Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy ở Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex giai đoạn 1996-2001

Lời mở đầu Ngày nay, trong công cuộc phát triển kinh tế, xây dựng đất nước, quy mô của các ngành sản xuất ngày càng được mở rộng, của cải tạo ra được ngày càng nhiều. Nhưng trong thực tế, không phải lúc nào chúng ta cũng gặp thuận lợi may mắn, trái lại, những rủi ro biến cố xã hội luôn có thể xảy ra gây thiệt hại cho chúng ta, trong số các rủi ro đó, có rủi ro cháy. Người ta cũng đã tìm ra nhiều biện pháp khắc phục những thiệt hại do cháy gây ra như : lập đội cứu hoả, lắp đặt hệ thống bình chốn

doc81 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1297 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy ở Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex giai đoạn 1996-2001, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g cháy, tham gia bảo hiểm cháy… trong đó bảo hiểm cháy được xem là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất. ở Việt Nam, bảo hiểm cháy là nghiệp vụ khá mới mẻ (được triển khai từ cuối năm 1989 ), nhưng nó đã sớm chứng tỏ được tầm quan trọng của mình nhất là khi nước ta chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, việc triển khai nghiệp vụ này còn chưa đúng với tiềm năng của nó, vì thế việc đi sâu nghiên cứu là rất cần thiết. Qua thời gian thực tập tại văn phòng III thuộc công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex, được sự giúp đỡ của các cán bộ trong phòng, em đã chọn đề tài "Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy ở công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex giai đoạn 1996-2001". Bài viết này đuợc thực hiện với mục đích đánh giá thực tế tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy, những kết quả đạt được, những tồn tại cần giải quyết để từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nghiệp vụ tại công ty . đề tài được chia làm 3 phần như sau : Chương I : Lí luận về bảo hiểm cháy và nghiệp vụ bảo hiểm cháy. Chương II : Thực tiễn triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy tại công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex. Chương III :Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm cháy tại công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex. Bài viết chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những khiếm khuyết trong biên tập cũng như trong trình bày. Em rất mong sự góp ý phê bình của các thầy cô giáo. Em cũng xin chân thành cảm ơn cô giáo Tô Thiên Hương đã giúp đỡ em hoàn thành bài viết này. Chương I lí luận về bảo hiểm cháy và nghiệp vụ bảo hiểm cháy I. Sự ra đời và phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm cháy Trong nền kinh tế thị trường bảo hiểm là một dịch vụ tài chính và các công ty bảo hiểm được nhìn nhận là một trung gian tài chính. Bảo hiểm hoạt động theo phương thức các cá nhân tổ chức kinh tế xã hội cùng tham gia đóng góp một khoản tiền nhất định để tạo lập nên một quỹ chung và khoản đóng góp này gọi là phí bảo hiểm. Khi không may gặp phải những rủi ro tổn thất ngoài mong đợi của họ, thì lúc đó quỹ chung này sẽ phát huy tác dụng là giúp đỡ những thành viên này nhanh chóng ổn định đời sống và sản xuất, tiếp tục kinh doanh một cách bình thường . Trong cuộc sống con người có rất nhiều rủi ro xảy ra, trong đó có một số rủi ro được bảo hiểm. Cháy là một loại rủi ro mang tính thảm hoạ, sức tàn phá rất mạnh và để lại hậu quả rất nặng nề. Có rất nhiều biện pháp để đối phó lại với loại rủi ro này, tuy nhiên, bảo hiểm là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất Theo số liệu thống kê hàng năm trên thế giới trung bình có 5 triệu vụ cháy xảy ra gây thiệt hại hàng trăm tỉ USD. Ngoài những thiệt hại về tài sản về con người, cháy còn làm mất ổn định trật tự xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế. Các vụ cháy xảy ra ở khắp nơi trên hành tinh chúng ta tại các nước phát triển, đang phát triển và chậm phát triển. Có những vụ cháy không phai mờ trong tiềm thức nhân loại vì hậu quả để lại quá nặng nề. Cụ thể là vụ cháy thành phố Lonđon vào thế kỉ 18. Trong 7 ngày 8 đêm đám cháy đã thiêu hủy 13200 ngôi nhà 87 nhà thờ trong đó có cả trụ sở của Lloyed. Theo số liệu thống kê ở Mĩ, mỗi năm có khoảng 2,3 triệu vụ cháy làm chết 15000 người bị thương 300000 người thiệt hại gần 2 tỉ USD. Một ví dụ thảm khốc khác đó là vụ cháy rừng Indonexia năm 1998 làm cho nước này bị mất đi một diện tích rừng rộng lớn và gây ảnh hưởng nghiêm trọng về môi trường cho các nước trong khu vực. Nhìn ra thế giới ta có thể thấy hậu quả do cháy gây ra thật khôn lường. Nhìn lại Việt Nam qua con số thống kê trong thời gian 30 năm (4/10/1961- 4/10/1991) đã xảy ra 566030 vụ cháy (không kể cháy do chiến tranh) làm chết 2574 người,bị thương 4475 người, thiệt hại ước tính 984 tỉ. Đặc biệt, số vụ cháy lớn trên tổng số vụ cháy chiếm tỉ lệ ngày càng tăng. Cụ thể như sau : Ngày 5/2/1993 Công ty dệt Nha Trang bị cháy làm thiêu huỷ 3700 mét vuông nhà xưởng, kho tàng 350 tấn bông, 46 tấn vải, 1003 chiếc áo. Ngày 22/7/1993 Công ty liên doanh sản xuất giày Hiệp Hưng thành phố Hồ Chí Minh bị cháy, thiệt hại 14 tỷ đồng. Ngày 14/7/1994 cháy chợ Đồng Xuân, thiệt hại ước tính 147 tỷ dồng . Ngày 28/6/1997 cháy kho xăng dầu 131 Thuỷ Nguyên Hải Phòng thiệt hại 31 tỷ đồng. Vụ cháy công ty dược Đồng Tháp thiệt hại 4,5 tỷ . Năm 2000 xảy ra vụ cháy công ty Hải Sơn thiệt hại 7,5 tỷ Năm 2001 công ty giấy Vising Pard bị cháy đã làm cho Bảo Minh bồi thường khoản tiền lớn trị giá 1,2-1,4 triệu USD. Đặc biệt, năm 2002 đã xảy ra vụ cháy rừng U MINH Thượng, U MINH Hạ, gây thiệt hại không thể ước tính . Ngày nay khi loài người đã bước vào cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật lần thứ ba, đó là cách mạng công nghệ thông tin, với tốc độ phát triển như vũ bão và nền kinh tế toàn cầu thường xuyên tăng trưởng. Tuy nhiên, tốc độ phát triển của khoa học kĩ thuật về an toàn thường chậm hơn so với tốc độ phát triển khoa học kĩ thuật trong sản xuất, nguồn vốn đầu tư cho an toàn thường thấp hơn rất nhiều so với nguồn vốn đầu tư cho sản xuất. Do đó, ngày càng nhiều vụ hoả hoạn lớn xảy ra với nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có cả nguyên nhân xuất phát từ mặt trái của công nghệ tiên tiến. Thêm vào đó, do khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách bừa bãi, không có kế hoạch, làm cho eninol xuất hiện, gây ra những trận lụt lớn hay nắng hạn kéo dài. Cũng do tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt mà con người ngày càng sử dụng nhiều nguyên liệu thay thế, trong đó đa số là các nguyên liệu dễ cháy như: ga, xăng và các hoá chất… Cho nên nguy cơ xảy ra cháy ngày càng cao và hậu quả ngày càng nặng nề. Ngoài ra do khoa học kĩ thuật phát triển nên của cải con người tạo ra ngày càng nhiều, nếu gặp cháy thì thiệt hại xảy ra thường rất lớn. Như vậy thảm họa cháy là rủi ro khôn lường và thường gây ra nhiều thiệt hại. Có nhiều biện pháp để khắc phục hoặc giảm bớt những hậu quả do cháy gây ra nhưng hiệu quả đem lại chẳng đáng bao nhiêu. Chỉ có tham gia bảo hiểm cháy mới là biện pháp khắc phục hữu hiệu và hiệu quả kinh tế nhất. Chính vì vậy nghiệp vụ bảo hiểm cháy ra đời để đáp ứng yêu cầu cấp bách đó. Hiệp hội Bảo hiểm cháy đầu tiên ra đời ở Đức năm 1591 có tên Feuercasse sau đó một thời gian ngắn đã xuất hiện một vài tổ chức khác nhưng không để lại dấu ấn gì lớn. Năm 1666, sau khi chứng kiến một đám cháy ở thủ đô London, người dân Anh mới nhận thức được tầm quan trọng của việc thiết lập hệ thống phòng cháy chữa cháy và bồi thường cho những người bị thiệt hại. Năm 1667, văn phòng Bảo hiểm cháy đầu tiên ở nước Anh được thành lập với tên gọi rất đơn giản là "The Fire Office". Năm 1684 công ty Bảo hiểm cháy đầu tiên ra đời