâu thuẫn với sự phát triển của xã hội. Đồng thời, nhân cách mỗi cá nhân trong xã hội càng phát triển thì càng có điều kiện để thúc đẩy xã hội tiến lên. Do đó, cá nhân tác động đến xã hội tùy thuộc ở trình độ phát triển của nhân cách. Những cá nhân có đạo đức và tài năng thường - 15 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy đóng góp tích cực và xứng đáng vào sự nghiệp của xã hội. Những cá nhân kém cõi về nhân cách thì tác động xấu đến xã hội, kìm hãm sự phát triển. Một xã hội tiến bộ là một xã hội mà mỗi cá nhân phát triển nhân cách của mình theo hướng tích cực, phát huy vai trò động lực, chủ thể sáng tạo của mỗi cá nhân. Chủ nghĩa xã hội, vừa khắc phục chủ nghĩa cá nhân cực đoan, vừa tạo ra những điều kiện mới cho cá nhân phát triển và sáng tạo. Tinh thần đó được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: “Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân” [4, tr. 8-9]. Cùng với quá trình phát triển của thực tiễn, con người từng bước tạo ra thiên nhiên tươi đẹp hơn và hoàn cảnh xã hội có tính người hơn. Trong hoàn cảnh có tính người, cá nhân từng bước bộc lộ năng lực, bản chất của mình. Vì vậy, từng bước cá nhân được tự do. Xã hội càng tiến bộ, càng tạo điều kiện cho sự giải phóng cá nhân với nội dung thực tế và càng thúc đẩy tự do sáng tạo của cá nhân. Ph.Ăngghen viết: “Mỗi bước tiến của văn minh nhân loại là một bước tiến tới tự do” [30, tr. 192]. Mức độ giải phóng của xã hội biểu hiện ở sự tự do của từng cá nhân và sự tự do của mỗi cá nhân là điều kiện cho sự tự do của xã hội. Giải phóng cá nhân tạo nên động lực khơi nguồn cho công cuộc giải phóng xã hội, còn giải phóng xã hội là tạo lập môi trường cho sự giải phóng cá nhân. Giải phóng cá nhân và sự giải phóng xã hội trong điều kiện hiện nay của nước ta đồng nghĩa với việc thường xuyên chăm lo, nâng cao mức sống và cải thiện môi trường xã hội, từng bước nhân đạo hóa các điều kiện lao động, ăn, ở, sinh hoạt…khắc phục sự tha hóa và tăng cường các khả năng hướng thiện; dân chủ hóa các lĩnh vực hoạt động, văn hóa và thẫm mỹ hóa đời sống tinh thần của con người. Những hoàn cảnh hợp với tính người sẽ có được trong xã hội bình đẳng, không có áp bức giai cấp. Đó là xã hội theo dự báo của chủ nghĩa duy vật lịch sử, là xã hội Cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Dựa trên cơ sở triết lý này, chúng ta xây dựng lối sống mới. 1.4 NỘI DUNG XÂY DỰNG LỐI SỐNG MỚI CỦA ĐOÀN TNCS HCM TỈNH AN GIANG Một trong những yêu cầu xây dựng lối sống mới là xác định nội dung lối sống mới cho xã hội và thanh niên. Trong những năm gần đây, những vấn đề tư tưởng và lối sống của thanh niên được Đảng Cộng sản Việt Nam hết sức quan tâm. Đảng ta luôn xác định thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; - 16 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy vấn đề thanh niên luôn ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát huy nhân tố và nguồn lực con người của Đảng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thức IX tiếp tục khẳng định: “Đối với thế hệ trẻ, chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hóa, sức khỏe, nghề nghiệp; giải quyết việc làm, phát triển tài năng và sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [8, tr. 126]. Với đường lối đó, thanh niên sẽ là lực lượng xung kích trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời đặt ra cho Đảng, Nhà nước, Đoàn TNCS HCM và xã hội nhiệm vụ quan trọng là đào tạo, bồi dưỡng và phát huy sức sáng tạo của thanh niên. Lối sống của xã hội biểu hiện qua lối sống của nhiều tầng lớp, nhiều thành phần xã hội khác. Đối với thanh niên do có những đặc điểm về tâm lý và sinh lý của lớp người trưởng thành, nên trong khi tuân theo những chuẩn mực của lối sống xã hội, thanh niên có những nét riêng trong lối sống mà xã hội quan tâm. Nội dung xây dựng lối sống mới trong thanh niên hiện nay rất phong phú, nhưng phải thể hiện ở những nội dung cơ bản sau: 1.4.1 Lối sống mới kết tinh từ lối sống truyền thống của người Việt Nam Trong lịch sử, cùng với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, lối sống của thanh niên được hình thành và phát triển mang cốt cách và bản chất của người Việt. Về lối sống của người Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra một số nét cơ bản như sau: “Yêu mến quê hương, quyến luyến gia đình, thờ kính tổ tiên, yêu chuộng công lý, tôn trọng chính nghĩa, ham thích khoa học, yêu thương nòi giống, tôn trọng lẽ phải, ghét xa hoa, không ham tiền tài, khinh ghét vũ lực, không sợ gian khổ hy sinh” [35, tr. 42-43]. Xuất phát từ các nghiên cứu của các học giả Việt Nam có thể thấy lối sống của thanh niên là sự kế thừa, kết tinh từ các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc: yêu nước, đoàn kết, nhân ái, khoan dung, cần cù, hiếu học, thông minh, sáng tạo, nhẹ nhàng, tế nhị, kín đáo, linh hoạt, dễ thích nghi…các giá trị văn hóa truyền thống này đã góp phần tạo nên bản sắc dân tộc Việt Nam. Hội nghị lần thứ năm, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định: “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã - Tổ quốc, - 17 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý đến tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong đời sống…” [6, tr.56]. Cơ sở bền vững của lối sống mới được kế thừa vẫn là lao động, bởi lao động là nguồn sống, nguồn hạnh phúc chân chính, là nghĩa vụ…góp phần hoàn thiện nhân cách cho thanh niên. Có thể nói, chỉ trong lao động, thanh niên mới hoàn thiện nhân cách của mình, mới hình thành lối sống lành mạnh, tốt đẹp. Tách rời lao động, cướp đoạt hoặc sống bám vào lao động của người khác, con người sẽ bị tha hóa và không còn là con người chân chính nữa. Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, Ph.Ăngghen đã từng chỉ rõ: lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người. Do đó, tuổi trẻ nói chung cũng như mỗi thanh niên, muốn tự khẳng định mình, xã hội xem xét và đánh giá thế hệ trẻ cũng như mỗi thanh niên cụ thể, trước hết phải lấy lao động làm thước đo, làm bảng thang giá trị. Cuộc sống hôm nay cũng như ngày mai của chúng ta như thế nào đều phụ thuộc vào lao động của mỗi người quyết định. Thế hệ thanh niên Việt Nam cần nhận thức rằng, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, hạnh phúc của mỗi người không phải từ trên trời rơi xuống, cũng không từ dưới đất mọc lên, hoặc từ một nơi xa lạ nào bay tới, mà do lao động của chúng ta sáng tạo nên. Chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội đến sớm hay muộn đều do lao động của chúng ta hôm nay quyết định. Trong tình hình đất nước ta còn gặp nhiều khó khăn, đời sống nhân dân ta còn nghèo, Văn kiện Đại hội Toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển là thể hiện sự nhìn nhận nghiêm túc, khách quan về tình hình đất nước hiện nay, đồng thời cổ vũ nhân dân ta vươn lên với tinh thần tự tôn dân tộc và quyết tâm cao để đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển…” [9, tr. 24]. Do đó, vấn đề tiêu dùng của từng cá nhân cũng như của toàn xã hội gắn liền với cuộc đấu tranh nhằm xây dựng một lối sống mới giản dị và tiết kiệm. Phải sống bằng kết quả của chính bản thân mình, không thể tiêu dùng quá mức chúng ta sản xuất được. Phải bảo đảm nhu cầu đời sống nhưng phải chịu đựng khó khăn để tích lũy, để trợ giúp đồng bào ta thoát nghèo, để bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc, để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và làm nghĩa vụ quốc tế cũng là một nội dung quan trọng trong việc xây dựng lối sống mới của nhân dân và thanh niên ta hiện nay. - 18 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy Trong khi cả nước ta, hàng triệu người đang ra sức lao động sản xuất quyết tâm thực hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, quyết tâm phấn đấu đạt mục tiêu chiến lược “Sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển” trước năm 2010, chúng ta không thể chấp nhận những biểu hiện của lối sống xa hoa, đua đòi trong may mặc, nay “mốt” này, mai “mốt” khác; những lễ cưới và những buổi tiệc ăn chơi linh đình quá mức; những cuộc “nhậu”, nghiện ngập ma túy, cà phê, thuốc lá…đã làm kiệt quệ kinh tế của từng gia đình và toàn xã hội và đã dẫn đến hàng loạt những tiêu cực khác, làm tổn thương đến nhân cách và tha hóa lối sống của mỗi người. Cùng với sự kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đoàn TNCS HCM quyết tâm đấu tranh và xây dựng trước hết trong thanh niên một ý thức và phong cách lao động đúng đắn, một cuộc sống lành mạnh, giản dị và tiết kiệm. 1.4.2 Lối sống mới dưới ánh sáng của Nghị quyết Trung ương năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam Lối sống là sự biểu hiện tập trung của toàn bộ quan hệ vật chất và tinh thần của con người. Đảng ta xác định, lối sống là một trong những lĩnh vực cốt lõi của văn hóa. Lối sống mới mà ta hướng đến xây dựng là sự kết tinh của nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và là sự biểu hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Có thể nói, từ khi Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương năm khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” ra đời, như Chỉ thị ngày 21 tháng 8 năm 1998 của Ban chấp hành Trung ương đã chỉ rõ: “Có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển bền vững của đất nước ta trong giai đoạn mới”. Nghị quyết đã khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của những lĩnh vực tư tưởng, đạo đức và lối sống. Đó là lĩnh vực then chốt của văn hóa. Để xây dựng lối sống văn minh, hiện đại, Nghị quyết lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII đã đề ra nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam, trong đó có thanh niên trong giai đoạn cách mạng mới gồm năm đức tính cơ bản: Thứ nhất, có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Thứ hai, có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung. - 19 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy Thứ ba, có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái. Thứ tư, lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội. Thứ năm, thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực [6, tr.59]. Năm đức tính này thể hiện lối sống mới trong quan hệ giữa cá nhân và xã hội trên các phương diện: cá nhân đối với Tổ quốc, đối với Nhà nước, đối với xã hội, đối với gia đình, đối với môi trường và đối với chính mình. Năm đức tính này thể hiện đặc trưng lối sống mới của người Việt Nam trong đó có thanh niên Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề xây dựng lối sống mới, từ Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã chủ trương xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển xã hội. Các nhiệm kỳ Đại hội của Đảng sau này tiếp tục thực hiện những chủ trương của Đại hội VIII với nội dung trọng tâm “Xây dựng lối sống mới thâm nhập vào mọi tầng lớp nhân dân”. Trong phương hướng, nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam, được khẳng định: “Nhiệm vụ trung tâm của sự nghiệp văn hóa là bồi dưỡng con người Việt Nam về trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, nhân cách, xây dựng thế giới quan khoa học, nhân sinh quan xã hội chủ nghĩa, hướng con người tới những giá trị chân, thiện, mỹ” [8, tr. 38]. Đến Hội nghị lần thứ mười, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã nhấn mạnh, một trong ba nhiệm vụ trọng tâm của việc xây dựng nền văn hóa trong thời gian tới là: “Tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội” [9, tr. 65]. Vấn đề kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc để xây dựng lối sống mới ở nước ta hiện nay là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng và chiến lược. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X tiếp tục chủ trương “Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” và một trong ba lĩnh vực cần tập trung thực hiện bằng được là “Xây dựng môi trường, lối sống và đời sống văn hóa của mọi người dân ở cơ sở, phát - 20 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy huy tinh thần tự nguyện, tính tự quản và năng lực làm chủ của nhân dân” [10, tr. 33-34]. 1.4.3 Lối sống mới phù hợp với mục tiêu, phương hướng của Nghị quyết Đoàn TNCS HCM từ năm 2002 đến nay Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên giáo dục thanh niên phải có lối sống mới, có lý tưởng đạo đức. Lối sống mới đó được Người đề cập cả hai phương diện: đối với mình và đối với xã hội, trong đó có đối với người, đối với nhân dân, bạn bè, đồng chí và Tổ quốc. Trên cơ sở những lời dạy của Người và định hướng của Đảng ta, Đại hội Đoàn TNCS HCM toàn quốc lần thứ IX khẳng định: “Trong giai đoạn mới, nhiệm vụ quan trọng của Đoàn là xây dựng lớp thanh niên giàu lòng yêu nước, biết đặt lợi ích của mình trong lợi ích thống nhất của quốc gia, dân tộc; có lý tưởng cách mạng và bản lĩnh chính trị vững vàng; có tri thức, chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng lao động giỏi; có văn hóa và lối sống tình nghĩa; có sức khỏe thể chất và tinh thần lành mạnh; giàu nhiệt huyết sáng tạo và tinh thần tình nguyện” [12, tr. 19]. Người thanh niên của thời kỳ mới vừa biết giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa biết làm giàu văn hóa dân tộc bằng những giá trị, những tinh hoa văn hóa nhân loại, là hiện thân tiêu biểu của giá trị văn hóa Việt Nam. Nghị quyết Đoàn TNCS HCM toàn quốc lần thứ IX đã xác định mục tiêu xây dựng lối sống mới cho thanh niên hiện nay: “Xây dựng lớp thanh niên giàu lòng yêu nước, có lối sống đẹp, có lý tưởng cách mạng, có bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam” [12, tr. 19]. Tiếp tục quán triệt Nghị quyết Trung ương Đoàn, Đại hội Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang lần thứ VIII xác định mục tiêu xây dựng lối sống mới cho thanh thiếu nhi giai đoạn