với tên gọi The Frienly Society Fire Office. Công ty này hoạt động trên nguyên tắc tương hỗ và hệ thống phí cố định, người được bảo hiểm không được bồi thường hoàn toàn mà phải chịu một phần thiệt hại xảy ra. Sau đó một loạt các công ty Bảo hiểm cháy khác tiếp tục ra đời ở Anh: Amicable(1696), Sun(1710), Union(1714), London(1714). Phần lớn các công ty này vẫn tồn tại đến nay và tiếp tục tăng trưởng. Sau khi công ty bảo hiểm cháy đầu tiên ra đời ở Anh, bảo hiểm cháy lan rộng sang Châu âu. Cụ thể là ở Đức, năm 1677 quỹ bảo hiểm cháy đầu tiên được thành lập. Công ty bảo hiểm đầu tiên thành lập ở Mĩ là một công ty bảo hiểm tương hỗ do Beamjamen Franklia và một số thành viên khác sáng lập năm 1752 mang tên The Philadelphia Contribution chuyên bảo hiểm cháy cho nhà cửa. Công ty bảo hiểm cổ phần đầu tiên ở Mĩ mang tên The insurance company of North American được thành lập năm 1792. Ngày nay, nghiệp vụ bảo hiểm cháy đã được tiến hành ở hầu hết các nước trên thế giới. Sự phát triển mạnh mẽ của nó dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt trong việc tìm kiếm dịch vụ trên thị trường bảo hiểm. Hầu hết các công ty bảo hiểm phi nhân thọ khi đặt văn phòng đại diện để mở rộng thị trường, nghiệp vụ đầu tiên họ tiến hành là nghiệp vụ cháy. Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và sự tăng trưởng kinh tế, các công trình xây dựng ngày càng tăng giá trị, đồng thời ngày càng có nhiều nghiệp vụ bảo hiểm mới có tác dụng san sẻ bớt rủi ro của một nghiệp vụ, điều này đã làm cho phí bảo hiểm cháy gỉảm xuống. Tuy nhiên, nghiệp vụ bảo hiểm cháy đã trở thành nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống với doanh thu ngày càng cao. Hàng năm tính riêng ở Nhật doanh thu phí bảo hiểm cháy trên 10 tỉ USD một năm và chiếm 15,5% doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ. Phí bảo hiểm cháy ở Mĩ chỉ chiếm 2% trong tổng số phí về bảo hiểm tài sản. ở Việt Nam chưa có tài liệu nào ghi rõ bảo hiểm cháy có từ bao giờ. Thời Pháp thuộc đã có một số chi nhánh của Pháp ở Hà Nội và Sài Gòn tiến hành nghiệp vụ này. Tuy nhiên triển khai được 9 năm thì chi nhánh bảo hiểm này ngừng hoạt động. Sau đó đến thời Mĩ Thiệu thì bảo hiểm cháy ở miền Nam có phát triển hơn. Tại Sài Gòn có 5 công ty bảo hiểm thì có ba công ty triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy. Sau khi đất nước thống nhất, do cơ chế bao cấp Nhà nước bù đắp mọi thiệt hại, đảm bảo về tài chính cho các doanh nghiệp không may bị rủi ro, nên bảo hiểm nói chung và bảo hiểm cháy nói riêng không có điều kiện để phát triển. Từ năm 1990 đã có 16 công ty bảo hiểm các địa phương tiến hành triển khai nghiệp vụ này với giá trị tham gia bảo hiểm lên tới 6200 tỷ đồng. Như vậy, đây là nghiệp vụ bảo hiểm có giá trị bảo hiểm ban đầu lớn nhất. Ngày 31/12/1991 Bộ Tài Chính ra thông tư số 82/TTCN hướng dẫn thực hiện chỉ thị 332/HĐBT về bảo toàn vốn kinh doanh đối với các doanh nghiệp ghi rõ "Các doanh nghiệp cần phải mua bảo hiểm tài sản tạo nguồn bù đắp cho những thiệt hại ở các công ty bảo hiểm Việt Nam. Khoản chi về phí bảo hiểm được hạch toán vào giá thành hoặc chi phí lưu thông của doanh nghiệp. Nhà nước sẽ không ghi giảm vốn trong trường hợp tài sản bị tổn thất do những rủi ro mà các công ty Bảo Hiểm trong nước đã triển khai những loại hình tương tự". Sau đó Nghị định 59/CP cũng quy định rất cụ thể về vấn đề này. Đồng thời với tính bắt buộc của các văn bản pháp luật là sự nhận thức ngày càng cao của người dân về bảo hiểm cháy. Do đó đến năm 1994 bảo hiểm cháy đã được triển khai ở hầu hết 53 tỉnh thành phố với tổng giá trị tài sản được bảo hiểm lên tới 27000 tỷ đồng. Tuy nhiên, các công ty chỉ mới bảo hiểm chủ yếu kho xăng dầu, còn phần lớn các tài sản: nhà máy, xí nghiệp, khách sạn chợ … trị giá nhiều tỷ đồng vẫn chưa được bảo hiểm. Rõ ràng tiềm năng khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy còn rất lớn. Năm 1995 công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex được thành lập. ngay lập tức nghiệp vụ bảo hiểm cháy đã được triển khai và đưa vào khai thác. Đến năm 2001, thị trường của nghiệp vụ bảo hiểm cháy tương đối sôi động với sự cạnh tranh của 10 công ty và tổng doanh thu phí hàng năm tăng đều đặn : 1997 tổng phí là 11,719 triệu USD, 1998 là 14,266 triệu USD, năm 1999 giảm chút ít là 13,850 triệu USD và năm 2000 là 16,2 triệu USD. II. Tác dụng của bảo hiểm cháy trong đời sống kinh tế xã hội 1. Đặc điểm của bảo hiểm cháy Bảo hiểm cháy là một loại hình bảo hiểm tài sản nhằm áp dụng cho các nhà máy, xí nghiệp, khách sạn… thuộc mọi thành phần kinh tế quốc dân. Giá trị bảo hiểm cháy thường là rất lớn, khi rủi ro xảy ra tổn thất không chỉ là một đơn vị nhỏ mà có khi là toàn bộ gia sản. Vì vậy, việc các đơn vị này tham gia bảo hiểm cháy là điều tất yếu và có như vậy mới ổn định sản xuất kinh doanh và bảo toàn đồng vốn. Hiểm họa cháy có thể hạn chế được nếu con người có ý thức và có các biện pháp đề phòng hữu hiệu. Do đó, công tác đề phòng và hạn chế tổn thất trong nghiệp vụ này là xương sống. Bảo hiểm cháy chính là sự bảo trợ cho những tổn thất trực tiếp do cháy gây nên. Ngoài ra, trong thực tế khi xảy ra cháy có thể phát sinh tổn thất gián tiếp. Các tổn thất gây ra cho tài sản của người thứ ba và thuộc trách nhiệm của người bảo hiểm như thiệt hại về kinh doanh, thiệt hại gây ra cho người xung quanh. Hoạt động của nghiệp vụ này mang tính chất kĩ thuật phức tạp. Đặc điểm này được thể hiện rõ hơn qua cách xác định tổn thất, phân chia các đơn vị rủi ro, cách tính phí, mức khấu trừ, công tác đề phòng và hạn chế tổn thất, công tác giám định bồi thường. 2.ý nghĩa kinh tế xã hội Ngày nay, khi khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, trình độ dân trí ngày càng cao nhưng chúng ta không thể né tránh được hết mọi rủi ro. ở các nước phát triển, ý thức PCCC và điều kiện phòng cháy chữa cháy tương đối tốt, tuy nhiên không có một sự đảm bảo nào là có hệ thống PCCC hoàn hảo để chống đỡ lại những yếu tố ngẫu nhiên gây ra do sét hay do sơ suất của con người trong quá trình hoạt động. Tại các nước chậm phát triển, công nghệ còn lạc hậu, đặc biệt là ý thức PCCC của người dân còn yếu kém nên cháy thường xảy ra nhiều hơn Bảo hiểm cháy là một hình thức chuyển giao tài trợ rủi ro, trong đó người bảo hiểm chấp nhận gánh vác phần tổn thất tài chính khi rủi ro xuất hiện. Thông qua việc bồi thường một cách hợp lí, kịp thời chính xác, trung thực đã giúp cho các tổ chức cá nhân nhanh chóng khắc phục được thiệt hại. Đặc biệt khi tất cả các công ty phải hạch toán kinh doanh độc lập trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, bảo hiểm vẫn sẽ là lá chắn kinh tế cuối cùng tạo sự ổn định sản xuất kinh đoanh. Đồng thời bảo hiểm cũng thể hiện tính cộng đồng tương trợ nhân văn sâu sắc. Nhờ có bảo hiểm, những người tham gia bảo hiểm đóng góp một số phí xây dựng nên quỹ tiền tệ tập trung, quỹ này sẽ bồi thường tổn thất cho người được bảo hiểm và một phần không nhỏ nguồn phí bảo hiểm sẽ được các công ty bảo hiểm đóng góp vào ngân sách nhà nước để chính phủ thực hiện các chính sách xã hội. Trong thời gian nhàn rỗi, quỹ này sẽ được công ty bảo hiểm đầu tư vào các lĩnh vực theo quy định của pháp luật, nhằm thu được lợi nhuận phát triển và tăng trưởng quỹ, góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân. Ngoài ra, khi tham gia bảo hiểm, các chủ thể của nền kinh tế không những được đền bù thiệt hại khi tổn thất xảy ra mà còn không phải lập quỹ dự phòng đề phòng tổn thất. Do đó khả năng tài chính của người tham gia sẽ tăng lên quy mô sản xuất sẽ mở rộng và giá thành sản phẩm giảm dẫn đến giá cả giảm, đem lại lợi ích cho người tiêu dùng . Mặt khác, để giảm thiểu thiệt hại mà cháy có thể gây ra người ta thường sử dụng biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất. Khi tham gia bảo hiểm, nhà bảo hiểm cùng với người tham gia bảo hiểm sẽ thực hiện các biện pháp để phòng ngừa tai nạn xảy ra như: cố vấn tuyên truyền ý thức PCCC, xây dựng cơ sở thiết bị PCCC… nhằm giảm bớt và hạn chế hậu quả thiệt hại. Việc đề phòng và hạn chế tổn thất làm yên tâm cho chủ hợp đồng và những người dân sống xung quanh vùng trước đây thường hay có cháy xảy ra, đảm bảo an ninh trật tự cho xã hội. Một vấn đề quan trọng nữa là khi đã tham gia bảo hiểm hoả hoạn, các chủ hợp đồng này dễ dàng nhận được sự trợ giúp về vốn của các chủ đầu tư, các ngân hàng thương mại, của các bạn hàng… Vì họ biết rằng họ có thể thu hồi được vốn ngay cả khi khách hàng của họ bị rủi ro, tổn thất sẽ được bù đắp bởi sự bồi thường của các công ty bảo hiểm. Điều này làm cho hệ thống lãi suất liên ngân hàng ổn định, tiền tệ lưu thông bình thường ngay cả khi có nhiều vụ cháy lớn liên tiếp xảy ra. Tất cả những gì nêu trên đã minh chứng cho tác dụng lớn lao về kinh tế, xã hội của bảo hiểm cháy. Vì vậy một chính khách đã nói "Không có bảo hiểm sẽ không có nhà tư bản nào dám đầu tư hàng triệu USD để xây dựng các tòa nhà lớn, bởi một tàn thuốc lá có thể biến toà nhà ấy thành tro dễ dàng". III. Những nội dung cơ bản của nghiệp vụ bảo hiểm cháy 1.Một số khái niệm liên quan Để thấy được các vấn đề của bảo hiểm cháy, trước hết cần phải hiểu được một số khái niệm có liên quan theo quy định chung của quy tắc bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt của bộ tài chính ban hành theo quyết định 142/TCQB ngày 2/5/1991 sau đây: Cháy là một phản ứng hoá học có toả nhiệt và phát ra ánh sáng. Hỏa hoạn là cháy xảy ra không kiểm soát được ngoài ngọn lửa chuyên dùng, gây thiệt hại cho con người và tài sản. Tổn thất là toàn bộ thiệt hại về người và tài sản được gây ra bởi các rủi ro bảo hiểm. Tổn thất toàn bộ là tài sản được bảo hiểm bị phá huỷ hoặc hư hại hoàn toàn không thể phục hồi lại được như trạng thái ban đầu. Tổn thất toàn bộ ước tính là tài sản được bảo hiểm bị phá huỷ hoặc hư hại đến mức nếu sửa chữa hoặc phục hồi thì chi phí đó sẽ lớn hơn hoặc bằng giá trị bảo hiểm. 2. Đối tượng bảo hiểm Đối tượng bảo hiểm là tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lí hợp pháp của các đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ, các tổ chức, các cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong xã hội. Như vậy đối tượng của bảo hiểm cháy thường bao gồm: Công trình xây dựng, vật kiến trúc đã đưa vào sử dụng(trừ đất đai) Máy móc thiết bị, phương tiện lao động phục vụ sản xuất kinh doanh. Vật tư hàng hoá dự trữ trong kho. Nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm. Các loại tài sản khác khác(kho bãi, chợ, cửa hàng khách sạn…). Có thể nói, đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm cháy là tương đối rộng. 3. Đơn vị rủi ro: Đơn vị rủi ro : là nhóm tài sản tách biệt với nhóm tài sản khác với khoảng cách không cho phép ngọn lửa từ nhóm này lan sang nhóm khác, tuy nhiên khoảng cách gần nhất không dưới 12m. Việc xác định đơn vị rủi ro một cách chính xác là cơ sở xác định mức độ rủi ro cũng như xác định mức phí . Đơn vị rủi ro có thể là một nhóm ngôi nhà hoặc kho bãi ngoài trời cùng trong một khu vực không bị tách rời nhau bởi một khoảng trống hoặc cấu trúc xây dựng chống cháy nhưng lại tách rời các ngôi nhà khác về không gian. Hai ngôi nhà được coi là tách rời nhau về không gian khi khoảng trống phân cách giữa hai ngôi nhà ít nhất bằng chiều cao của ngôi nhà cao hơn. Khoảng cách tối thiểu quy định cho : Giữa các kho bãi ngoài trời chứa nguyên vật liệu dễ cháy là 20m. Giữa các khối nhà trong đó có chứa hay gia công vật liệu dễ cháy với các khối nhà khác là 15m. Các đối tượng khác là 12m. Tường ngăn cách đơn vị rủi ro : Là cấu trúc xây dựng để phân chia ngôi nhà thành từng đơn vị rủi ro. Do ý nghĩa về mặt kĩ thuật chống cháy và yêu cầu bảo hiểm đặt ra đối với loại tường này cao hơn tường chống cháy. Các tường ngăn cách này phải là loại tường cấp F180A và chịu được 400N và trên 1000 độ 4. Phạm vi bảo hiểm Phạm vi bảo hiểm là giới hạn các rủi ro được bảo hiểm và giới hạn trách nhiệm của công ty bảo hiểm Rủi ro là những sự cố không chắc chắn xảy ra nhưng gây hư hỏng thiệt hại cho tài sản và ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Trong bảo hiểm cháy không phải tất cả mọi rủi ro đều được bảo hiểm. Chúng ta sẽ tìm hiểu rủi ro được bảo hiểm và rủi ro không được bảo hiểm. 4.1. Những rủi ro được bảo hiểm Rủi ro cơ bản: Rủi ro cơ bản là những rủi ro như : cháy, sét, nổ. Cháy được quy định là cháy có gây ra tổn thất, có ngọn lửa, có sự tự phá huỷ nhưng loại trừ nguyên nhân gây ra cháy là động đất, núi lửa phun hoặc các biến động khác của thiên nhiên và những thiệt hại gây ra do tự phát nhiệt của bản thân tài sản, hoặc trường hợp tài sản phải trải qua bất kì quá trình nào liên quan tới việc sử dụng nhiệt. Ngoài ra bất kì thiệt hại nào gây nên bởi hoặc do hậu quả của việc đốt rừng, bụi cây, đồng cỏ hoặc đốt cháy với mục đích làm sạch đồng ruộng, đất đai dù là ngẫu nhiên cũng không được bồi thường. Sét: rủi ro do sét gây nên không nhất thiết gây ra cháy cũng sẽ được bảo hiểm. Tuy nhiên, chỉ có những thiệt hại trực tiếp do tia sét gây ra hoặc làm biến dạng hoặc gây cháy cho tài sản đó mới được bồi thường. Nổ: nổ là hiện tượng cháy cực nhanh, tạo ra hoặc giải phóng một áp lực cực lớn kèm theo một tiếng động mạnh phát sinh bởi sự giãn nở nhanh và mạnh của các chất lỏng và khí. Các trường hợp nổ gây cháy đã nghiễm nhiên được bảo hiểm. Như vậy, ở đây ta chỉ xét những thiệt hại do nổ mà không gây cháy. Mọi đơn bảo hiểm cháy đều bảo hiểm rủi ro nổ trong một phạm vi có giới hạn. Nghiệp vụ bảo hiểm này chỉ hạn chế ở những vụ nổ do ga hay nồi hơi phục vụ cho sinh hoạt gây ra. Tuy nhiên, với điều kiện là sự cố đó không phải do các nguyên nhân bị loại trừ như : thiệt hại gây nên do khủng bố, do áp lực và các chất chứa trong các máy móc, thiết bị. Tổn thất hoặc thiệt hại do nổ xuất phát từ cháy : thiệt hại ban đầu do cháy được bồi thường nhưng những thiệt hại do hậu quả của nổ thì không. Ngoài ra, còn có các thiệt hại vật chất không phải do cháy trực tiếp gây ra: Thiệt hại do khói mà nguồn lửa gây ra thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm. Tuy nhiên ngọn lửa đã tắt thì thiệt hại do khói không được bồi thường. Thiệt hại tài sản được bảo hiểm do phương tiện hoặc biện pháp cứu chữa gây ra do đổ tường hoặc rào chắn do lính cứu hoả và các phương tiện của họ gây ra trong quá trình cứu chữa. Thiệt hại tại sản do mất cắp trong khi cháy mà người bảo hiểm không chứng minh được là mất cắp. Những rủi ro này được gọi là rủi ro mở rộng hợp pháp không tính phí. Rủi ro phụ : Bên cạnh rủi ro chính còn có một số rủi ro đặc biệt, độc lập không nằm trong rủi ro cháy nhưng có thể lựa chọn để bảo hiểm cùng với đối tượng bảo hiểm. Chỉ có bảo hiểm cho những rủi ro cơ bản mới có thể bảo hiểm cho những rủi ro phụ. Đó là các rủi ro sau: Máy bay hoặc các phương tiện hàng không khác hoặc các thiết bị trên phương tiện đó rơi vào. Động đất, núi lửa phun bao gồm cả lũ lụt và nước biển tràn do hậu quả của động đất hoặc núi lửa phun. Giông bão, lũ lụt, mưa đá. Vỡ hay tràn nước từ các bể chứa nước, thiết bị chứa nước hay đường dẫn nước nhưng loại trừ tài sản bị phá huỷ hay hư hại do nước chảy rò rỉ từ thiết bị phòng cháy tự động. Gây rối, đình công, bãi công, sa thải. 4.2.Rủi ro không được bảo hiểm Trong bảo hiểm bất kì nghiệp vụ nào cũng có điểm loại trừ, mặc dù người bảo hiểm luôn cố gắng để sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng trong việc mở rộng phạm vi bảo hiểm. Tuy nhiên, có một số điểm loại trừ có thể được thương lượng để bảo hiểm với một tỉ lệ phí biến đổi tuỳ theo mức độ rủi ro, nhưng có những điểm loại trừ không thể thương lượng