mới: “Tăng cường bồi dưỡng lý tưởng, đạo đức, lòng yêu nước, nâng cao ý thức công dân, bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, nghề nghiệp, năng lực hội nhập. Quan tâm giải quyết những nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của thanh niên; phát huy tinh thần xung kích tình nguyện của tuổi trẻ trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội...” [16, tr. 28]. Thực chất của việc xây dựng lối sống mới cho Đoàn viên thanh niên tỉnh An Giang được cụ thể hóa thành các tiêu chí: “Xây dựng tình đoàn kết, tương thân, tương ái vì cộng đồng; chống bàng quan vị kỷ cá nhân. Xây dựng thái độ học tập say mê, nghiêm túc, làm việc gì cũng phải học, học suốt đời, tiến quân vào khoa học công nghệ; chống tiêu cực, gian dối, không trung thực. Xây dựng tình thần lao động cần cù, sáng tạo; chống ỷ lại, lười lao động. Xây dựng ý thức tiết kiệm, tiêu dùng đúng khả năng; chống tham nhũng, lãng phí, xa hoa. Xây - 21 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy dựng ý thức công dân, thói quen ứng xử văn hóa; chống lai căng tự do, tùy tiện, vô kỷ luật” [12, tr. 19]. Tóm lại, nội dung xây dựng lối sống mới của Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang là xây dựng năm đức tính con người Việt Nam mới. Đồng thời được cụ thể hóa các chuẩn mực vào trong nội dung “5 xây, 5 chống” trong thanh niên. Nội dung xây dựng lối sống mới thể hiện rõ nhân sinh quan đúng đắn về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, đề cao ý thức cộng đồng, đoàn kết, tương thân tương ái, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong giai đoạn cách mạng mới. CHƯƠNG 2 THỰC TIỂN XÂY DỰNG LỐI SỐNG MỚI CỦA ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH TỈNH AN GIANG TỪ NĂM 2002 ĐẾN NAY 2.1 THỰC TIỂN XÂY DỰNG LỐI SỐNG MỚI CỦA ĐOÀN TNCS HCM TỈNH AN GIANG TỪ NĂM 2002 ĐẾN NĂM 2007 2.1.1 Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn - Thực trạng xây dựng lối sống mới của Đoàn TNCS HCM trước năm 2002 Việc xây dựng lối sống mới của Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang sớm được chú trọng. Những năm trước 2002, phong trào đạt được những mặt tích cực nhưng đồng thời cũng tồn tại những yếu kém: Một là, nhận thức và thái độ chính trị của thanh niên ngày nay có tiến bộ theo chiều hướng tích cực. Số đông thanh niên ngày càng quan tâm về những vấn đề của đất nước, quốc tế, ủng hộ công cuộc đổi mới, tự nguyện tham gia các nhiệm vụ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội thông qua các phong trào do Đoàn TNCS HCM khởi xướng, tích cực tham gia công tác xã hội, sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung. Số Đoàn viên đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam, thanh niên vào Hội Liên hiệp thanh niên, vào Đoàn TNCS HCM hàng năm điều tăng. Bên cạnh đó cũng còn một bộ phận thanh niên thờ ơ với chính trị, thiếu ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, nhận thức kém, dễ bị kích động vào những hoạt động không lành mạnh, vi phạm pháp luật. - 22 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy Hai là, nhiều mâu thuẫn liên tục diễn ra trong quá trình rèn luyện lối sống mới của thanh niên đòi hỏi họ phải có đủ bản lĩnh để giải quyết như: mâu thuẫn giữa đầu tư cho học vấn, nghề nghiệp với hiệu quả của việc đầu tư đó trong thực tế; giữa quá trình đấu tranh tự giáo dục, tự khẳng định mình của tuổi trẻ trước lối sống tích cực và lối sống tiêu cực; giữa môi trường sống lành mạnh với không lành mạnh; giữa các giá trị đạo đức truyền thống với sự sút giảm đạo đức của một bộ phận không nhỏ những con người trong xã hội thậm chí có khi ngay trong gia đình mình…. Trong thực tế, quá trình giải quyết các mâu thuẫn này diễn ra theo chiều hướng tích cực. Đa số thanh niên vẫn nhận thức rõ giá trị của việc học và đã trở thành nhu cầu của họ trong lập nghiệp. Các cấp ủy Đảng, Nhà nước, các ngành, các tổ chức xã hội cũng đã có những đóng góp quan trọng cho việc chăm lo, phát triển những tài năng trẻ của Tỉnh. Tuy nhiên, một bộ phận thanh niên chưa đủ bản lĩnh giải quyết mâu thuẫn, cho nên còn nhiều hiện tượng như: thiếu lý tưởng, thái độ và động cơ học tập chưa đúng, lười lao động; sự sút giảm đạo đức đối với gia đình và xã hội như: xem thường pháp luật, đạo đức, truyền thống, thờ ơ với những bất hạnh của người khác, chạy theo đồng tiền bất chấp tất cả, xu hướng vọng ngoại quên đi cội nguồn… Ba là, nhận thức về nghề nghiệp, về việc làm của thanh niên có bước phát triển. Họ quan tâm hơn đến vấn đề thị trường, về chủ trương chuyển đổi cơ cấu ngành nghề kinh tế, chú ý đến giá trị sức lao động, hiệu quả kinh tế. Họ hăng hái đi vào những việc khó, những lĩnh vực mới có hiệu quả kinh tế, tư duy kinh tế năng động hơn, nhạy bén hơn trước những dự báo, xuất hiện nhiều gương thanh niên tự vươn lên sản xuất – kinh doanh giỏi hoặc tự trang bị, trau dồi cho mình một cái nghề để ổn định cuộc sống. Nhiều thanh niên được hỗ trợ vốn, hỗ trợ việc làm vươn lên thoát nghèo. Bên cạnh đó, vấn đề quan tâm hàng đầu hiện nay là thanh niên An Giang chưa đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật, tỷ lệ thanh niên có tay nghề còn rất thấp, số thanh niên thiếu việc làm ngày càng tăng, đầu tư của nhà nước chưa thỏa đáng, vai trò của Đoàn chưa được phát huy tốt. Số thanh niên lười lao động cũng không ít do trông chờ, ỷ lại vào gia đình. Bốn là, sự phát triển các loại hình văn hóa, vui chơi giải trí, thể dục thể thao ngày càng nhanh theo hướng xã hội hóa giúp cho thanh niên vốn nhạy cảm, dễ nắm bắt và tiếp cận những giá trị văn hóa mới, tiếp cận cái đẹp vừa hiện đại vừa mang bản sắc dân tộc tạo nên những phẩm chất tốt, tính tích cực hòa nhập cộng đồng, tính năng động, sáng tạo. Tuy nhiên, các sân chơi, Nhà Văn hóa thanh thiếu nhi chưa được triển khai rộng, nhất là ở tuyến huyện. Một bộ phận số đông thanh niên ít có cơ hội giao lưu và điều kiện nâng cao hiểu biết tri thức, do vậy rất - 23 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy cần sự quan tâm đầu tư toàn diện của các cấp ủy Đảng, Nhà nước và của Đoàn TNCS HCM Tỉnh An Giang. Thực tiễn đó cho thấy Đoàn TNCS HCM Tỉnh An Giang - một tổ chức chính trị - xã hội to lớn và đại diện cho lợi ích của thanh niên đã tổ chức nhiều hoạt động với nhiều loại hình phong phú, nhưng riêng công tác xây dựng lối sống mới cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay nên được nâng cao cho xứng đáng với tầm quan trọng của nó; cần được tách ra thành công tác riêng biệt. Bởi vì lối sống của thanh niên đang có những biến đổi lớn, nhanh và là vấn đề được cả xã hội quan tâm. Để làm tốt công tác này, phải nghiên cứu một cách toàn diện cả lý luận và thực tiễn để có những biện pháp phù hợp. Trong đó, yêu cầu định hướng nội dung cho việc xây dựng lối sống mới của Đoàn TNCS HCM An Giang là một công tác quan trọng. Sự nỗ lực này được Đoàn TNCS HCM tập trung trí tuệ chỉ ra cho giai