và được áp dụng cho mọi rủi ro: Các thiệt hại do nổi loạn bạo động dân sự, quần chúng nổi dậy bãi công, sa thải công nhân, chiến tranh xâm lược, các hoạt động thù địch của nước ngoài, chiến sự nổi loạn, nội chiến, khởi nghĩa, cách mạng binh biến, bạo động khủng bố… Bất kì tổn thất nào trực tiếp hay gián tiếp mà nguyên nhân gây ra có liên quan đến phóng xạ ion hoá hay nhiễm phóng xạ từ nguyên liệu hạt nhân hoặc từ các chất thải của nó, các thuộc tính phóng xạ, độc, nổ hoặc các thuộc tính nguy hiểm khác của thiết bị nổ hạt nhân hay bộ phận của thiết bị đó. Những tổn thất về: hàng hoá nhận uỷ thác hay kí gửi trừ khi những hàng hoá này được xác nhận trong giấy chứng nhận bảo hiểm và nộp thêm phí theo tỉ lệ quy định. Hàng nhận uỷ thác ở đây chỉ có nghĩa là hàng gửi thông thường chứ không bao gồm hàng uỷ thác xuất khẩu. Những thiệt hại xảy ra đối với bất kì máy móc, khí cụ điện nào hay bất kì bộ phận nào của thiết bị điện chạy quá tải, quá áp lực, đoản mạch, tự đốt nóng, rò điện do bất cứ nguyên nhân nào. Tuy nhiên, điểm loại trừ này chỉ áp dụng đối với chính máy móc, khí cụ điện hoặc những bộ phận của khí cụ điện chịu tác động trực tiếp của hiện tượng nêu trên chứ không áp dụng đối với những máy móc khí cụ và các thiết bị điện nói trên hư hỏng do nguyên nhân khác. Những thiệt hại gây ra do sự ô nhiễm, nhiễm bẩn loại trừ những thiệt hại đối với tài sản được bảo hiểm xảy ra do: Ô nhiễm môi trường, bẩn phát sinh từ những rủi ro được bảo hiểm. Bất kì rủi ro được bảo hiểm nào mà chính những rủi ro ấy lại phát sinh từ ô nhiễm hay nhiễm bẩn. Những thiệt hại về tiền bạc hay kim loại quý, đá quý, chứng khoán, thư bảo lãnh, tem phiếu, tài liệu, bản thảo, sổ sách kinh doanh, tài liệu lưu trữ trong máy tính điện tử, bản mẫu văn bằng, mẫu bản vẽ, tài liệu thiết kế… trừ khi là những tài sản trên được xác định bảo hiểm theo đơn bảo hiểm cháy. Thiệt hại, xảy ra đối với những tài sản mà vào thời điểm xảy ra tổn thất, được bảo hiểm hay lẽ ra được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm hàng hải, trừ phần thiệt hại vượt quá số tiền lẽ ra có thể được bồi thường theo đơn bảo hiểm hàng hải nếu như đơn này chưa có hiệu lực. Những thiệt hại cho bên thứ ba như đối tượng bảo hiểm bị cháy, trong quá trình cháy lan sang tài sản khác không phải là của người được bảo hiểm. Những thiệt hại mang tính chất hậu quả dưới bất kì hình thức nào trừ thiệt hại về tiền thuê nhà được xác nhận trong giấy chứng nhận bảo hiểm. Những thiệt hại trong phạm vi mức miễn thường và mức miễn thường này sẽ được đề cập chi tiết hơn ở phần tính phí bảo hiểm. 5.Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm. 5.1. Giá trị bảo hiểm Cơ sở để xác định số tiền bảo hiểm hay trách nhiệm cúa nhà bảo hiểm là giá trị bảo hiểm, đó là giá trị bảo hiểm của tài sản được bảo hiểm. Giá trị này có thể là giá trị thực tế, giá trị mua mới. Giá trị mua mới của tài sản được xác định tại thời điểm khi tài sản đó bắt đầu đưa vào sử dụng, hoạt động. Giá trị mua mới bao gồm : nguyên giá + chi phí vận chuyển + chi phí lắp đặt chạy thử. Giá trị thực tế của tài sản bảo hiểm là giá trị được xác định, đánh giá tại thời điểm mua bảo hiểm. Trong bảo hiểm cháy, giá trị của tài sản được bảo hiểm thường có giá trị rất lớn như: nhà cửa, các công trình máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, hàng hoá vật tư trong kho … ta có thể xác định giá trị bảo hiểm như sau: Giá trị bảo hiểm của các ngôi nhà(nhà xưởng, nhà ở…) được xác định theo giá trị xây mới hay giá trị trên thị trường hoặc giá trị còn lại. Giá trị mới là giá trị mới xây của ngôi nhà bao gồm cả chi phí khảo sát, thiết kế. Giá trị còn lại là giá trị mới (nguyên giá) trừ đi hao mòn do sử dụng theo thời gian. Trong bảo hiểm thường bảo hiểm theo giá trị còn lại. Giá trị đơn giản là giá bán có thể thu hồi được trong trường hợp ngôi nhà không sử dụng được nữa. Giá trị bảo hiểm cuả máy móc thiết bị và các loại tài sản cố định khác được xác định trên cơ sở giá mua mới (bao gồm giá mua, chi phí vận chuyển, lắp đặt, thuế GTGT) hoặc giá trị còn lại (giá trị mua mới đã trừ đi khấu hao và thường nhỏ hơn 70% giá trị mua mới). Với những tài sản cố định đã cũ mà giá trị còn lại dưới 70% thì thường lấy theo giá trị còn lại. Giá trị của thành phẩm và bán thành phẩm được xác định trên cơ sở giá thành sản xuất bao gồm cả chi phí nguyên vật liệu, tiền công lao động và khấu hao tài sản cố định, chi phí quản lí…Trong trường hợp giá thành sản xuất cao hơn giá bán có thể bán được thì ta lấy giá trị bảo hiểm là giá bán. Giá trị của hàng hoá mua để trong kho, trong cửa hàng được xác định theo giá mua (xác định theo hoá đơn chứng từ) cộng chi phí vận chuyển. Tuy nhiên, giá trị bảo hiểm còn biến động tuỳ thuộc vào trường hợp cụ thể do đó nhà bảo hiểm có những biện pháp linh hoạt để xác định giá trị bảo hiểm, ví dụ như bức tranh cổ, kỉ vật của những người nổi tiếng… những tài sản mà giá trị thường biến động theo thời gian hoặc sự ngưỡng mộ của dân chúng. 5.2 Số tiền bảo hiểm Số tiền bảo hiểm là giới hạn bồi thường tối đa của nhà bảo hiểm. Trong trường hợp tài sản được bảo hiểm bị tổn thất toàn bộ. Số tiền bảo hiểm là căn cứ xác định phí bảo hiểm. Vì thế xác định chính xác số tiền bảo hiểm có ý nghĩa rất quan trọng. Cơ sở xác định số tiền bảo hiểm là giá trị bảo hiểm . Trong nền kinh tế thị trường, quy mô sản xuất kimh doanh có xu hướng ngày càng phát triển do đó số lượng giá trị tài sản cũng tăng lên. Mặt khác, tài sản của mỗi nhóm thường xuyên biến động hoặc có những tài sản khó xác định giá trị. Thông thường số tiền bảo hiểm do công ty bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm thoả thuận tức là số tiền bảo hiểm do người bảo hiểm yêu cầu và người được bảo hiểm chấp nhận. Số tiền bảo hiểm có thể thấp hơn hoặc cao hơn giá trị bảo hiểm (trước đây thông thường số tiền bảo hiểm thấp hơn hoặc bằng giá trị bảo hiểm). Người được bảo hiểm có thể tham gia bảo hiểm tài sản của mình với số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm nhưng không vượt quá 10% giá trị bảo hiểm. Trong các trường hợp khác thì có sự thoả thuận trong hợp đồng và phải ghi rõ số tiền bảo hiểm bằng bao nhiêu % giá trị bảo hiểm của tài sản, khi tổn thất bộ phận xảy ra thì áp dụng nguyên tắc bồi thường theo tỉ lệ. Theo quy định của nhà nước ta hiện nay mà cụ thể là Bộ Tài Chính, trong mọi trường hợp số tiền bồi thường không vượt quá số tiền bảo hiểm. Sau mỗi lần bồi thường số tiền bảo hiểm sẽ giảm đi một lượng đúng bằng số tiền bồi thường đã trả. Muốn giữ nguyên số tiền bảo hiểm như ban đầu thì người được bảo hiểm phải nộp phí bổ sung tương ứng số tiền bảo hiểm đã bị trừ sau mỗi lần bồi thường và tỉ lệ với khoảng thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp người được bảo hiểm không muốn giữ nguyên số tiền bảo hiểm, ở những tổn thất sau số tiền bồi thường tối đa sẽ không vượt quá số tiền bảo hiểm còn lại sau khi đã trừ đi tất cả khoản tiền bồi thường đã trả cho đến thời điểm đó . Trong bảo hiểm cháy cần phải lưu ý rằng khi nhận bảo hiểm không chấp nhận bảo hiểm theo kiểu chọn điểm, tức là nhà bảo hiểm không nhận bảo hiểm khi người được bảo hiểm chỉ tham gia cho những bộ phận tài sản, những công đoạn sản xuất có nhiều rủi ro nhất bởi vì điều này sẽ rất nguy hiểm cho nhà bảo hiểm. Thường người ta bảo hiểm toàn bộ tài sản hoặc cũng có thể bảo hiểm theo tỉ lệ % giá trị tài sản. Giá trị tài sản tham gia bảo hiểm không chỉ là những tài sản có giá trị ít thay đổi như nhà cửa, máy móc thiết bị, mà còn có tài sản thường xuyên tăng giảm về số lượng như hàng hoá trong kho, trong cửa hàng do đó giá trị bảo hiểm cũng thường xuyên thay đổi. Như vậy việc xác định số tiền bảo hiểm trong trường hợp này là rất phức tạp. Bên cạnh đó, ta cũng thấy rằng các tài sản tham gia bảo hiểm thường có giá trị rất lớn đặc biệt có những tài sản rất khó xác định giá trị như các công trình kiến trúc, viện bảo tàng, hay những tài sản vô giá… Vì những yếu tố phức tạp đó mà khi xác định số tiền bảo hiểm các công ty bảo hiểm trên thế giới sử dụng hai chỉ tiêu: Bảo hiểm giá trị trung bình: thực tế để cho đơn giản, cuối năm không phải điều chỉnh lại số tiền bảo hiểm cũng như phí bảo hiểm, đồng thời tiện cho công tác TBH thì người ta thường bảo hiểm theo giá trị trung bình. Điều này có nghĩa là người tham gia bảo hiểm ứơc tính và thông báo cho công ty bảo hiểm biết giá trị trung bình của hàng hoá trong kho, trong cửa hàng của mình. Trong thời hạn bảo hiểm giá trị trung bình này được coi nh._.