đoạn 2002 đến nay. Những năm đầu của thế kỷ XXI mở ra những cơ hội mới – thách thức mới. Nền kinh tế An Giang tăng trưởng khá toàn diện, văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Đảng bộ các cấp thường xuyên quan tâm lãnh đạo, giáo dục, chăm sóc, bồi dưỡng thế hệ trẻ phát triển toàn diện, đặc biệt là chăm lo nhu cầu học tập, việc làm, thu nhập ổn định, giải trí của thanh niên. Tuy nhiên, do cơ cấu kinh tế nông nghiệp An Giang phát triển chậm, tổ chức phát triển thị trường còn nhiều hạn chế, nhiều vấn đề xã hội bức xúc như: mặt bằng dân trí thấp, tệ nạn xã hội, ma túy, mại dâm tăng, giải quyết việc làm chưa tương xứng với sự gia tăng lao động… Theo số liệu thống kê đến năm 2002, dân số An Giang là 2.128.830 người. Trong đó, thanh niên hiện có khoảng 923.153 người, với hơn 53.588 đoàn viên. Theo kết quả điều tra xã hội học do Ban thường vụ Tỉnh Đoàn tiến hành cho thấy: Thanh niên trong tỉnh năng động, sáng tạo luôn ủng hộ sự nghiệp đổi mới của Đảng, ham hiểu biết, cố gắng học tập, vượt khó trong lao động, sản xuất, kinh doanh…vì lợi ích của gia đình và xã hội. Sẵn sàng tình nguyện thực hiện nhiệm vụ khi Đảng bộ và nhân dân giao phó với tinh thần nhiệt huyết và có trách nhiệm. Trong giai đoạn mới, đứng trước những thuận lợi và khó khăn trên có tác động to lớn đến nhận thức và hành động của thanh niên. Đại hội Đoàn TNCS HCM đã chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong quá trình xây dựng lối sống mới, đó là: - Những thuận lợi: Nghị quyết của Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ IX đã tạo cơ hội cho thanh niên “Lập thân, lập nghiệp, xây dựng quê hương, đất nước”; xu thế hội - 24 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy nhập và mở cửa đã tạo ra thời cơ để thanh niên học tập, nghiên cứu và ứng dụng những thành tựu khoa học – công nghệ vào sản xuất và đời sống, góp phần phát triển tài năng sáng tạo của thanh niên [13, tr. 416]. Trước những thuận lợi đó, Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang tập trung đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trẻ trên các mặt trí tuệ, đạo đức và thể lực; đẩy mạnh các hoạt động chăm lo lợi ích thanh thiếu niên; tiếp tục phát triển các phong trào hành động cách mạng giúp thanh niên lập nghiệp, tham gia phát triển quê hương; sự ra đời của trường Đại học An Giang trở thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực, tạo nhiều cơ hội để thanh niên học tập và tình nguyện phát triển nông thôn. - Những khó khăn Nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới yêu cầu thanh niên phải trở thành nguồn nhân lực có chất lượng cao: có trí tuệ, có sức khỏe, có đạo đức cách mạng và lối sống công nghiệp…đòi hỏi thanh niên phải tự nguyện, tự giác trong học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nghề nghiệp; rèn luyện bản lĩnh chính trị. Thanh niên phải vượt qua những thách thức về lối sống và nhân cách để giữ vững được đạo đức, lý tưởng trong sạch, có bản lĩnh vững vàng trước những cám dỗ của vật chất đời thường [13, tr.417-418]. Nhưng thanh niên trong Tỉnh: trình độ dân trí còn thấp, sự nhận thức không đồng đều trong thanh niên; việc định hướng giá trị và đáp ứng nhu cầu chính đáng của thanh niên ngày càng cao nhất là việc làm, thu nhập ổn định và vui chơi giải trí. Vẫn còn một bộ phận thanh niên thờ ơ với chính trị, chạy theo lối sống thực dụng, ảnh hưởng văn hóa ngoại lai; khoảng cách giàu nghèo, chênh lệch mức sống gia tăng; tệ nạn xã hội, ma túy, mại dâm ngày càng diễn biến phức tạp trong thanh niên [15, tr.29]. Trước những vấn đề thực tiễn đặt ra cho tổ chức Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang nhiều khó khăn trong công tác xây dựng lối sống mới cho th._.ch nhiệm với bản thân ( trau dồi đạo đức nghề nghiệp, nâng cao trình độ, ý thức kỷ luật, phong cách làm việc ); trách nhiệm với cơ quan ( hoàn thiện nhiệm vụ được giao, xây dựng cơ quan trong sạch, vững mạnh, dân chủ, văn hóa ); trách nhiệm với nhân dân ( tôn trọng nhân dân, đấu tranh chống tham nhũng, phiền hà, sách nhiễu nhân dân ). Xung kích tham gia hội nhập kinh tế quốc tế: Thông qua việc tuyên truyền, vận động thanh niên học tập, nâng cao trình độ, tay nghề…tự tin tham gia thị trường lao động trong nước và quốc tế; vận động thanh niên tham gia ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, áp dụng các quy trình sản xuất kinh doanh, chăn nuôi, trồng trọt theo các tiêu chuẩn kỹ thuật trong nước và quốc tế để nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu; tham mưu cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp trẻ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Chương trình đã khẳng định vai trò xung kích, tình nguyện của tuổi trẻ An Giang với ý thức trách nhiệm cao đối với cộng đồng, xã hội, thựt sự thể hiện là lực lượng nòng cốt trên các mặt công tác góp phần cùng với Đảng, Nhà nước, các tổ chức Đoàn thể thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Thông qua các chương trình hành động của Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang đã góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, xây dựng niềm tin, lý tưởng cách mạng; xây dựng lối sống đẹp, tinh thần tương thân, tương ái; chăm lo lợi ích chính đáng của thanh niên, rèn luyện ý thức lập thân, lập nghiệp; khơi dậy mạnh mẽ tiềm năng của thanh niên và huy động các nguồn lực xã hội góp phần định hướng, hướng dẫn, hỗ trợ thanh niên vì sự phát triển của thanh niên, của quê hương An Giang và đất nước. Từ khi Nghị quyết Đại hội Đoàn TNC HCM tỉnh An Giang lần thứ VIII được triển khai và đi vào cuộc sống. Nhiều phong trào hành động thiết thực - 39 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy hướng đến xây dựng lối sống mới cho đoàn viên thanh niên được Ban thường vụ Tỉnh Đoàn triển khai. Qua gần một năm hoạt động, kết quả bước đầu như sau: Một là, hưởng ứng cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác”, Ban thường vụ Tỉnh Đoàn tổ chức Hội thi “Tuổi trẻ An Giang học tập và làm theo lời Bác” năm 2008 ở các cấp cơ sở với nhiều hoạt động sôi nổi thiết thực như: tọa đàm, thi hái hoa dân chủ, thuyết trình, kể chuyện, nêu cảm nhận, sinh hoạt văn hóa văn nghệ…xoay quanh chủ để tìm hiểu, học tập về thân thế, sự nghiệp, tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Thành công bước đầu của hội thi cấp cơ sở đã dấy lên phong trào sâu rộng, có sứ lan tỏa lớn thu hút đông đảo thanh niên tham gia như: trong lực lượng tuổi trẻ công an Tỉnh phát động nhiều phong trào với chủ đề “Tuổi trẻ công an An Giang thi đua làm theo lời Bác”, hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – CAND vì nước quên thân, vì dân phục vụ”… thu hút đông đảo thanh niên trong và ngoài ngành tham gia [2, tr. 19]. Trong Đội viên, nhi đồng tổ chức Hội thi “Chúng em kể chuyện Bác Hồ” cấp huyện đã có 11/11 đơn vị triển khai thực hiện. Trong cán bộ, công chức trẻ khu vực hành chính