ư số tiền bảo hiểm. Khi tổn thất xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm, người bảo hiểm bồi thường thiệt hại thực tế nhưng không vượt quá giá trị trung bình đã khai báo. Phí bảo hiểm trong trường hợp này tính trên cơ sở giá trị trung bình. Bảo hiểm theo giá trị tối đa: trường hợp này người được bảo hiểm ước tính và thông báo cho người bảo hiểm biết giá trị của số hàng hoá tối đa có thể đạt được vào một thời diểm nào đó trong thời gian bảo hiểm. Như vậy trong trường hợp này người tham gia bảo hiểm và người bảo hiểm phải hiểu được giá trị tối đa coi như là số tiền bảo hiểm từ đó suy ra số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm khi xảy ra tổn thất. Điều đó chứng minh"vì sao số tiền bảo hiểm cũng có thể lớn hơn giá trị bảo hiểm “. Phí bảo hiểm được tính theo giá trị tối đa này và người tham gia bảo hiểm có trách nhiệm nộp trước 75%phí. Khi xảy ra tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm, người bảo hiểm bồi thường thiệt hại thực tế nhưng không vượt quá giá trị tối đa đã khai báo. Đầu mỗi tháng, mỗi quý (tuỳ theo sự thoả thuận của hai bên), người được bảo hiểm thông báo số hàng tối đa thực có trong tháng trong quý trước đó. Công tác này nhằm tránh tình trạng khách hàng cố tình hạ thấp số tiền bảo hiểm vào cuối năm và do đó giảm bớt số tiền phí bảo hiểm phải trả hàng tháng, hàng quý. Cuối thời hạn bảo hiểm, trên cơ sở giá trị thông báo, người bảo hiểm sẽ tính lại giá trị số hàng tối đa bình quân của cả thời kì bảo hiểm và tính lại phí dựa vào giá trị tối đa bình quân này. Nếu số phí bảo hiểm tính được dựa trên cơ sở giá trị tối đa bình quân nhiều hơn số phí bảo hiểm đã nộp(2/3)thì người được bảo hiểm có trách nhiệm nộp thêm số phí bảo hiểm còn thiếu cho công ty bảo hiểm. Ngược lại, trường hợp số phí bảo hiểm đã nộp nhiều hơn số phí bảo hiểm tính được trên cơ sở giá trị tối đa bình quân, công ty bảo hiểm có trách nhiệm hoàn trả phần giá trị chênh lệch cho người được bảo hiểm. Tuy nhiên, số phí bảo hiểm nộp chính thức không được thấp hơn 2/3 số phí bảo hiểm đã nộp đầu năm bảo hiểm. Khi bảo hiểm theo giá trị tối đa ngoài việc yêu cầu khách hàng khai báo hàng tháng (hàng quý) và đầu tháng (đầu quý), cán bộ bảo hiểm cần kiểm tra chặt chẽ, nếu khách hàng tỏ ra trung thực thì công ty có thể giảm dần việc kiểm tra và nếu ngược lại chuyển sang bảo hiểm theo giá trị trung bình. Công ty bảo hiểm có quyền yêu cầu người được bảo hiểm xuất trình sổ sách kế toán để kiểm tra số liệu được thông báo . Một điểm cần chú ý trong trường hợp này là trong thời hạn bảo hiểm đã có tổn thất được công ty bảo hỉểm bồi thường và số tiền bồi thường vượt qúa giá trị tối đa bình quân tính được thì phí bảo hiểm được tính trên cơ sở số tiền bồi thường đã trả (trong trường hợp này số tiền được bồi thường coi như số tiền bảo hiểm). Cả hai phương pháp trên đều được thoả thuận để chọn lựa trước khi kí kết hợp đồng. Tuy nhiên, lựa chọn theo phương pháp nào đều liên quan chặt chẽ đến phí bảo hiểm và người bảo hiểm phải chấp nhận tính phí bảo hiểm theo từng phương pháp. Thông thường các công ty bảo hiểm theo phương pháp giá trị trung bình do cách tính này đơn giản, dễ hiểu dễ theo dõi, thuận lợi cho việc tính phí và thu phí. Ngược lại, bảo hiểm theo giá trị tối đa rất phức tạp trong việc điều chỉnh và thu, trả lại phí ở đầu,cuối tháng (quý). Phương pháp này thường xuyên phải theo dõi giá trị hàng hoá trong kho suốt thời hạn bảo hiểm. Do vậy, người bảo hiểm thường khuyến khích khách hàng tham gia bảo hiểm tài sản theo giá trị trung bình, điều này tạo thuận lợi cho cả người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm. Cuối thời hạn bảo hiểm trên cơ sở số tiền bảo hiểm đã đăng kí các công ty bảo hiểm căn cứ vào đó xác định và tính toán số tiền bồi thường nếu có. Nếu người tham gia bảo hiểm chưa nộp phí bảo hiểm, số tiền bồi thường được xác định căn cứ vào tỉ lệ phí đã nộp. 6.Phí bảo hiểm và các nhân tố ảnh hưởng. 6.1 Phí bảo hiểm và cách xác định Phí bảo hiểm là khoản tiền mà người tham gia bảo hiểm nộp cho công ty bảo hiểm khi họ chuyển rủi ro cho công ty bảo hiểm. Như vậy, phí bảo hiểm chính là giá cả của dịch vụ bảo hiểm. Tính toán mức phí vừa phải với khách hàng và đảm bảo mục tiêu kinh doanh là vấn đề phức tạp đòi hỏi sự năng động, sáng tạo của các công ty bảo hiểm nhất là trong kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay. Đối với bảo hiểm cháy phí bảo hiểm được quy định riêng cho từng rủi ro và nếu người được bảo hiểm muốn được bảo hiểm thêm những rủi ro phụ thì phải nộp thêm phí bảo hiểm theo tỉ lệ quy định. Thời hạn nộp phí bảo hiểm do người tham gia thoả thuận với công ty bảo hiểm. Nhưng thông thường, người tham gia bảo hiểm nộp phí một lần sau khi kí hợp đồng thì hợp đồng có hiệu lực. Trường hợp số phí bảo hiểm quá lớn, để giảm bớt khó khăn cho người được bảo hiểm thì hai bên có thể thoả thuận với nhau là nộp phí thành nhiều lần nhưng không được quá bốn kì và phí kì nào chỉ có hiệu lực cho kì ấy. Trong bảo hiểm cháy, khi đối tượng bảo hiểm là tài sản có giá trị quá lớn và thường đa dạng về chủng loại, về mức độ rủi ro thì phí bảo hiểm cháy phải bao gồm hai phần sau: Phần thực phí Phần phụ phí Phần thực phí (phí thuần) là cơ sở hình thành nên quỹ bồi thường để chi trả cho người tham gia bảo hiểm khi đối tượng bảo hiểm bị tổn thất do các rủi ro được bảo hiểm gây ra. Phí thuần là bộ phận quan trọng nhất của phí bảo hiểm thể hiện mối quan hệ trực tiếp giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm. Mức phí thuần được tính dựa vào xác xuất rủi ro, xác xuất này được xác định : X = t/T Trong đó : X: xác xuất rủi ro T: tổng số đơn vị rủi ro t: số vụ tai nạn Mức phí thuần được tính theo công thức: f = X x Sbt Trong đó : f : phí thuần Sbt: số tiền bồi thường bình quân mỗi vụ tổn thất Phụ phí bảo hiểm cháy bao gồm nhiều khoản : chi phí đề phòng và hạn chế tổn thất, chi phí quản lí, chi hoa hồng, dự phòng phí, thuế và các khoản chi khác. d = K x f Trong đó : d: phụ phí K: tỉ lệ phụ phí Vì vậy để thực hiện cạnh tranh các công ty bảo hiểm chỉ có thể điều chỉnh các bộ phận trong phụ phí. Phí bảo hiểm hoả hoạn(F) được xác định theo công thức: F = f + d Phương pháp tính phí bảo hiểm cháy: Phí bảo hiểm cháy được xác định trên cơ sở số liệu thống kê của một khoảng thời gian trước, thường là từ 3 đến 5 năm. Mức phí được xác định trên cơ sở tỉ lệ phí và số tiền bảo hiểm. Cụ thể là : Phí bảo hiểm = STBH x tỉ lệ bảo hiểm. Có hai phương pháp xác định tỉ lệ phí :theo phân loại và theo danh mục : Xác định tỉ lệ phí theo phân loại: Đây là cách kết hợp các đơn vị rủi ro có thể so sánh với nhau thành cùng một loại, sau đó tính tỉ lệ mỗi loại phản ánh số tổn thất và các chi phí khác của loại đó. Phương pháp này phù hợp với những tài sản tương đối đồng nhất với nhau như nhà ở của dân cư… Nhưng cách xác định tỉ lệ theo phân loại cần xét các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ phí: + Vật liệu xây dựng bằng gì. + Khả năng phòng cháy chữa cháy. + Người sử dụng. + Những vật bố trí xung quanh, bên ngoài (những công trình đặc biệt dễ cháy để gần lửa lan nhanh tới tài sản được bảo hiểm). Xác định tỉ lệ phí theo danh mục: Bước1: Rà xét lại các danh mục tài sản tham gia bảo hiểm rồi phân loại tài sản theo danh mục khác nhau(vì mỗi loại tài sản có khả năng cháy nổ khác nhau). Bước 2: Căn cứ vào ngành nghề sản xuất kinh doanh để chọn một tỉ lệ phí thích hợp trong bảng tỉ lệ phí có sẵn. Bước 3 : Điều chỉnh tỉ lệ phí đã chọn theo yếu tố tăng(giảm). Việc điều chỉnh này phải căn cứ vào : vật liệu xây dựng… Tất cả những yếu tố này đều có thể làm tăng hoặc giảm tỉ lệ phí. Các công ty bảo hiểm thường quy định như sau : + Loại D :Giảm tối đa 10%phí bảo hiểm trong biểu phí. Các công trình loại D phải đạt được những yêu cầu sau: Bộ phận chịu lửa : gồm cột chịu lực, xà, dầm, tường chịu lực làm bằng vật liệu không cháy, mái nhà có khả năng chịu lửa ít nhất là 30 phút. Bộ phận không chịu lực : gồm tường ngăn cách bên trong và bên ngoài, trần không chịu lực… được xây bằng vật liệu không cháy (gạch ngói bê tông cốt thép). +Loại N :giữ nguyên tỉ lệ phí. Các công trình này không đạt các tiêu chuẩn như loại D, nhưng ít nhất thì các bộ phận chịu lực và các cấu kiện khác cũng phải làm bằng vật liệu khó cháy. +Loại L: tăng tối đa 10% tỉ lệ phí trong biểu phí. Là loại công trình không đạt được các yêu cầu loại D và N. Trong bảng tỉ lệ phí người ta quy định mức từ 0 đến 9 cho tỉ lệ phí cơ bản thao các loại hình sản xuất, kinh doanh khác nhau ứng với loại N. Nếu trong đơn vị rủi ro bao gồm nhiều đối tượng bảo hiểm có các tỉ lệ phí khác nhau thì chọn và áp dụng tỉ lệ phí cao nhất(ứng với đối tượng nguy hiểm nhất ) cho toàn bộ đơn vị rủi ro. Căn cứ vào những chỉ tiêu trên người đi đàm phán kí kết hợp đồng có cơ sở để quyết định kí hay không kí hợp đồng bảo hiểm cháy, điều này làm cho người kí kết hợp đồng tự chủ được trong việc tăng phí hay giảm phí không quá 10%. 6.2. Các yếu tố làm tăng phí bảo hiểm Khi có các yếu tố sau thì công ty bảo hiểm buộc phải tăng phí bảo hiểm: Tăng tối đa 15% phí đối với các công trình có thiết bị phụ trợ có thể làm tăng thêm khả năng xảy ra tổn thất, ví dụ :dây truyền sơn trong một phân xưởng sản xuất, thiết bị sấy khô, chiết xuất, chế biến gỗ, gia công vật liệu nhân tạo. Chú ý phụ phí này sẽ không được tính thêm, nếu các thiết bị phụ trợ này được lắp trong phòng ngăn cách với bên ngoài bằng tường chống cháy và chiếm không qúa 10% diện tích của cả đơn vị rủi ro. Tăng tối đa 10% phí đối với các công trình có các điều kiện đặc biệt không thuận lợi với rủi ro được bảo hiểm như: Có các nguồn lửa không được tách biệt hoàn toàn, có không khí bị đốt nóng bởi dầu hay khí đốt ở nơi làm việc. Có hệ thống sưởi ấm bằng tia hồng ngoại, dầu… Tuy nhiên sẽ không tính thêm phụ phí nếu không có các vật dễ cháy được sản xuất hay cất giữ gần đó. Thiếu thiết bị chữa cháy thích hợp, thiếu các biển báo phòng cháy. Có dây truyền sản xuất tự động nhưng không được trang bị các thiết bị báo cháy đạt tiêu chuẩn. Tăng tối đa 5% đối với các công trình có trung tâm máy tính nhưng không được ngăn cách bằng hệ thống tường chống cháy, không có hệ thống PCCC riêng biệt. Có khả năng xảy ra phá hoại. Tất cả những yếu tố làm tăng rủi ro đòi hỏi người đánh giá rủi ro phải xem xét kĩ lưỡng và phải đánh giá trung thực tránh đánh giá sai lệch sẽ gây bất lợi cho công ty bảo hiểm . 6.3. Các yếu tố làm giảm phí bảo hiểm Trong nghiệp vụ bảo hiểm cháy, các công ty bảo hiểm cần quan tâm đến các yếu tố làm giảm mức độ rủi ro vì các yếu tố này là cơ sở để giảm mức phí cơ bản. Các yếu tố đó là : Thiết bị phòng cháy và báo cháy tự động nối thẳng với trạm cứu hoả công cộng giảm 8%phí. Có hệ thống báo cháy tự động nối với phòng thường trực, đội cứu hoả của xí nghiệp, trạm công an hay cơ quan có trách nhiệm khác giảm phí bảo hiểm 6%. Có bộ phận báo cháy thuộc hệ thống chữa cháy tự động được lắp đặt cố định giảm 5% phí. Việc thường trực kiểm tra 24/24 giờ, tuần tra 2giờ/1lần và liên lạc ngay bằng điện đài hay nút bấm khi cần phát lệnh báo động giảm 5% phí. Thiết bị chữa cháy: chỉ giảm phí đối với phần công trình được các thiết bị và phương tiện này phục vụ. Có hệ thống chữa cháy tự động Springker giảm tối đa 35%. Công trình có hệ thống phun nước bằng tay giảm tối đa 10%phí, bằng tự động giảm 20% phí. Có hệ thống dập cháy bằng CO2 thủ công giảm tối đa 10%phí, tự động giảm 20% phí. Có hệ thống chữa cháy bằng bọt thủ công giảm tối đa 10% phí, tự động giảm 20% phí. Có hệ thống chữa cháy dạng bọt khô thủ công giảm 10%, tự động giảm 20%. Có hệ thống dập tắt tàn tia giảm tối đa 15% phí. Có hệ thống thoát khói, nhiệt thủ công giảm 2% phí, tự động giảm 4% phí. Có đội chữa cháy và nhân viên chuyên nghiệp giảm phí tối đa 20%, bán chuyên nghiệp giảm 10%. Gần đội cứu hoả công cộng, xe cứu hoả có thể đến trong 10 phút, ôtô dễ dàng tiếp cận giảm tối đa 10% phí. Ngoài ra mức phí giảm còn căn cứ vào tỉ lệ tổn thất trong quá khứ, dựa vào số liệu thống kê tình hình tổn thất trong 5 năm liên tục. Nếu 5 năm gần nhất số tiền bồi thường cho người được bảo hiểm nhỏ hơn 20% tổng số phí bảo hiểm thu được thì có thể giảm phí tới 15% phí bảo hiểm, nếu dưới 50% thì có thể giảm tới 10% phí bảo hiểm. Ngược lại nếu trong 5 năm gần nhất số tiền bồi thường bằng 120% số phí bảo hiểm thu được thì tăng 10% phí bảo hiểm, nếu bằng 150% thì tăng 15% phí bảo hiểm. Bên cạnh đó thì tỉ lệ giảm phí bảo hiểm còn phụ thuộc vào mức miễn thường. Mức miễn thường là sự từ chối bồi thường của công ty bảo hiểm cho người được bảo hiểm khi tổn thất xảy ra có giá trị nhỏ hơn một số tiền nhất định. Có hai mức miễn thường là mức miễn thường có khấu trừ và mức miễn thường không có khấu trừ. Khái niệm mức khấu trừ ở đây được hiểu là: đơn bảo hiểm không bồi thường mức khấu trừ kê khai trong bảng danh mục với mỗi và mọi tổn thất như đã xác định sau khi áp dụng tất cả những điều khoản, điều kiện của đơn bảo hiểm, kể cả điều khoản về bảo hiểm dưới giá trị bảo hiểm sẽ không có trách nhiệm bồi thường với những tổn thất mà giá trị không lớn hơn giá trị của mức khấu trừ kê khai trong danh mục hoặc nếu giá trị tổn thất lớn hơn khi tiến hành bồi thường sẽ trừ đi mức khấu trừ, việc này nhằm nâng cao trách nhiệm của người được bảo hiểm và giảm phí. Tuy nhiên, bảo hiểm cháy chỉ áp dụng mức miễn thường có khấu trừ với mục đích nhằm nâng cao vai trò của người tham gia bảo hiểm, giảm chi phí khi xảy ra những vụ tổn thất nhỏ vì tài sản tham gia bảo hiểm thường có giá trị rất lớn. Mức miễn thường tối thiểu không dưới 100USD và tối đa không quá 2000USD trên mỗi vụ tổn thất. Đây là mức miễn thường bắt buộc không được giảm phí. Tuy nhiên, nếu khách hàng muốn lựa chọn mức miễn thường cao hơn để giảm phí bảo hiểm thì áp dụng tỉ lệ giảm phí theo các mức miễn thường nhưng tối đa giảm 40%. Mức miễn thường còn phụ thuộc vào giá trị bảo hiểm. Nếu khách hàng chấp nhận mức miễn thường cao hơn thì có thể giảm phí theo tỉ lệ sau: Bảng 1: Mức miễn thường (%). STBH (tr.USD) Mức miễn thường Dưới 6 6-15 15-30 30-60 60-90 90-125 3000 3 6000 5 5 9000 6,8 6,8 6,8 12000 8,4 8,2 8 7,1 15000 9,8 9,5 9,1 8,0 30000 14,8 13,8 12,2 10,8 8,9 8 60000 21,3 19,3 16,7 13,6 12,2 11 150000 31,5 25 21,8 19,4 16,7 15 300000 30,4 26,5 24,1 22 20,3 625000 33,4 29,3 27,5 25,7 Ngoài căn cứ nêu trên, việc định phí còn dựa vào kinh nghiệm của các công ty bảo hiểm, ảnh hưởng từ phía khách hàng từ khâu bao gói, bố trí giữa các đơn vị rủi ro. 7. Giám định bồi thường. Giám định bồi thường là khâu quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh doanh và uy tín của doanh nghiệp bảo hiểm. Chúng ta cũng nhận thấy rằng sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình có chu trình kinh doanh ngược, chỉ là lời hứa đảm bảo chữ tín. Vì vậy quản lí giám định tốt, đảm bảo bồi thường kịp thời đúng với tổn thất thực tế sẽ giảm thiểu những thiệt hại tài chính trong