sự nghiệp tổ chức phong trào “3 trách nhiệm” ( trách nhiệm với công việc, trách nhiệm với bản thân, trách nhiệm với nhân dân ). Thành Đoàn Long Xuyên với Hôi thi “Tuổi trẻ học tập và làm theo lời Bác” thu hút 1.321 lượt thanh niên. Đoàn trường Đại học An Giang tổ chức Hội thi “Tuổi trẻ An Giang học tập và làm theo lời Bác”, thu hút hơn 10.000 đoàn viên, sinh viên tham gia…[18, tr. 6-7- 11]. Qua hội thi giúp cho tuổi trẻ tỉnh An Giang noi gương học tập, từng bước hoàn thiện nhân cách, lối sống và nêu cao tinh thần, ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Hai là, Ban thường vụ Tỉnh Đoàn tổ chức triển khai kế hoạch số 06- KH/TĐAG (ngày 08/01/2008) về việc tổ chức “Tháng thanh niên” năm 2008. Qua một tháng ra quân đạt kết quả: + Tổ chức tuyên truyền, giáo dục về ý nghĩa Tháng thanh niên, kết quả Đại hội Đoàn Toàn quốc lần thứ IX, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, cuộc đời và sự nghiệp Tôn Đức Thắng với 2.042 cuộc, thu hút trên 72.871 thanh niên tham gia. Tuyên truyền Luật nghĩa vụ quân sự, Luật bình đẳng giới, Luật phòng chống HIV/AIDS…thu hút trên 27.500 lượt thanh niên. + Đoàn TNCS HCM cấp cơ sở tiếp tục tổ chức Hội thi “Tuổi trẻ học tập và làm theo lời Bác”, “Chúng em kể chuyện Bác Hồ”, “Tìm hiểu cội nguồn dân tộc Việt Nam”, xem phim tư liệu “Hồ Chí Minh – Chân dung một con người”…thu - 40 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy hút hơn 45.000 thanh niên tham gia. Đặc biệt, Ban thường vụ Tỉnh Đoàn tổ chức diễn đàn “Thắp sáng ước mơ tuổi trẻ An Giang” với chủ đề “Truyền thống và văn hóa dân tộc là hành trang cho thanh niên trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” với sự vtham gia của nhà Sử học Dương Trung Quốc thu hút hơn 800 thanh niên. + Các phong trào hành động cách mạng được triển khai như: nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ - thể dục thể thao được tổ chức với 243 cuộc, thu hút 32.162 thanh niên tham gia. Tổ chức “Giải việt dã truyền thống 26/03”, kết quả có 11 đơn vị đăng ký với sự tham gia của 291 vận động viên. Tổ chức thực hiện 200 công trình cấp tỉnh và cấp cơ sở, trên 1.000 phần việc thanh niên đóng góp cho xã hội với tổng trị giá gần 3 tỷ đồng. + Các hoạt động xung kích vì cuộc sống cộng đồng và vì đàn em được duy trì thường xuyên và ngày càng đi vào chiều sâu với nhiều việc làm thiết thực như: khám chữa bệnh và cấp thuốc miễn phí cho 1.152 dân nghèo trị giá 140 triệu đồng. Vận động hơn 85 triệu đồng tặng trẻ em khuyết tật, học sinh nghèo, gia đình chính sách, thanh niên thi hành nghĩa vụ quân sự. Cất mới và sửa chữa 13 cầu nông thôn trị giá 227.545.000 đồng; cất mới 61 căn nhà tình bạn với tổng trị giá trên 489.960.000 đồng. Phong trào hiến máu nhân đạo thu hút đông đảo thanh niên tham gia, kết quả thu được 1247 đơn vị máu. Công tác “Đền ơn đáp nghĩa – Uống nước nhớ nguồn” được tổ chức rộng rãi như thăm và tặng quà Mẹ Việt Nam anh hùng, các vị lão thành cách mạng, gia đình chính sách…với 1.245 phần quà tổng trị giá gần 57 triệu đồng. + Tổ chức “Ngày thứ bảy tình nguyện”, “Ngày chủ nhật xanh”, các hoạt động vì môi trường, giữ gìn trật tự an toàn giao thông, trật tự xã hội. Kết quả: vệ sinh môi trường, giải tỏa hành lang lộ giới…với chiều dài 293km; thu gom 36 tấn rác các loại; trồng 65 nghìn cây xanh các loại. Đặc biệt, tổ chức lễ tuyên dương phong trào “Thanh niên làm chủ biên giới” năm 2008 tại huyện Tân Châu cho 12 tập thể và 12 cá nhân đạt thành tích xuất sắc. + Các hoạt động chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, giới thiệu và giải quyết việc làm được tổ chức. Các cấp bộ Đoàn phối hợp với các ngành liên quan mở 13 lớp hướng nghiệp và hội thảo trồng nấm rơm, chăn nuôi heo…thu hút 364 học viên tham dự. Mở lớp dạy nghề điện dân dụng cho 25 thanh niên. Thành lập 7 tổ góp vốn với số tiền 15.600.000 đồng. Giới thiệu 35 thanh niên vào tổ công Đoàn bốc vác. Tổ chức tư vấn việc làm, xuất khẩu lao động cho 655 thanh niên và giới thiệu việc làm cho 582 thanh niên [17, 10/4/2008]. Ba là, trong Quý I năm 2008, Đoàn TNCS HCM các cấp tham gia cùng với các tổ chức khác đồng hành cùng thanh niên trong lập thân, lập nghiệp với - 41 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy nhiều hoạt động hỗ trợ như: Tiếp nhận và bàn giao cất mới 119 căn nhà đại đoàn kết với kinh phí 1.151 triệu đồng cho 119 hộ gia đình nghèo và cất mới 4 căn nhà tình nghĩa với kinh phí 83 triệu đồng cho 4 hộ gia đình chính sách. Vận động và huy động thăm hỏi, tặng quà cho 13.500 hộ nghèo vui tết Nguyên Đán với tổng số tiền và hiện vật trị giá 605.7 triệu đồng. Giải quyết việc làm cho 7.850 lao động có việc làm mới và xuất khẩu lao động 43 người [3, tr. 20-26]. Thông qua các phong trào hành động với hiệu quả thiết thực đã góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương; qua đó thanh niên rèn luyện, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, rèn đức luyện tài vì ngày mai lập nghiệp. 2.2.3 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế Thực hiện chương trình công tác năm 2007, với chủ đề “Nâng cao chất lượng hoạt động chi Đoàn, thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội Đoàn các cấp”. Trong Báo cáo “Tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi năm 2007”đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế nhất định. Đồng thời cho thấy công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu niên tỉnh An Giang phát triển đồng bộ hơn trên các lĩnh vực và đạt được nhiều thành tựu đáng kể. - Nguyên nhân của những thành tựu và bài học kinh nghiệm: Xuất phát từ những thành quả của phong trào thanh niên nhằm xây dựng lối sống mới cho đối tượng này. Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang đã rút kinh nghiệm và chỉ ra những bài học kinh nghiệm quan trọng cho công tác Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang sắp tới làm tốt hơn: Một là, đa số các cơ sở Đoàn đã chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động, làm tốt công tác tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền và phối hợp tốt với các ngành trong công tác tổ chức thực hiện các phong trào của Tỉnh. Hai là, hình thức và nội dung hoạt động, nhất là ở cấp cơ sở được quan tâm đầu tư, từng bước đi vào chiều sâu, phù hợp với nhu cầu, lợi ích của Đoàn viên thanh niên và địa phương, từ đó đã dần nâng cao vai trò và vị thế của tổ chức Đoàn đối với xã hội. Ba là, công tác đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ được quan tâm tổ chức, các chế độ chính sách được quan tâm tạo điều kiện kịp thời giúp cho đội ngũ cán bộ Đoàn - Hội - Đội trong tỉnh nâng cao về năng lực công tác, góp phần thực hiện thắng lợi của chương trình, mục tiêu đã đề ra - Nguyên nhân của những hạn chế: - 42 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy Từ những kết quả đạt được, các chương trình hành động của Đoàn TNCS HCM vẫn chưa tác động được đến đông đảo các