quá trình kinh doanh bảo hiểm, đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ và uy tín của doanh nghiệp bảo hiểm trong thị trường cạnh tranh. Trong những năm gần đây, bên cạnh sự gia tăng mạnh mẽ của các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, những khiếu nại phức tạp với giá trị tổn thất lớn đã thường xuyên phát sinh đòi hỏi công tác giám định bồi thường cần được củng cố và nâng cao hơn nữa. Tuy nhiên, để làm tốt công tác này cần phải nắm vững các phương pháp tiến hành. Trước hết ta đi vào một số nguyên tắc cơ bản trong khâu giám định tổn thất. 7.1. Giám định tổn thất Công tác giám định tổn thất là tiền đề của công tác bồi thường. Trước khi bồi thường việc giám định, điều tra nguyên nhân, khám nghiệm hiện trường là nhiệm vụ chủ yếu của cảnh sát PCCC và biên bản do cảnh sát PCCC quy định. Các giám định viên của công ty bảo hiểm có trách nhiệm xem xét nguyên nhân đó có thuộc phạm vi bảo hiểm hay không, giá trị thiệt hại thực tế là bao nhiêu…Để tạo điều kiện cho người bảo hiểm và các cơ quan có liên quan đến giám định thiệt hại thì người được bảo hiểm phải thông báo kịp thời bằng văn bản, điện thoại cho công ty bảo hiểm và các bên liên quan biết để biện pháp cứu chữa và đồng thời họ phải có trách nhiệm giữ nguyên hiện trường. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho công việc giám định thiệt hại được chính xác tạo tiền đề quan trọng cho công tác bồi thường được chính xác thoả đáng. Thông thường, công tác giám định gồm các bước sau: Sau khi nhận được thông báo thiệt hại xảy ra, công ty bảo hiểm cử ngay nhân viên có trách nhiệm và chuyên môn xuống hiện trường làm công tác giám định và lập biên bản giám định. Khi tiến hành giám định, ngoài công ty bảo hiểm còn có các cơ quan liên quan(công an, kiểm toán, thuế vụ, chính quyền sở tại và các cơ quan chức năng khác) tham gia xem xét hiện trường kiến nghị cách xử lí tài sản bị tổn thất nhằm hạn chế tổn thất. Các giám định viên phải điều tra nắm vững nguyên nhân cũng như tang vật của vụ cháy, họ có trách nhiệm thu thập cung cấp tang chứng cũng như lời khai của các nhân chứng qua đó những sự kiện liên quan đến vụ cháy trở nên rõ ràng hơn. Cho nên các giám định viên cần phải tổng hợp phân tích tìm ra lời khai xác thực. Mặt khác, họ cần trao đổi với các bên liên quan để nắm được tình huống xảy ra cháy, thời gian, không gian nguyên nhân do đâu? Quá trình cháy diễn ra như thế nào, thái độ của người được bảo hiểm trước và sau khi xảy ra cháy như thế nào, ai là người cuối cùng rời khỏi khu vực xảy ra tổn thất trước khi sự cố xảy ra, có thực hiện việc kiểm tra an toàn trước khi rời khỏi khu vực tổn thất hay không, khi xảy ra tổn thất công tác cứu hoả có kịp thời hay không. Trong các trường hợp cần thiết có thể trưng cầu giám định kĩ thuật hoặc thành lập hội đồng giám định với sự tham gia của các cơ quan chuyên môn để xác định nguyên nhân và mức độ xảy ra tổn thất. Khi xác định nguyên nhân, cần lưu ý xem xét những câu hỏi sau: cái gì đã xảy ra, vì sao xảy ra, chúng lẽ ra đã có thể không thể xảy ra không? Đối với những thiệt hại nhẹ, nguyên nhân đơn giản, rõ ràng, số lượng tài sản hư hỏng không nhiều, bằng quan sát bên ngoài có thể xác định mức độ thiệt hại, thì giám định viên chỉ cần lập biên bản giám định giản đơn và một lần (xem phụ lục trang 89). Trường hợp phát sinh tổn thất đối với nhiều loại tài sản nhà xưởng, máy móc, hàng hoá…khó đánh giá thiệt hại bằng quan sát thông thường thì ngoài biên bản giám định ban đầu, cần có những biên bản giám định hoặc đánh giá bổ sung phát sinh trong quá trình sửa chữa, khắc phục hậu quả thiệt hại. Để không bỏ sót biên bản giám định nên kê khai hệ thống từng loại, hạng mục tài sản bị thiệt hại. Sau khi tiến hành giám định, hướng dẫn người được bảo hiểm tiến hành công tác thu dọn hiện trường, di chuyển tài sản hư hỏng. Đối với những tài sản có thể sửa chữa được, trước khi sửa chữa yêu cầu người được bảo hiểm cùng công ty bảo hiểm thống nhất phương án sửa chữa. Khi phát sinh thiệt hại liên quan đến người thứ ba, người được bảo hiểm phải cung cấp thông tin và hồ sơ liên quan giúp công ty bảo hiểm đòi bên thứ ba. 7.2. Giám định bồi thường: Sau khi lập biên bản có đầy đủ chữ kí của các bên có liên quan, công ty bảo hiểm sẽ dựa vào biên bản này dự trù số tiền bồi thường một lần hay nhiều lần (với việc trả một tỉ lệ lãi suất nhất định) người hưởng quyền lợi bảo hiểm. Thông thường công ty bảo hiểm thực hiện một trong hai phương pháp bồi thường sau đây: Bồi thường theo quy tắc tỉ lệ số tiền bảo hiểm Phương pháp này có mục đích tránh cho công ty bảo hiểm phải chịu những phiền toái về khiếu nại đồng thời ngăn ngừa người tham gia bảo hiểm lợi dụng bảo hiểm (trục lợi bảo hiểm). Theo phương pháp này việc bồi thường được quy định như sau: Nều thời điểm xảy ra tổn thất mà “số tiền bảo hiểm”nhỏ hơn giá trị thực tế của tài sản được bảo hiểm thì số tiền bồi thường sẽ là: Giá trị số tiền bảo hiểm Sbt = tổn thất x thực tế Giá trị bảo hiểm Như vậy theo phương pháp này khi tổn thất xảy ra người được bảo hiểm sẽ phải gánh chịu một phần tổn thất vì trong thực tế “số tiền bảo hiểm” thường nhỏ hơn “Giá trị bảo hiểm”. Trong trường hợp "số tiền bảo hiểm” bằng" Giá trị bảo hiểm” của tài sản tại thời điểm xảy ra tổn thất thì số tiền bồi thường ngang bằng giá trị thiệt hại. Tuy vậy, vẫn có thể xê dịch trong phạm vi 10% vì lí do tăng giảm số tiền bảo hiểm so với mức giá trị tối đa. Nếu tại thời điểm xảy ra rủi ro mà giá trị thực tế trên thị trường của tài sản lớn hơn giá trị tài sản đánh giá trước khi tham gia bảo hiểm thì số tiền bồi thường được xác định như sau Giá trị tài sản khi Giá trị đánh giá tham gia bảo hiểm Sbt = tổn thất x thực tế Giá trị tài sản tại thời điểm xảy ra tổn thất Nếu tại thời điểm tài sản bị phá huỷ hay hư hại trong khi được bảo hiểm mà tài sản đó lại được bảo hiểm bằng một hợp đồng bảo hiểm khác thì trách nhiệm của người được bảo hiểm trong bất kì trường hợp nào cũng chỉ chịu trách nhiệm giới hạn tổn thất phân bổ cho hợp đồng mà mình bảo hiểm theo tỉ lệ. Cụ thể: Giá trị tài sản đánh giá Giá trị Tỉ lệ khi tham gia bảo hiểm Sbt = tổn thất x bảo x thực tế hiểm Giá trị tài sản tại thời điểm Xảy ra tổn thất Như vậy ở đây nảy sinh vấn đề là xác định giá trị tổn thất thực tế như thế nào. Người ta thường xác định theo nguyên tắc sau: Đối với nhà cửa :cơ sở để tính số tiền thiệt hại chính là chi phí sửa chữa. Nếu nhà cửa thiệt hại không nghiêm trọng thì thuê một kĩ sư xây dựng ứơc tính thiệt hại. Trường hợp nhà cửa bị thiệt hại nghiêm trọng thì cần thêm một chuyên gia lập dự án sửa chữa với đầy đủ các chi phí và số lượng chủng loại vật liệu cần thiết. Đối với máy móc thiết bị tài sản khác: nếu còn sửa chữa được thì cơ sở tính thiệt hại là chi phí sửa chữa. Nếu không sửa chữa được hoặc sửa chữa không kinh tế thì cơ sở tính thiệt hại là chi phí mua mới (trừ khấu hao nếu bảo hiểm theo giá trị còn lại). Đối với thành phẩm: cơ sở tính thiệt hại là giá thành sản xuất bao gồm chi phí nguyên vật liệu, tiền công lao động và khấu hao tài sản cố định. Nếu giá thành sản xuất cao hơn giá thị trường, sản phẩm đã bán nhưng chưa giao hàng thì người được bảo hiểm vẫn phải chịu trách nhiệm về hàng hoá đó, cơ sở tính thiệt hại là giá bán. Đối với bán thành phẩm: cơ sở tính thiệt hại là chi phí sản xuất (nguyên vật liệu, nhân công) tính đến thời điểm sản xuất. Đối với hàng hoá dự trữ trong kho và hàng hoá trong cửa hàng: cơ sở tính thiệt hại chính là giá mua (xác định theo hoá đơn mua hàng) mà người được bảo hiểm đã trả chứ không phải giá bán hàng bởi vì người được bảo hiểm sẽ thu thêm được một khoản chênh lệch giữa giá bán và giá mua khi hàng hoá bị tổn thất được thay thế bằng hàng hoá mới. Cần lưu ý rằng khấu trừ cả phần mất giá do hàng hoá ứ đọng lâu ngày hoặc không hợp thời trang thị hiếu nữa. Bồi thường theo quy tắc tỉ lệ phí Có một số trường hợp người tham gia bảo hỉểm không đủ tiền nộp phí bảo hiểm đã ấn định. Vì vậy khi xảy ra tổn thất thì số tiền bồi thường: Giá trị Phí đã đóng Sbt = tổn thất x thực tế Phí bảo hiểm lẽ ra phải đóng Vì nghiệp vụ bảo hiểm cháy có số tiền bảo hiểm rất lớn và mang tính chất tích luỹ rủi ro, do đó hầu hết các công ty bảo hiểm đều phải tiến hành tái bảo hiểm và tái bảo hiểm trở thành xương sống của nghiệp vụ bảo hiểm cháy, điều này làm cho người được bảo hiểm yên tâm và công ty bảo hiểm giữ được uy tín với khách hàng khi có tổn thất xảy ra. Lưu ý: số tiền bồi thường được xác định căn cứ vào giá trị thiệt hại thực tế, số tiền bảo hiểm, giá trị bảo hiểm và mức miễn thường. Việc xem xét số tiền bảo hiểm chính là mức độ tối đa mà công ty bảo hiểm phải trả cho khách hàng. Mức miễn thường có thể làm giảm chi phí khi giải quyết những vụ tổn thất nhỏ, công ty bảo hiểm sẽ không bồi thường cho những khoản nhỏ hơn mức miễn thường(áp dụng miễn thường có khấu trừ). Khi tổn thất xảy ra, các bước giám định tổn thất đã tiến hành, công ty bảo hiểm cần thống nhất với khách hàng về phương pháp bồi thường, cán bộ bồi thường lập hồ sơ bồi thường. Một hồ sơ bồi thường gồm có: - Giấy thông báo tổn thất - Biên bản giám định của công ty bảo hiểm - Biên bản giám định vụ tổn thất của công an PCCC -Biên bản kê khai và các giấy tờ chứng minh thiệt hại Tiến hành thanh toán bồi thường: Nếu tổn thất xảy ra thuộc trách nhiệm của công ty bảo hiểm thì công ty sẽ thanh toán số tiền bồi thường sau 30 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp trong vòng 60 ngày kể từ ngày gửi giấy báo từ chối bồi thường mà người được bảo hiểm không có ý kiến gì thì coi như là người được bảo hiểm chấp nhận từ chối bồi thường. Thời hạn để người được bảo hiểm đòi bồi thường thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm là một năm kể từ ngày tổn thất xảy ra (trừ trường hợp đặc biệt phải có sự thoả thuận trước với công ty bảo hiểm). Quá thời hạn trên công ty bảo hiểm không có trách nhiệm giải quyết bồi thường. Xử lí tranh chấp và khiếu nại: Mọi tranh chấp giữa hai bên nếu không giải quyết bằng thương lượng sẽ đưa ra toà án kinh tế xét xử. Trong trường hợp người được bảo hiểm là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc cơ quan tổ chức nước ngoài thì mọi tranh chấp sẽ được chuyển cho trọng tài viên do hai bên chỉ định theo tập quán quốc tế. Sau khi các tranh chấp được giải quyết, hoàn thành việc truy đòi người thứ ba (nếu có). Hồ sơ bồi thường khép lại và đưa vào lưu trữ. Chương II : Thực tiễn triển khai nghiệp vụ Bảo hiểm cháy tại công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex I.Khái quát chung về công ty 1.1 Quá trình hình thành và phát triển Xuất phát từ chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước, xuất phát từ chính sách mở cửa phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam. Theo giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn và điều kiện kinh doanh bảo hiểm số 06-TC/GCN ngày 27/05/1995 của Bộ Tài Chính, giấy phép thành lập số 1873/GP-UB ngày 08/06/1995 của UBND thành phố Hà Nội và giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số 060256 ngày 15/06/1995 của Uỷ ban kế hoạch (nay là sở kế hoạch Đầu tư)thành phố Hà Nội, công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (tên giao dịch là PJICO)gồm 7 cổ đông sáng lập đã được thành lập, vốn điều lệ của công ty sẽ do các cổ đông tự nguyện đóng góp bằng tiền của mình và một phần do phát hành cổ phiếu trên thị trường. Cụ thể là: Vốn góp của cổ đông bảo hiểm PJICO (Đơn vị: triệu đồng) 1 Tổng công ty xăng dầu VN 28.505 2 Ngân hàng ngoại thương VN 5.500 3 Công ty tái bảo hiểm quốc gia 4.400 4 Tổng công ty thép VN 3.300 5 Công ty vật tư thiết bị toàn bộ 1.650 6 Công ty điện tử Hà Nội 1.100 7 Công ty TNHH thiết bị an toàn 275 8 Cá nhân 10.275 Tổng cộng 55.000 Như vậy PJICO là công ty cổ phần bảo hiểm đầu tiên ở Việt Nam, thành lập và hoạt động ngày 27/05/1995 và chính thức đi vào hoạt động ngày 15/06/1995 với thời gian hoạt động 22 năm kể từ ngày cấp giấy phép, hết thời hạn hoạt động sẽ được xin gia hạn. Với tổng vốn góp ban đầu là 55 tỷ đồng, trong đó chủ yếu là vốn của các doanh nghiệp nhà nước, sự hội tụ này đã tạo cho công ty có nguồn lực và uy tín ngay lần đầu đối với khách hàng. Trong 5 năm qua, tốc độ tăng trưởng về doanh thu bình quân của công ty là 38,6%/năm, đội ngũ cán bộ công nhân viên ngày càng được mở rộng. Năm 2000 vừa qua PJICO đã được nhận danh hiệu anh hùng lao động hạng ba, điều đó càng khẳng định hơn nữa sự thành công của công ty. 1.2.Tổ chức bộ máy và cán bộ Trong công tác tổ chức bộ máy quản lí và tổ chức hoạt động kinh doanh, công ty đã tổ chức theo kiểu trực tuyến: đứng đầu là Hội đồng quản trị, sau đó là Tổng giám đốc, 2 Phó tổng giám đốc, các phòng ban chức năng để điều hành hoạt động kinh doanh. Hội đồng quản trị là cơ quan quản lí của PJICO do Đại hội đồng cổ đông bầu ra giữa hai kì đại hội. Tổng giám đốc và phó tổng giám đốc do Hội đồng quản trị bổ nhiệm và theo những tiêu chuẩn nhà nước bầu ra. Các phòng ban đóng vai trò trực tiếp kinh doanh, tham mưu, cố vấn, còn Tổng giám đốc là người ra quyết định cuối cùng, ngoài ra còn phải phối hợp với các chi nhánh, văn phòng đại diện, đại lí để hoàn thành kế hoạch sản phẩm một cách đồng bộ, chi tiết hơn. Phòng tổ chức tổng hợp: có chức năng quản lí doanh nghiệp, đặc biệt là công tác quản lí cán bộ, tổ chức tiền lương, phân phối phúc lợi khen thưởng và chế độ khoán chi phí quản lí, tổ chức nâng cao trình độ cho cán bộ nhân viên trong công ty. Phòng tài chính kế toán: phản ánh tình hình thu chi tài chính và hoạt động kinh doanh của công ty. Đảm bảo thanh, quyết toán kịp thời cho khách hàng nhằm phục vụ tốt yêu cầu kinh doanh. Xây dựng hệ thống sổ sách chứng từ theo chế độ quản lí mới, đồng thời tổ chức kiểm tra, kiểm soát hoạt động thu chi tài chính của chi nhánh, văn phòng đại diện trực thuộc một cách thường xuyên. Phòng bảo hiểm hàng hải: tiến hành hướng dẫn chỉ đạo, kiểm tra và trực tiếp kinh doanh nghiệp vụ hàng hải. Phòng bảo hiểm phi hàng hải: hướng dẫn việc triển khai thực hiện việc khai thác bảo hiểm, kết hợp với phòng tổ chức chỉ đạo kiểm tra các chi nhánh, văn phòng đại diện, đại lí của công ty trong việc thực hiện khai thác các nghiệp vụ. Phòng tái bảo hiểm: căn cứ vào khả năng tài chính của PJICO để tổ chức thực hiện nhượng tái bảo hiểm đối với tất cả các loại hình bảo hiểm, phối hợp cùng phòng nghiệp vụ bảo hiểm gốc lập các thủ tục cần thiết, tính toán để bồi thường từ nhà tái bảo hiểm. Phòng thị trường: nghiên cứu thị trường nhằm mở rộng hơn nữa thị phần mà công ty đang nắm giữ, đối với những sản phẩm mới cần tìm kiếm khách hàng, thị trường để sản phẩm đó tồn tại và phát triển. Cơ cấu tổ chức bộ máy cán bộ của PJICO được thể hiện qua sơ đồ sau. Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức của công ty. Hội đồng quản trị Tổng giám đốc Phó tổng giám đốc C.Nhánh T.T Huế Phòng Kế toán Phòng Tổ chức cán bộ P.Tổng hợp C.N Quảng Ninh P.tài sản Hoả hoạn Phó tổng giám đốc C.Nhánh Đà Nẵng P.Đtư Tín dụng &TTCK P.Qlý nghiệp vụ C.N Hải Phòng P.BH phi Hàng hải P.BH Quảng Bình Ban thanh Tra pháp chế P.BH Hàng hải P.bh Thanh Hoá VP.BH KV 1 P.Tái bảo hiểm C.N Nghệ An VP.BH KV 2 C.N Khánh Hoà P.BH Hà Tĩnh VP.BH KV 3 C.Nhánh Sài Gòn C.Nhánh Quảng Bình VP.BH KV 4 C.Nhánh Cần Thơ VP.BH KV 5 P.BH Cà Mau VP.BH KV 6 Các tổng đại lý,đại lý,cộng tác viên bảo hiểm P.BH Kiên Giang II.Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy tại PJICO Dưới góc độ nhà bảo hiểm, một sản phẩm bảo hiểm thường được triển khai theo các bước sau: - Đưa sản phẩm vào thị trường hay còn._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc29985.doc