tầng lớp thanh niên, duy trì thiếu thường xuyên, chưa khơi dậy tính tự giác của tất cả các đối tượng thanh niên nên còn bộc lộ những hạn chế cơ bản do nhiều nguyên nhân. Bước đầu Đoàn TNCS HCM nhận ra một số nguyên nhân cơ bản: Một là, vì nhiều lý do khách quan lẫn chủ quan nên tiến độ tổ chức Đại hội Đoàn cấp huyện và tương đương chậm hơn hai tháng so với kế hoạch đề ra; các hoạt động chào mừng, tuyên truyền cho Đại hội Đoàn chưa đều khắp, chậm đổi mới nội dung và hình thức. Hai là, do sự biến động về nhân sự sau Đại hội Đoàn các cấp, tính chủ động của một số cơ sở Đoàn trong các hoạt động của “Tháng thanh niên” và Chiến dịch “Mùa hè tình nguyện” còn hạn chế, về quy mô và tính hiệu quả của các công trình, phần việc chưa như mong muốn. Ba là, một số cơ sở Đoàn nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của cuộc vận động “Tuổi trẻ An Giang học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” nên việc triển khai chưa đi vào chiều sâu, hình thức triển khai chưa phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương, đơn vị. Bốn là, công tác xây dựng, tổ chức Hội các cấp chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, chưa củng cố kịp thời. Việc bố trí Chi Hội trưởng thanh niên khóm ấp còn mang tính chấp vá, tỷ lệ phát triển Hội viên thấp so với chỉ tiêu Nghị quyết. Năm là, chế độ thông tin báo cáo hai chiều có tiến bộ hơn trước, tuy nhiên đối với các biểu mẫu, phụ lục, số liệu còn một số đơn vị chưa thực hiện đúng quy định, không ít khó khăn trong công tác tổng hợp chung cả tỉnh. Việc nghiên cứu về các quy định của Điều lệ Đoàn ở một vài đơn vị chưa chính xác, dẫn đến trong áp dụng và thực hiện còn sai sót. 2.3 Giải pháp thực hiện việc xây dựng lối sống mới của Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang Quá trình xây dựng lối sống mới của Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang còn liên tục phát triển. Với mong muốn đồng hành cùng sự phát triển đó, chúng tôi xin góp vào một số giải pháp thực hiện sau đây: Thứ nhất, tăng cuờng kết hợp chặt chẽ hoạt động của Đoàn TNCS HCM vơi các lực lượng xã hội khác, nhất là kết hợp với Hội liên hiệp thanh niên và Hội sinh viên để giáo dục lối sống mới cho thanh thiếu niên. Xây dựng lối sống mới cho thanh niên phải được xem là công việc thường xuyên, vừa cấp bách, vừa cơ bản, vừa lâu dài của tổ chức Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang. Đồng thời, tăng cường sự lãnh đạo và quản lý của mình đối với thanh - 43 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy niên trong việc chỉ đạo công tác tư tưởng, định hướng hoạt động, kiểm tra việc thực hiện các chương trình hành động của Đoàn ở các cấp. Mỗi tổ chức của thanh niên có sự chỉ đạo của mình, nhưng nếu sự chỉ đạo này có sự phối hợp chặt chẽ giữa Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang, Hội liên hiệp thanh niên, Hội sinh viên về nội dung, nhiệm vụ xây dựng lối sống mới cho thanh niên thì hiệu quả công tác càng cao. Không thể coi xây dựng lối sống mới cho thanh niên chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành giáo dục mà nên coi là công việc và trách nhiệm của toàn xã hội. Lối sống mới của thanh niên gắn liền với việc nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm và hiệu quả quản lý của các cơ quan văn hóa trong việc quản lý văn hóa, xây dựng các thiết chế văn hóa, thông tin nhằm sàn lọc và loại bỏ những nọc độc phản văn hóa có ảnh hưởng xấu đến lối sống của người dân trong đó có thanh niên. Vai trò của gia đình có ý nghĩa quyết định đấn việc xây dựng lối sống mới cho thanh thiếu niên. Đó là cái nôi nuôi dưỡng, môi trường đầu tiên, có tác động một cách trực tiếp thường xuyên trong việc hình thành nhân cách cho đối tượng này. Nghị quyết của Đại hội IX đã chỉ rõ: “Nêu cao trách nhiệm của gia đình trong v iệc xây dựng và bồi dưỡng các thành viên của mình có lối sống mới, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội” [8, tr.116]. Mặt khác, cần phát huy hơn nữa vai trò của Đoàn TNCS HCM trong các trường học, coi đây là lực lượng nòng cốt để giáo dục lối sống mới trong nhà trường. Thứ hai, trong các phong trào hành động, Đoàn TNCS HCM với vai trò định hướng giá trị cho thanh thiếu niên phải tích cực cụ thể hoá các tiêu chí xây dựng lối sống mới phù hợp với từng đối tuợng. Đây là biện pháp đúng đắn và có giá trị khả thi trong việc xây dựng lối sống mới, văn mình đối với thanh niên, giữ cho họ biết phân biệt, lựa chọn và tiếp nhận những giá trị văn hóa thích hợp cho mình trong giai đoạn mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và giao lưu với thế giới. Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả cuộc vân động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác”. Đây là quá trình tuổi trẻ không ngừng rèn luyện, tu dưỡng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về đạo đức, lối sống nhằm hình thành những phẩm chất tốt đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam. Các cấp bộ Đoàn cần cụ thể hóa các nội dung của cuộc vận động “5 xây, 5 chống” thành các tiêu chí rèn luyện giúp thanh niên An Giang thói quen tự phê bình và phê bình trong tập thể, rèn luyện và tu dưỡng đạo đức theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. - 44 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy Thứ ba, đồng hành cùng thanh niên trước hết phải lấy lợi ích thiết thân của họ làm mục tiêu và động lực của phong trào. Trong hững năm tới, cùng với sự phát triển nhanh của kinh tế An Giang, điều kiện hưởng thụ văn hóa và mức sống của thanh niên được nâng cao, hệ thống nhu cầu của thanh niên ngày càng đa dạng trên các lĩnh vực học tập, lao động, lập thân lập nghiệp, vui chơi giải trí…Tổ chức Đoàn TNCS HCM phải thực sự chăm lo lợi ích chính đáng của thanh niên, tạo môi trường lành mạnh và an toàn để thanh niên tự khẳng định mình. Thanh niên An Giang đa phần xuất thân từ nông dân, phong cách, lối sống về tiết kiệm thời gian lao động , trong phát triển kinh tế thường nặng tư tưởng tiểu nông, lao động nghề nghiệp ở điều kiện chưa công nghiệp, do vậy cá thể có thói quen lãng phí thời gian, không chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng suất lao động, tâm lý thụ động sống nhờ vào gia đình. Do đó, đòi hỏi Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang cần có những chương trình hành động thiết thực, phù hợp để xây dựng lối sống mới khắc phục những hạn chế trên của nông thôn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thứ tư, phát huy hơn nữa vai trò của Đoàn TNCS HCM trong các doanh nghiệp, đẩy mạnh công tác xây dựng lối sống mới – lối sống công nghiệp cho thanh niên. Trong điều kiện hiện nay, nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra cho Đoàn TNCS HCM ở các doanh nghiệp cần làm tốt hơn nữa việc tiếp tục nghiên cứu, tổng kết và phát triển lý luận về công tác xây dựng lối sống cho thanh niên công nhân, nhằm thực hiện Nghị quyết Trung ương sáu, khóa X của Đảng về phát huy vai trò của giai cấp công nhân hiện đại. Đó là phải phát huy vai trò của Đoàn TNCS HCM và thanh niên công nhân trong các trường học về nâng cao trình độ tri thức khoa học cho công nhân; hạn chế âm mưu “Diễn biến hòa bình”…từ đó đề ra những giải pháp thiết thực, phù hợp để xây dựng lối sống mới cho thanh niên. Đẩy mạnh và nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo nghề, từng bước nâng tầm trí tuệ cho thanh niên công nhân. Đoàn Khối Doanh nghiệp xung phong thực hiện nhiệm vụ đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ thuật nghề nghiệp cho công nhân, nhất là công nhân trẻ. Gắn đào tạo lý thuyết với rèn luyện kỹ năng thực hành, gắn đào tạo nghề với giáo dục nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp công nhân với rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động… hình thành lối sống công nghiệp cho thanh niên công nhân. - 45 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy Thứ năm, thường xuyên và liên tục thực hiện nhân rộng các gương điển hình tiên tiến trong thanh thiếu niên. Thanh niên vốn là người nhiệt tình với cái mới và giàu ước mơ. Do vậy, các tấm gương sáng có tác dụng lớn lao đối với giáo dục lý tưởng, hoài bão, giúp họ vượt khó vươn lên trong cuộc sống… Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang cần đẩy mạnh các phong trào thi đua, qua đó phát hiện, tuyên dương, nhân rộng các điển hình cá nhân, tập thể thanh niên có lối sống đẹp, biết vượt qua khó khăn để vươn lên, sống có lý tưởng, hết mình vì lý tưởng. Tổ chức rộng rãi các cuộc gặp mặt, liên hoan của các điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực. Duy trì và phát triển các giải thưởng và các hình thức khen thưởng thích hợp, ghi nhận, tôn vinh các thanh niên có thành tích xuất sắc trong học tập và rèn luyện. Thứ sáu, tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa Đảng, Nhà nước, xã hội và bản thân tổ chức Đoàn để xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn. Đây là quá trình tạo dựng đội ngũ cán bộ trẻ, giỏi, thực sự là những người bạn, người đồng chí, có khả năng hướng dẫn, tổ chức các hoạt động hướng đến xây dựng lối sống mới trong thanh thiếu niên. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn, chú trọng đào tạo kỹ năng giao tiếp và thực hành xã hội trong công tác thanh niên. Nâng cao năng lực nhận thức, vận dụng sáng tạo, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các phong trào hành động cho cán bộ Đoàn các cấp. Phải có những chính sách ưu đãi đối với cán bộ Đoàn. Qua đó góp phần tạo ra một lớp cán bộ Đoàn trẻ, năng động với phong cách làm việc “Miệng nói, tay làm, óc nghĩ, chân đi, mắt thấy, tay nghe”, luôn tôn trọng thanh niên, sát thanh niên và có trách nhiệm đối với phong trào Đoàn. Thứ bảy, quan tâm đúng mức và tăng cường công tác xây dựng lối sống mới trong thiếu niên, nhi đồng. Lâu nay, Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh luôn được Đoàn TNCS HCM quan tâm. Trước yêu cầu mới, công tác xây dựng lối sống mới trong thiếu niên, nhi đồng cần được xem trọng hơn nữa, coi đó là trách nhiệm của mỗi đoàn viên và của tổ chức Đoàn. Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang tiếp tục triển khai chương trình “Vì đàn em thân yêu” đi vào chiều sâu, qua đó nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp bộ Đoàn trong việc xây dựng lối sống cho các em; nâng cao chất lượng phong trào “Nói lời hay, làm việc tốt, xứng đáng là con ngoan, trò giỏi, Đội viên tốt, cháu ngoan Bác Hồ”. Củng cố và phát triển hệ thống Nhà Văn hóa thiếu nhi An Giang, điểm vui chơi dành cho trẻ; phối hợp với gia đình, nhà trường trong công tác giáo dục các em lối sống phù hợp lứa tuổi. - 46 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy Phát huy vai trò người phụ trách Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, thông qua việc kiện toàn Hội đồng Đội các cấp, lựa chọn và bồi dưỡng phụ trách Đội giúp cho công tác xây dựng lối sống mới trong thiếu niên, nhi đồng được triển khai có hiệu quả. Thứ tám, không ngừng phát huy và nâng cao vai trò năng động, sáng tạo của thanh thiếu niên với tư cách là chủ thể trong việc xây dựng lối sống mới. Thanh niên vừa là đối tượng của việc xây dựng lối sống mới của Đoàn TNCS HCM, đồng thời chính họ là chủ thể của đối tượng này. Do vậy, bản thân thanh niên phải nâng cao năng lực tự giáo dục và tự nâng cao trình độ lý luận khoa học, trình độ chính trị để tăng sức đề kháng chống lại những tiêu cực để chủ động xây dựng và điều chỉnh lối sống mới cho chính mình. Muốn được vậy, bản thân mỗi thanh niên phải tự rèn luyện mình; phải phát huy vai trò của mình với tư cách là một thành viên của tập thể để thu hút những người khác cùng hành động với mình, nghĩa là cùng với tổ chức của mình dấy lên phong trào sống đẹp, sống có ý nghĩa, tự họ thực hiện tốt phương châm sống “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”. PHẦN KẾT LUẬN Lối sống mới là một trong những lĩnh vực then chốt của nền văn hóa mới, liên quan trực tiếp đến đời sống hàng ngày của con người, của gia đình và xã hội, trở thành một trong những yếu tố quan trọng của sự phát triển bền vững. Hiện nay, nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc xây dựng lối sống mới nhằm góp phần xây dựng nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” là yêu cầu khách quan của sự phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy rằng: “Nước nhà mạnh hay yếu, thịnh hay suy phần lớn là do các thanh niên”. Thật vây, thanh niên là lực lượng lao động chủ yếu của xã hội, là tương lai của đất nước. Vì thế, xây dựng lối sống mới cho thanh niên là một trong những mục tiêu xây dựng xã hội mới. Lối sống bao gồm tất cả các lĩnh vực của hoạt động sống cơ bản của con người như: lao động, sinh hoạt, hoạt động xã hội – chính trị, giải trí…Lối sống thể hiện ở một số đặc điểm cơ bản đó là: lối sống – tổng hòa các hoạt động sống ổn định của con ngừi gắn liền với dân tộc, giai cấp, nhóm xã hội và các cá nhân trong cộng đồng; lối sống chịu sự quy định của phương thức sản xuất và các điều - 47 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy kiện sống của con người; đặc trưng bản chất của lối sống được thể hiện ở hoạt động lao động sản xuất; lối sống là sự tổng hợp các khuôn mẫu ứng xử được vận hành theo một hệ giá trị xã hội; trong xu thế phát triển của lịch sử, lối sống có tính văn hóa. Triết lý về “Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội” là một trong những cơ sở lý luận để xây dựng lối sống mới. Vì lối sống được xây dựng trên cơ sở một hệ giá trị xã hội, hướng tới chân – thiện – mỹ mà hệ giá trị xã hội này được định hướng bởi triết lý sống. Đảng ta, dân tộc ta, xã hội ta dựa trên nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lênin để xây dựng lối sống mới. Ở đó, lợi ích cá nhân và xã hội quan hệ hài hòa. Triết lý về “Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội” là cơ sở lý luận đúng đắn trong quá trình xây dựng lối sống mới cho thanh niên phấn đấu, khắc phục những xu hướng cực đoan của các tư tưởng tự do cá nhân trái với định hướng xây dựng nền văn hóa mới, con người mới ở Việt Nam hiện nay. Đoàn TNCS HCM dựa vào tình hình của thực tiễn, vào sự chỉ dẫn của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta để xác định lối sống mới. Lối sống mới của thanh niên được cụ thể hóa thành các nội dung sau: “Xây dựng tình đoàn kết, tương thân, tương ái vì cộng đồng; chống bàng quan vị kỷ cá nhân. Xây dựng thái độ học tập say mê, nghiêm túc, làm việc gì cũng phải học, học suốt đời, tiến quân vào khoa học công nghệ; chống tiêu cực, gian dối, không trung thực. Xây dựng tinh thần lao động cần cù, sáng tạo; chống ỷ lại, lười lao động. Xây dựng ý thức tiết kiệm, tiêu dùng đúng khả năng; chống tham nhũng, lãng phí, xa hoa. Xây dựng ý thức công dân, thói quen ứng xử văn hóa; chống lai căng tự do, tùy tiện, vô kỷ luật”. Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong giáo dục lối sống mới. Những thành quả này chứng minh triết lý về “Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội” của chủ nghĩa Mác – Lênin là đúng đắn, khi được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn sẽ đem lại hạnh phúc thiết thực cho con người và xã hội. Tuy nhiên, sự nghiệp xây dựng lối sống mới vẫn còn những hạn chế nhất định. Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế đã được đúc kết, từ đó khóa luận cùng tham gia với Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang một số giải pháp vào công cuộc xây dựng lối sống mới cho thanh niên hiện nay. Đại hội Đại biểu Đoàn TNCS HCM tỉnh An Giang lần thứ VIII – Đại hội của đoàn kết – sáng tạo – thi đua – tình nguyện vì sự phát triển bền vững của quê hương An Giang đã xây dựng nhiều chương trình hành động cụ thể để thu hút đoàn viên thanh niên vào các phong trào, qua đó phát huy truyền thống văn hóa - 48 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy của dân tộc. Xây dựng lối sống mới – xây dựng mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội một cách đúng đắn trên cơ sở triết học Mác – Lênin, thanh niên càng sống có ích và thực hiện tự do đúng đắn của mình trong quá trình chung tay xây dựng một Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia 2005. [2]. Ban Tuyên Giáo tỉnh An Giang – Thông tin công tác tư tưởng (04/2008), 2008. [3]. Cục thống kê An Giang – Thông báo tình hình kinh tế - xã hội Quý I năm 2008 (tr. 20 – 26), 2008. [4]. Đảng Cộng sản Việt Nam – Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, 1991. [5]. Đảng Cộng sản Việt Nam – Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Chính trị Quốc gia, 1993. [6]. Đảng Cộng sản Việt Nam – Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, 1998. [7]. Đảng cộng sản Việt Nam – Các Nghị quyết của Trung ương Đảng 1996 – 1999, Nxb Chính trị Quốc gia, 2000. [8]. Đảng Cộng sản Việt Nam – Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, 2001. - 49 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy [9]. Đảng Cộng sản Việt Nam – Văn kiện Hội nghị lần thứ mười Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị Quốc gia, 2004. [10]. Đảng Cộng sản Việt Nam – Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, 2006. [11]. Đảng Cộng sản Việt Nam – Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị Quốc gia, 2008. [12]. Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh – Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX (Dự thảo), Hà Nội, 2007. [13]. Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh – Tổng quan tình hình thanh niên, Công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi 1997 – 2002, Nxb Thanh niên, 2003. [14]. Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh – Tổng quan tình hình thanh niên, Công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi 2002 - 2007, Nxb Thanh niên, 2007. [15]. Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh An Giang – Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ VII, Long Xuyên, 2002. [16]. Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh An Giang – Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ VIII, Long Xuyên, 2007. [17]. Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh An Giang – Báo cáo tổng kết hoạt động Tháng thanh niên năm 2008, Ban thường vụ Tỉnh Đoàn, 2008. [18]. Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh An Giang – Thông tin tuổi trẻ An Giang (04/2008), 2008. [19]. Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Khối Dân Chính Đảng – Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ VI, Long xuyên, 2007. [20]. Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Khối Doanh nghiệp – Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ VI, Long xuyên, 2007. [21]. Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Trường Đại học An Giang – Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ IV, Đại học An Giang, 2007. [22]. Hội Đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – Giáo trình triết học Mác – Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, 2003. [23]. Đỗ Huy – Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay từ góc nhìn giá trị học, Viện Văn hóa và Nxb Văn hóa – Thông tin, 2001. [24]. Nguyễn Văn Huyên – “Lối sống người Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hóa”, Tạp chí triết học, (12 – 151), tr. 29 – 34, 2003. - 50 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy [25]. Vũ khiêu – Lao động, nguồn vô tận của mọi giá trị, Nxb Thanh niên, 1975. [26]. Phạm Minh Lăng – Mấy trào lưu triết học phương Tây hiện đại, Nxb Đại học và THCN, 1984. [27]. Thanh Lê (chủ biên) – Lối sống xã hội chủ nghĩa và xu thế toàn cầu hóa, Nxb Khoa học xã hội, 2001. [28]. V.I. Lênin, Toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ Matxcơva, 1981. [29]. Đinh Lê Nguyên – Quan điểm duy vật biện chứng về tự do cá nhân trong mối quan hệ với cuộc đấu tranh chống diễn biến hòa bình hiện nay ở Việt Nam, Luận Văn Thạc sĩ Khoa học Triết học, 1996. [30]. Ph.Ăngghen – Chống Đuy Rinh, Nxb Sự thật, 1984. [31]. C.Mác và Ph.Ăngghen – Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, 1995. [32]. C.Mác và Ph.Ăngghen – Toàn tập, tập 27, Nxb Chính trị Quốc gia, 1996. [33]. C.Mác và Ph.Ăngghen – Toàn tập, tập 46, Nxb Chính trị Quốc gia, 1998. [34]. C.Mác và Ph.Ăngghen – Tuyển tập, tập 1, Nxb Sự thật, 1980. [35]. Võ Văn Thắng – Xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay từ góc độ văn hóa truyền thống dân tộc, Nxb VHTT và Viện Văn hóa, 2006. [36]. Nguyễn Thị Mỹ Trang – Xây dựng lối sống văn hóa cho thanh niên hiện nay, Tạp chí Cộng sản, số 6, 2006. - 51 - Khoá luận tốt nghiệp ĐHSP SVTH: Trần Thanh Duy - 52 - ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfXT1252.pdf
Tài liệu liên quan